đào trung đạo 

Thông Din Lun Triết  Hc

của 

Martin Heidegger

(3)

 

Kỳ 1,  Kỳ 2,  Kỳ 3,  Kỳ 4,  Kỳ 5,  Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14 Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, , Kỳ 39, , Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63,  Kỳ 64,  Kỳ 65Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96,  Kỳ 97, Kỳ 98,  Kỳ 99,  Kỳ 100,  Kỳ 101, Kỳ 102,  Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105,  Kỳ 106, Kỳ 107,  Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, 

 

Giáo tŕnh mùa hè 1923 Ontologie: Hermeneutik der Faktizität (Ontology – The Hermeneutics of  Facticity, John van Buren dịch sang Anh ngữ) gồm phần Dẫn Nhập giải thích tựa đề sách “Hữu thể luận” và 2 phần chính cộng thêm vài trang phụ lục. Lúc đầu Heidegger định đặt tựa đề giáo tŕnh này là “Logik” nhưng v́ trước đó đă có một giáo sư khác ở đại học Marburg niêm yết giáo tŕnh của ông ta là “Logik” nên Heidegger đổi tên giáo tŕnh của ḿnh thành  Ontologie: Hermeneutik der Faktizität. Như vậy có nghĩa là Heidegger quan niệm “luận lư” đồng nghĩa với hữu-thể-luận theo nghĩa  thông- diễn-luận  khảo sát hữu của kiện tính trong “khoảnh khắc tính” (Jeweiligkeit/awhileness) của tính đặc thù thời gian của hữu kiện tính v́ “luận lư” hay thông-diễn-luận về kiện tính theo Heidegger là việc khảo sát một cách cụ thể nhằm giải thích “ở thời điểm đặc thù”(jeweils) và trong một “hoàn cảnh” lịch sử những “phạm trù” là những sinh hiện (Exitenzialien/existentials) trong đó đời sống thực sự, hiểu như “hữu khả” (Mőglichsein/being-possible) rộng mở và vô lượng đang hiện hữu (trong chốc lát ở một thời điểm đặc thù) và “thông dịch” hữu của khả hữu đó cùng với hữu của thế giới . Quan niệm này Heidegger đă có từ thời viết giáo tŕnh Phanomenologische Interpretationen zu Aristoteles để dạy ở đại học Freiburg với tư cách một Privatdozent (dạy không có lương) vào mùa đông năm 1921-1922. Trong phần Dẫn Nhập Heidegger xác định kiện tính là chủ đề của Hữu-thể-luận hiểu theo nghĩa học thuyết về hữu được khảo sát và đi vào ngôn ngữ. Phần I gồm 4 Chương.

   Trong Chương 1 với đầu đề “Thông-diễn-luận” Heidegger  đưa ra định nghĩa: “Từ “thông-diễn-luận” được dùng để chỉ cách thế thống nhất những công việc: đi vào, tiến gần, tiến vào, tra hỏi, và giải thích kiện tính. Chữ  έρμηνευτιχή [thông-diễn-luận] (έπιστήμη) [khoa học], τέχνη [nghệ thuật] được tạo thành từ chữ  έρμηνεύειν [diễn giải], έρμηνεία [sự diễn giải],  έρμνεύς [người thông dịch] . Từ nguyên của chữ này tối tăm. Chữ này có liên hệ tới tên của vị thần  Έρμής [Hermes], kẻ mang thông điệp của các thần linh.”  Heidegger gợi ư ta nên qui chiếu chữ này như đă được các nhà tư tưởng xưa nay dùng ta sẽ t́m ra được nghĩa nguyên ủy của nó và cũng hiểu được việc nghĩa chữ này đă biến đổi ra sao. Trước hết Heidegger  dịch chữ έρμηνεύειν Plato dùng ra chữ Đức là kundgeben (hoạt động thông diễn) có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất  : tuyên bố , thông báo, thông giao, thông truyền, bày tỏ; nghĩa thứ hai hiểu theo hiện tượng luận: phơi mở hay làm cho được biết tới, đưa từ trong bóng tối ra ánh sáng. Kế đến Heidegger dựa vào  Aristotle khi bàn về λόγος (logos, diễn ngôn) trong quyển Пερὶ  ὲρμνείας (Luận về Diễn Giải) cho rằng diễn giải có nghĩa là  άληΰεύειν [thực hữu] tức là làm cho cái trước đây bị che lấp, phủ kín, được bày ra cho mọi người thấy như đă được phơi lộ, được đưa ra nơi sáng sủa. Diễn ngôn có nhiệm vụ làm cho một cái ǵ đó có thể được tiếp cận như thể hiện hữu ở đấy/đó ngoài chỗ sáng sủa, sẵn sàng. Hiểu theo nghĩa đó diễn ngôn có khả năng rơ rệt của  άληΰεύειν [thực hữu]. Sau Aristotle, Augustine chủ trương thứ thông-diễn-luận Ky-tô-giáo là diễn giải  Lời, nghĩa là giải thích những đoạn văn không rơ nghĩa trong Kinh Thánh. Trong thế kỷ 17 Thông-diễn-luận được coi như phép giải thích Kinh Thánh theo ngữ văn (philology), là học thuyết về những điều kiện, đối tượng, phương tiện, và sự cộng thông cũng như việc áp dụng thực tiễn việc diễn giải.  Qua tới Schleiermacher, thông-diễn-luận được thu giảm trở thành một “nghệ thuật/kỹ thuật của trí tuệ/sự hiểu biết” diễn ngôn của người khác, và được coi như một ngành học gắn liền với văn phạm và tu từ học, đặt quan hệ với phép biện chứng, nghĩa là đă trở thành một phương-pháp-luận h́nh thức với tên gọi “thông-diễn-luận tổng quát” bao gồm những ngành riêng biệt của thông diễn-học thần học và thông-diễn-học triết học. Quan trọng hơn hết là việc Wilhelm Dilthey tuy lấy lại quan niệm về thông-diễn-luận cùa Schleiermacher nhưng lại hiểu theo nghĩa “thiết lập những qui tắc của sự am hiểu/biết” nhằm đưa ra một phương pháp luận cho những khoa học xă hội. Tuy là người chịu ảnh hưởng của Dilthey nhưng Heidegger đă có những phê phán quyết liệt định hướng này của Dilthey, cho rằng Dilthey có một cái nh́n giới hạn, đă không thấy được những thời kỳ phát triển của thông-diễn-luận có tính cách quyết định vào Thời khởi đầu nghiên cứu Thánh Kinh của các vị linh mục đầu tiên (Patristic Period từ 100-450) và vai tṛ của Luther,  nên đă chỉ nghiên cứu thông-diễn-luận dưới chủ đề ông cho là thiết yếu để đi tới một phương pháp luận cho các khoa học xă hội. Trong giai đoạn này Heidegger cũng có những phê phán khá nặng nề về hai triết gia Đức tuy cùng thời nhưng lớn tuổi hơn là Oswald Spengler (tác giả quyển The Decline of the West) và Max Scheler (học tṛ của Dilthey và Simmel, chịu ảnh hưởng Husserl).

   Sau khi duyệt qua những định nghĩa thông-diễn-luận khác nhau Heidegger khẳng định “chữ thông-diễn-luận trong giáo tŕnh này không được hiểu theo nghĩa đương đại nhưng được hiểu theo một nghĩa gắn liền với nghĩa nguyên khởi là một tập hoạt (actualizing) thống nhất chung quyết của έρμηνεύειν (thông giao) nghĩa là của việc diễn giải kiện tính trong đó kiện tính là hữu được gặp gỡ, nh́n thấy, nắm bắt, và được diễn tả bằng những khái niệm.” (G63, trang 11). Và Heidegger chỉ đinh “thông-diễn-luận có nhiệm vụ làm cho Hiện thể (Dasein) trong mỗi trường hợp là hiện thể của chính chúng ta có thể đi vào chính Hiện thể đó trong tính chất hữu của nó, thông giao Hiện thể với chính nó theo cách này…Trong thông-diễn-luận cái được triển khai cho Hiện thể là một khả tính của của sự diên thành và hữu của Hiện thể cho chính Hiện thể trong cách thế am/hiểu biết bản thân.” (G63, 11).

   Như đă nói am/hiểu biết (understanding) và diễn giải (interpretation) là hai khâu trong diễn tiến thông diễn. Cho nên ta cần xem xét Heidegger ở giai đoạn quyển G63 đă định nghĩa am hiểudiễn giải ra sao. Trước hết Heidegger xác minh chữ am hiểu theo ông trong giáo tŕnh này không nên được hiểu theo nghĩa thông thường là hành vi hiểu biết hướng tới đối tượng, dù trong trường hợp nào đi nữa. Nhưng am hiểu có nghĩa chính là sự như thế nào của Hiện thể (a how of Dasein itself), cũng có ngh́a như sự tỉnh thức (Wachsein/wakefulness) của Hiện thể cho bản thân. Ta thấy ngay Heidegger đă đưa/tạo ra những từ/khái niệm mới để phân tích Hữu/Sein gốc gác đều có –sein, chẳng hạn như chữ Wachsein vừa nêu. Thông-diễn-luận không phải là một kiểu giải thích cố t́nh chụp lên Hiện thể và được theo đuổi chỉ v́ tính ṭ ṃ. Theo cách thế nàokhi nào cần được diễn giải trước tiên. Thế nên mối tương quan giữa thông-diễn-luận và kiện tính không phải là mối liên hệ giữa việc nắm bắt một đối tượng với cái đối tượng được nắm bắt. Thật ra, việc diễn giải chính nó là một “làm thế nào” của cái tính chất của hữu của kiện tính, có thể làm được và thật rơ rệt. Nói cách khác việc diễn giải là một hữu thuộc về hữu của chính đời sống hiện bày (factical life), hay thông-diễn-luận được coi là sự tự-diễn-giải (Selstauslegung) của kiện tính. Trong dịp này Heidegger cũng đưa ra khái niệm Vorweghaben được hiểu theo nghĩa chuẩn bị con đường, khái niệm này đóng vai tṛ quan trọng hàng đầu trong thông-diễn-luận của Heidegger. Vor/Fore/Tiền về sau được Heidegger dùng trong nhiều trường hợp khác nhau trong quyển Sein und Zeit, chẳng hạn Vor-sorge (fore-care/âu lo/chú tâm trước), Vorgriff (fore-conception/tiền-khái-niệm), Vorhaben (fore-having/dọn đường trước). Dọn đường trước của diễn giải là một chỉ dấu rơ rệt của tính cách của hữu, được coi như có tính cách của cái nền của sự diễn giải v́ diễn giải là một thành phần của hiện hữu ở đó (being there/tại hữu), sờ sờ ở đó,  của Hiện thể, v́ nó chia xẻ cái khả tính của Hiện thể.  Dọn đường trước như vậy không có tính cách khiên cưỡng, áp đặt hay tùy tiện, mà là một sự nhảy vọt về phía trước của khả tính, có một quan hệ  nền tảng với sự quan tâm, bồn chồn, xao xuyến, và thời gian tính. Dựa trên những điền căn bản vừa nêu, để đi vào thông diễn,  Heidegger kêu gọi cần có một sự tỉnh thức triết lư trong đó Hiện thể chạm mặt với chính ḿnh. Sự tỉnh thức này là triết lư v́ nó sống và làm việc trong sự tự-diễn-giải tiên khởi triết lư tự đưa ra và đảm nhiệm, bảo cho thông-diễn-luận biết rằng: Triết lư là một cách thề am hiểu trong chính đời sống sở kiện trong đó Hiện thể sở kiện (factical Dasein) được ném trả về chính nó, cho nên triết lư chỉ là triết lư “của thời đại ḿnh.”

   Heidegger dành Chương 2 để bàn về Ư niệm Kiện tính và Khái niệm Con người. Lư do cũng dễ hiểu v́ Heidegger muốn tránh việc Dasein được hiểu là “con người” hay hữu của con người theo nghĩa: 1. Sinh vật có lư trí để phân biệt với cây cối, xúc vật, con người, vong linh, thần linh hay Thượng đế; 2. Nhân cách hay nhân vị. Cả hai định nghĩa nêu trên đều đă qui định trước một cách thế hiện hữu của hữu rồi gắn vào hữu, rơ nhất như trong định nghĩa thứ 2 xuất phát từ lối giải thích theo Ky-tô-giáo trong Kinh Cựu Ước. Thêm vào lưu ư trên Heidegger nhấn mạnh tới khái niệm con người là “một hữu có lư trí” là quan niệm xuất phát từ việc không nắm được ư nghĩa quyết định của câu nói của Aristotle ζώον λόγον έχον (sinh vật có diễn ngôn) trong đó chữ  λόγος không hề có nghĩa là “lư trí”. Những quan  niệm về con người đang thời thượng có gốc gác từ hai quan niệm vừa kể. Heidegger đă phê phán và bác bỏ cả quan niệm về con người theo truyền thống Kinh Thánh,  quan niệm thần học, và quan niệm cho rằng con người là một sinh vật có lư trí. Trở về nguyên ủy triết lư cổ Hy Lạp (lắng nghe diễn ngôn bằng “cái tai” Hy Lạp như Heidegger đă nói trong Einführung in die Metaphysik/Nhập Môn Siêu h́nh hoc)  Heidegger đưa ra quan niệm  “Kiện tính như tại hữu (Weltdasein-Sein/being-there) của Hiện thể trong khoảnh khắc của đặc điểm thời gian” với đặc trưng “hôm nay”, nghĩa là trong hiện tại hàng ngày của chúng ta. Minh giải thông-diễn-luận nhất thiết không những phải lấy đối tượng này làm khởi đầu mà c̣n luôn luôn phải qui chiếu về tính chất này của hữu trong suốt lộ tŕnh cho đến kết thúc. Tất cả những phạm trù đặc biệt của Hiện thể phải được đưa ra một cách công khai như đă được diễn giải “hôm nay”, và để có thể làm được như vậy ta cần thật sự tỉnh thức. “Hôm nay” hiểu theo hữu-thể-luận có nghĩa: cái hiện tại của những ǵ có được gần gũi nhất với chúng ta, từng cái một, hiện-hữu-với-nhau – “trong thời gian của chúng ta.” Heidegger cảnh báo về hai ngộ nhận có thể xảy ra về cái “hôm nay”: (1) chạy theo những khuynh hướng thời thượng nhất, và (2) trầm tư về một thứ tựa như bản ngă cô lập. Minh giải thông-diễn-luận v́ vậy không phải là một tường tŕnh về “điều ǵ đang xảy ra” trên thế giới. Heidegger viết: “Hôm nay,” trong  ngày của chúng ta, nghĩa là tính chất hàng ngày, thẩm nhập, vào thế giới, phát ngôn từ và trên cơ sở của sự quan tâm.” (G63, 25) Tuy nh́n nhận quan điểm trên của ḿnh được thúc đẩy từ Kierkegaard nhưng Heidegger cho rằng v́ Kierkegaard là một nhà thần học nên chỉ đứng trong niềm tin, tức là đă đứng ngoài triết lư. Cái “hôm nay” theo Heidegger phải được đặt  ở khởi điểm thông diễn như một tính chất của hữu được nh́n thấy rơ rệt trong đó và phải được làm cho minh bạch và đưa vào khối hiện tượng của kiện tính. Để minh họa cho  cái không gian rộng mở của sự công khai của tại hữu của Hiện thể đă được diễn giải hôm nay, công khai như một cách thế hiện hữu của “người ta” cũng là của “không ai” Heidegger đưa thí dụ bức thư Vincent van Gogh viết cho em trai trong giai đoạn sinh tử nhà họa sĩ này đang t́m kiếm cái Hiện thể của chính ḿnh: “Anh chẳng thà chết một cái chết tự nhiên c̣n hơn được chuẩn bị cho cái chết tại trường đại học…” Heidegger hiểu câu nói trên của van Gogh không phải là một lời than văn về sự bất cập của những ngành học hàn lâm nhưng là sự mô tả trên lộ tŕnh chạm mặt cao độ với Hiện thể của ḿnh nhà họa sĩ đă trở thành điên loạn sau khi đă vẽ bằng hết chiều sâu của trái tim và tâm hồn ḿnh.

(c̣n tiếp)

 

 

 

Đào Trung Đạo