đào trung đạo

 

Thông Din Lun Triết Hc ca

 

Martin Heidegger

                                                                                                                                                                                                                                                                                            

          L’automne ne va plus vite en avant, en arrière que le

                                                                                                 râteau du jardinier. L’automne ne se précipite pas sur

                                                                                                 le coeur qui exige la branche avec son ombre.

      René Char 

                                                                                                                   À M.H. , 11 septembre, 1966*

 

Kỳ 1,  Kỳ 2,  Kỳ 3,  Kỳ 4,  Kỳ 5,  Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14 Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, , Kỳ 39, , Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63,  Kỳ 64,  Kỳ 65Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96,  Kỳ 97, Kỳ 98,  Kỳ 99,  Kỳ 100,  Kỳ 101, Kỳ 102,  Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105,  Kỳ 106, Kỳ 107,  Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, 



Có thể nói, cho đến thời điểm hiện nay đầu thế kỷ 21, chưa có triết gia hay lư thuyết gia văn chương nào đă đi xa hơn Martin Heidegger về thông-diễn-luận. Để đặt cơ sở cho lư thuyết văn chương (literary theory) và nhất là cho phê b́nh văn chương (literary criticism), người ta không thể không t́m hiểu thông-diễn-luận. Lư do cũng khá đơn giản: khâu căn bản của phê b́nh văn chương là lư/diễn giải (interpretation),  và để nắm vững cơ bản của lư/diễn giải, nhà phê b́nh không thể không t́m đến thông-diễn-luận. Trong giới hạn bài này, lịch sử thông-diễn-luận cũng như những nhà thông diễn luận tiền phong quan trọng như Freidrich Schleimacher hay Wilhelm Dilthey không được khảo sát, cũng như thông-diễn-luận của Hans-Georg Gadamer sẽ được bàn tới trong một bài khác. (1)

 

   Trong bài Một Cuộc Đối Thoại Về Ngôn Ngữ (Aus Einem Gesprach von der Sprache (1953-1954, bản Anh ngữ của Peter D. Hertz A Dialogue on Language) Martin Heidegger khi trả lời câu hỏi của Một Người Nhật thắc mắc về việc tại sao ông đă dùng từ thông-diễn-luận (hermeneutics) trong phần Dẫn Nhập của quyển Sein und Zeit/Hữu và Thời (2), Heidegger đă giải thích rằng ông đă từng dùng từ này trong một giảng khóa mùa hè năm 1923 (3) v́ từ thời c̣n nghiên cứu thần học trước đây Heidegger đă khá quen thuộc với thông-diễn-luận, sau đó đă chịu ảnh hưởng của Wilhelm Dilthey khi đọc nghiên cứu của triết gia này về Schleiermacher (4). Nhưng Martin Heidegger cũng nhấn mạnh rằng “Trong Sein und Zeit, thông diễn luận không phải để chỉ một lư thuyết về nghệ thuật lư/diễn giải hay chính sự lư/diễn giải, nhưng đúng ra là một nỗ lực trước hết để định nghĩa bản chất của lư/diễn giải đặt trên nền tảng thông-diễn-luận.” (5) Và Heidegger cũng không quên nói đến việc trong những tác phẩm sau này của ḿnh ông đă không c̣n dùng từ “thông-diễn-luận” nữa. Thế nhưng, đối với người quen thuộc với tác phẩm của Heidegger, không những thông-diễn-luận có một vị trí quan trọng rơ ràng trong giai đoạn đầu từ những năm 20s cho đến cuối những năm 30s, mà ngay cả trong những tác phẩm xuất hiện sau “bước ngoặt” (the turn) giai đoạn II từ những năm 40s trở đi, tuy từ “thông-diễn-luận” không c̣n được nhắc tới nhưng điều này không có nghĩa là Heidegger đă bỏ thông-diễn-luận, trái lại ông đă chỉ thay đổi cách/con đường (way) tư tưởng tiếp cận những vấn đề hữu-thể-luận. Khi nghiên cứu thông-diễn-luận của Heidegger phần đông những chuyên gia về triết gia này lấy tác phẩm Sein und Zeit làm cái trục để từ đó xét ngược về những bài giảng hay tác phẩm thời trẻ, nhất là quyển G63, rồi xét xuôi đến nhưng tác phẩm sau “bước ngoặt”. Đó là một trong những cách làm cốt cho thấy Martin Heidegger tuy đă theo đuổi thông-diễn-luận từ rất sớm trong cuộc đời triết gia, và từ khi tác phẩm được chú ư nhiều nhất Sein und Zeit ra đời, tư tưởng thông-diễn-luận của tác giả đă không được chọn làm điểm nhấn nghiên cứu, ơn nữa cũng v́ chính Heidegger đă không nhắc đến từ này trong những tác phẩm ở giai đoạn II như chính ông nhận xét. Nhưng nếu lấy điểm nhấn nghiên cứu là mục đích và tham vọng của Heidegger trong việc đặt cơ sở nền tảng cho Hữu-Thể-Luận th́ sẽ thấy ông sử dụng thông-diễn-luận như nền tảng cho việc lư/diễn giải phơi mở những vấn nạn xoay quanh hữu thể. Nói cách khác, lư/diễn giải hữu thể thông qua thông-diễn-luận được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này. Và v́ Heidegger đă hiểu thông-diễn-luận theo cách riêng của ông, để phục vụ mục đích xây dựng một Hữu-thể-luận mới, nên những phát biểu về thông-diễn-luận suốt dọc lộ tŕnh tư tưởng của Heidegger thoạt nh́n tưởng chừng tản mát, không có tính hệ thống, lại rất phúc tạp, nhưng nếu xét kỹ th́ thấy không v́ vậy mà thiếu tính nhất quán. Một trong những lư do chính quan niệm thông-diễn-luận của Heidegger bị che khuất trong các công tŕnh nghiên cứu trước những năm 70s v́ khi đó Tác Phẩm Sưu Tập  Gesamtaugabe GA, nhất là những bài giảng trong thập niên 20s, chưa được Heidegger cho phép xuất bản như những quyển G17, G20, G21, G24, G56/57, G60, G61 và nhất là G63. Về Hiện-tượng-luận của Edmund Husserl, quan niệm của Heidegger khá khác biệt với Husserl về nhiều mặt có tính phê phán, Heidegger đă triển khai và biến đổi Hiện-tượng-luận của Husserl song hành với thông-diễn-luận và cuối cùng đi đến việc nhập hai phương pháp này thành thông-diễn-luận hiện-tượng-học (phenomenological hermeneutics). Martin Heidegger vừa cách tân thông-diễn-luận khi mở rộng phạm vi nghiên cứu, không chỉ lư/diễn giải văn bản (trước hết là Thánh Kinh như những nhà thông-diễn ở thế kỷ trước như Böckh, Schleiermacher, Droysen hay coi thông-diễn-luận là nền tảng của khoa học nhân văn như Dilthey) mà là lư/diễn giải thể tính. Chính v́ vậy Heidegger trong Phần I của G63 đă bắt đầu khảo sát khái niệm thông-diễn-học truyền thống lấy khởi điểm từ Plato và Aristotle. Tuy nhiên khi phải đối thoại với Descartes, Kant, Hegel, Nietszche và những triết gia Hy Lạp thời cổ đại là những triết lư quan trọng nhất trong lịch sử siêu-h́nh-học Tây phương cũng như khi lư/diễn giải thơ của Hölderlin, Rilke, Trakl, và Celan th́ Heidegger lại quay về với thông-diễn-luận văn bản theo cách khá độc đáo của ông.

 

    Ngay từ tựa đề cho những bài giàng mùa hè năm 1923 Ontologie: Hermeneutik der Faktizität (G63) Heidegger đă khẳng định Hữu-thể-luận là Thông-diễn-luận về Kiện tính (Faktizität/Facticity). Theo Heidegger định nghĩa: “Kiện tính”  là chữ chúng tôi sẽ dùng để chỉ tính chất của hữu (being) của Hiện thể (Dasein) của “chúng ta” “riêng chúng ta”. Một cách chính xác hơn, chữ này có nghĩa: trong mỗi trường hợp Hiện thể “này” trong sự hiện-hữu-ở đó trong một khoảng đoạn thời gian ở một thời điểm rơ rệt (hiện tượng của “tính một lúc (awhileness)” của thời điểm nhất định, như “ở đó”, lần lữa nấn ná chốc lát, không bỏ đi nơi khác, ở-đấy-an-nhiên-trong...ở-đó-can-dự-vào…việc hiện hữu nơi đó của Hiện thể)  trong chừng mực như vậy, trong tính chất của thể tính của ḿnh, “ở đó” trong cung cách của hiện thể.” (G63, trang 5). Về danh từ thông-diễn-luận Heidegger chỉ rơ : “Chữ “thông-diễn-luận” được dùng ở đây để chỉ cách thế chung việc tham gia, tiếp cận, tiến vào, tra hỏi, và giải nghĩa kiện tính.” G63,trang 6). Sau khi đă định nghĩa thông-diễn-luận và qui định đối tượng Heidegger giải tŕnh quan niệm của ḿnh bằng cách tŕnh bày gốc gác của chữ thông-diễn-luận suốt chiều dài lịch sử triết học và thần học trong các bản viết của Plato, Aristotle (đặc biệt là tác phẩm “Bàn về lư/diễn giải”), Augustine, Böeckh, Schleiermacher, Dilthey và đưa ra những nhận định phê phán quan niệm về thông-diễn-luận của những nhà tư tưởng này, sau cùng đi đến kết luận “Thông-diễn-luận có nhiệm vụ làm cho Hiện-thể (Dasein) trong mỗi trường hơp riêng của chúng ta tiếp cận được với chính Hiện thể trong tính cách của thể tính của nó, khiến Hiện thể thông giao với chính ḿnh trong cung cach đó…Trong thông-diễn-luận cái được triển khai cho Hiện thể là khả tính của sự diên thành (becoming) của Hiện thể và hữu (being) cho chính Hiện thể trong cách thế của một sự am hiểu (understanding) bản thân.” (G63, trang11)

 

(c̣n tiếp)

 

GHI CHÚ:

  

 *    Bài thơ René Char viết tặng Martin Heidegger nhân dịp ông sang dự hôi thảo ở vườn  Le Thor ,

       Pháp ngày 5 tháng 9 năm 1966. Bài thơ này lần đầu xuất hiện trong quyển Dans la pluie

        giboyeuse (Gallimard, 1968) sau đó được tác giả cho in lại trong tập thơ Le nu perdu (Gallimard

1971, trang 65.) Dịch nghĩa: Mùa thu tới lui không nhanh hơn chuyển động của cái bừa cào của người làm vườn. Mùa thu không ập vội trên tâm lơi đ̣i cành nhâp một với bóng cành.

      

**  Thông-diễn-luận triết-lư (philosophical hermeneutics) của Martin Heidegger được tŕnh

             bày chính yếu trong những tác phẩm sau đây (tác phẩm của Martin Heidegger được ghi

             theo Gesamtausgabe viết tắt là G theo sau là con số đánh theo nhà xuất bản Vittorio

             Klostermann). Để giản lược ghi chú, tên tác phẩm được nhắc tới theo cách:  

 

G2:   Sein und Zeit, 1927 (Being and Time, Joan Stambaugh dịch sang Anh ngữ)

G17: Einfuerung in der phanomenologische Forschung, 1923 (Introduction to

       Phenomenological Research, Daniel O. Dahlstrom dịch sang Anh ngữ)

          G20: Prolegomena zur Geschite des Zeitbegriffs, 1925 (History of the Concept of

      Time, Theodore Kisiel dịch sang Anh ngữ)

          G21: Logik: Die frage nach der Wahrheit, 1925

          G24: Die Grundprobleme der Phanomenologie, 1927 (The Basic Problems of

                   Phenomenology, Albert Hofstadter dịch sang Anh ngữ)

          G40: Einführung in die Metaphysik, 1935 (Introduction to Metaphysics, Ralph Manheim

                   dịch sang Anh ngữ)

          G56/57: Zur Bestimmung der Philosophie, 1919 (Towards the Definition of Philosophy).

          G61: Phanomenologische Interpretationen zu Aristoteles, 1921 (Phenomenological

Interpretations of Aristotle, Richard Rojcewicz dịch sang Anh ngữ)

          G63: Ontologie: Hermeneutik der Faktizität, 1923 (Ontology – The Hermeneutics of

     Facticity, John van Buren dịch sang Anh ngữ)

           

             (1)  Muốn t́m hiểu thêm về đề tài này xin đọc: Đặng Phùng Quân, Cơ Sở Tư Tưởng Thời Quá Độ, Chương

                    6 “Thông Giao Hay Tranh Biện Triết Lư” trang 197-234.

(2)   G2: Sein und Zeit, Dẫn Nhập II, tiết 7c :“Hiện-tượng-luận về Hiện-thể (Dasein) là thông-diễn-luận hiểu theo nghĩa nguyên ủy của từ  này, theo đó từ này chỉ định công việc lư/diễn giải.” (Bản Anh ngữ của Joan Stambaugh trang 33)

(3)   G63, Ontologie: Hermeneutik der Faktizitäk, 1923; bản Anh ngữ Ontology – The Hermeneutics of Facticity, John van Buren dịch, Indiana University Press 1999.

(4)     Wilhelm Dilthey, Schleiermacher’s Hermeneutical System in Relation to Earlier Protestant Hermeneutics (1860) in Wilhelm Dilthey Selected Works, Vol IV, Princeton Unversity Press, 1996)

(5)     On the Way to Language, A Dialogue on Language (trang 11 bản Anh ngữ của Peter D. Hertz.)