đào trung đąo
3-Zero
±±triết học ±± lư thuyết văn chương ±±phê b́nh văn chương
≤≤ cùng một khác
(97)
Blanchot/Hölderlin
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97,
Nói rằng thi sĩ kẻ hai lần bất trung điều này có ư nghĩa ra sao? Trên lộ tŕnh thi ca tư tưởng cũng như sinh mệnh bản thân cuộc trở về với thế giới hiện tiền của Hölderlin thật bí ẩn và đầy xúc động. Tư tưởng ḥa nhập trọn vẹn với tự nhiên và thần linh thời viết Hypérion và Cái chết của Empédocle đến khi vào tuổi trung niên Hölderlin cảm thấy ư tưởng này đă trở thành một sự quá độ đầy đe dọa, sự dấn thân trước đây như một hứa hẹn của tâm hồn thi sĩ muốn xác định không ngần ngại nay đă biến thành một chuyển động thực sự quá độ. Bắt đầu từ khoảng năm 1801 đến 1805 khi sự điên loạn chưa đưa đến sự suy xụp trong những bài tụng ca cuối cùng của ḿnh Hölderlin đă nói đến sự quá độ này, áp lực lực xô đẩy chính thi sĩ thời trẻ đă tự đặt ḿnh hướng đến một thế giới tức thời của thần linh nên đă nỗ lực làm chủ bản thân đối với lời kêu gọi khó bề cưỡng chống để trụ vững, để đặt nền tảng cho việc trụ vững vả ở lại trên trái đất như đă được biểu đạt thật minh bạch trong những câu thơ cuối đời “Và như thể trên vai có một gánh nặng, có quá nhiều thứ phải chịu đựng…” “Và ham muốn sẽ luôn hướng về sự vô hạn. Nhưng có quá nhiều thứ phải chịu đựng.” (Et comme sur les épaules une charge de bûches, il y a beaucoup à contenir…Et toujours vers l’illimité va le désir. Mais il y beaucoup à contenir.) Về sự thử thách tiếp cận “lửa trời” Hölderlin nhận ra càng khẳng định sự thiết yếu bao nhiêu càng phải thận trọng cân nhắc và coi đó là một kinh nghiệm hiểm nguy. Hơn nữa đó c̣n là một kinh nghiệm không có thật khi kinh nghiệm này muốn là sự thông giao tức thời và với cái tức thời như trong nhận định: “Cái tức thời, theo đúng nghĩa, là bất khả đối với nhân gian cũng như với những người đă chết; thần linh phải phân biệt những thế giới khác nhau, đúng theo bản chất của nó, bởi cái thiện thiên đ́nh, đă tự có sự xét đoán, phăi măi là thiêng liêng, không pha trộn. Chính con người cũng vậy, con người như khả năng tri thức, phải phân biệt những thế giới khác nhau, bởi v́ tri thức chỉ có thể có được bởi sự đối nghịch của những cái trái ngược nhau.”(1) Blanchot cho rằng khi nói như vậy Hölderlin đă có sự sáng suốt cương dũng, và đó cũng là một xác quyết mạnh mẽ về những giới hạn của kinh nghiệm thi sĩ muốn nói với mọi người là phải từ bỏ không thương tiếc cái kinh nghiệm hướng đến cái tức thời bởi hai lư do: trải qua kinh nghiệm này không những là đánh liều hy sinh tính mạng sẽ bị tiêu hủy trong lửa mà c̣n v́ con người không thể nào trải qua kinh nghiệm này được, cái tức thời là bất khả.
Quan niệm “Quay trở lại bản địa” (retournement natal) của Hölderlin không những rất phong phú mà c̣n rất xa lạ đối với ư muốn đơn thuần. Cảm hứng đưa đến quan niệm này không chỉ gồm việc nhận lănh tia sáng thiêng liêng và làm nó dịu đi khiến nó không thiêu đốt con người. Nhiệm vụ của thi sĩ do đó không chỉ giới hạn trong việc đơn giản làm trung gian do đ̣i hỏi phải đứng thẳng trước Thượng đế. Nhưng đúng ra trước sự vắng mặt của Thượng đế thi sĩ phải trụ lại làm kẻ canh giữ sự vắng mặt này – thi sĩ không đánh mất bản thân trong sự vắng mặt cũng như không để sự vắng mặt này mất đi – phải chịu đựng, ǵn giữ chính sự bất trung với thần linh – như Hölderlin chỉ ra “dưới h́nh thức của tính chất bất trung ở đó có sự quên lăng hết thảy” (sous la forme de l’infidélité où il y a oubli de tout) để đi vào thông giao với vị thần linh sẽ quay trở lại. Từ kinh nghiệm này của Hölderlin, Blanchot rút ra nhận định về chỗ đứng của thi sĩ hôm nay: Giờ đây thi sĩ không phải đứng giữa những thần linh và những con người như kẻ làm trung gian nhưng thi sĩ phải đứng giữa sự bất trung hai lần, nghĩa là trụ lại ở giao điểm của sự quay trở lại của cả thần linh lẫn con người. Đó là một chuyển vận hai chiều đi lại mở ra một đứt quăng (hiatus) một khoảng trống, khoảng trống này từ nay trở đi tạo nên một tương quan thiết yếu giữa hai thế giới. “Như thế thi sĩ cũng phải chống trả lại khát vọng những thượng đế đă khuất và lôi kéo thi sĩ về phía họ trong sự biến mất của họ (đặc biệt là Christ Cứu thế); thi sĩ phải chống đối lại sự tồn tại giản đơn trên mặt đất, sự tồn tại này không do thi sĩ tạo lậm nên; hắn phải hoàn tất sự lật ngược kép, gánh chịu sức nặng của sự bất trung kép và cũng giữ cho hai thế giới phân biệt nhau, bằng đời sống thuần khiết của sự chia cách, bởi cái nơi chốn trống không và thuần túy phân biệt những thế giới này, đó chính là cái thiêng liêng, tính chất thân thiết của sự cắt rời là cái thiêng liêng.”(2)
Sự rời xa thần linh của Hölderlin là một kinh nghiệm ẩn mật và việc quay trở lại chốn bản địa là “giới hạn tuyệt cùng của khổ đau” như chính thi sĩ đă nói ra. Theo Blanchot việc quay trở lại này không thể được giải thích một cách vội vă như một số nhà tâm bệnh học cho đó là việc quay trở về thời thơ ấu thân thương hay quay trở về bào thai bụng mẹ. Đó cũng không phải là vinh danh quê hương tổ quốc trần gian hay t́nh cảm yêu nước hoặc sự quay lại với những nhiệm vụ đời thường. Nhưng ư tưởng cũng như nhăn quan của sự quay lại bản địa dứt khóat này trong khoảnh khắc sinh tử ở đó thời gian quay trở lại là lời đáp ứng với điều trước đó Jean-Paul và sau này Nietszche tuyên bố: đó chính là Cái Chết của Thượng đế. Thế nhưng, với Hölderlin, biến cố “Thượng đế đă chết” chỉ ra hoàn cảnh chúng ta hiện nay đang ở bước ngoặt và thi sĩ cảm nhận được nơi biến cố này một sức mạnh thúc đẩy việc quay trở lại bản địa. Blanchot viết: “Thi sĩ là kẻ nơi hắn, một cách thiết yếu, thời gian quay trở lại và với hắn, luôn luôn, trong thời gian này, thần linh quay trở lại và bỏ đi. Nhưng Hölderlin cũng quan niệm, một cách sâu thẳm rằng sự vắng mặt của thần linh không phải là một h́nh thức của mối tương quan thuần túy tiêu cực; đó chính là lư do tại sao sự vắng mặt này là khủng khiếp; nó khủng khiếp không chỉ bởi nó lấy đi khỏi chúng ta sự hiện diện bao dung che chở của thần linh, lấy đi sự thân thuộc của lời nói gây hứng khởi, không chỉ bởi sự vắng mặt này bỏ mặc chúng ta trong thiếu thốn và khổ nạn của một thời gian trống rỗng, nhưng bởi nó thay thế vào chỗ ân sủng chừng mực bằng những h́nh thức thần linh như người Hy Lạp h́nh dung những h́nh thức này, những vị thần linh của ngày, những vị thần linh của sự hồn nhiên khởi đầu, một mối tương quan, mối tương quan không ngừng đe dọa xé rách chúng ta và làm chúng ta lạc đường, với cái cao xa hơn cả những thần linh, với chính cái thiêng liêng hay với yếu tính đă bị biến đổi thành xấu xa của nó.”(3)
Theo Blanchot, đó chính là sự bí ẩn của đêm rời xa những thần linh. Ban ngày những thần linh có h́nh thức của ngày chiếu sáng, cai quản và giáo dục con người, biến tự nhiên thành dạng thức của kẻ nô lệ. Nhưng vào thời gian của đêm tối cái linh thiêng trở thành thần trí của thời gian quay trở lại và mang đi tất cả “khi đó nó không có sự cai quản, nó là tinh thần của sự man dại không biểu lộ ra và muôn thuở sống động, là tinh thần của vùng đất của những kẻ đă chết” (il est alors sans ménagement, il est l’esprit de la sauvagerie inexprimée et éternellement vivante, l’esprit de la région des morts). Chính trong hoàn cành này thi sĩ kẻ ham muốn sự quá bị độ xô đẩy khó bề cưỡng lại về phía cái không ràng buộc và chính v́ thế thi sĩ cũng có nhiệm vụ nặng nề phải tự làm chủ, giữ vững ư chí phân biệt cho rơ ràng để duy tŕ sự phân biệt những thế giới, làm vậy cũng có nghĩa duy tŕ nơi chốn của sự đứt ĺa vẫn được thuần túy và trống không để cho sự trở lại vĩnh cửu của thần linh và của con người hiện ra. Nơi chốn đó cũng là không gian thuần túy của cái thiêng liêng, cái nơi chốn Blanchot gọi là “nơi chốn của giữa-hai, thời gian của giữa-thời-gian” (le lieu de l’entre-deux, le temps de l’entre-temps). Blanchot trích dẫn một khổ của bài thơ Mnémosyne của Hölderlin để chứng minh ư tưởng này:
Những kẻ bất tử hoàn toàn không thể như,
Con người sớm đụng chạm
Tới vực thẳm. Như thế cùng với họ
Sự trở lại hoàn tất. (4)
Blanchot giải thích “vực thẳm” ở đây được dành cho con người (les mortels) nhưng không chỉ là vực thẳm trống không mà là chiều sâu man rợ và muôn đời sinh động ở đó những thần linh được duy tŕ, cất giữ. Thần linh được chúng ta lưu giữ nơi vực thẳm nhưng thần linh không đi xuống vực thẳm theo cách con người. Đúng ra chính trong trái tim con người trở thành nơi chốn ánh sáng được cảm nhận, nơi chốn của sự thân thiết, tiếng vang của chiều sâu trống rỗng trở thành lời và chân lư của sự quay trở lại hoàn thành. Thế nhưng, trở thành lời không phải do sự hóa thân đơn giản và dễ dàng. Blanchot dẫn chứng quan niệm của Hölderlin về nhiệm vụ của lời thơ (parole poétique) không thuộc về ngày cũng không thuộc về đêm nhưng luôn cất tiếng giữa ngày và đêm và chỉ một lần cất tiếng nói lên chân lư và luôn luôn không được biểu đạt ra này đă được Hölderlin viết ra khoảng năm 1801 trong những câu thơ chính xác tuyệt vời của bài Germanie:
Nhưng tràn đầy hơn hẳn những nguồn trong vắt
Vàng tuôn chảy và khi sự giận dữ trên trời trầm trọng hơn
Rằng giữa đêm và ngày
Chân lư phải một lần hiện ra.
Hăy ghi chép lại trong một hóa thân ba lần,
Dù luôn luôn không được tỏ bày, như là vậy,
Hồn nhiên, vẫn măi măi phải thế . (5)
__________________________________
(1) Blanchot trích dẫn Hölderlin, L’Espace littéraire trang 369: L’immédiat, dit-il, est, au sens strict, impossible aux mortels comme aux immortels; le dieu doit distinguer des mondes différents, conformément à sa nature, parce que la bonté céleste, eu égard à elle-même, doit rester sacrée, non mélangée. L’homme lui aussi, comme puissance connaissante, doit distinguer des mondes différents, parce que seule l’opposition des contraires rend possible la connaissance.
(2) Maurice Blanchot, L’Espace littéraire trang 370-371: Le poète doit ainsi resister à l’aspiration des dieux qui disparaissent et qui l’attirent vers eux dans leur disparition (notamment le Christ); il doit resister à la pure et simple subsistance sur la terre, celle que les poètes ne fondent pas; il doit accomplir le double renversement, se charger du poids de la double infidélité et maintenir ainsi distinctes les deux sphères, en vivant purement la séparation, en étant la vie pure de la séparation même, car ce lieu vide et pur qui distingue les sphères, c’est là le sacré, l’intimité de la déchirure qu’est le sacré.
(3) Sđd, trang 371-372: Le poète est celui en qui, essentiellement, le temps se retourne et pour qui, toujours, dans ce temps, le dieu se tourne et se détourne. Mais Hölderlin conçoit, aussi, profondément que cette absence des dieux n’est pas une forme purement négative de rapport; c’est pourquoi elle est terrible; elle l’est, non seulement parce qu’elle nous prive de la présence bienveillante des dieux, de la familiarité de la parole inspirée, non seulement parce qu’elle nous rejette sur nous-même dans le dénuement et la détresse d’un temps vide, mais parce qu’elle substitutue à la faveur mesurée des forms divines telles que les Grecs les représentent, dieux du jour, dieux de la naïveté initiale, un rapport, qui risque sans cesse de nous déchirer et de nous égarer, avec ce qui est plus haut que les dieux, avec le sacré lui-même ou avec son essence pervertie.
(4) Blanchot dịch khổ thơ này sang Pháp văn:
Ils ne peuvent pas tout,
Les Célestes. Les Mortels touchent
Plutôt à l’abîme. Ainsi avec eux
S’accomplit le retournement.
Blanchot không nói rơ đă trích khổ thơ này trong bài Mnémosyne bản viết thứ mấy v́ cả thẩy Hölderlin để lại 3 bản thảo bài thơ này. Theo ghi chú của Philippe Jaccottet trong Hölderlin, Œuvres (Gallimard trang 1221) th́ việc thiết lập đúng lại bài thơ này là bất khả dù cho nỗ lực của Freidrich Beissner rất đáng kể. Bản thảo đầu tiên mang tựa đề Rắn nhưng sau tựa đề này đó bị gạch bỏ có lẽ v́ không liên hệ ǵ tới bản viết và rồi được sửa thành Thiên nga. Một bản sơ thảo khác lại mang tựa đề trước đó là Nữ Thủy thần rồi sau đó đổi là Mnémosyne. Tra cứu bản thảo viết lần thứ nh́ (trong Hölderlin, Œuvres trang 879) cũng như bản thảo viết lần thứ ba (trong Freidrich Hölderlin, Poems and Fragments bản Anh văn của Michael Hamberger) đều không có khổ thơ Blanchot trích dẫn. Do đó có thể cho rằng Blanchot đă sử dụng bản in của Freidrich Beissner (1916) và đó là bản thảo đầu tiên bài Mnémosyne.
(5) Maurice Blanchot dịch khổ thơ này như sau:
Mais si plus abondamment que les pures sources,
L’or ruiselle et quand au ciel la colère s’aggrave,
Il faut qu’entre jour et nuit
Une fois apparaisse une vérité.
Dans une triple metamorphose transcris-la,
Pourtant toujours inexprimée, telle qu’elle est,
Innocente, telle elle doit rester
Nguyên bản tiếng Đức:
Wo aber überflüssiger, denn lautere Quellen
Das Gold und ernst geworden ist der Zorn an dem Himmel,
Muß zwischen Tag und Nacht
Einsmals ein Wahres erscheinen.
Dreifach umschreibe du es,
Doch ungesprochen auch, wie es da ist,
Unschuldige, muß es bleiden.
Gustave Roud dịch sang Pháp văn (Hölderlin, Œuvres trang 858):
Mais aux lieux où l’or surpasse en profusion les sources pures,
Où le courroux du Ciel va s’aggravant,
Il faut enfin qu’entre le jour et la nuit apparaisse
Un mystère en sa vérité.
Évoque-le trois fois.
Tel que le voici cependant, ô Innocente,
Il doit demeurer tu.
Michael Hamberger dịch sang Anh văn:
But where more superabundant than purest well-springs
The gold has become and the anger in Heaven ernest,
For once between Day and Night must
A truth be made manifest.
Now threefold circumscribe it,
Yet unuttered also, just as you found it,
Innocent virgin, let it remain.
c̣n tiếp)
đào trung đąo
http://www.gio-o.com/daotrungdao.html
© gio-o.com 2015