đào trung đąo
3-Zero
±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương
≤ cùng một khác
(71)
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71,
Để chứng minh luận điểm của Blanchot coi trung tính như kinh nghiệm về số phần (destiny) Leslie Hill cho rằng Blanchot đă phản biện, đáp lời Heidegger diễn giải từ Moira của Parmenide có nghĩa bao hàm sự hiện diện (presence) của cái hiện diện (the present) là số phần của Hữu. Leslie Hill trích dẫn Heidegger: “cái được thu tập và như vậy là sự đưa tới mở ra của sự hiện diện như sự hiện diện của cái hiện diện”(1) và cho rằng trong khi Heidegger sử dụng Moira trong bản văn của Parmenide như phương tiện để triển khai ư niệm về sự khác biệt hữu thể luận dựa trên sự hiện diện và cái hiện diện như suy tưởng về sự hiển lộ của Hữu th́ Blanchot đọc bản văn của Parmenide khác với Heidegger: số phần được quan niệm như sự chống trả gián tiếp sự đưa đến/tới (destination) như chân lư, số phần như trung tính quay lưng lại với sự hiện diện. Sự đưa tới/đến như thế không được đồng nhất với sự hiển lộ của sự hiện diện và với chân lư của Hữu nhưng chỉ như sự xảy ra tức thời (instantiation) của trung tính mà thôi, diện mạo của số phần trở thành một diện mạo của sự không có giới hạn (limitless) lang thang bên ngoài hữu và vô hữu, và là một dấu vạch của cái đă luôn luôn tự rời bỏ và luôn luôn mang dấu vạch hay vạch-lại (re-mark) của sự chạm mặt không phải với hữu nhưng với sự bất khả hữu và với cái khác. Leslie Hill nhận xét rằng trung tính nơi Blanchot tăng tốc triển khai ngấm ngầm ở thập niên 50s nói lên quết định rời bỏ nguyên lư hữu thể luận dù chỉ là tạm thời khi diễn giải về tiền khái niệm Il y a do Levinas đưa ra, không coi trung tính như sự biện giải cho Hữu và khi Blanchot chuyển hướng trọng tâm tư tưởng về trung tính th́ vấn đề Hữu đă không c̣n chiếm ưu tiên như được tŕnh bày trong L’Entretien infini. “Tư tưởng về cái trung tính cho phép Blanchot không những tiếp tục việc giới hạn biện chứng Hegel như lư luận của il y a đă cho phép mà c̣n treo lửng vấn đề Hữu như Heidegger đă tŕnh bày cả trong hữu thể luận nền tảng của những năm 20s và 30s và phê b́nh hữu thể luận của ông ta sau đó, và khi làm như vậy, [Blanchot] bắt đầu tháo gỡ sự cam kết với nhất tính và toàn thể tính, nhất tính và toàn thể tính này, với Blanchot, dưới cái tên Cái Một, và như vậy vẫn c̣n là di sản chung và măi tồn tại của truyền thống siêu h́nh học.”
Blanchot quan niệm Trung tính không như Il y a chỉ hướng về Kẻ Khác mà c̣n hướng đến tư tưởng, tư duy văn chương. Blanchot viết: “Giữa hai mệnh đề đặt dưới dạng câu hỏi một cách sai lầm: tại sao lại có một cái ǵ đó thay v́ không có ǵ hết? và tại sao lại có cái ác thay v́ cái thiện? tôi không nhận ra sự khác biệt người ta có chủ ư phân ra ở đó, bởi v́ cả hai mệnh đề đầu được cưu mang bởi một “il y a/có đó”, cái il y a này không phải là hữu thể cũng chẳng là hư vô, chẳng là thiện cũng không là ác và không có nó th́ tất cả sụp đổ hay như vậy đă tự sụp đổ rồi. Trên hết thảy, cái il y a, trong chừng mực là trung tính, coi nhẹ cái câu hỏi đặt trên nó: bị tra hỏi, nó thẩm thấu một cách khôi hài sự tra hỏi không thể nào chế ngự nó. Ngay cả nếu như nó để bị thắng thế, th́ chính sự thất bại là sự thích ứng không thích ứng, ngay cả sự xấu xa vô tận như đúng thực trong chừng mực nơi nó bắt chước (một cách vờ vĩnh) sự siêu vượt và, như vậy, nó tố cáo sự hàm hồ thiết yếu, tính chất bất khả, cho bất khả tính này, được đo lường bởi bằng cái đúng thực hay bởi cái chính đáng.”(3) Tuy Blanchot không nêu tên người đặt câu hỏi: “tại sao lại có một cái ǵ đó thay v́ không có ǵ hết?” là ai nhưng chúng ta không khó nhận ra đó là câu hỏi Heidegger đưa ra để mở đầu cho quyển Eiführung in de Metaphysik, c̣n câu “tại sao lại có cái ác thay v́ cái thiện?” là câu hỏi xương sống hướng dẫn toàn bộ tư tưởng Levinas: Blanchot có ư bác bỏ cả Heidegger lẫn Levinas.
Như vậy Trung tính không thể được thu giảm vào chân lư của Hữu. Ngay từ đầu Blanchot đă dửng dưng với chuyển vận phơi mở/che dấu như Heidegger đă chỉ ra. Trung tính không dính dáng ǵ tới Hữu hay không-Hữu, không thuộc về phạm vi của kiến-bất kiến. Đi xa hơn nữa, khi khẳng định biện chứng pháp, hữu thể luận và phê b́nh hữu thể luận cả ba đều đặt trên định đề của cái Một v́ hoặc cái Một là cái tự hoàn thành như tất cả hay bởi cái Một được coi như hữu thu tập, ánh sáng và đơn nhất tính của Hữu, và cũng bởi cái Một tự khẳng định như cái Tuyệt đối. Blanchot đặt câu hỏi sâu xa nhất trước định đề này: câu hỏi sâu xa nhất là câu hỏi không có trả lời, thoát khỏi sự qui chiếu về cái Một, là câu hỏi của cái Khác và luôn luôn cũng là câu hỏi khác. Như vậy Blanchot nỗ lực tách ḿnh rời khỏi không những siêu h́nh học Tây phương mà c̣n cả tư tưởng Hy Lạp nói chung, điều trái ngược hẳn với Heidegger là kẻ truy t́m nguồn tư tưởng nơi các triết gia cổ đại Hy Lạp như Parmenide, He1raclite, Anaximande. Để đạt mục tiêu này Blanchot trong những bản văn của ḿnh đă khởi đầu tái xác định ưu tiên triệt để và không thể thu giảm của tha tính, rằng tha tính này nằm bên ngoài ngôn ngữ và thuộc về cơi ngoài chính v́ phẩm chất của giải tác, nghèo nàn, lang thang, đoạn rời hay đa phức của ngôn ngữ. Leslie Hill nhận định: “Tác động của tư tưởng về cái trung tính trên tác phẩm của Blanchot rơ rệt chỉ ra ba khía cạnh. Trước hết, kể từ giữa những năm 60s trở đi, tư tưởng này cho phép ông ta biểu đạt, ngay trong triết học, đó là điều trong sự nh́n lại/tái duyệt xét có toàn thể những xác nhận phẩm chất của một chiến thuật hủy tạo riêng biệt. Kế đó, cái trung tính cho ông ta phương tiện để tái định thức những hạn từ của sự thách thức và như thế đặt ra cho triết lư bởi văn chương và viết/văn tự. Blanchot làm công việc này trong một loạt những bài khảo luận được tiếp tục viết ra từ những năm đầu thập niên 60s, chính yếu trong số những bài khảo luận này là hai bài ông ta viết vào năm 1964 về Kafka, bài ‘Le Pont de bois/Cái cầu bằng gỗ’ (trong L’Entretien infini trang [EI] 568-82), bài ‘La Voix narrative/Tiếng nói tự sự’ (EI, 556-67; 379-96) và một bài khảo luận dài về André Breton và chủ nghĩa Siêu thực được xuất bản ba năm sau đó dưới nhan đề ‘Le Demain joueur/Tay chơi mai mốt’ (EI, 597-619; 407-21). Trong những bài khảo luận này và những bài khác viết trong cùng giai đoạn, văn chương được Blanchot nh́n trong một ánh sáng mới mẻ. Sinh phần của văn chương không c̣n bị gắn liền với vấn đề về hữu trong thời khổ nạn [Hölderlin/Heidegger]; thay vào đó, theo Blanchot, nay ta thấy rơ là văn chương đă can thiệp vào việc treo lửng sự chọn lựa lần lượt giữa hữu và không-hữu, và rằng, bằng cách vượt khỏi sự chọn lựa này, viết/văn tự đă bắt đầu đáp ứng một sự cấp thiết, một đ̣i hỏi, viết/văn tự không thể được đặt thành vấn đề trong mối tương quan với hữu hay không-hữu nữa, nhưng chỉ được h́nh tượng ra như mối tương quan vô cùng tận của không-tương quan với kẻ/cái Khác. Như Blanchot gợi ư, có lẽ vẫn c̣n ḍ dẫm, như trong bài ‘La Voix narrative/Tiếng nói tự sự/kể truyện/trần thuật’: “mọi ngôn ngữ khởi đầu bằng đưa ra những phát biểu, và xác nhận trong việc đưa ra những phát biểu. Nhưng rất có thể rằng sản xuất ra một tự sự (viết) là kéo ngôn ngữ vào trong một khả tính của nói, khả tính nói này sẽ nói mà không nói hữu và cũng không phủ nhận hữu – hay nói thế khác, một cách sáng tỏ hơn, tất cả quá sáng tỏ, rằng thiết lập một trung tâm của hấp lực/sức hút của lời nói ở đâu đó, nơi nói sẽ không là xác nhận hữu hay cần đến sự phủ nhận để treo lửng/làm ngưng lại công việc của hữu thường được hoàn tất trong mọi h́nh thức của biểu tỏ. Về phương diện này th́ tiếng nói tự sự/kể truyện là phê phán hơn cả, tiếng nói này, không được nghe thấy, rất có thể đưa ra để được nghe thấy.” Khi đọc và trích dẫn bài ‘La voix narrative’ của Blanchot trong EI (556-567) Leslie Hill đă bỏ sót một chi tiết quan trọng: tựa đề nguyên văn bài này của Blanchot là ‘La voix narrative (le “il”, le neutre)’(5). Tương tự, nguyên văn tựa đề bài Boanchot viết về Kafka là ‘Le pont de bois (la répétition, le neutre)’. Khi Leslie Hill bỏ sót những chi tiết này nên đă không nhấn mạnh tới chủ ư của Blanchot trong hai bài viết này là nói về cái Trung tính trong văn chương.
____________________________________
(1) Leslie Hill, Blanchot extreme contemporary trang 139: ‘the gathered and thus unfolding destination of presence as the presence of the present’ (‘die in sich gesammelte und also entfaltende Schikung des Anwesens als Anwesen von Anwesendem’ – Martin Heidegger, ‘Moira’ (Parmenides VIII, 34-41, in Vorträge und Aufsätze (Pfullingen, Neske, 1954), 243-244)
Bản dịch Pháp văn quyển Vorträge und Aufsätze/Essais et conférences của André Préau (Gallimard, 1958) trang 304 dịch toàn thể đoạn văn này như sau: “Parmenide parle de ‘l’έόν, de la présence (des choses présentes), du Pli, mais nullement de l’ ”étant”. Il nomme la Mοίρα, l’attribution, qui accordant répartit et qui ainsi ouvre le Pli. L’attribution dispense le Pli, elle en munit, en fait don. Elle est la Dispensation (Schickung), en elle-même recueillie et ainsi dépliante, qui envoie la présence (Die…Schickung des Anwesens) comme présence de choses présentes.” Khi trích dẫn một phần câu nói của Heidegger như vậy Leslie Hill đă bỏ qua quan niệm của Heidegger về Zwiefalt/Vết gấp có nghĩa hữu hiểu như hưu kép gồm cả hữu và vật hiện sinh. Heidegger dùng từ Zwiefalt để đối lập với Einfache (cái đơn giản) như đơn tính không phơi mở cũng không nhân đôi (kép).
(2) Sđd, trang 140: The thought of the neutre allows Blanchot not only to pursue the delimitation of Hegelian dialectics that the logic of the il y a had already allowed, but also to suspend the question of Being as formulated by Heidegger both in fundamental ontology of the 1920s and 1930s and his subsequent critique of of ontology, and, in doing so, to begin to dismantle the commitment to unity and totality that, for Blanchot, under the name of the One, remains the common and abiding legacy of the metaphysical tradition as such.
(3) Maurice Blanchot, L’Écriture du désastre, Gallimard 1980, trang 107-108: Entre les deux propositions faussement interrogatives: pourquoi y a-t-il quelque chose plutôt que rien? Et pourquoi y-a-t-il le mal plutôt que le bien? Je ne reconnais pas cette différence qu’on pretend y discerner, puisque toutes deux sont portées par un “il y a” qui n’est ni être ni néant, ni bien ni mal et sans lequel tout cela s’effrondre ou s’est donc déjà effrondé. Surtout, l’il y a, en tant que neutre, se joue de la question qui porte sur lui: interrogé, il absorbe ironiquement l’interrogation qui ne saurait le surplomber. Même s’il se laisse vaincre, c’est que la défaite est sa convenance inconvenante, de même que le mauvais infini dans sa répétition perpétuelle le détermine comme vrai dans la mesure où il imite (faussement) la transcendance et, ainsi, en dénonce l’ambiguité essentielle, l’impossibilité, pour celle-ci, d’être mesurée par le vrai ou par le juste.
(4) Leslie Hill, Blanchot extreme contemporary trang 141: all language begins by making statements and in making statements affirms. But it may be that to produce a narrative (to write) is to draw language into a possibility of saying that would say without saying being and without denying it either (qui dirait sans dire l’être et sans non plus le dénier) – or again, more clearly, all too clearly, to establish the centre of gravity od speech elsewhere, where speaking would neither affirm being nor need negation to suspend the work of being that is accomplished ordinarily in all forms of expression. In this respect, the narrative voice is the most critical of all, which, unheard, might give to be heard [la plus critique qui puisse, ientendue, donner à entendre.]
Leslie Hill tuy đă dùng bản dịch Anh văn của Susan Hanson dịch giả EI/The Infinite Conversation trang 386-387 nhưng đă sửa đổi đôi chỗ. Nguyên văn bản dịch của Susan Hanson như sau : every language begins by declaring and in declaring affirms. But it may be that recounting (to write) draws langage into a possibility of saying that would say being without saying it, and yet without denying it either. Or again, to say this more clearly, too clearly: it would establish the center of gravity of speech elsewhere, there where speaking would neither affirm being nor need negation in order to suspend the work of being that is ordinarily accomplished in every form of expression. In this respect, the narrative voice is the most critical voice that, unheard, might give to be heard. This is why, as we listen to it, we tend to confuse it with the oblique voice of misfortune, or of madness.
Nguyên bản của Blanchot trong EI trang 567: …tout langage commence par énoncer et, en énonçant, affirme. Mais il se pourrait que raconter (écire), ce soit attire le langage dans une possibilité de dire qui dirait sans dire l’être et sans non plus le denier – ou encore, plus clairement, trop clairement, établir le centre de gravité de la parole ailleurs, là où parler, ce ne serait pas affirmer l’être et non plus avoir besoin de la négation pour suspendre l’œuvre de l’être, celle qui s’accomplit ordinairement dans toute forme d’expression. La voix narrative est, sous ce rapport, la plus critique qui puisse, ientendue, donner à entendre. De là que nous avons tendance, l’écoutant, à la confondre, avec la voix oblique du malheur ou la voix oblique de la folie./…mọi ngôn ngữ bắt đầu bằng phát biểu và, khi phát biểu, là xác nhận rồi. Nhưng rất có thể rằng kể truyện (viết), đó chính là kéo ngôn ngữ vào trong một khả tính của việc nói, khả tính nói này [đúng là] có nói đấy mà không nói hữu và cũng không phủ nhận hữu – hay nói cách khác, một cách thật sáng tỏ, thật là quá sáng tỏ, thiết lâp ra cái trung tâm của sức hút/hấp lực của lời nói ở đâu đó, nơi ấy nói, sẽ không là xác nhận hữu và cũng không cần tới sự phủ nhận để làm ngưng lại/treo lửng công tŕnh của hữu, cái công tŕnh thường thường tự hoàn thành trong mọi h́nh thức của sự diễn đạt. Tiếng nói tự sự này, dưới tương quan như vậy, là lời phê phán nhất nó có thể là, không được nghe thấy, nhưng lại cho [ta] nghe ra. V́ thế nên chúng ta có khuynh hướng, lẫn lộn nó với tiếng nói xéo ngang [gián tiếp] của sự bất hạnh hay tiếng nói xéo ngang của sự điên cuồng.
Trong phần ghi chú cho đoạn này Blanchot cho rằng ḿnh – rất có thể do không cẩn trọng hay v́ có lư do nào đó, nghe được trong những truyện kể của Marguerite Duras, cái giọng kể truyện Blanchot vừa nói đến ở trên. “Đêm tối vĩnh viễn không có rạng đông – cái sàn nhảy nơi xảy ra biến cố không thể mô tả mà người ta không thể nhớ lại được và người ta cũng lại không thể quên đi, nhưng sự quên lăng cầm giữ lại – sự ham muốn đêm tối quay trở lại dể nh́n cái ǵ không thuộc về kiến/nh́n được hay không nh́n được/bất kiến, nghĩa là trong khoảnh khắc, có đấy, do cái nh́n, thật kề cận với sự xa lạ, nơi mà chuyển động tự tŕnh diện – tự dấu mặt đă mất đi sức mạnh điều tiết – rồi đến cái nhu cầu (niềm ao ước muôn thưở của con người) làm cho nó được xác nhận bởi kẻ khác, được sống lại trong một kẻ khác, một người thứ ba, cái tương quan tay đôi, quyến rũ, dửng dưng, không thể thu giảm vào mọi sự làm trung gian nào, cái tương quan trung tính, ngay cả nếu như nó có ngầm chứa sự trống rỗng vô tận của sự ham muốn đi nữa…” Chúng tôi trích dịch đoạn văn này của Blanchot để, một cách cụ thể, chỉ ra sự can thiệp của Trung tính trong viết/văn tự vượt ngoài mối tương quan với cả Hữu lẫn không-Hữu để giải phóng văn chương khỏi sự cưỡng chế của triết lư. Văn chương và Triết lư từ nay là hai đỉnh cao song song (nói như Heidegger), nương tựa và nh́n ngắm nhau, dù rằng văn chương không có triết lư không thể là văn chương đích thực và tương tự như vậy triết lư nhất thiết phải là người bạn đồng hành gắn bó với văn chương.
(5) Maurice Blanchot, EI trang 556-567: về ‘le “il”:’ Trong L’espace littéraire Blanchot đă chỉ ra “viết, chính là đi từ ‘tôi’ sang “hắn ta”. Trong bài ‘La voix narrative’ này Blanchot nói rơ hơn về ‘le “il” ‘ và c̣n cho rằng ‘le “il” ‘ cũng là chủ từ vô tính “cái đó”: Cái “hắn ta/cái đó” là sự kiện (événement) xảy ra không được soi sáng của một cái ǵ đó có một nơi chốn khi người ta kế truyện. Và “hắn ta/cái đó” trong truyện kể cũng tách làm hai: một mặt, đó là cái sự thực khách quan (le réel objectif) để kể ra như nó tự tŕnh ra tức thời dưới con mắt quan tâm của người kể truyện, mặt khác cái có thực này tự thu giảm để trở thành một chùm của những cuộc đời riêng biệt (une constellation de vies individuelles), của những chủ thể tính, đó là cái “il” đa số và được nhân cách hóa, cái “ego/tôi” thể hiện dưới tấm màn che phủ của một cái “il” của sự hiện ra. Blanchot sau đó cũng c̣n cẩn thận giải thích: cái “il” không đơn giản chỉ chiếm nơi do chủ thể chiếm giữ xưa nay vốn vẫn được hiểu như vậy nhưng nó c̣n làm biến đổi, bằng sự cắt rời từng khúc cái người ta cho là nơi chốn: vị trí cố định, duy nhất hay được qui định bằng sự đặt vào chỗ của chủ thể. Thật ra, cái “il” tản mát theo kiểu của một sự thiếu/khuyết trong đa phức tính xảy ra đồng thời (la pluralité simultanée) nghĩa là sự lặp lại một nơi chốn di động và được chiếm giữ bằng nhiều cách. C̣n tại sao tiếng nói tự sự lại là trung tính? Một cách ngắn gọn: một mặt, v́ nó không nói ǵ, không những chỉ không thêm ǵ vào cái phải nói ra (nó chẳng biết ǵ cả) mà c̣n bởi nó hiểu ngầm cái không ǵ cả (le rien); mặt khác, v́ chính nó không có sự hiện hữu của riêng nó, trong khi không cất tiếng ở đâu (ne parlant de nulle part) ở trạng thái lửng lơ trong toàn thể câu truyện kể, nó lại cũng không tự biến đi theo kiểu ánh sáng vốn không thể nh́n thấy được làm cho nh́n thấy được: nó tuyệt đối ở bên ngoài, nó cũng đến từ ngoại giới, cái bên/cơi ngoài vốn là sự bí ẩn riêng của ngôn ngữ và văn tự. (EI, 565)
(c̣n nữa)
đào trung đąo
http://www.gio-o.com/daotrungdao.html
© gio-o.com 2015