đào trung đąo

3-Zero

±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương

≤≤ cùng một khác

(88)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88,

 

   Trong bài thơ Der Mutter Erder/Gesang der Brüder Ottmar Hom Tello/Gửi Mẹ Trái đất/ Khúc ca của hai anh em Ottmar Hom Tello Hölderlin thác lời Ottmar “Geschaffen ein reines Gesez,/Und reiner Laute gegründet/Đă sáng tạo một luật tắc thuần túy,/Và tạo lập những âm thanh thuần túy”cho rằng vũ trụ thuần túy, luật tắc thuần túy kêu gọi thi sĩ đáp lời để vũ trụ không biến mất trong toàn thể không giới hạn trải rộng. Thế nhưng theo Blanchot “không giới hạn” cũng lại trở thành giới hạn khi nhập vào toàn thể và v́ khả tính thông giao phát xuất từ luật tắc quá lớn lao để là thông giao thực sự, nên thông giao có “tính chất trung gian tuyệt đối” (la médiateté absolue) như Hölderlin đă nói và v́ vậy khả tính này cần  được trung gian hóa bằng thi ca để không kề cận vực thẳm, để là thực sự đồng thuận, là cộng đồng thực sự của những giá trị (zusammentaugen). Lời nói với yếu tính là dấu vết lưu tồn như trong câu thơ “Mais d’une parole/Demeure la trace; qu’un home peut saisir” khi được đem sử dụng trở thành nền tảng của sự lưu tồn, thiết lập một cái ǵ đó đúng thực giữa đêm và ngày. Hölderlin viết trong bài tụng ca Der Archipelagus rằng ngôn ngữ của thần linh là thứ ngôn ngữ chuyển biến và thay đổi trong khi ngôn ngữ của con người th́ bền bỉ, là sự xác định một khoảng thời gian liên diễn  (une durée qui dure), khoảng thời gian này là đơn nhất tính của thời gian bị xé rách (unité du temps déchiré). “Chính v́ lư do này mà những kẻ Bất tử [thần linh] cần những kẻ khả tử [con ngườ] (mortels), cần sự hữu hạn: chính sự hữu hạn này tạo dựng con người trong thế giới và ban cho con người hữu trong ư thức hiện hữu. Ánh sáng của thần linh, v́ quá gần với sự mở toang nguyên ủy, cần phải được giảm nhẹ để thực sự soi sáng họ, để trở thành ánh soi chiếu trên chính họ. Trước [khi có] bài thơ, ngày là cái ǵ đó rất tối tăm. Là nguồn gốc của sự sáng tỏ, là sự khởi đầu thuần túy của cái sẽ tuôn tràn, bài thơ là sự bí ẩn sâu xa nhất – và cũng đáng sợ nhất: bài thơ là cái không thể biện minh, là cái khởi từ đó dùng để biện minh, là cái không thể thông giao và không thể khám phá, nó cũng là cái mở ra và, bằng sự vững vàng của lời thơ, cuối cùng lại sẽ trở thành cái tự phơi mở.”(1) Trong những bài thơ cuối cùng Hölderlin cảm thấy bị xô đẩy về phía vô hạn bởi niềm khoái cảm tuyệt cùng nên không ngừng lập đi lập lại một cách bi thiết rằng có quá nhiều thứ phải nói ra, có quá nhiều thứ c̣n phải giữ lại, cưu mang “Vieles aber ist zu behalten” Blanchot nhận định: “Bài thơ do đó là cái giữ lại toàn bộ, là cái thu tập nhất thể tính rộng mở của nguyên lư vào trong một đơn nhất không cơ sở, là cái t́m thấy một cơ sở khá vững chắc trong lỗ hổng của sự soi sáng để cho ra một cái ǵ đó đi vào sự xuất hiện và để cho cái xuất hiện đứng vững trong một ḥa hợp tuy chông chênh nhưng bền vững. Điều này cũng được Hölderlin nói đến trong bài Patmos, bài tụng ca đă được cất lên dưới lớp che phủ của sự điên cuồng: (2)                                                                                                   …Cha

                   Kẻ trị v́ trên mọi sự

                   Yêu mến nhất mọi người âu lo

                   Về từ ngữ vững chắc và rằng

                   Có ư nghĩa là từ ngữ ổn cố. Bài ca Đức đáp lời điều đó.

   Theo Blanchot bài thơ không chỉ đơn giản là khả năng cho ra một ư nghĩa cho cái ǵ đă hiện hữu để trở thành bền vững, nhưng bài thơ chính là khả năng do ư nghĩa bài thơ đưa ra, khả năng đem lại sự bền vững, cho phép sự diễn tiến của diên thành (l’écoulement du devenir), tiếng nói của thần linh, sự rung chuyển của mọi vật trong sự khởi đầu của ngày hiện hữu. “Đó là lư do tại sao thi sĩ là weltlich/trần thế, hắn là của thế giới, hắn phải đứng ở thế giới; và đó cũng c̣n là tại sao, theo như câu thơ được Heidegger minh giải hoàn hảo trong bài thuyết tŕnh của ông ta vào năm 1936: (3)

Cái ǵ lưu tồn, thi sĩ tạo dựng.

   Hölderlin qua câu thơ này chỉ ra hiện hữu thi ca tức là sự hiện hữu của thi sĩ và của bài thơ đă được trùng tu. Nhưng theo Blanchot khi được trùng tu cũng chính là lúc thi ca chạm mặt một bất khả tính lớn lao: thi ca cần có sự chứng thực căn bản về chính nó. Đành rằng bài thơ phải hiện hữu nhưng không có bài thơ vẫn cứ có ngày nhưng bài thơ lại không soi sáng ngày, không có bài thơ tất cả vẫn thông giao nhưng thông giao này ở bất cứ thời khắc nào cũng sẽ là sự hủy hoại tất cả, mất hút trong một bất tận luôn mở rộng, từ chối quay trở lại tính chất vô tận của thông giao. Bằng lời nói bài thơ làm cho cái không có cơ sở (infondé) trở thành cơ sở (fondement), vực thẳm của ngày trở thành ngày hiện ra và tạo dựng. Câu nói của Hölderlin Das Heilige sei mein Wort/Cái Thiêng Liêng là lời của tôi cho thấy Thiêng Liêng là lời và lời có tính chất thiêng liêng. Vấn nạn Blanchot nêu ra: Nhưng làm sao có thể như vậy được? Làm sao Thiêng Liêng “không biểu lộ ra”, “không được biết”, là cái mở ra mọi sự với điều kiện tự nó lại không mở ra, là cái khám phá (réveler) trong khi nó lại là cái không được khám phá (irrévélé), có thể nào nó rơi rớt vào lời nói, vốn là nội tại thuần túy (pure intériorité)  tự nó để bị vong thân đến mức trở thành tính chất ngoại tại (extériorité) của bài ca? Những câu hỏi về bất khả tính này đưa đến quan điểm về chỗ đứng, vị trí của thi sĩ: thi sĩ chính là sự hiện hữu của bất khả hữu này, cũng như ngôn ngữ của bài thơ chỉ là tiếng vọng, sự truyền đi của chính bất khả hữu của nó, là lời nhắc nhở rằng: như tất cả ngôn ngữ của thế giới, cái lời nói vốn có nơi chốn và diễn ra trong phạm vi của sự dễ dàng triệt để (facilité radicale) có nguồn gốc là một biến cố không có nơi chốn, liên hệ với câu “Tôi nói, nhưng nói lại chẳng đặng” (Je parle, mais parler ne se peut pas), thế nên lời nói ra chẳng c̣n ư nghĩa.

   Làm thế nào Thiêng Liêng đi vào ngôn ngữ, lời nói? Heidegger cho rằng sự im lặng liên tục của thi sĩ đưa Thiêng Liêng vào ngôn ngữ dù cho thi sĩ không thể trực tiếp năm bắt Thiêng Liêng nhưng trong niềm im lặng của thi sĩ Thiêng Liêng dịu đi (s’apaiser), biến đổi và cuối cùng di chuyển trong lời bài ca. Niềm im lặng theo Heidegger là thông giao thực sự duy nhất, là ngôn ngữ chính thực (langage authentique.) Blanchot truy vấn: Cứ cho là như thế đi, nhưng vấn đề Thiêng Liêng đi vào ngôn ngữ ở đây sẽ ra sao? Dù cho vấn đề nay có một h́nh thức khác nhưng đó vẫn cứ là vấn đề chưa được giải quyết hay đúng ra nay lại nẩy sinh hai bí ẩn: “tại sao” (pourquoi?) và “làm thế nào” (comment?) khi mà “sự rung chuyển của hỗn mang không cung cấp một điểm tựa và điểm ngừng, là sự kinh hoàng của cái “Tức thời” làm thất bại mọi nắm bắt trực tiếp cái Thiêng Liêng” lại có thể tự để ḿnh biến đổi và kết nối bằng niềm im lặng? Và kế đó là, tại sao và làm thế nào niềm im lặng lại để ḿnh kết nối bằng lời nói?”(4) Blanchot không đồng ư với lời giải thích của Heidegger dựa vào “sự im lặng” và cho rằng Heidegger đă không xem xét đầy đủ nghĩa của từ still/im lặng trong thơ Hölderlin: Tuy rằng chủ đề niềm im lặng không xa lạ ǵ với Hölderlin v́ thi sĩ đă nói “Tôi đă học được cách tôn kính cái thần linh trong im lặng” (J’ai appris à vénérer le divin en silence) ở một bài trong chùm thơ Diotima, thi sĩ coi Mặt trời “thiêng liêng” khi ló rạng “trong nghỉ ngơi và trong im lặng ở phía trên những kẻ không biết sự nghỉ ngơi”. Blanchot nhận xét: “Từ still/im lặng, ngoại trừ một hay hai ngoại lệ, là từ duy nhất Hölderlin sử dụng để ám chỉ cái ǵ đó chỉ tương tự với sự im lặng mà thôi. Thực ra, từ này không liên quan ǵ tới ngôn ngữ, nhưng để chỉ một cơi rộng lớn hơn mà tất cả những từ như làm dịu đi, chiều sâu im ắng, nội tại tính lặng lẽ có thể gợi ư. Từ still trong những bài thơ có một giá trị mơ hồ: khi th́ để chỉ việc cầu nguyện được giáng phước, an b́nh và dịu nhẹ, khi th́ nó lại là nỗi khốn khổ của sự cạn kiệt, sự thối lui đáng nguyền rủa của đời sống và của ngôn ngữ.”(5)

   Blanchot trích dẫn bốn câu thơ của Hölderlin:

                   Ngươi ở đâu? Ta đă sống trải, và cũng đă hít thở lạnh cóng

                   Trong ta buổi chiều, và thinh lặng (still), như những cái bóng,

                   Ta đă ở nơi đây, và đă thiếu thốn bài ca

                   Trái tim ngủ yên của ta run rẩy.

để chứng minh im/thinh lặng (still) ở đây không phải là sự đầy ắp của sự im lặng nhưng là sự trống rỗng của thiếu vắng lời nói, là bóng tối và giá rét của một hiện hữu trong đó niềm im lặng không làm nên bài thơ bởi chính niềm im lặng cũng được đánh dấu bởi cùng một sự đối nghịch và cùng một sự chia cắt như ngôn ngữ. Nếu như im lặng là một ngả để tiếp cận cái không thể tiếp cận, để thuộc về cái không được nói ra th́ nó chỉ thể là thiêng liêng trong chừng mực nó làm cho khả hữu thông giao cái không thể thông giao và đi đến ngôn ngữ. Im tiếng không phải là ở địa vị cấp trên v́ thi sĩ đă nói “Rằng cái Thiêng Liêng là lời tôi” và chính những từ là những “chốn tôn nghiêm/sanctuaries”, những đền đài của Thiêng Liêng chứ không phải của niềm im lặng. “Nói, phải nói ra, chính điều đó, chỉ có điều đó là nên thôi. Thế nhưng nói lại là bất khả.” (Parler, il le faut, c’est cela, cela seul qui convient. Et pourtant parler est impossible). Tại sao nói lại là bất khả? V́ thi sĩ bị đặt trong hoàn cảnh đối diện với một chuyển động kép đối nghịch : thi sĩ có bổn phận biểu lộ cái phải được phơi mở, nhưng đó lại là một hành vi không thích đáng. Thế nhưng dù không thích đáng thi sĩ vẫn có vai tṛ làm trung gian giữa lời nói và sự thực, một sự cần thiết tuyệt đối phải gọi/đặt tên và ghi lại. Sự cần thiết này của luật tắc buộc thi sĩ tuân theo tất cả những sự cẩn trọng của việc làm trung gian. Tuy vậy cái không thể xóa bỏ (l’ineffable) vẫn luôn luôn là cái không được biểu đạt v́ đó là luật tắc. “Thi sĩ phải cất tiếng. Lời nói này đă ẩn tàng trong sự khởi đầu ở thời điểm bắt đầu ngày rất xa xăm, có từ tính chất có trước tuyệt đối của cái Thiêng Liêng; lời nói này ngoài ra cũng là bó buộc bởi sự xuất hiện của Vũ trụ được coi như tinh thần con người, như cộng đồng những giá trị. Nhưng dù cất tiếng thi sĩ lại không nói ra, thi sĩ lại để cái phải nói ra vẫn không được biểu lộ, không được hiển thị cái hắn chỉ ra. Và thi sĩ rơi vào hoàn cảnh: đă cất tiếng, bởi những thần linh đ̣i hỏi, nhưng giờ đây:

                                                                               …Phán xét của thần linh

                               Rằng chính căn nhà của hắn,

                               Hắn phải phá hủy đi và cái ǵ thân yêu nhất,

                               Hắn đối xử như kẻ thù và cha già và con cái,

                               Hắn chôn cất họ duới những đống đổ nát. (6)

Theo Blanchot những câu thơ này cho thấy phán xét của thần linh không đơn giản chỉ là h́nh phạt việc ngôn ngữ đă quá đà nhưng là sự đền tội: thi sĩ khi tự hủy cũng phá hủy ngôn ngữ của hắn là nơi hắn cư ngụ, hắn bị treo lửng trong quăng trống không. Thi sĩ cất tiếng trong sự vắng mặt và nỗi đau ḷng khi ngày ló rạng, hắn thấy được sự trong suốt của ngày khi ngày trở thành tư tưởng (denkender Tag).

   Trong thơ cũng như ngoài đời Hölderlin không ca ngợi khổ đau và bất hạnh cũng như cảm nhận ḿnh được ngày chứ không phải đêm kêu gọi. Lắng nghe và vui thỏa trong t́m kiếm, và nếu cần nguyện cầu th́ nguyện cầu chỉ là một sự ngơi nghỉ để ánh sáng không thiêu hủy ḿnh, không xô đẩy ḿnh xuống vực thẳm. Thế nhưng thi sĩ lại không thể làm ǵ được trước t́nh cảnh này. Thi sĩ bị kết án bởi tự do của hiện hữu thi ca mà hắn không thể buông bỏ, bị kết án phải sống trong khổ nạn của một cuộc sống sẽ tới và buộc phải qua thử thách làm nơi chốn cho sự đối nghịch tuyệt cùng, không chỉ không được trốn chạy mà c̣n phải biến ḿnh thành chính sự đối nghịch này bằng ḷng khiêm tốn thuần túy và kích thước lớn lao toàn phần. “Chịu đựng sự tràn đầy của ngày, gánh trên vai trọng lượng của bầu trời, hắn đă hiểu ḿnh phải trả giá, và hắn đă trả giá cho điều đó, không phải v́ tự chính trong nó khổ đau là thiêng liêng, đáng chịu khổ đau, nhưng bởi kẻ nào muốn làm người trung gian trước hết phải bị xé nát, kẻ nào muốn nhận lănh quyền năng của thông giao phải hiến thân trong cái hắn chuyển tải song vẫn tự cảm thấy ḿnh là bất khả thông giao, và sau hết bởi kẻ nào, bị sự khát khao của tinh thần cầm giữ, trở thành con đường của tinh thần, phải nhận lấy nguồn cội không thể biện minh, sự khởi đầu tối tăm của sự triển dương phổ quát một cách nguy khốn. “Khi những thần linh hiện ra trong chân lư, Hölderlin nói, khi cái ǵ phơi mở đứng vững dưới cái nh́n của hắn, con người như thế được tạo nên, th́ hắn không biết cũng không nh́n thấy điều đó. Chịu đựng, khổ đau, đó là điều hắn phải làm, và thế là một cái tên đặt cho cái ǵ quí giá nhất đến với hắn, sau đấy những lời nói trở thành những bông hoa nơi hắn.” Hölderlin trong bài thơ Grund zum Empedokles cũng cho rằng ở chính nơi  niềm đam mê quá lớn lao sự gặp gỡ của những thái cực hoàn thành trong nhân cách, nhưng niềm đam mê này chỉ là một khoảnh khắc sẽ biến đi với kẻ cưu mang nó; như vậy, bằng cái chết, những thái cực được ḥa giải một cách siêu đẳng; và “niềm đam mê của khoảnh khắc trôi qua cuối cùng thoát ra phổ quát hơn, vững vàng hơn, sáng suốt hơn, rơ ràng hơn.”(7)

   Nếu Heidegger quan niệm bài thơ khai sinh th́ sĩ th́ Blanchot qua thi ca và chính cuộc đời của Hölderlin đưa ra một quan niệm hầu như đối nghịch. Nếu nhân vật Empédocle trong vở kịch Cái Chết của Empédocle coi cái chết chỉ như một sự dụ hoặc nhưng với Hölderlin tác giả vở kich lại coi cái chết chính là bài thơ. Blanchot luận giải: “Chính trong bài thơ thi sĩ phải đạt tới khoảnh khắc cùng cực của sự đối nghịch, cái khoảnh khắc trong đó hắn bị xô đẩy phải biến đi và, trong khi biến đi, phải đem ư nghĩa của cái chỉ thể hoàn thành trong sự biến đi này lên thật cao. Bất khả, sự ḥa giải của cái Thiêng Liêng với lời nói bó buộc hiện hữu của thi sĩ phải tiến gần nhất tới không hiện hữu. Chỉ khi đó chính hiện hữu, trong khoảnh khắc, hiện ra như khả hữu, khi, trước khi tắt ngấm, hiện hữu đă thỏa thuận tự xác nhận trong bài ca, đến từ một thân xác thinh lặng, được xướng lên bằng một tiếng nói đă chết, chỉ khi đó bài tụng ca, xứng với bản chất của ngày, dấy lên từ ḷng ngày đă biến đi, sao cho tinh thần cũng đă được vinh danh bởi sự thất lạc, và như thế không phải v́ trên tầng cao thẳm là bóng tối, cũng không phải v́ tinh thần sau hết phải gắn kết với sự mất đi của nó, nhưng, cái Toàn Thể được trở thành ngôn ngữ để nói cho thi sĩ biết: rằng kẻ nào muốn gặp tối thẳm th́ phải kiếm t́m tối thẳm trong ngày, ngắm nh́n ngày, ngày trở thành chính bản thân:

                   Ẩn mật là sự phun trào thuần túy của cái phun trào

                   Sâu thẳm rung chuyển hết thảy, sự tiến đến của ngày.

   Đó là lời “thiêng” của Hölderlin.”(8)

________________________________

(1)     Sđd, trang 130: C’est en cela que les Immortels ont besoin des mortels, ont besoin de la finitude: c’est elle qui les établit dans le monde et leur donne l’être dans la conscience d’être. Leur lumière, trop près du déploiement original, a besoin de s’apaisir pour vraiment les éclairer, pour devenir clarté sur eux-mêmes. Avant le poème, le jour est ce qu’il y a de plus obscure. Origine de la transparence, commencement pur de ce qui va jaillir, il est le mystère le plus profond – et aussi le plus effrayuant: il est l’injustifié, à partir de quoi il faut prendre justification, l’incommunicable et l’indécouvert qui est aussi ce qui s’ouvre et, par la fermeté de la parole poétique, va devenir à la fin ce qui se dévouvre.

 

(2)     Sđd, trang 130: Le poème est en efffet ce qui tient ensemble, ce qui rassemble dans une unité infondée l’unité ouverte du principe, ce qui dans la fissure de l’illumination trouve un fondement assez ferme pour que quelque chose vienne à l’apparence et pour que ce qui apparaît se maintienne dans un accord vacillant mais durable. Il est dit encore dans Patmos, hymne prononcé déjà sous le voile de la folie:

…Le Père

                                          Qui règne sur toute chose

                                          Aime par excellence que l’on se soucie

                                          De la letter ferme et que bien

                                          Signifié soit le stable. À cela répond le chant allemande.

 

Nguyên bản tiếng Đức của Hölderlin:                                                                                                                                                                                                                                 …Vater

                                          Der über allen waltet

                                          Am moisten, daβ gepfleget werde

                                          Der veste Buchstab, und bestehendes gut

                                          Gedeutet. Dem folgt deutscher Gesang.

 

Gustave Roud dịch ra Pháp văn như sau:

                                                                                                          Mais le Père aime, le

                                          Maître du monde, avant toute chose,

                                          Que la letter en sa fermeté soit maintenue

                                          Avec soin; que de ce qui perdure soit rendu visible

                                          Le sens profond. Et le chant allemande lui obéit.

 

Michael Hamberger dịch ra Anh văn đoạn thơ này:

                                                                                                                          …the Father

                                          Who reigns over all loves most

                                          Is that the solid letter

                                          Be given scrupulous care, and the existing

                                          Be well interpreted. This German song observes.

 

Qua ba bản dịch này chúng ta khó có thể nói ai đă hiểu tương đối sát nghĩa đoạn thơ của Hölderlin! Điều này cho thấy dịch thơ Hölderlin quả thực rất nan giải.

 

(3)     Sđd, trang 130-131: C’est pourquoi, le poète est weltlich, il est du monde, il doit se tenir au monde; et c’est pourquoi encore, selon le vers si parfaitement éclairé par Heidegger dans sa conference de 1936:

Mais ce qui demeure, les poètes le fondent.

           Nguyên văn tiếng Đức câu thơ cuối cùng của bài tụng ca Andenken/Hồi tưởng của Hölderlin:

                                                        Was bleibet aber, stiften die Dichter.

(4)     Sđd trang 132: pourquoi et comment “l’ébranlement du chaos qui n’offre aucun point d’appui et d’arrêt, la terreur de l’Immédiate qui fait échec à toute saisir directe, “le Sacré” peut-il se laisser transformer et rejoindre par le silence? Et ensuite, pourquoi et comment le silence se laisse-t-il rejoindre par la parole?

 

(5)     Sđd, 132: Le mot still est, à une ou deux exceptions près, le seul mot dont Hölderlin se serve pour faire allusion à quelque chose qui ressemble au silence. En réalité, il ne se rapport pas au langage, mais désigne une sphère plus large, tout ce que les mots, apaisement, profondeur tranquille, calme intériorité peuvent suggérer.* Le mot still a d’ailleurs dans les poèmes une valeur ambiguë: tantôt il signifie bénédiction, paix et douceur, tantơt il est le malheur de l’aridité, le recul maudit de la vie et de la parole.

*Blanchot chú giải thêm: “Như những câu trong một bài thơ gửi những thần linh đă chứng minh: “Cao xanh lặng lẽ (stiller Aether), ngươi kẻ canh giữ tuyệt vời linh hồn ta trong khổ đau.” An b́nh không làm giảm khổ đau, nhưng, ḥa điệu nó với cái trái nghịch với nó, làm xuất hiện khoảnh khắc ḥa giải là vẻ đẹp.

 

(6) Sđd trang 133: Le poète doit parler. Cette parole est déjà impliquée dans le plus lointain commencement du point du jour, elle est dès l’absolue antériorité du Sacré; elle est en outre exigée par l’avènement de l’Univers comme esprit commun, comme communauté des valeurs. Mais parle-t-il, il parle mais ne parle pas, il laisse inexprimé ce qu’il a à dire, non manifesté ce qu’il monstre. Et il lui arrive ceci: ayant parlé, parce que les dieux le lui demandent, maintenant:

                                                                                                                                  …Leur jugement

                                                  Est que sa propre maison,

                                                  Il la détruise et ce qu’il a de plus cher,

                                                  Il le traite en ennemi et père et enfant,

                                                  Il les enterre sous les décombres.

 

(7)     Sđd trang 134-135: Supporter la plenitude du jour, charger sur ses épaules ce poids de bûches qu’est le ciel, il a su ce qu’il en coûtait, et il lui en a coûté, non parce qu’en elle-même la souffrance est sacrée, mais parce que qui veut être médiateur doit d’abord d’être déchiré, qui veut assumer le pouvoir de la communication doit se perdre dans ce qu’il transmit et pourtant se sentir lui-même incommunicable, et parce qu’enfin celui qui, saisi par l’exaltation de l’esprit (Begeisterung), devient la voie de l’esprit, doit dangereusement prendre sur soi l’origine injustifiable, l’obscur commencement du deploiement universel. “Quand les dieux se monstrent en vérité, dit Hölderlin, quand ce qui se révèle se tient sous son regard, l’homme est ainsi fait, il ne le connaît ni ne le voit. Supporter, souffrir, c’est là ce qu’il lui faut, et alors vient un nom pour ce qui lui est le plus cher, alors en lui les paroles deviennent fleurs.” Et dans le Grund zum Empedokles: dans la personnalité, au sein de la plus grande passion s’accomplit la rencontre des extrêmes, mais cette passion n’est qu’un moment qui disparaît avec celui qui la supporte; ainsi, par la mort, les extrêmes seront-ils réconcilés d’une manière supérieure; et “la passion du moment écoulé se degage enfin plus universelle, plus contenue, plus lucide, plus claire.

(8)     Sđd, trạng 136: C’est dans le poème qu’il lui faut atteindre le moment extrême de l’opposition, le moment où il est entraîné à diaparaître et, disparaissant, à porter au plus haut le sens de ce qui ne peut s’accomplir que dans cette disparition. Impossible, la reconciliation du Sacré et de la parole a exigé de l’existence du poète qu’elle se rapprochât le plus de l’inexistence. C’est alors qu’elle-même, un moment, est apparue comme possible, quand, avant de sombrer, elle a consenti à s’affirmer dans le chant, venu d’un corps déjà silencieux, prononcé par une voix morte, de sorte que le seul hymne, digne de l’essence du jour, est monté du fond du jour, de sorte qu’aussi l’esprit a été glorifié par l’égarement, et cela non parce que le plus haut est ténèbres, ni parce qu’à la fin l’esprit doit être lié à sa perte, mais, le Tout s’est fait langage pour le dire: celui qui veut rencontrer l’obscur doit le chercher dans le jour, regarder le jour, devenir jour pour soi:

Enigme est le pur jaillissement de ce qui jaillit

Profondeur qui tout ébranle, la venue du jour.

                          Tel est la parole “sacrée” de Hölderlin.

 

                 (c̣n tiếp)

         đào trung đąo

 

        http://www.gio-o.com/daotrungdao.html

 

 

© gio-o.com 2015