đào trung đąo
3-ZerO
±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương
≤≤ cùng một khác
(93)
Phụ Lục: Heidegger/Hölderlin/Blanchot
1. Heidegger/Hölderlin
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93,
Vấn đề thứ nh́: Đảo ngược (Chiasmus): Yếu tính của Thi ca/Yếu tính của ngôn ngữ.
Trong bài “Der Ursprung des Kunstwerkes/Nguồn gốc của Tác phẩm Nghệ thuật” (1935-1936, bài đầu trong tập Holzwege) Heidegger cho rằng tất cả mọi nghệ thuật là “thi ca”, mọi nghệ thuật đều “có tính chất ngôn ngữ” hiểu theo nghĩa hữu thể luận. Điều này có nghĩa thay v́ đồng hóa thi ca với nghệ thuật Heidegger “ngôn ngữ hóa” mọi nghệ thuật để chuyển ngược nghệ thuật vào thi ca. Warminski đề ra nhiệm vụ t́m kiếm sự tương đương của việc nhấn ch́m một cách có hệ thống “người Ai Cập” để tóm lược, phá bỏ sự đối xứng (asymmetricalize): 1) lược đồ lịch sử của “chúng ta và họ”; 2) tính chất đồng nhất của nghệ thuật và thi ca; 3) mối tương quan xây dựng hỗ tương của thi ca và triết lư – trong diễn giải của Heidegger về bản chất ngôn ngữ của thi ca, “ngôn ngữ tính” của thi ca.”(1) Tuy không trực tiếp nói ra nhưng chúng ta cũng hiểu được Warminski muốn viết lại “cái phủ định” theo ngôn từ triết lư của Heidegger sang “cái phủ định” theo ngôn từ ngữ học để chỉ ra sự bất đối xứng xét trong khuôn khổ các vấn đề (1), (2), và (3) nêu trên, và cũng để đặt câu hỏi về “double Not/cái Không kép” trong diễn giải về yếu tính của ngôn ngữ và yếu tính của thi ca của Heidegger có phải cũng là cái “Không kép” của Hölderlin không, và nếu không th́ liệu có một cái “Không khác/other Not” không được tư tưởng (unthought) trong tư tưởng Heidegger hay không.
Warminski bắt đầu phản biện bằng cách đi từ quan niệm về mối quan hệ giữa yếu tính của ngôn ngữ với yếu tính của thi ca Heidegger tŕnh bày trong bài “Hölderlin và Yếu tính của Thi ca”. Warminski t́m hiểu quan niệm về “tính chất phủ định” (negativity) của Heidegger bao hàm trong hai từ Nicht (Not/không) và Nichts (Nothing/không có ǵ) được sử dụng làm trục xoay cho lư luận nghịch đảo yếu tính của ngôn ngữ và yếu tính của thi ca. Ngay phần mở đầu “Hölderlin và Yếu tính của Thi ca” Heidegger cho người đọc biết lược đồ biện giải qua năm “câu thơ/văn ch́a khóa” (The five key verses) của Hölderlin: 1) Làm thơ là “nghề nghiệp hồn nhiên vô tội nhất trong các nghề”(Dichten: Diss unschuldigte aller Geschäffte); 2) “Do đó tại sao ngôn ngữ, nguy hại nhất trong các tiện ích, lại đă được ban cho con người…để cho con người làm chứng cho cái hắn là ǵ” (Darum ist der Güter Gefälichtes, die Sprache dem Menschen gegeben…damit er zeuge, was er sei); 3) “Con người đă trải nghiệm nhiều/Đă đặt tên rất nhiều thứ thuộc thiên đ́nh/Bởi chúng ta đă là một cuộc tṛ truyện/Và có thể nghe nhau nói”; 4)Nhưng cái ǵ lưu tồn là do thi sĩ tạo dựng; 5) Hoàn toàn xứng danh, thế nhưng con người một cách thi tính/Cư ngụ trên trái đất này”. Ngay sau phần trích dẫn Heidegger giải thích lư do tại sao lại chọn Hölderlin mà không phải những thi sĩ lẫy lừng khác như Homer, Sophocles, Vigil, Dante, Shakespeare hay Gœthe: “Tôi không chọn Hölderlin bởi tác phẩm của ông ta, là một trong rất nhiều tác phẩm, thể hiện yếu tính phổ quát của thi ca, nhưng đúng ra bởi thi ca của Hölderlin được chống đỡ bởi toàn thể sứ mệnh thi ca của ông: làm những bài thơ chỉ về yếu tính của thi ca. Đối với chúng ta Hölderlin theo một ư nghĩa thượng đẳng ông ta là thi sĩ của thi sĩ. Và chính v́ lư do này ông ta áp đặt một quyết định lên chúng ta…Trật tự đặc biệt của những câu thơ này và sự kết nối chặt chẽ nội tại của chúng sẽ đặt ra trước mắt chúng ta bản chất thực sự của thi ca, cái ǵ là thực sự thiết yếu cho thi ca. (Die bestimmte Ordnung dieser Worte und ihr innerer Zusammenhang sollen das wesentliche Wesen der Dichtung vor Augen stellen)”(2)
Warminski cho rằng trong lư giải của Heidegger hai câu thơ ch́a khóa hay hai “mũi nhọn chỉ đường” (Leitworte/pointers) quan trọng hơn cả là: mũi thứ nhất về làm thơ và mũi thứ nh́ về ngôn ngữ. Chiến lược b́nh giải của Heidegger: sau khi trích dẫn những câu văn thơ ch́a khóa tuy ban đầu Heidegger có nêu ra vấn đề về sự ḥa giải giữa ngôn ngữ và thi ca nhưng lại tŕ hoăn trả lời cho đến tận cuối bài diễn giải. “Làm sao hai câu thơ này có thể được ḥa giải? Chúng ta sẽ tạm thời để câu hỏi này sang một bên, và cứu xét ba câu hỏi tiên khởi.”(3) Ba câu hỏi đó là:1. Ngôn ngữ là tiện ích của ai? 2. Nó là tiện ích nguy hiểm nhất theo cách nào? 3. Theo nghĩa nào th́ nó lại là một tiện ích?” Việc giải thích tại sao làm thơ lại là “nghề nghiệp hồn nhiên vô tội nhất trong các nghề” của Heidegger tương đối đơn giản: theo đuổi thi ca có thể coi như một tṛ chơi vô trách nhiệm, thi sĩ sáng chế ra một thế giới h́nh ảnh, thi sĩ ở lại trong lănh vực của tưởng tượng v́ đă đánh mất bản thân trong tư tưởng: thi ca giống như một giấc mộng chứ không phải là thực tại. Tuy nhiên Heidegger cho rằng khi nói “Làm thơ là ‘nghề nghiệp hồn nhiên vô tội nhất trong các nghề’ ” tuy chúng ta chưa nắm bắt được bản chất thực sự của thi ca nhưng điều này cũng cho ta một chỉ dấu để đi t́m bản chất thực sự của thi ca. Thi ca sáng tạo tác phẩm từ chất liệu là ngôn ngữ. Heidegger nối diễn giải câu thơ ch́a khóa thứ nhất với câu thơ ch́a khóa thứ hai bằng câu hỏi “Hölderlin nói về ngôn ngữ ra sao?”. V́ sự tŕ hoăn trả lời câu hỏi làm sao thi ca là vô hại với ngôn ngữ là tiện ích nguy hiểm nhất được hóa giải cho đến tận cuối bài b́nh giải Warminski cho rằng “ông ta [Heidegger] làm vậy bằng cách tóm lược toàn bộ luận giải của bài khảo luận về mối tương quan giữa thi ca với ngôn ngữ. Vậy nên người ta có thể nói rằng vấn đề/câu hỏi làm thế nào sự vô tội của thi ca đi cùng với sự hiểm nguy của ngôn ngữ tổ chức luận giải của bài khảo luận và rằng vấn đề tŕ hoăn thúc đẩy bước tiến của tranh luận. Thế nhưng trước khi chúng ta đọc “câu trả lời” của Heidegger chúng ta trước hết phải xem xét xem vấn đề/câu hỏi có nghĩa là ǵ. “[Giải thích] “Sự vô tội” của thi ca tương đối không phức tạp và chỉ kéo dài trong nửa trang b́nh giải…Song le “sự nguy hiểm của ngôn ngữ” lại phức tạp đáng kể hơn nhiều trong chừng mực như điều này là kép: trước hết, ngôn ngữ là nguy hiểm, thật thế nó là “sự nguy hiểm của tất cả mọi nguy hiểm” bởi trước hết nó tạo ra chính khả hữu của một sự nguy hiểm. Rơ ràng là ở đâu “nguy hiểm” được hiểu trong những từ ngữ hữu thể luận nền tảng trong quyển Hữu và Thời: “Sự hiểm nguy là mối đe dọa cho Hữu từ [những] hữu. Nghĩa là, bởi chỉ do tư cách của ngôn ngữ mà một thế giới của “những hữu” được mở ra cho con người trong hiện hữu của hắn – những hữu như hiện sinh làm con người khổ đau và bốc cháy và như không-hiện-sinh, nghĩa là, theo nghĩa hữu thể luận, lừa gạt và làm con người thất vọng – chính ngôn ngữ trước hết tạo ra khả tính của một sự đe dọa Hữu và khả tính mất đi cũa Hữu. Nói thế khác, nếu như sự nguy hiểm là mối đe dọa đối với (Hữu) về mặt hữu thể luận do từ (những hữu) kiện sinh, vậy nên ngôn ngữ, thứ tạo nên chính khả hữu tính của kiện sinh cho con người – thế giới của những thực tại cá thể trong đó con người là một – cũng tạo nên tạo nên mối đe dọa cho Hữu. Nhưng, theo Heidegger, ngôn ngữ cũng mang một mối hiểm nguy khác trong chính nó, đó là, sự hiểm nguy cho chính nó: “Nhưng ngôn ngữ không chỉ là sự nguy hiểm của những nguy hiểm, nhưng thiết yếu nó dấu kín trong chính nó một mối hiểm nguy liên tục cho chính nó.”(4) Lư do: ngôn ngữ làm cho chính nó bị hiểm nguy bởi cả hai thứ ngôn ngữ thuần túy nhất và mơ hồ nhất, bị dấu kín và thường dụng nhất, đều có thể đến với từ ở trong nó (zu Wort kommen), và từ như từ (das Wort als Wort) không bao giờ có thể cho sự bảo đảm tức khắc có phải đó là “một từ thiết yếu” (ein wesentlichs Wort) hay chỉ là “một ảo tưởng” (ein Blendwerk) mà thôi. “Thế nên ngôn ngữ phải luôn luôn đặt ḿnh trong một sự xuất hiện chính nó đă phát sinh, và như thế làm cho việc nói ra thực sự là cái của chính nó bị hiểm nguy.” (So muss sich die Sprache standing in einen von ihr selbst erzeugten Schein stellen und damit ihr Eigenstes, das echte Sagen, gefährden) (E, 37). Như vậy sự khác biệt giữa “một từ thiết yếu” (ein wesentlichs Wort” với “một ảo tưởng” (ein Blendwerk) không phải là sự khác biệt giữa tư tưởng và sự biểu lộ mà là sự khác biệt hữu thể luận giữa [những] hữu và Hữu. Ngôn ngữ như một dụng cụ con người có thể sử lư cũng như đối với các hữu khác nhưng yếu tính đặc biệt của nó là đích ngôn (das echte Sagen/authentic saying) Heidegger cho đó chính là thi ca v́ ngôn ngữ thi ca đặt tên nền tảng cho Hữu (Dichtung ist das stiftende Nennen des Seins). Điều Warminski chú ư trong bài khảo luận của Heidegger là sự đảo ngược trong lư luận: “Giờ th́ rơ ràng rằng – đặt sang một bên tất cả những sửa soạn công phu của bài khảo luận – một sự đảo ngược đă diễn ra. Heidegger đă khởi đầu bằng xác định yếu tính của thi ca trên cơ sở của một tri thức về yếu tính của “trường” thi ca (i.e., ngôn ngữ) và giờ th́ lại hóa ra rằng yếu tính của ngôn ngữ là thi ca (i.e., rằng trong ngôn ngữ cái chính là của nó – đích ngôn, là việc đặt tên nền tảng của Hữu. Nói cho gọn, thay v́ suy tưởng về yếu tính của thi ca trên nền tảng yếu tính của ngôn ngữ, th́ chúng ta phải suy tưởng về yếu tính của ngôn ngữ dựa trên cơ sở yếu tính của thi ca. Sự lật ngược vắt chéo nhau và cơ năng của việc “hữu thể luận hóa” này của ngôn ngữ và thi ca, ngôn ngữ như thi ca, – là một “phủ định” quanh co cái hiện tính chúng ta sẽ vẫn phải đọc – là rơ rệt trong bài khảo luận và thấy rơ nhất trong đoạn tóm lược đem sự vô tội vạ của thi ca và sự nguy hiểm của ngôn ngữ nhập chung vào nhau.”(5) Heidegger trở lại giải quyết vấn đề về sự đối nghịch “sự hồn nhiên vô tội của thi ca vs sự nguy hiểm của ngôn ngữ” đă bị tŕ hoăn sau khi tóm lược cho rằng hiện hữu con người là “có tính chất thi ca” trong cơ sở của hiện hữu nhưng v́ thi ca được coi như việc đặt nền tảng cho Hữu qua việc đặt tên các thần linh và yếu tính của mọi sự vật. “Cư ngụ một cách thi tính” (To dwell poetically) có nghĩa đứng trong sự hiện diện của những thần linh và bị sự gần gũi thiết yếu của mọi sự vật giáng xuống và đó là một tặng phẩm. Nhưng hiện hữu một cách thi tính không phải là một tṛ chơi vô hại. “Thế nhưng có phải chính Hölderlin đă chẳng gọi thi ca là “nghề vô tội nhất trong các nghề “như trong câu văn [trích dẫn] thứ nhất sao? Làm sao điều này có thể ḥa giải với yếu tính của thi ca như chúng ta đă vừa phơi mở? Điều này đưa chúng ta trở lại với câu hỏi ban đầu chúng ta để sang một bên. Trả lời câu hỏi này, chúng ta đồng thời cũng sẽ cố gắng vừa tóm lược vừa đem đến trước con mắt nội tại (vor das innere Auge zu bringen) của chúng ta yếu tính của thi ca và của thi sĩ.” Warminski quay trở lại tuyên bố ban đầu của Heidegger rằng “Trật tự thiết yếu của những lời nói và tính chất liên kết nội tại của chúng phải đem đến trước mắt chúng ta yếu tính thiết yếu của thi ca” (Die bestimmte Ordnung dieser Worte und ihr innerer Zusammenhang sollen das wesentliche Wesen der Dichtung vor Augen stellen) để nêu nghi vấn phải chăng có sự trùng hợp giữa “gắn kết nội tại” với “con mắt nội tại” trong hai phát biểu của Heidegger và cũng để chỉ ra lư luận đảo ngược trong bài khảo luận: “Sự thay đổi gợi ư rằng “mắt” khi trở thành “con mắt nội tại” nay sẵn sàng suy tưởng về sự thiết yếu và sự gắn kết nội tại của những từ ch́a khóa và bắt đầu (đọc?) bài khảo luận lần nữa: “Trước tiên điều đó đă cho thấy rằng môi trường hành động của thi ca là ngôn ngữ. Do bởi yếu tính của thi ca phải được hiểu thông qua yếu tính của ngôn ngữ. Sau đó điều đă trở thành rơ ràng rằng thi ca là việc gọi tên căn để của Hữu và của yếu tính của mọi sự vật – không chỉ là bất cứ lời nói nào, nhưng là loại lời nói riêng biệt lần đầu tiên đưa vào nơi rộng mở tất cả những thứ chúng ta thảo luận khi năy và xử lư trong ngôn ngữ hàng ngày. Do bởi thi ca chẳng bao giờ coi ngôn ngữ như một chất liệu thô sẵn sàng để sử dụng, đúng ra chính thi ca trước tiên làm cho ngôn ngữ khả hữu. Thi ca là ngôn ngữ nguyên ủy của một dân tộc lịch sử. V́ thế, đúng như trong cách thế ngược lại, yếu tính của ngôn ngữ phải được hiểu thông qua yếu tính của thi ca [tôi nhấn mạnh].” Warminski đưa ra những nhận xét như sau về đoạn văn này của Heidegger: Thứ nhất, sự đảo ngược thật quá rơ ràng khi Heidegger khởi đầu với “yếu tính của thi ca phải được hiểu thông qua yếu tính của ngôn ngữ” để rồi kết luận ngược lại (umgekehrt) “yếu tính của ngôn ngữ phải được hiểu thông qua yếu tính của thi ca.” Thứ nh́, Heidegger đă dùng chuỗi tam đoạn luận để thực hành việc đảo ngược theo trật tự: trước tiên, do bởi, sau đó, cho nên…Thứ ba, ư nghĩa chính của những từ này bị đảo ngược hay nói đúng hơn được cho nghĩa kép (double meaning) do sự ưu tiên (priority) và hậu quả (consequence) được thay đổi từ cho ngôn ngữ sang cho thi ca. Thứ tư, sự đảo ngược ngôn ngữ vs thi ca chính là sự đảo ngược ư nghĩa hữu kiện (ontic) vs ư nghĩa hữu thể luận (ontological). Thứ năm, sự đảo ngược này không phải là đảo ngược đối xứng (symmetrical chiasmus) nhưng là đảo ngược bất đối xứng (asymmetrical chiasmus). Tính chất bất đối xứng này gây ra những hậu quả đáng kể cho việc diễn giải bài khảo luận của Heidegger, chẳng hạn ta phải đọc xuôi rồi đọc ngược toàn bài, phải viết lại những khởi đầu bằng từ ngữ hữu thể luận. Điều gợi sự quan tâm của Warminski là cái trục quay của sự đảo ngược, nghĩa là, cái phủ định khiến cho sự đảo nguợc thành bất đối xứng. Warminski cũng nhắc đến cách nói “không…nhưng đúng ra” thường được Heidegger dùng nhiều lần trong phân tích những cấu trúc sinh hiện của Dasein trong Sein und Zeit. Sách lược của cách nói này là một phủ nhận của phủ nhận kỳ quặc phục vụ cho mục tiêu xác định, đặt tên, hay ít ra là chỉ hướng về một phủ nhận khác, một “không có ǵ” (Nichts/Nothing) khác. Thế nên ta chẳng ngạc nhiên khi Heidegger cho rằng thi ca (như ngôn ngữ) và ngôn ngữ (như thi ca) cả hai vừa vô tội vừa nguy hại v́ nếu như thi ca là cách đặt tên căn để của Hữu th́ chắc chắn nó là vô tội v́ nó chẳng dính líu ǵ tới [những] hữu cả; nhưng đồng thời chắc chắn là nó nguy hại cho [những] hữu bởi nó phải tính toán với cái Không có ǵ của [những] hữu, nghĩa là với Hữu. V́ thế theo Heidegger, trong thi ca “cái Không có ǵ không” (das Nichts nichtet).
Warminski viết lại diễn giải khái niệm “das Nicht/Không” và “Nichts/cái Không có” của Heidegger bằng từ vựng ngữ học và dùng sách lược hủy tạo của Derrida để đặt vấn đề việc Heidegger sử dụng khái niệm này như một thứ “giữ chỗ” (place-holder) trong diễn giải về cái phủ định kép trong bản văn của Hölderlin. Trước hết Nichts không phải được hiểu như sự phủ nhận xác định (determinate negation) những hữu do Hữu v́ như vậy hóa ra Hữu cần đến những hữu và nó cũng sẽ là sự phủ nhận những hữu và cũng thuộc về những hữu theo nghĩa của Hegel. “Phủ nhận của phủ nhận” cũng không là bản chất của “Nicht/Not/Không” của Heidegger. Cả phép biện chứng lẫn luận lư thực nghiệm đều bất lực trong việc giải thích “Nichts/Nothing/cái Không có” của Heidegger v́ giải thích nó lại tùy thuộc vào nó.Trong bài “Was ist Metaphysik?/Siêu h́nh học là ǵ?” (1929) in trong quyển Wegmarken Heidegger viết: “Cái Không không phát sinh qua sự phủ nhận; nhưng đúng ra sự phủ nhận được đặt cơ sở trong cái Không bật ra từ sự hư vô hóa của cái Không có ǵ (Das Nicht ensteht nich durch die Verneinung, sondern die Verneinung gründet sich auf das Nicht, das dem Nichten des Nichts entspringt).” Warminski đặt câu hỏi “Cái Không không… nhưng đúng ra…” th́ làm thế nào nghĩ cái không (Not) mà không có sự phủ nhận, một “không có” không có sự phủ nhận của cái “không có”? (how to think Not without negation, a “without” without the negation of the “without,” un “sans” sans sans?) Trong Platons Lehre von der Wahrheit (1931/32, 1940)/Học thuyết Chân lư của Plato [Wegmarken, bản Anh văn Pathmarks trang 182] Heidegger giải đáp câu hỏi này: “Yêu cầu trước tiên là sự nh́n nhận giá trị của cái ‘tích cực’ (positive) trong cái ‘thiếu/khuyết (privative) của yếu tinh của άλήθεια/aletheia [quét sáng]. Cái tích cực này phải được kinh nghiệm như đặc tính tạo nền tảng của chính Hữu.” (Zuvor bedarf es der Würdigung des ‘Positiven’ im ‘privativen’ Wesen der άλήθεια. Zuvor ist dieses Positive als der Grundzug des Seins selbst zu erfahren). Không thỏa măn với lời giải thích này của Heidegger trong trích dẫn kể trên Warminski muốn đẩy vấn đề một cách triệt để hơn bằng câu hỏi: “Nhưng, thêm một lần nữa, làm sao suy tưởng được cái “tích cực” của cái “thiếu/khuyết” mà lại không suy tưởng theo những đối nghịch như “tích cực” và “tiêu cực”? Làm sao suy tưởng về những dấu trích dẫn của Heidegger (hay chữ in nghiêng, xóa bỏ v.v.) mà trước hết không đọc chúng? – để xem xem đấy là thứ ưu tiên nào, đấy là thứ “không” nào?(8)
Suy tưởng về “Nichts/Nothing/Không ǵ” quả thực khó có giải đáp. Warminski qui chiếu đến lối giải thích của Henri Birault: “[Đó là một] Nhiệm vụ kép, và là một nhiệm vụ nghịch lư của tư tưởng. Thiết yếu phải suy tưởng về sức mạnh hư vô hóa của Hữu mà không có hủy tính, bởi thực ra sức mạnh hư vô hóa này lưu trú ‘cái tốt hơn cả’ của hữu. Sức mạnh này là lethe [dấu kín, bỏ quên] của aletheia [quét sáng]. Nhưng theo một nghĩa khác, cũng cần thiết xét đến sự hiện cố của hủy tính khởi từ cái bao gồm cái phủ định và cái xác định trong tự thân của nó, luôn luôn hiểu rằng sự bao gồm không trộn lẫn này dứt khoát bác bỏ cả hai hạn từ này. Sự từ chối của phủ định mà không có sự từ chối [hay đúng ra không có sự minh giải] cái không chỉ làm cho sự phủ nhận khả hữu nhưng thiết yếu [nên] sự phủ nhận chỉ là sự từ chối một hậu quả không có tiền đề. Trong nỗ lực chót cùng này của ông ta, tư tưởng của Heidegger không là xác nhận cũng chẳng là phủ nhận, cũng lại càng không phải là không lư tới việc xác nhận và phủ nhận. Đúng ra tư tưởng này là treo lửng. Đó là tư tưởng của ‘sự treo lửng’ của Hữu treo lửng lơ chúng ta giữa đất và trời, giữa cái chết và những thần linh.”(9)
Quay trở lại với vấn đề Hölderlin và yếu tính của thi ca Warminski cho rằng quan niệm về cái Nichts/Không ǵ của Heidegger dường như có gốc rễ từ ư tưởng thần linh vắng mặt kép của Hölderlin mà Heidegger gọi là “double Not/Không kép”: thi sĩ sống trong thời khổ nạn cần xác định một thời đại mới: thời đại của những thần linh đă bỏ đi và thần linh đang tới. Đó là thời đại của nhu cầu (time of need) bởi nó nằm dưới sự thiếu thốn kép (double lack) và một Không kép (double Not): Không-c̣n (No-more) thần linh và Chưa có (Not-yet) thần linh sẽ tới như Heidegger viết trong phần kết luận của bài Hölderlin và Yêu tính của Thi ca “Hölderlin khi cung cấp một lần nữa yếu tính của thi ca trước hết xác định một thời mới. Đó là thời của nhu cầu bởi thời này đứng trong một sự thiếu hụt kép và một không kép: trong cái không-c̣n-nữa của những thần linh đă bỏ đi và trong cái chưa-có thần linh sẽ tới.” (10) Warminski cho rằng cái Không ǵ của Heidegger trong diễn giải cái “Không kép” của Hölderlin đóng vai tṛ mọt thứ “giữ chỗ” (place-holder) giữa quá khứ và tương lai để tạo ra hiện tại, hiện tại của chúng ta như thời của nhu cầu thật rơ rệt trong sự bất đối xứng không dấu diếm giữa một Không và một Không khác. Điều này giải thích trong diễn giải về aletheia Heidegger rút ra một “cái tích cực” từ “sự thiếu/khuyết” nghĩa là rút tương lai từ quá khứ. Câu hỏi: “Và tuy vậy có phải cái Không kép của Heidegger cũng là cái Không kép của Hölderlin không? Chúng có cùng là một không? Dĩ nhiên người ta không thể hỏi câu hỏi một cách quá đơn giản như vậy, bởi hiển nhiên rằng chừng nào chúng ta suy tưởng cái Không kép này trong từ ngữ của Heidegger – nghĩa là, theo từ ngữ của aletheia – th́ thực đúng là “giống nhau” – das Selbe (cái giống nhau) và không phải là cái not das Gleiche (cái là một) – như của Hölderlin. Vậy th́ có một cái Không khác không? Thật khó mà nghĩ ra cái “Không khác” như thế có thể là cái ǵ, bởi v́ cái Không có ǵ của Heidegger (cái Nichts là nền của cái Nichts của ông ta và của Hölderlin) vốn đă là cái khác, cái Không ǵ hoàn toàn khác, như Heidegger đă viết trong bài “Zur Seinsfrage/Về câu hỏi Hữu” (1955). Warminski kết luận: do vậy “cái Không khác” đó hẳn phải là “cái Không khác” không được suy tưởng (unthought) khác hẳn với nghĩa từ “không-tư tưởng” (das Ungedachte) của Heidegger. Vắn tắt, nó sẽ phải là (phải phá tung sợi xích của sự quay trở lại vô tận của “không-tư tưởng, “cái khác,” “cái Không”) một cái Không khác không được nghĩ tới của Heidegger, một cái Không khác không được suy tưởng tuy nhiên có thể được đọc trong bản văn của Hölderlin và của Heidegger.”
Trong ghi chú số (30) đặt ở cuối sách Warminski ghi nhận trong bản văn Erläuterungen zu Hölderlins Dichtung ở phần thảo luận về mối nguy hiểm thứ hai của ngôn ngữ – ngôn ngữ tự làm nó bị nguy hiểm (self-endangement) khi Heidegger cho rằng “từ như từ không bao giờ cho ngay một đảm bảo về việc nó là một từ thiết yếu (ein wesentliches Wort) hay một ảo tưởng (ein Blendwerk) cung cấp cho chúng ta một mũi chỉ hướng (pointer) về cái Không khác của việc đọc. Và trong chừng mực Heidegger bảo lưu sự đối nghịch giữa “vẻ ngoài do ảo tưởng” (Schein/illusory appeaance) với “đích ngôn” (das echte Sagen/ authentic saying) tuy đây không thực sự là sự đối nghịch nhưng đúng ra là một sự khác biệt không đối xứng qui định bởi sự khác biệt hữu thể luận th́ việc ngôn ngữ tự nó làm ḿnh bị hiểm nguy thật ra có thể được nghĩ như một sự đe dọa Hữu từ những hữu (và ngược lại). Tuy nhiên cùng với hệ thống này bản văn cũng đưa vào một bản khác về Schein của ngôn ngữ mà sự khác biệt hữu thể luận không dễ ǵ kiểm soát nổi khi Heidegger viết “Và về một mặt khác cái được trang phục giả dạng để nh́n giống như cái thiết yếu, lại chỉ là một cái ǵ đó được đọc thuộc ḷng hay được nhắc lại (Und was sich andererseits in seinem Aufputz den Anschein des Wesentlichen gibt, ist nur ein Her-und Nachgesagtes.” (E,37). Warminski nhận thấy sự (không) đối nghịch giữa “Anschein/vẻ ngoài” và “das Wesentliche/ cái thiết yếu” dường như cũng thích hợp cho kiểu mẫu những (không) đối nghịch khác nhưng lại được Heidegger thêm vào “lại chỉ là một cái ǵ đó được đọc thuộc ḷng hay được nhắc lại (nur ein Her-und Nachgesagtes). Dù cho ta không mấy chú trọng tới một cái ǵ đó không thể nh́n thấy, vô hại của cụm từ này ngườ ta cũng có thể nói rằng nó nói đến một cái ǵ đó ở cạnh ngoài hay không đối xứng với sự đối xứng (vốn đă là bất đối xứng) giữa vẻ ngoài do ảo tưởng/đích ngôn. Đó không chỉ bởi một kư ức cơ học thuần túy và sự lập lại đưa vào một ẩn dụ khác hẳn với chuỗi ảo tưởng (Blendwerk), trang phục giả dạng (Aufputz), vẻ ngoài do ảo tưởng” (Schein và Anschen) mặc dù sự kiện ẩn dụ này không thuộc về mắt nh́n nhưng chắc chắn nó là một ra dấu cho người đọc thấy có một mối hiểm nguy khác của ngôn ngữ cho chính ngôn ngữ nữa hoàn toàn liên quan tới việc đọc. “Nói vắn tắt, câu văn này đưa vào cái Derrida gọi là “iterability/tính chất có thể lập lại được trong những ngữ/văn cảnh khác”, nghĩa là mọi từ như là từ (i.e., ngay khi nó được suy tưởng, nói ra, viết ra v.v…ngay khi nó là một từ) có thể được trích dẫn, nếu “tính chất có thể trích dẫn” (quotability) của nó là điều kiện của bất kỳ từ nào, do vậy mọi từ là luôn luôn bị phân thân một cách triệt để (divided radically) đối nghịch với chính nó như “nguyên bản” hay “trích dẫn”, nếu nó đă được nói ra một lần th́ nó luôn luôn là đă được nói ra hai lần. Thế nên không có cách chi quyết định được có phải cái từ chúng ta nghe (hay nghĩ, viết, đọc) ở bên trong hay bên ngoài dấu trích dẫn mà không đang đọc từ này. Một cách tóm lược: iterability chỉ ra một hiểm nguy của ngôn ngữ khác hẳn với những đe dọa của những hữu đối với Hữu. Chính v́ lư do iterability chỉ là một cái tên nên Warminski cho rằng chúng ta không nên nghĩ rằng bằng cách nhắm vào câu văn trong bài khảo luận của Heidegger – “chỉ có cái ǵ được đọc thuộc ḷng hay được lập lại” – mà chúng ta mở ra cái mà một số người gọi là “tự-hủy-tạo” (self-deconstruction) và cần bỏ công hơn nữa vào việc đọc “cái Không khác” của Hölderlin và của Heidegger.
___________________________________
(1) Andrzej Warminski, Reading in Interpretation trang 57: Our task, then would be to seek the equivalent of the systematic suppression of the “Egyptians” – the name of that, to recapitulate, which asymmetricalizes: (1) the historical scheme of “us and them”; (2) the homogeneity of art and poetry; and (3) the mutually constitutive relation of poetry and philosophy – in Heidegger’s interpretation of poetry’s linguistic nature, its “linguisticality”.
(2) Martin Heidegger, Hölderlin and the Essence of Poetry, in Elucidations of Hölderlin’s Poetry trang 52: I did not choose Hölderlin because his work, as one among many, realizes the universal essence of poetry, but rather because Hölderlin’s poetry is sustained by his whole poetic mission: to make poems solely about the essence of poetry. Hölderlin is for us in a preeminent sense the poet’s poet. And for that reason he forces a decision upon us…The specific order of these verses and their inner coherence will place before our eyes the true nature of poetry, what really is essential to it.
(3) Martin Heidegger, Erläuterungen zu Hölderlins Dichtung (E) trang 34:Die Sprache, das Feld des ‘unschuldigsten aller Geschäfte,’ ist ‘der Güter Gefährlichstes.’ Wie geht dies beides zusammen? Wir stellen diese Frage vorerst zurück und bedenken die drei Vorfragen.
(4) Andrzej Warminski, Reading in Interpretation trang 58-59: The “danger of language,” however, is considerably more complicated insofar as it is twofold: first of all, language is dangerous, indeed “the danger of all dangers” (die Gefahr aller Gefahren) (E,36), because it creates the very possibility of a danger in the first place. It is clear that “danger” here is to be understood in the fundamental ontological terms of Being and Time: “Danger is the threat to Being from beings (Gefahr ist Bedrohung des Seins durch Seinendes)” (E,36). That is, since it is only by virtue of language that a world of “beings” (Seinendes) is opened to man in his existence (Dasein) – beings (Seinendes) that as existent (als Seinendes) afflict and enfame man and as nonexistent (als Nichtseiendes), that is, in the ontological sense, deceive and disappoint him – it is language that first creates the possibility of a threat to Being (Sein) and the possibility of a loss of Being (die Möglichkeit des Seinsverlusted) (E,37). In other words, if danger is the threat to the ontological (Being) from the ontic (beings), then language, which creates the very possibility of the ontic for man – the world of individual entities of which he is one – also creates the possibility of a threat to Being. But, according to Heidegger, language also bears another danger within itself, namely, the danger to itself: “But language is not only the danger of dangers, but necessarily conceals in itself a continual danger for itself (Aber die Sprache ist nichts nur die Gefahr der Gefahren, sondern sie birgt in sich selbst für sich selbst notwendig eine fortwährende Gefahr)” (E,37)
(5) Sđd, trang 59-60: Now it is clear that – all the elaborations of the essay aside – a reversal has taken place. Heidegger had stated out to determine the essence of poetry on the basis of an understanding of the essence of the “field” (i.e., language), and now it turns out that the essence of language is poetry (i.e., that in language which is most its own [ihr Eigenstes] – authentic saying, the founding naming of Being) In short, rather than thinking the essence of poetry on the basis of the essence of language, we should think the essence of language on the basis of the essence of poetry. This (chiasmic) reversal and the mechanism of its “ontologization” of language and poetry, language as poetry – a tortuous “negation” of the ontic we have still to read – is explicit in the essay and most visible in the summary paragraph, which also brings together the innocence of poetry and the danger of language.
(6) Martin Heidegger, Hölderlin and the Essence of Poetry, in Elucidations of Hölderlin’s Poetry trang 60: That our existence is poetic in its ground cannot mean, in the end, that it is really just a harmless game. But does not Hölderlin himself, in the first key verse that we cited, call poetry “this most innocent of all occupations”? How can this be reconciled with the essence of language which we have now unfolded? That brings us to the question which we first put aside. By answering this question, we shall try at the same time to summarize, to bring before our inner eyes, the essence of poetry and of the poet.
(7) Andrzej Warminski, Reading in Interpretation trang 60: The change suggests that “the eye” in having become the “inner eye” is now ready to think the necessity and the inner connectedness of the key words and to begin (reading?) the essay again: “First of all it appeared that the field of action of poetry is language. Hence the essence of poetry must be understood through the essence of language. Afterward it became clear that poetry is the founding naming of Being and the essence of all things – not just any speech, but that particular kind which for the first time brings into the open all that which we then discuss and deal with in everyday language. Hence poetry never takes language as a raw material ready to hand, rather it is poetry that first makes language possible. Poetry is the primitive language of a historical people. Therefore, in just the reverse manner, the essence of language must be understood through the essence of poetry [my emphasis] (Zuerst ergab sich: der Werkbereich der Dichtung is die Sprache. Das Wesen der Dichtung muss daher aus dem Wesen der Sprache begriffen warden. Nachher aber wurde deutlich: Dichtung is das stiffen Nennen des Seins und des Wesens aller Dinge – kein beliebiges Sagen, sondern jenes, wodurch erst all das ins Offene tritt, was wir dann in der Alltagssprache bereden und verhandeln. Daher nimmt die Dichtung niemals die Sprache als einen vorhandenen Werkstoff auf, sondern die Dichtung selbst ermöglicht erst die Sprache. Dichtung is die Ursprache eines gestchichtlichen Volkes. Also muss umgekehrt das Wesen der Sprache aus dem Wesen der Dichtung verstanden warden) (E, 43)
(8) Sđd, trang 63: But, again, how think the “positive” of the “privative” without thinking in terms of oppositions like “positive” and “negative”? How think Heidegger’s quotation marks (or italics, crossing-out, etc.) without first – what kind of priority, what kind of “without” would this be? – reading them?
(9) Henri Birault, Heidegger et l’expérience de la pensée, Gallimard/Bibliothèque de la Philosophie 1978, trang 553: Double tâche, et tâche paradoxale de la pensée. Il faut penser sans négativité la puissance néantisante de l’être, car en vérité cette puissance néantisante abrite ‘le meilleur’ de l’être. Elle est lethe de l’aletheia. Mais d’un autre côté, il faut bien rendre compte aussi de l’avènement de la négativité à partir de ce qui inclut en soi le négative et le positive, tout en sachant que cette inclusion sans mélange récuse en définitive ces deux termes. Le refus de la négation sans refus [ou plutôt sans l’élucidation] de ce qui rend non seulement possible mais nécessaire la négation n’est que le refus d’une conséquence sans prémisses. Dans son dernier effort, la pensée de Heidegger n’est ni positive ni négative, ni non plus indifférente à l’affirmation et à la négation. Elle est plutôt suspensive. Elle est la pensée du ‘suspens’ de l’être qui nous tient en suspens entre la terre et le ciel, entre la mort et les divins. [Warminski dịch: Double task, and a paradoxal task of thought. It is necessary to think without negativity the nihilating power of Being. It is the lethe of aletheia. But in another sense, it is necessary also to give an account of the advent of negativity on the basis of that which includes in itself the negative and the positive, all the time knowing that this pure inclusion definitively rejects these two terms. The refusal of negation without the refusal (or rather without the explanation) of that which makes the negation not only possible but necessary is only the refusal of a conclusion without premises. In its final effort, the thought of Heidegger is neither positive nor negative, nor indifferent to affirmation and negation. It is rather suspensive. It is the thought of the ‘suspension’ of Being which holds us suspended between earth and sky, between death and the gods.]
(10) Martin Heidegger, Erläuterungen zu Hölderlins Dichtung trang 47: indem Hölderlin das Wesen der Dichtung neu stiftet, bestimmt er erst eine neue Zeit. Es ist die Zeit der entflohenen Götter und des kommenden Gottes. Das ist die dürftige Zeit, weil sie in einem gedoppelten Mangel und Nicht steht: im Nichmehr der entflohenen Götter und im Nochnicht des Kommenden. [Keith Hoeller dịch sang Anh văn trong Elucidations of Hölderlin’s Poetry: Rather, by providing anew the essence of poetry, Hölderlin first determine a new time. It is the time of the gods who have fled and of the god who is coming. It is the time of need because it stands in a double lack and a double not: in the no-longer of the gods who have fled and in the not-yet of the god who is coming.]
(11) Andrzej Warminski, Reading in Interpretation, trang 64: Hence the “other Not” we are asking about would have to be an unthought “other Not,” and unthought, again, in a sense other than Heidegger’s “unthought” (das Ungedachte). It would have to be, in short (to break the chain of the endless return of Heidegger’s “unthought,” “other,” “Not”), an unthought other Not that can nevertheless be read in Hölderlin’s and Heidegger’s text.
(c̣n tiếp)
đào trung đąo
http://www.gio-o.com/daotrungdao.html
© gio-o.com 2015