đào trung đąo
Thông Diễn Luận
Martin Heidegger
(75)
Kỳ
1, Kỳ 2, Kỳ
3, Kỳ 4, Kỳ
5, Kỳ 6, Kỳ
7, Kỳ 8, Kỳ
9, Kỳ 10, Kỳ
11, Kỳ 12, Kỳ
13, Kỳ 14 Kỳ
15,
Kỳ
16,
Kỳ
17,
Kỳ
18,
Kỳ
19,
Kỳ
20,
Kỳ
21,
Kỳ
22,
Kỳ
23,
Kỳ
24,
Kỳ
25,
Kỳ
26,
Kỳ
27,
Kỳ
28,
Kỳ
29,
Kỳ
30,
Kỳ
31,
Kỳ
32,
Kỳ
33,
Kỳ
34,
Kỳ
35,
Kỳ
36,
Kỳ
37,
Kỳ
38,
, Kỳ
39,
, Kỳ
40,
Kỳ
41,
Kỳ
42,
Kỳ
43,
Kỳ
44,
Kỳ
45,
Kỳ
46,
Kỳ
47,
Kỳ
48,
Kỳ
49,
Kỳ
50,
Kỳ
51,
Kỳ
52,
Kỳ
53,
Kỳ
54,
Kỳ
55,
Kỳ
56,
Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ
59, Kỳ
60, Kỳ
61, Kỳ
62, Kỳ
63, Kỳ
64, Kỳ
65, Kỳ
66, Kỳ
67, Kỳ
68, Kỳ
69, Kỳ
70, Kỳ
71, Kỳ
72, Kỳ
73, Kỳ
74, Kỳ
75,
Trong Brief über den Humanismus/Thư về Chủ nghĩa Nhân bản/Lettre sur l’Humanisme [LH] Heidegger chỉ ra trong hệ thống tư tưởng Tây phương cổ điển chủ nghĩa nhân bản dưới nhiều h́nh thức đều là một siêu h́nh học, có nghĩa đều đă lăng quên vấn đề Hữu. “Đúng là siêu h́nh học h́nh dung vật hiện sinh/hữu trong hữu của nó và cũng tư tưởng về hữu của vật hiện sinh. Nhưng siêu h́nh học không suy tưởng về sự khác biệt giữa Hữu với vật hiện sinh/hữu.”(LH in Questions III&IV:78). Trong dịp này Heidegger cũng giải thích thêm nghĩa chữ hiện-sinh (ek-sistence) trong quyển Sein und Zeit, hiện-sinh được tư tưởng một cách xuất nội (extatique) không trùng hợp với, trong nội dung cũng như trong h́nh thức, với chữ existentia/hiện hữu trong siêu h́nh học cổ điển. Hiện-sinh có nghĩa xuất-nội (ex-stase) trong nhăn quan chân lư của Hữu c̣n existentia trái lại có nghĩa actualitas, thực tại, đối nghịch với khả tính thuần túy quan niệm như một ư niệm. Siêu h́nh học cổ điển cũng đối lập essentia với existentia. Trở lại giải thích rơ hơn trong Sein und Zeit chữ “essence/yếu tính” được để trong “-” nhằm chỉ ra yếu tính không tự qui định nó từ trước, hay từ esse essentiae, cũng không phải khởi từ esse existentiae, nhưng từ tính chất xuất nội/ phóng chiếu của tại-hữu. Giải thích việc Sein und Zeit bị bỏ dở dang, không xuất bản Phần III như đă loan báo, bởi tư tưởng của Heidegger lúc đó chưa đạt tới điểm có thể diễn tả (chưa t́m ra ngôn từ thích đáng, một ngôn từ khác với ngôn từ của siêu h́nh học cổ điển) một cách đầy đủ sự quay/lật ngược chiều này. Nhưng theo Heidegger, kể từ Vom Wesen der Wahrheit/ Bàn về Yếu tính của Chân lư là bài diễn giảng vào năm 1930 nhưng măi năm 1943 mới được xuất bản, con đường tư tưởng lật ngược Sein und Zeit đă hé mở. Việc t́m con đường đi ngược lại này không phải là sự thay đổi quan điểm của Sein und Zeit, nhưng chính Sein und Zeit là sự nghiệm sinh nền tảng của việc lăng quên Hữu.
Từ những giải thích trên Heidegger phê phán Sartre: “Ngược lại [với điều nói trên], Sartre đưa ra nguyên lư của chủ nghĩa hiện sinh: hiện hữu có trước yếu tính. Ở đây ông ta dùng chữ existentia và essentia theo nghĩa của siêu h́nh học vẫn dùng từ thời Platon khi nói essentia có trước existentia. Sartre đảo ngược mệnh đề này. Nhưng việc đảo ngược một mệnh đề siêu h́nh học cũng vẩn cứ là một mệnh đề siêu h́nh học. Theo cách như vậy, mệnh đề này măi tồn tại với siêu h́nh học trong sự lăng quên chân lư của Hữu.” (LH in Question III&IV:85).
Một điểm quan trọng khác cũng cần nêu ra: trong khi đối với Heidegger hư vô áp đặt trên Dasein và Dasein bất lực trước hư vô, th́ với Sartre con người chính là tác nhân của hư vô hóa. Chính việc hiểu lầm (hoặc không hiểu) Dasein của Heidegger này đă đưa đến hậu quả là Sartre quan niệm sự siêu vượt (transcendance) không phải là con đường phơi mở Hữu của Dasein trong phóng chiếu như trong Sein und Zeit mà là sự tự do có ư thức như một ưu thế của con người. Sartre không chấp nhận xuất nội/siêu vượt (ek-stase) mà không có ư thức. Chính v́ vậy tự do trong triết lư của Sartre có một ư nghĩa khác hẳn với Heidegger; với Heidegger tự do là phơi mở về Hữu và được Hữu đón nhận/đáp ứng, c̣n với Sartre tự do là sự tự qui định của ư thức trong tự lựa chọn và chấp nhận hoàn cảnh: “Heidegger cho thực tại con người một sự am hiểu bản thân ông ta định nghĩa như một “dự phóng xuất nội/siêu vượt” của chính những khả tính của nó. Ở đây chúng tôi không có ư hướng phủ nhận sự hiện hữu dự phóng xuất nội này. Thế nhưng một sự am hiểu, tự trong chính nó, lại không phải là ư thức (của) sự am hiểu, thế th́ sự am hiểu này sẽ là cái ǵ?” (Heidegger dote la réalité humaine d’une comprehénsion de soi qui definit comme un “projet ekstatique” de ses propres possibilités. Et il n’entre pas dans nos intentions de nier l’existence de ce projet. Mais que serait une compréhension qui, en soi-même, ne serait pas conscience (de) compréhension?) (EN:115) Như chúng ta đă biết cấu thức am hiểu Hữu của Dasein nơi Heidegger đặt cơ sở trên am hiểu tiền-hữu-thể-luận (compréhension pré-ontologique) nhưng Sartre đă không nhận ra điểm này hoặc có nhận ra nhưng không thấu hiểu cho nên đă cho rằng sự hiện diện của con người với bản thân là do ư thức hư vô hóa (conscience néantisante) qua lư giải ‘hữu-tại/être-là’ như một sự kiện ngẫu nhiên (thí dụ: tôi đang ở bên cái bàn này, trong căn pḥng này) và việc tôi có ư thức về sự kiện này như một tự-nội bị hư vô hóa trên đó tha-nội tự tạo chính nó như ư thức hiện hữu tại đây (être-là). Đó là nội dung của tư duy-tiền phản tư (cogito prérefléxif). V́ Sartre hiểu hiện hữu tại đây theo nghĩa hiện hữu để… (être-pour…) và đó là kiện tính của qui-nội. Sartre cho rằng đây là một sự thiết yếu và viện dẫn Descartes cũng như Husserl những triết gia đă nắm bắt sự thiết yếu này như cấu thành sự hiển nhiên của cogito. Sartre viết: “Cũng như sự tự do hư vô hóa của tôi chính nó tự nắm bắt bằng nỗi âu lo, cái qui-nội ư thức về kiện tính của nó: nó có cảm giác về sự vô bằng hoàn toàn của nó, nó tự nắm bắt bản thân như hiện hữu tại đây chẳng để làm ǵ, như một vật hiên sinh thừa thăi.” (De même que ma liberté néantisante se saisit elle-même par l’angoisse, le pour-soi est conscient de sa facticité: il a le sentiment de son entière gratuité, il se saisit come étant là pour rien, comme étant de trop.) (EN:126) .Ta cũng t́m thấy quan niệm này đă được Sartre trước đây mô tả một cách đầy kịch tính t́nh cảm chẳng để làm ǵ, dư thừa của con người trong tiểu thuyết La Nausée.
Phê phán, chống đối Heidegger của Sartre mạnh mẽ nhất trong Phần Thứ Ba “Le Pour-Autrui” của quyển L’Être et le Néant, nhất là ở Chương III “Husserl, Hegel, Heidegger”. Một cách tóm lược, Sartre tŕnh bày quan niệm của ba triết gia này về tha nhân và hoàn toàn phản bác việc nhập khái niệm tha nhân vào khái niệm “hiện hữu với/Mitsein” của Heidegger. Khi bàn về tương quan với tha nhân nếu ta coi ‘tôi’ và ‘tha nhân’ như hai thực thể cách biệt th́ sự kết nôi giữa hai thực thể này là bất khả, thế nên cần nắm bắt ngay trong những ư thức (ư thức của tôi và ư thức của tha nhân) mối tương quan nền tảng và siêu vượt với tha nhân, mối tương quan này có tính cách tạo thành cho mỗi ư thức chính trong trong việc xuất lộ với tha nhân: mối tương quan nền tảng với tha nhân được thực hiện bằng nhận thức. Tuy nhiên, cái bẫy chờ sẵn khi giải quyết mối tương quan này là dễ rơi vào chủ nghĩa duy ngă (solipsisme), một điều Sartre cố gắng né tránh. Tránh được rơi vào thuyết duy ngă nhưng lại có thể rơi vào hoặc thuyết duy thực (realisme) hoặc duy tâm (idéalisme). Cho nên để tránh những cái bẫy nguy hiểm này Sartre quan niệm tha nhân không những không phải là kẻ tôi vượt qua tuyệt đối, cũng không phải là kẻ hoàn toàn vượt qua tôi, nhưng hiện-hữu-cho-tha-nhân (être-pour-autrui) là hư vô hóa đồng thời của cả hai bên và có tính chất ngẫu nhiên t́nh cờ v́ tôi là một vượt qua-bị vượt qua (transcendance-transcandée), hiện-hữu-cho-tha-nhân và hiện-hữu-cho-bản-thân bất khả cách ly. Sartre không thấy trong tương quan này có một cấu trúc hữu thể luận của sự cộng hữu nhưng chính trong sự ngẫu nhiên triệt để và sự đối nghịch bày ra cuộc chơi hư vô hóa của hiện hữu cho tha nhân. Sartre cho rằng ‘tha nhân là địa nguc’ (L’Enfer c’est les autres). Sartre cáo buộc Heidegger rơi vào chủ nghĩa duy tâm và “khái niệm siêu vượt/qua (transcendance) của Heidegger là một khái niệm của sự ngụy tín.” (EN:306) Tuy nhiên Sartre đă không giải thích được tại sao khái niệm siêu vượt của Heidegger là một khái niệm của sự ngụy tín. Chúng ta có thể nhận ra ảnh hưởng của Hegel trong quan niệm về tha nhân của Sartre, nhất là theo lối giải thích Hegel có chiều hướng hiện sinh của Kojève. Sartre phê phán Heidegger v́ muốn nhắm đến thiết lập cấu trúc hữu thể luận của ‘hiện-hữu-trong/In-sein) cũng như ‘In-der-Welt-Sein’ nên đă xóa bỏ sự đa phức của ư thức và sự đấu tranh giữa những ư thức, thay v́ gỡ cái nút khắc nghiệt nguy hiểm của mối tương quan này Heidegger “bằng một cách đột ngột và hơi dă man đă dùng vũ lực giải quyết một cách triệt để những khó khăn này thay v́ để sức giải quyết, ông ta [Heidegger] trả lời cho câu hỏi chỉ bằng một định nghĩa đơn giản và thuần túy.” (Avec sa manière brusque et un peu barbare de trancher les noeuds gordiens, plutôt que de tâcher à les dénouer, il repond à la question posée par une pure et simple définition.” (EN:304) tức là cái định nghĩa Dasein như từ trong nguyên ủy tuy là cộng hữu nhưng lại cô độc. Chính v́ tính chất cô độc của Dasein trong Heidegger này cho nên Sartre cho rằng quan niệm về hiện-hữu-với của Heidegger là duy ngă. Tuy phê phán Heidegger một cách khá nặng nề nhưng Sartre cũng thừa nhân đă học hỏi được từ quan niệm về ‘In-sein’ của Heidegger để đi đến nhận định con người là một hữu ngầm chứa hữu tha nhân trong hữu của ḿnh. Câu hỏi đặt ra là: Sartre có công bằng với Heidegger khi đưa ra những phê phán nêu trên? Nếu ta lật lại và đọc những trang Hidegger viết về ‘Mitsein’ trong Sein und Zeit quả thực Heidegger không hề suy diễn hiện hữu của tha nhân từ một cấu thức thiết yếu nào, Heidegger cũng chẳng hề phủ nhận rằng những gặp gỡ giữa ta và tha nhân là đột ngột ngẫu nhiên. Heidegger chỉ cho rằng cái Ngă của Dasein không có tính chất của thực thể và cũng không phản tư cho nên cũng không cần thiết phải đi vào việc triển khai có tính chất nguyên tắc sự đấu tranh giữa những ư thức và tính chất liên-chủ-thể. Rơ ràng Sartre đă hiểu sai hoặc không thấu hiểu những phân tích phong phú của Heidegger về dụng cụ tính (ustensilité) không hề được giảm trừ vào việc sử dụng mọt dụng cụ nào đó nhưng chỉ là một sự học tập/thao dượt vượt qua môi trường (Umwelt) vốn đă được chia sẻ với tha nhân. Ngoài ra Sartre cũng đă thu giảm một cách vội vă am hiểu (Verstehen) vào nhận thức (Verstand), hiểu sai phân tích của Heidegger về ‘Rehe’, diễn ngôn, ngôn ngữ, lời nói như thành tố của Hữu-tại, thành tố này làm cho ngôn ngữ thành khả hữu. Sau hết và quan trọng hơn cả, là việc Sartre đưa ra một lư thuyết về ba cách thế vượt qua (3 ex-tases) của qui-ngă (pour-soi) mà không thể chứng minh được làm sao có thể phân biệt rạch ṛi ba cách thế này, sự phân chia này có ư nghĩa ǵ, có tư cách ra sao. Chung qui lư do cũng chỉ v́ Sartre đă đưa vào hữu thể học hiện tượng luận vai tṛ trung tâm của cogito, điều mà Heidegger hoàn toàn bác bỏ. Với Sartre, bởi tha nhân chia sẻ cái đặc quyền hữu của hữu qui nội của tôi cho nên phải rút ra từ đó sự đấu tranh giữa những ư thức. Từ đó Sartre đưa ra những mô tả khá độc đáo về cái nh́n, thân xác cho tha nhân, t́nh yêu, ngôn ngữ, lạnh nhạt, chứng thống dâm (masochisme), sự ham muốn, thù ghét, và ác dâm (sadisme) hầu như chiếm phần lớn Phần III khoảng trên 200 trang của L’Être et le Néant. Những chủ đề này cũng đă được Sartre đưa vào tiểu thuyết và kịch bản của ḿnh trước đây.
(c̣n tiếp)
đào trung đąo
http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html
©gio-o.com 2012