đào trung đąo

3-Zero

±±triết học ±± lư thuyết văn chương ±±phê b́nh văn chương

≤≤ cùng một khác

(84)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84

 

   Theo Blanchot, bài thơ không có một đối tượng nào khác ngoài chính nó và thi ca không có thực và đúng thực ở bất kỳ đâu khác ngoài trong chính bài thơ, điều này cho phép bài thơ có quyền sắp đặt toàn bộ những ǵ c̣n lại, và trước hết là sắp đặt tất cả. Thế nên “Khi người ta muốn t́m kiếm điều có thể cắt nghĩa đúng sự kiện rằng bài thơ, tiếng hát, là hiện hữu và nếu như người ta có ư định tra vấn sự kiện này từ bên ngoài, th́ sự tra vấn này phải dẫn về Hölderlin, chính bởi v́, cho chính ông ta và từ chính từ bên trong, một câu hỏi như thế làm nẩy sinh bài thơ. Tra vấn Hölderlin, chính là tra vấn một hiện hữu thi ca mạnh mẽ tới mức, yếu tính của nó một khi được phơi mở, th́ chính nó có thể tự là chứng cớ rằng nó đă là một bất khả tính và tự nó kéo dài trong hư vô và trong sự trống rỗng, mà không ngừng tự hoàn tất.”(1) Phát biểu trên của Blanchot được giải thích rơ hơn trong bài Le Mythe de Mallarmé/Huyền thoại Mallarmé trong La Part du feu. Như chúng ta đă biết Blanchot chịu ảnh hưởng quan niệm thi ca của Mallarmé. Có thể nói Mallarmé là thi sĩ đầu tiên đă khái niệm hóa thi ca, là thi sĩ của ngôn ngữ, nghĩa là đă xô đẩy ngôn ngữ tới giới hạn cùng tận khi cho rằng một bài thơ được cấu tạo bởi ngôn ngữ chứ không phải bởi sự sử dụng ngôn ngữ. Thi ca không phải được tạo nên bởi bất kỳ tư tưởng, h́nh ảnh, cảm nghĩ, biểu tỏ hay h́nh tượng nào nhưng thi ca được tạo nên bởi những từ/chữ, nhưng những từ/chữ này không phải như vẫn được sử dụng để sản xuất ư nghĩa. Nói cho gọn, tuy thi ca được tạo ra bởi ngôn ngữ nhưng không phải là một sản phẩm của ngôn ngữ, không phải là một tṛ chơi ngôn ngữ, cũng không phải là một h́nh thái của đời sống. Theo Mallarmé, từ/chữ thiết yếu (mot essentiel) của thi ca khác hẳn từ/chữ chung (mot commun), từ/chữ thô (mot brut) thường được người đời sử dụng. Ở từ/chữ người đời vẫn dùng sự hiện diện của sự vật đă bị loại bỏ. Ngôn ngữ thiết yếu ngược lại dành chỗ quan trọng cho âm thanh, nhịp điệu và số chữ cho ngôn ngữ. Chính v́ trong thơ những từ/chữ cần thiết có thể nh́n thấy được, có một thực tại riêng, thực tại này có thể xen vào giữa cái hiện hữu và cái chúng biểu đạt. Mallarmé viết: “Từ một số từ/chữ, thi ca tạo ra chỉ duy nhất một từ/chữ mới, chữ này là toàn thể trong chính nó và xa lạ với ngôn ngữ…Như vậy sự cô lập ngôn ngữ theo ư muốn được hoàn thành; và cơ may (cơ may có thể vẫn c̣n cai quản những yếu tố này, mặc cho sự làm mới khéo léo và lần lượt trong việc chỉ nghĩa và âm thanh của chúng) do đó lập tức và xuyên suốt bị tiêu hủy. Khi đó chúng ta nhận ra, với sự kinh ngạc của chúng ta, rằng chúng ta chưa từng thực sự nghe thấy một đoạn rời thi ca b́nh thường như thế bao giờ.”(2) Ngôn ngữ đi vào khủng hoảng khi được đẩy tới giới hạn cùng tận của nó, khủng hoảng này đă giải phóng ngôn ngữ khỏi sự kiểm soát hay can dự của chủ thể nói. Mallarmé đưa vào thi ca khái niệm chữ viết/văn tự (écriture), coi thi ca là nơi chốn hay không gian của văn tự trong đó văn tự không chỉ là một dấu vạch. Đó là không gian của một trang giấy trống không trên đó không có ǵ được nh́n thấy trong sự hiện ra của những từ/chữ. Bài thơ chỉ được tạo ra với những chữ nhờ những khoảng không gian nằm giữa và bao quanh chúng. Mallarmé cũng đẩy xa quan niệm về thi ca hơn nữa khi cho rằng thi ca là một quyển sách toàn thể (livre total), quyển sách toàn thể này không là ǵ khác ngoài chính nó gồm giấy, mực, những tờ giấy được gấp lại và đóng gáy liền vào nhau, những từ/chữ của bảng chữ cái được làm cho cất tiếng tùy theo cách tổ hợp và xoay chuyển những tương quan của chúng với nhau. Điều đáng ghi nhận hơn hết trong những điểm nhận định về ngôn ngữ thi ca của Mallarmé theo Blanchot: “Nhưng trong tất cả [những điểm này] là tính chất vô ngă, một loại hiện hữu độc lập và tuyệt đối mà Mallarmé đă dành cho nó. Như chúng ta đă thấy, ngôn ngữ này không giả thiết một ai biểu lộ nó, không một ai nghe nó: nó [tự] cất tiếng và nó [tự] viết ra. Đó chính là điều kiện của thẩm quyền của nó. Quyển sách là biểu tượng của sự tự tồn này, nó vượt qua chúng ta, chúng ta chẳng thể có khả năng ǵ trên nó và chúng ta không là ǵ hết, hầu như không là ǵ, ở bên trong cái nó là. Nếu như ngôn ngữ tách rời con người, như nó tách rời con người khỏi những sự vật, nếu như nó chẳng bao giờ là hành vi của một ai cất tiếng để cho một người nào đó nghe, người ta hiểu rằng đối với kẻ coi ngôn ngữ trong trong trạng thái cô độc này, kẻ đó cung cấp cái quang cảnh của một quyền lực riêng biệt và hoàn toàn ma thuật. Hắn ta là một thứ ư thức không có chủ thể, ư thức này tách rời khỏi hữu, là sự tách rời, là sự tranh căi, là quyền năng vô tận để sáng tạo ra cái trống không và tự định vị trong một sự thiếu vắng. Nhưng đó lại cũng chính là một ư thức nhập thể, bị quyến dụ vào h́nh thức vật chất của những từ/chữ, vào âm thanh, vào đời sống của chúng và làm cho người ta tin tưởng rằng thực tại này mở ra cho chúng ta không biết bằng ngả đường nào cái tới nền tăm tối của những sự vật. Rất có thể đó là một sự lừa dối. Nhưng phải chăng cũng rất có thể sự lừa dối có tính toán này lại là toàn thể chân lư của mọi thứ được viết ra.”(3) Bằng luận giải này chúng ta mới hiểu được ư nghĩa phần trích dẫn ở trên rằng “yếu tính của nó [bài thơ] một khi được phơi mở, th́ chính nó có thể tự là chứng cớ rằng nó đă là một bất khả tính và tự nó kéo dài trong hư vô và trong sự trống rỗng, mà không ngừng tự hoàn tất.” Chúng tôi sẽ trở lại quan niệm của Mallarmé về thi ca ở phần Blanchot đọc Mallarmé.

    Trước khi tŕnh bày quan điểm của Heidegger về chỗ đứng, vai tṛ của thi sĩ cũng như phản biện của Blanchot chúng ta hăy đọc Otto Pöggeler tóm tắt Heidegger minh giải bài thơ Wie wenn am feiertage trong tập Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung: “Heidegger t́m kiếm “thi ca thuần túy nhất” trong bài thơ Wie wenn am feiertage…Bài thơ này nói rằng nhà thơ là một thi sĩ khi hắn đáp lời tự/thiên nhiên. “Tự/thiên nhiên” là từ/chữ tạm thời của Hölderlin cho cái ǵ “cổ xưa hơn những năm tháng.” Yếu tố liên tục một khi được coi là mầm mống cho tương lai  này là chân lư được coi như sự phơi mở ban phát cho mọi sự là sức kéo dài của sự tồn lưu; như thế, cái ǵ là thiêng liêng là cái ban phát sự chữa lành và sự kéo dài. Lời của Hölderlin nhằm đưa tới cái thiêng liêng; tuy nhiên, thi sĩ không thể đặt/gọi tên cái thiêng liêng ngay tức khắc, và cái thiêng liêng tự nó cũng không ban phát cho thi sĩ ngay tức khắc. Cái thiêng liêng tự nó thu tập trong một tia sáng, vị thần linh, và chạm mặt con người trong cách thế này. Chỉ khi nếu như thần linh được “hướng về” con người th́ khi đó thi sĩ mới có thể đặt tên cái thiêng liêng. Đối lại thần linh đ̣i hỏi sự gọi/đặt tên có tính chất thi ca để có thể thu tập sự thiêng liêng vào chính nó.  Cái thiêng liêng nằm “bên ngoài những thần linh” – không phải là một vùng riêng biệt ở phía trên những thần linh nhưng đúng ra là vùng trong đó những thần linh và nhân gian có thể trước hết hiện hữu như chúng là. Thi sĩ của thi ca mà yếu tính của nó Hölderlin thi ca hóa này phải không bao giờ đánh mất bản thân trong việc sở hữu chỉ một Thần linh bởi v́ chỗ đứng thiết yếu của hắn không được đặt cơ sở trên “quan niệm về Thần linh,” nhưng đúng ra xuyên qua cái ǵ là “thiêng liêng” trong “vùng trời” nằm bên ngoài những thần linh. Chính v́ lư do này Hölderlin thuộc về một khởi đầu khác bởi ông ta kinh qua việc thi ca hóa như việc đặt/gọi tên cái ǵ là thiêng liêng. Cái ǵ là thiêng liêng đặt cơ sở cho cái khởi đầu khác này.”(4)

   Thi sĩ trong ṿng tay ôm của tự/thiên nhiên đứng trong thời tiết thuận hợp cất tiếng đón chào tự/thiên nhiên khi b́nh minh ló rạng:

 Jezt aber tagts! Ich harrt und sah es kommen,

Und was ich sah, das Heilige sei mein Wort

But now day breaks! I waited and saw it come,

And what I saw, may the holy be my word.

Nhưng nay ngày tỏ rạng! Tôi đă đợi chờ và đă nh́n thấy nó tới,

Và cái tôi nh́n thấy, có thể cái cái thiêng liêng sẽ là lời của tôi.

Heidegger cho rằng dấu (!) như tiếng la lên trong khổ thơ thứ ba này đặt tên sự dâng lên của ánh sáng ngời. “B́nh minh là sự tiến tới của thiên nhiên tiên đoán vốn đă ngơi nghỉ. B́nh minh chính là tự/thiên nhiên trong sự tiến tới của nàng. Tiếng la lên “Nhưng giờ đây ngày tỏ rạng” nghe như một sự khẩn cầu của tự/thiên nhiên. Nhưng tiếng gọi [của thi sĩ] thật ra kêu gọi một cái ǵ đó đang tới. Lời của thi sĩ là sự kêu gọi thuần túy của cái những thi nhân luôn tiên đoán chờ đợi và cầu mong. Gọi tên có tính chất thi ca nói ra chính cái được kêu gọi, từ yếu tính của nó, thúc đẩy thi nhân cất tiếng. V́ bị thúc đẩy như thế nên Hölderlin gọi tự/thiên nhiên là “cái thiêng liêng.” Trong bài tụng ca “Am Quell der Donau/Nơi nguồn sông Danube,” được viết không bao lâu sau đó, Hölderlin nói:

Wir nennen dich, heiliggenöthiget, nennen

Natur! dich wir, und neu, wie dem Bad entsteigt

Dir alles Göttlichgeborne

We name you, compelled by the holy, we name you

Nature! And new, as from a bath

From you emerges all that is divinely born

Chúng tôi gọi tên nàng, bị thúc đẩy bởi cái thiêng liêng, chúng tôi gọi tên nàng

Tự/thiên nhiên! Và nàng mới mẻ vừa từ một cuộc tắm gội

Từ nàng nổi lên tất cả những ǵ được sinh ra đời một cách linh thiêng.”(5)

   Theo Hellingrath (người biên soạn tác phẩm Hölderlin để xuất bản năm 1916) sau đó Hölderlin lại gạch bỏ những ḍng thơ này và Hellingrath cho rằng kể từ đó tên “tự/thiên nhiên” không c̣n đủ ư nghĩa đối với thi sĩ nữa. Heidegger không đồng ư với nhận định này v́ từ “tự/thiên nhiên” như một từ thi ca nền tảng đă thắng thế trong bài “Như vào một ngày nghỉ lễ…” và sự vượt thắng này là hậu quả và chỉ dấu của một phát biểu bắt đầu từ một điểm nguyên ủy hơn.

    Heidegger minh giải “cái thiêng liêng” và lời thi sĩ đặt tên “cái thiêng liêng” và chỗ đứng, vai tṛ của thi sĩ. Thi sĩ tṛng ṿng tay ôm của tự/nhiên khi rạng đông với ánh sáng ban mai hiện diện cùng khắp một cách diệu kỳ và “cái thiêng liêng” trở thành từ/chữ của thi sĩ bởi thi sĩ đứng trong “thời tiết thuận hảo” và chỉ c̣n phải đặt tên cái thi thĩ tùy thuộc vào: Khi thức giấc tự/thiên nhiên mở toang yếu tính của chính nàng như cái thiêng liêng, Heidegger thông diễn. “Mở” của tự/thiên nhiên làm trung gian kết nối giữa mọi sự vật, mọi sự được tạo dựng nhờ sự trung gian này, mọi sự vật được làm trung gian nhờ tính chất trung gian (mediatedness) này. Thế nhưng chính “Mở” lại có tính chất tức thời (immediate). Và không có cái ǵ được trung gian (mediated), dù là thần linh hay con người, lại có thể đạt tới được cái tức thời (immediatedness), theo Heidegger. Để lư giải nan đề mối tương quan giựa tức thời và trung gian Hölderlin t́m thấy ư nghĩa của tức thời trong một đoạn thơ của Pindar (nguyên tác tiếng Hy Lạp Hölderlin tự chuyển ngữ và đặt tựa đề là “Das Höchste/Cái Tối Cao”):

                   Das Gesez

                   Von allen der König, Sterblichen und

                   Unsterblichen; das führt eben

                   Darum gewaltig

                   Das gerechteste Recht mit allerhöchster Hand

                    The law

                    King of all, both mortals and

                    Immortals, which for that very reason

                    Compellingly guides

                    The most just right with the uppermost hand.

 Luật tắc

 Chúa tể muôn loài, nhân gian và

 Những kẻ bất tử; điều này chính v́ lư do đó

 Hướng dẫn một cách thúc phọc

 Công lư đúng hơn cả với bàn tay tối cao.

Heidegger trích dẫn Hölderlin nói về đoạn thơ này: “Cái tức thời, nói cho đúng, như thể bất khả đối với nhân gian cũng như đối với những kẻ bất tử; thần linh phải phân biệt những thế giới khác nhau, đúng theo tính bản nhiên của ḿnh, bởi tính thiện thượng giới, do chính mục tiêu của ḿnh, phải là thiêng liêng, thuần túy. Con người, như kẻ hiểu biết, cũng phải phân biệt những thế giới khác nhau, bởi tri thức chỉ khả hữu qua sự đối lập. V́ lư do này, cái tức thời, nói cho đúng, là bất khả đối với con người cũng như đối với những kẻ bất tử. Tính chất trung gian đúng nghĩa, là luật tắc.”(6) Tính chất tức thời làm trung gian cho những sự vật được làm trung gian bởi tính chất này làm cho vật được trung gian khả hữu trong yếu tính của nó. “Tự/thiên nhiên” là tính chất tức thời làm trung gian cho tất cả, là luật tắc (nomos). Thế nhưng tự/thiên lại được sinh ra từ hỗn mang (χάος/chaos). Vậy làm sao luật tắc lại có thể chung cùng với hỗn mang vốn vô luật tắc? Heidegger trích dẫn lời Hölderlin trong bài “Die Titanen/The Titans” trong đó thi sĩ có nói tới “ những sự hoang dă thiêng liêng” (holy wildernesses) và “sự hoang dă vụng về” (clumsy wilderness) và trong bài tụng ca “Sông Rhine” cũng nhắc tới “sự hỗn loạn ban sơ” (primerval confusion). Heidegger cho rằng trước hết χάος có nghĩa há ra, lỗ hổng há rộng (gaping chasm), mở ra tự mở rộng do đó mọi thứ bị nuốt chửng. Hỗn mang đơn giản chỉ là hỗn loạn. “Song le tính chất hỗn mang theo nghĩa này chỉ là một khía cạnh không thiết yếu theo nghĩa của “hỗn mang.” Suy tưởng theo tự/thiên nhiên như Φύσις hỗn mang vẫn là sự há rộng từ đó mở ra tự mở rộng, để nó có thể ban phát sự hiện diện được giới hạn của nó cho tất cả mọi làm thành khác biệt. Do vậy Hölderlin gọi “Hỗn mang” và “hỗn loạn” là “thiêng liêng.” Hỗn mang chính là cái thiêng liêng. Không có cái ǵ có thực lại có trước sự mở ra này cả, nhưng thật ra luôn luôn chỉ đi vào nó. Tất cả mọi thứ hiện ra đều đă bị nó vượt qua.” (7) Tự/thiên nhiên ở trên và có trước mọi sự vật. Tuy nàng tự/thiên nhiên có trước (former) nhưng phải hiểu chữ này theo nghĩa kép: nàng là già nua hơn cả mọi vật đă có nhưng lại cũng trẻ trung nhất đối với những sự vật có sau đó. Khi thức giấc nàng đi tới như cái tương lai nhất, thoát ra từ cái ǵ đă già nua nhất, nàng không già đi bởi mỗi khi thức giấc nàng trẻ trung nhất. Theo Heidegger cái thiêng liêng (Heilige) là cái nguyên thủy, “toàn thể/heil” không bể nát. Tính chất toàn thể nguồn cỗi này cho mọi sự vật một tặng phẩm nhờ đó chúng có thực (real) do sự có mặt cùng khắp của tính chất toàn thể nguồn cỗi này. Thế nhưng ngay khi ban phát tính thiêng liêng cho mọi vật nó lại thu kín tất cả sự tràn đầy của nó vào chính nó như cái tức thời (the immediate) và nó cũng giữ lại bên trong nó yếu tính của mọi sự vật. Thế nên nó trở thành không thể tiếp cận được, làm cho sự tiếp cận thành hoài công dù kẻ tiếp cận đó là con người hay thần linh. Kinh nghiệm khi chạm trán nó biến nó thành không có nền tảng. “Bị quấy rầy cách này, cái thiêng liêng chính là cái đáng sợ (awesome). Nhưng tính chất đáng sợ vẫn nằm ẩn dấu trong tính chất dịu dàng (mildness) của ṿng tay ôm dịu dàng của nó. Bởi ṿng tay ôm dịu dàng này giáo dục những thi nhân tương lai, nên những thi nhân này, như những kẻ được khai dẫn, biết được cái thiêng liêng. Tri thức của họ là sự tiên đoán. Tiên đoán quan tâm tới cái đang tới và cái ǵ đang dâng lên, nghĩa là, b́nh minh. “Nhưng nay ngày ló rạng!” Giờ đây cái ǵ sẽ xảy đến, khi chính cái thiêng liêng tới? Câu trả lời của Hölderlin:

                   Und wie im Aug’ ein Feuer dem Manne glänzt,

                   Wenn hohes er entwarf; so ist

                   Von neuem an den Zeichen, den Thaten der Welt jezt

                   Ein Feuer angezündet in Seelen der Dichter.

                   [Và như một ngọn lửa lập ḷe trong mắt con người,

                   Kẻ nào đă cưu mang một dự kiến cao cả

                   Một lần nữa do những dấu hiệu, những việc làm của thế giới giờ đây

                   Một ngọn lửa đă ngời lên trong tâm hồn những thi nhân.]

Heidegger diễn giải: Sự sáng tỏa tràn tới tâm hồn cô đơn của thi nhân những kẻ được cái thiêng liêng ôm trong ṿng tay dịu dàng và thuộc về cái thiêng liêng. Nhưng cũng bởi những thi nhân chiêu niệm với tự/thiên nhiên tiên đoán nên chính họ cũng phải đi vào sự soi sáng (clearing) khi tự/thiên nhiên thức giấc, và chính họ cũng phải trở thành sự sáng tỏa. Khi đó những thi nhân này đứng rộng mở trong cái rộng mở tự nó mở ra từ đỉnh trời xuống tận vực thẳm. “Tính chất rộng mở của cái rộng mở đi vào sự kết nối với cái chúng ta gọi là “một thế giới.” Chính chỉ bởi lư do này mà đối với những thi nhân những dấu chỉ và những công việc của thế giới bước vào trong ánh sáng: những thi nhân này không phải là không có một thế giới. Mặc dầu là thi nhân, theo hữu của họ, họ thuộc về cái thiêng liêng và tư tưởng về thực tại của mọi sự vật có thực, nghĩa là họ có tính chất “tinh thần,” và mặc dù bản thân họ thiết yếu là “có tính chất tinh thần” họ đồng thời cũng vẫn phải bị nhận ch́m và bị cầm giữ bên trong cái ǵ là có thực.(8)

                   Die Dichter müssen auch

                   Die geistigen weltlich seyn

                               (Der Einzige, bản viết lần thứ nhất)

                   The poets, and those no less who

                   Are spiritual, must be worldly.

                   (The Only One, first version, Bản dịch cùa Michael Hamberger)

_________________________________

(1)     Maurice Blanchot,  La Parole “sacrée” de Hölderlin trong La Part du feu trang 121: Quand l’on veut retrouver ce que peut bien signifier ce fait que le poème, que le chant existe et si l’on pretend interroger ce fait du dehors, cette interrogation doit conduire à Hölderlin, parce que, pour lui-même de du dedans, une telle question a fait naître le poème. Interroger Hölderlin, c’est interroger une existence poétique si forte que, son essence une fois dévoilée, elle a pu faire elle-même la preuve qu’elle était impossibilité et se prolonger dans le néant et dans le vide, sans cesser de s’accomplit.

(2)     Stéphane Mallarmé, Œuves complètes, Gallimard 1945 trang 368.

(3)     Maurice Blanchot, Le Mythe de Mallarmé, trong La part du feu trang 48: Mais de tous [les points frappants] le plus remarquable est le caractère impersonnel, l’espèce d’existence indépendante et absolue que Mallarmé lui prête. Nous l’avons vu, ce langage ne suppose personne qui l’exprime, personne qui l’entende, il se parle et il s’écrit. C’est la condition de son autorité. Le livre est le symbole de cette subsistence autonome, il nous dépasse, nous ne pouvons rien sur lui et nous ne sommes rien, presque rien, dans ce qu’il est. Si le langage s’isole de l’homme, comme il isole l’homme de toutes choses, s’il n’est jamais l’acte de quelqu’un qui parle en vue de quelqu’un qui l’entende, on comprendra qu’à celui qui le considère dans cet état de solitude, il offer le spectacle d’une puissance singulière et toute magique. Il est une sorte de conscience sans sujet qui, séparée de l’être, est détachement, contestation, pouvoir infini de créer le vide et de se situer dans un manque. Mais c’est aussi une conscience incarnée, séduite à la forme matérielle des mots, à leur sonorité, à leur vie et donnant à croire que cette réalité nous ouvre on ne sait quelle voie vers le fond obscure des choses. Peut-être est-ce là une imposture. Mais peut-être cette supercherie est-elle la vérité de toute chose écrite.

(4)     Otto Pöggeler, Das Denkweg Martin Heideggers trang 219, bản Anh văn của Daniel Magurshak & Sigmund Barber  Martin Heidegger’s Path of Thinking trang 177: Heidegger finds the “purest poetry of the essence of poetry” in the poem Wie wenn am Feiertage…This poem says that the poet is a poet when he responds to nature. “Nature” is Hölderlin’s provisional word for what is “older than the ages.” This continually once and future seminal element is truth as unconcealement which grants to everything that is the hale of lingering; thus, what is holy is that which grants the healing and the hale. Hölderlin’s saying is of consequence for the holy; still, the poet cannot name the holy immediately, and the holy does not grant itself to the poet immediately. The holy gathers itself into a beam of light, the god, and encounters man in this manner. Only if the god is “directed” toward man can the poet name the holy. Reciprocally the god requires the poetic naming in order that it can gather the holy into itself. The holy is “beyond the god” – not a distinct region above the gods but rather that in which the gods and the mortals can first of all be what they are. The poet of that poetry whose essence Hölderlin poetizes should never lose himself in the possession of the one God since his essential stand is not grounded in the “conception of God,” but rather through what is “holy” in the “sphere” which is beyond the gods. For this reason, Hölderlin belongs to another beginning because he experiences poetizing as the naming of what is holy. What is holy grounds this other beginning.

(5)     Martin Heidegger, Elucidations of Hölderlin’s Poetry trang 80: The exclamation with which the third stanza begins names the rising of the blazing brightness. Daybreak is the coming of the divining nature that has been at rest. Dawn is nature herself in her coming. The exclamation “But now day breaks!” sounds like an invocation of nature. But the call actually calls to something that is coming. The poet’s word is the pure calling of what those poets who are always divining wait and long for. The poetic naming says what the called itself, from its essence, compels the poet to say. Thus compelled, Hölderlin names nature “the holy.” In his hymn “At the Source of the Danube,” written shortly afterward, Hölderlin says:

 

We name you, compelled by the holy, we name you

Nature! And new, as from a bath

From you emerges all that is divinely born.

 

(6)     Freidrich Hölderkin, Poems and Fragments, Michael Hamberger translated trang 713: Das Unmittelbare, streng genommen, ist für die Sterblichen unmöglich, wie für die Unsterblichen; der Gott muβ verschiedene Welten unterscheiden, seiner Natur gemäβ, weil himmlische Güte, ihret selber wegen, heilig seyn muβ, unvermischet. Der Mensch, als Erkennendes, muβ auch verschidene Welten unterscheiden, weil Erkentniβ nur durch Entgegensezung möglich ist. Deswegen ist das Unmittelbare, streng genommen, für die Sterblichen unmöglich, wie für die Unsterblichen.

   Die strenge Mittelbarkeit ist aber das Gesez.

 

(7)     Martin Heidegger, Elucidations of Hölderlin’s Poetry trang 85: The “chaotic” in this sense, however, is only the inessential aspect of what “chaos” means. Thought in terms of nature Φύσις chaos remains that gaping out of which the open opens itself, so that it may grant its bounded presence to all differentiations. Hölderlin therefore calls “Chaos” and “confusion” “holy.” Chaos is the holy itself. Nothing that is real precedes this opening, but rather always only enters into it. All that appears is already surpassed each time by it.

(8)     Sđd, trang 86: The openness of the open then comes into a connection with what we call “a world.” It is for this reason alone that for these poets the signs and the deed of the world step into the light: these poets are not without a world. Although poets, according to their being, belong to the holy and think the reality of everything that real, that is, “spirit,” and although they are thus essentially “spiritual” themselves, they must at the same time also remain immersed and captive within what is real.

 

 

c̣n tiếp)

đào trung đąo

                                      

 

http://www.gio-o.com/daotrungdao.html

 

 

© gio-o.com 2015