đào trung đạo
3-Zero
±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương
≤≤ cùng một khác
(96)
Blanchot/Hölderlin
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96,
Tuy Blanchot chính thức chỉ viết hai bài về Hölderlin (1) nhưng Hölderlin lại là tiêu điểm của những suy tưởng về văn chương trong hầu như toàn bộ các tác phẩm của Blanchot. Hölderlin được nhắc tới rải rác trong những tác phẩm khảo luận và diện mạo Hölderlin – tuy không được nêu tên – cũng thấp thoáng trong những tiểu truyện/truyện kể như trong quyển La Folie du jours. Trong bài thứ nhất Lời “thiêng” của Hölderlin (xem 3-ZERO#82-88/Gió-O) Blanchot nhân phản biện Heidegger trong diễn giải bài thơ Wie Wenn Am Feiertage/Như khi vào một ngày lễ hội của Hölderlin đưa ra quan niệm về thi ca như một khả hữu bất khả trong khi Heidegger coi ngôn ngữ thi ca đặt nền tảng cho Hữu. Trong cuộc Auseiandersetzung/Trực diện đối thoại với Heidegger quanh chủ đề Hölderlin này Blanchot đưa ra nhiều vấn đề phản bác Heidegger không những về mối tương quan giữa văn chương và triết lư, giữa thi ca và đạo đức học… nhưng trên hết thảy là về ngôn ngữ, cộng đồng, tính chất quốc gia, và nghệ thuật. Phương cách phản biện của Blanchot là từng bước đi theo diễn giải của Heidegger rồi đột nhiên làm một ṿng quay ngược để chỉ ra sự nghịch lư trong luận cứ của Heidegger. Nếu đọc kỹ bản viết này, chú ư tới từng chi tiết, chúng ta sẽ nhận ra những dấu chỉ rơ rệt sự bất đồng của Blanchot với Heidegger. Quan trọng hơn cả là bất đồng về quan niệm thi sĩ. Blanchot cho rằng khi Heidegger giải thích Thiêng Liêng như Hỗn mang (chaos) mở ra trong nguyên ủy và đánh thức tự nhiên trong ánh sáng của Thiêng Liêng Heidegger đă lạc vào quan niệm truyền thống về thi sĩ. Theo Blanchot thi sĩ chiêu niệm sự tối thẳm của đêm nguyên ủy khi thi sĩ được rọi sáng bởi tự nhiên thức giấc như Heidegger diễn giải không hề có trong kinh nghiệm thi ca của Hölderlin. Nói Heidegger nghịch lư khi lạc vào ngôn ngữ siêu h́nh học truyền thống v́ ngay khi Heidegger đọc Hölderlin đă coi như thể bản văn của Hölderlin được viết theo một ngôn ngữ cận kề với nguồn gốc tư tưởng tiền siêu h́nh Tây phương nên Heidegger đă không nhận ra được sự độc đáo của Hölderlin. Ngoài ra Blanchot diễn giải thi ca của Blanchot c̣n đối nghịch với diễn giải của Heidegger ở chỗ tuy cả hai đều coi Thiêng Liêng như không gian chung của khả hữu tính có trước con người và thần linh nhưng Blanchot quan niệm mối tương quan giữa ngôn ngữ với thi ca qua vai tṛ trung gian của thi sĩ có những giới hạn như chính Hölderlin đă bày tỏ trong một số bài thơ. Khác với Heidegger cho rằng Hölderlin là thi sĩ được chiếu sáng trong đêm tối bởi tự nhiên để gọi tên Hữu Blanchot cho rằng Hölderlin là thi sĩ của ban ngày, thi sĩ của cội nguồn tan loăng: Hölderlin là thi sĩ của ánh sáng trước khi có ánh sáng. Một điểm căn bản khác là Blanchot không chấp nhận sự ḥa giải giữa Thi ca và Hữu như Heidegger quan niệm, coi tương quan giữa Thi ca và Hữu là một tương quan không tương liên gắn kết sự thiết yếu thông giao thi ca với tính chất bất khả thông giao của Thiêng Liêng: thơ của Hölderlin là nơi diễn ra nan đề cơ bản của khả hữu tính bất khả (impossibilité possible). Khi khẳng đinh như vậy dường như Blanchot muốn ám chỉ kinh nghiệm thi ca của Hölderlin: thi sĩ sống trong thời khổ nạn bất khả thông giao nên cuối đời đă điên loạn, sống trong nỗi điên cuồng của ngày (La folie du jour) như một tự triệt hủy. Blanchot quan niệm trước khi bài thơ được viết ra thi sĩ không hiện hữu v́ thi sĩ là sản phẩm của tác phẩm và v́ lư do này thi sĩ luôn luôn là thi sĩ trong/của tương lai.
Trong bài L’Itinéraire de Hölderlin/Lộ tŕnh của Hölderlin Blanchot vạch lại lộ tŕnh ṿng tṛn thủ vĩ liên hoàn kinh nghiệm tư tưởng thi ca của Hölderlin từ thời trẻ tuổi cho đến giai đoạn điên loạn cuối đời. Ở giai đoạn đầu thời trẻ tuổi (1794-1798) như trong tiểu thuyết Hypérion Hölderlin muốn rũ bỏ hết thảy những giới hạn của bản ngă để ḥa nhập vào tự nhiên khi viết: “Chỉ nhập làm một với tất cả những sinh vật, quay trở lại, bằng một sự quên lăng sáng tỏa bản thân, đi vào trong cái Toàn thể của Tự nhiên, đó là cấp độ cao nhất của tư tưởng và của niềm vui, đỉnh cao thiêng liêng, nơi chốn của cái tự nhiên tĩnh lặng, ở đó giữa trưa mất đi sự oi nồng của nó, sấm sét mất đi tiếng động của nó, nơi đó tiếng dạt dào của biển lẫn vào đợt gợn sóng của đồng lúa ḿ.”(2) Blanchot cho rằng sự khao khát quay trở lại cuộc sống đơn nhất, vĩnh cửu và nồng cháy của Hölderlin chuyển động gắn liền với hứng khởi và cũng là sự ham muốn cái chết đúng như nhân vật Diotima trong quyển tiểu thuyết này chết đi bởi chính cái chết đă làm nàng sống thân thiết với tất cả nhưng nàng cũng nói “chúng ta chỉ chia xa nhau để sống hợp nhất gần gũi hơn nữa trong niềm an b́nh thánh thiện hơn với mọi sự vật, với chính chúng ta…” Qua giai đoạn trưởng thành (1798-1800) với vở kịch Cái chết của Empédocle (với ba bản thảo khác nhau nhưng vẫn không hoàn thành) Hölderlin biểu đạt ư chí muốn dùng cái chết để thâm nhập thế giới vô h́nh. Trong mỗi bản thảo động cơ của ư chí này tuy được tŕnh bày khác nhau nhưng ước nguyện không thay đổi: ḥa nhập với lửa, dấu chỉ và sự có mặt của sự hứng khởi để đạt tới sự thân thiết với thần linh. Vào giai đoạn viết những đại tụng ca (1800-1804) thơ Hölderlin không c̣n tính chất bạo động hay sôi nổi như trong vở Empédocle. Thế nhưng, thi sĩ vẫn thiết yếu là kẻ làm trung gian như trong bài thơ Như vào một ngày nghỉ lễ viết vào thời gian Hölderlin sống lưu lạc ở Pháp. Trong bài thông diễn nổi tiếng bài thơ này Heidegger cho rằng thi sĩ đứng thẳng ḿnh trước thượng đế và thể như giao tiếp với quyền lực cao cả nhất, trần ḿnh trước lửa cháy bỏng đầy hiểm nguy, bị sự rúng động làm tan loăng đi. Tuy nhiên thi sĩ vẫn có nhiệm vụ trong khi tiếp nhận lửa trong niềm im lặng thân thuộc làm cho lửa dịu xuống để cho những lời hạnh phúc phát sinh và trần gian có thể nghe thấy những lời này mà không bị hiểm nguy. Theo Blanchot, nhiệm vụ làm trung gian chúng ta thường gắn liền với tên tuổi Hölderlin này có lẽ chỉ một lần được Hölderlin bày tỏ một cách rơ ràng trong một đoạn trong bài thơ này và trong khổ chót của bài thơ Dichterberuf/Thiên hướng của thi sĩ. Bài thơ này tuy ghi là được sáng tác khoảng năm 1800 nhưng Blanchot cho rằng khổ cuối của bài thơ được viết ra trước đó. “Trong cùng một bài tụng ca, tự nhiên vẫn được ngợi ca như sự thân ái của thần linh; thực ra tự nhiên không phải là tự nhiên ta phải trao thân bằng một chuyển động rời bỏ vô giới hạn; tự nhiên “dạy bảo” thi sĩ, nhưng bằng giấc ngủ và bằng thời gian trầm lắng và ngưng nghỉ/treo lửng của nó tiếp sau băo tố (lửa): thời gian tiếp sau băo tố, đấy là thời gian thuận hảo, thời gian của ân sủng và của hứng khởi.”(3)
Blanchot dành nhiều trang cho phần sau bài luận văn L’Itinéraire de Hölderlin để diễn giải quan niệm die vaterländische Umkehr/trở lại với Tự nhiên của Hölderlin. Thi sĩ có những suy tưởng độc đáo về chủ đề này vào giai đoạn sắp đi vào điên loạn. Khởi điểm của quan niệm này là suy tưởng của Hölderlin về sự tuần hoàn của thời đại khi thần linh c̣n hiện diện, đó là những giai đoạn của ban ngày sáng tỏ, và thời đại khi thần linh đă bỏ đi là giai đoạn của sự tăm tối. Hölderlin kết thúc bài thơ Dichterberuf/Thiên hướng của thi sĩ bằng khổ chót như sau:
Nhưng, khi buộc phải vậy, con người trụ lại không sợ hăi
Trước Thượng đế, sự đơn giản che chở hắn,
Và hắn chẳng cần có vũ khí, cũng chẳng cần có mưu lược,
Chừng nào hắn không thiếu Thương đế .
Blanchot cho biết ít lâu sau Hölderlin viết ở chỗ câu thơ cuối “Cho tới tận sự không có Thượng đế sẽ giúp đỡ hắn” (Jusqu’à ce que le défaut de Dieu l’aide). Chi tiết này cho thấy hai dịch giả Robert Rovini (Pháp văn) và Michael Hamberger (Anh văn) đă dịch câu thơ cuối theo câu thơ Hölderlin đă ghi bên cạnh để thay thế.(5)
Hai chi tiết quan trọng cần xác định: thứ nhất, thời kỳ bắt đầu có triệu chứng điên loạn, đầu óc thần trí Hölderlin vẫn tinh tường sáng suốt; thứ nh́, theo Blanchot vaterländische Umkehr/trở lại với Tự nhiên “không phải đơn giản chỉ là quay trở về nơi sinh thành, về quê hương/tổ quốc, nhưng là một chuyển vận tự hoàn tất theo sự bó buộc của nơi chốn đó.”(4) Trả lới câu hỏi “Sự bó buộc nào?” Blanchot qui chiếu chi tiết trong bức thư nổi tiếng Hölderlin gửi cho bạn là Bœhlendorf chẳng bao lâu sau khi khởi hành đi Nürtingen (6) trong đó Hölderlin phê b́nh một quyển sách của người bạn này một cách thận trọng và nói với bạn rằng “Sự sáng rơ của ư tượng đối với chúng ta cũng nguyên ủy tự nhiên như lửa của bầu trời đối với người Hy Lạp.” (La clarté de la représentation nous est aussi naturellement originelle qu’aux Grecs le feu du ciel) [Bức thư trong Hölderlin, Œuvres trang 1009 không thấy có câu Blanchot trích dẫn này. Có thể Blanchot nhắc tới một bức thư khác Hölderlin viết cho Bœhlendorf? ] Blanchot cho rằng từ “Chúng ta” trong bức thư này trước hết để chỉ người Đức và sau đó người Hespérides, tức là những người Tây phương và “sự sáng tỏ của ư tượng” (la clarté de la représentation) trong cùng bức thư này Hölderlin gọi là “tính chất sáng suốt hay chừng mực điều độ có tính chất Juno tây phương” (la lucidité ou la sobre mesure junonienne occidentale) là khả năng nắm bắt và định nghĩa, là sức mạnh của một sắp đặt chặt chẽ, cũng là ư chí để phân biệt và để trụ lại trên trái đất. C̣n “lửa trời” (feu du ciel) là dấu chỉ những thần linh, băo táp, yếu tố có tính chất Empédocle (élément empédocléen). Blanchot nhận xét: “Nhưng ngay sau đó Hölderlin lập tức thêm vào: bản năng tạo thành và giáo dục con người có một hậu quả như sau: con người không học hỏi, con người chỉ thực sự sở hữu cái ǵ xa lạ với ḿnh; cái ǵ cận kề với con người lại không cận kề với họ. Đó chính là lư do tại sao người Hy Lạp, những kẻ xa lạ với sự sáng tỏ, lại thừa hưởng được ở một mức độ ngoại hạng cái khả năng của sự chừng mực điều độ mà Homère vẫn là kiểu mẫu cao độ nhất. Đó cũng là lư do tại sao người Phương tây và, đặc biệt nhất, là người Đức, đă trở thành chủ nhân của đồng càm thiêng liêng vốn xa lạ với họ, nhưng giờ đây đó chính là cái của riêng họ mà họ phải học hỏi, và đó là cái khó khăn hơn cả để học sự chừng mực, ư nghĩa sáng tỏ và cả sự trụ vững trong thế giới này.”(7) Blanchot cho rằng loại luật lệ do Hölderlin đặt ra này dường như chỉ là một giới luật (précept) có giới hạn nhắm tới những thi sĩ Đức nhằm khuyên nhủ họ không nên buông thả quá mức kể cả bằng cái chết cho ư chí lao ḿnh vào thế giới vô h́nh, vào ṿng xoáy và vào sự chói ḷa của lửa. Khi đưa ra giới luật này Hölderlin tự cảm thấy ḿnh đă quá bị cuốn hút bởi chỉ dấu của những thần linh và sự gần gũi ngoại quốc một cách nguy hiểm. Trong cùng bức thư này Hölderlin đă viết “Tôi hẳn sẽ phải cảnh giác để không mất mạng ở Pháp,” “Chúng ta gần như đă đánh mất tiếng nói ở nơi xa lạ” v́ nước Pháp đối với Hölderlin biểu trưng cho sự tiếp cận lửa, cho sự mở toang tiếp nhận Hy Lạp cổ đại. Ở thời khắc cảm thấy ḿnh sống dưới sự đe dọa chung quanh như vậy Hölderlin quan niệm phải làm một cuộc trở về trái đất này, từ bỏ con đường dẫn về một thế giới khác bất chính thực (monde inauthentique) như ở giai đoạn viết vở kịch Empédocle và như lời lẽ trong một bức thư Hölderlin viết cho một người bạn. Cùng với sự từ bỏ thế giới không chính thực là sự từ bỏ tự nhiên trước đây được yêu mến ngợi ca, cái tự nhiên được coi như kẻ giáo dục tuyệt vời thi sĩ nhưng Hölderlin nay coi tự nhiên là “kẻ thù muôn thưở của con người,” v́ đă lôi kéo con người ra khỏi thế giới hiện tại.
Đành rằng con người hôm nay phải quay trở lại, rời bỏ thế giới của những thần linh cũng là thế giới của những kẻ đă chết, quay lưng lại lời kêu gọi của vị Thương đế cuối cùng là Christ đă biệt tăm mời gọi chúng ta cùng biến đi. Thế nhưng, Blanchot đặt câu hỏi: “Làm sao có thể trở lại? Phải chăng đó hoàn toàn là một sự nổi loạn của con người? Phải chăng con người được mời gọi đứng lên chống lại những sức mạnh siêu đẳng vốn thù nghịch con người v́ những sức mạnh này làm con người quay lưng lại với bổn phận trần gian? Không, và chính ở thế giới trần gian mà tư tưởng của Hölderlin, dù cho đă bị sự điên loạn phủ chụp, xem ra rất được suy tưởng sâu xa, tư tưởng này không mấy dễ dàng như tư tưởng của chủ nghĩa nhân bản. Nếu như con người ở thời đại tây phương phải hoàn thành sự trở lại dứt khóat này, chính là sự tiếp theo những thần linh, chính những thần linh này đă hoàn tất cái Hölderlin gọi là “sự trở lại nhất quyết”. Ngày nay những thần linh rời đi, họ đă vắng mặt, họ là những kẻ bất trung, và con người phải hiểu ư nghĩa thiêng liêng của sự bất trung thần linh này, không phải bằng cách bất măn với ư nghĩa thiêng liêng này, nhưng bằng cách hoàn thành nó cho phần ḿnh. “Trong một khoảnh khắc như vậy, ông ta [Hölderlin] nói, con người tự quên ḿnh và quên Thượng đế, quay trở lại như một kẻ bội phản, dù rằng bằng một cách thế thánh thiện.” (8) Blanchot cho rằng tuy sự quay trở lại này là tuy một hành vi khủng khiếp nhưng không phải là bất tín (impie) bởi sự bất trung này xác quyết sự tách rời những thế giới, trong sự tách rời này, trong sự phân biệt cương quyết giữ vững này, tính chất thuần túy của kỷ niệm thần linh như lời Hölderlin: “Thượng đế và con người, để cho gịng đời không bị gián đoạn và cho kỷ niệm về những Thiên thể không mất đi, đi vào sự thông giao dưới h́nh thức của sự bất trung ở đó có sự quên lăng tất cả, bởi tính bất trung là thứ người đời ǵn giữ hơn cả.” (9) Tuy những lời của Hölderlin này không phải là dễ hiểu ngay lập tức nhưng nếu ta biết rằng chúng đă được thi sĩ viết ra xoay quanh chủ đề của thảm kịch Œdipe vốn là thảm kịch về sự rời xa của những thần linh trong đó Œdipe là nhân vật bị buộc đứng tách khỏi những thần linh và con người, kẻ chịu đựng sự chia ĺa kép, giữ cho sự chia ĺa này thuần túy mà không cần sự an ủi vô ích, đứng giữa khoảng trống mở ra tính chất hai lần bất trung với thần linh và với con người chỉ để sao cho sự khu biệt các thế giới được đảm bảo. Blanchot cho rằng từ nay trở đi sự khu biệt đó là nhiệm vụ của chúng ta đúng theo sự bó buộc đă được Hölderlin bày tỏ khi thi sĩ cận kề đêm tối: “Duy tŕ Thượng đế bằng sự thuần khiết của cái phân biệt.” (Préserver Dieu par la pureté de ce qui distingue).
_______________________________
(1) Maurice Blanchot, La parole “sacrée” de Hölderlin trong La part du feu trang 118-136; L’Itinéraire de Hölderlin trong L’Espace littéraire/Annexes/ trang 363-374
(2) Hölderlin, Œuvres, Gallimard, Bibliothèque de la Pléiade, trang 137-138: Ne faire qu’un avec toutes choses vivantes, retourner, par un radieux oubli de soi, dans le Tout de la Nature, tel est le plus haut de la pensée et de la joie, la cime sacrée, le lieu du calme éternel où midi perd sa touffeur, la tonnèrre sa voix, où le bouillonnement de la mer se confond avec la houle des blés. (Bản Pháp văn của Philippe Jaccottet).
(3) Maurice Blanchot, L’Itinéraire de Hölderlin trong L’Espace littéraire trang 364: Dans le même hymne, la nature est célébrée encore comme l’intimité de divin; elle n’est plus, il est vrai, celle à laquelle il faut se livrer par un mouvement d’abandon illimité; elle “éduque” le poète, mais par son sommeil et par le temps de calme et de suspens qui suit l’orage (le feu): l’heure qui suit l’orage, violà l’heure favorable, l’heure de la grâce et de l’inspiration.
(4) Sđd, 365: C’est dans un de ces textes qu’il formule ce qu’il appelle die vaterländische Umkehr, le retournement natal, non pas simple retour vers le lieu natal, vers la patrie, mais mouvement qui s’accomplit selon l’exigence de ce lieu.
(5) Sđd, 365:
Nguyên văn tiếng Đức:
Furchtlos bleibt aber, so er es muß, der Mann
Einsam vor Gott, es schüzet die Einfalt ihn,
Und keener Waffen brauchts und keener
Listen, so lange, bis Gottes Fehl hilft.
Blanchot dịch sang Pháp văn:
Mais, quand il le faut, l’homme reste sans peur
Devant Dieu, la simplicité le protège,
Et il n’a besoin ni d’armes, ni de ruse,
Aussi longtemps que le Dieu ne lui fait pas défaut.
Robert Rovini dịch sang Pháp văn (Hölderlin, Œuvres trang 780)
Mais l’homme affronte seul et sans peur son dieu
Quand il le faut, sa simplicité le garde,
Sans besoin d’armes ni de ruses, le temps
Que ce manque de dieu se change en aide.
Michael Hamberger dịch sang Anh văn:
But, if he must, undaunted the man remains
Alone with God – ingeniousness keep him safe –
And needs no weapon and no wile till
God’s being missed in the end will help him.
(6) Theo ghi chú của Gustave Roud trong Hölderlin, Œuvres (trang 1242) th́ bản nháp bức thư này ghi thời gian viết có lẽ là vào mùa Thu 1802. Hölderlin đến Nürtingen vào tháng Bảy, trong trạng thái Schwab mô tả là “Anh ta xuất hiện với dáng vẻ lăng đăng và những cử chỉ quá độ, trong một trạng thái của sự điên loạn không c̣n hy vọng ǵ nữa và một mớ trang bị hầu như xác nhận những lời đốn đăi theo đó anh ta bị kẻ cướp tấn công trên đường đi.” Khi về tới Nürtingen Hölderlin nhận được thư của Sinclair báo cho biết về cái chết của Suzette Gontard (người t́nh của Hölderlin) v́ mắc bệnh đậu mùa. Có lẽ cái chết của người yêu càng làm cho Hölderlin thêm điên loạn.
(7) Maurice Blanchot, L’Itinéraire de Hölderlin trong L’Espace littéraire trang 366: Mais Hölderlin ajoute aussitôt: l’instinct qui forme et éduque les hommes a cet effet: ils n’apprennent, ils ne possèdent réellement que ce qui leur est étranger; ce qui leur est proche ne leur est pas proche. C’est pourquoi, les Grecs, étrangers à la clarté, ont acquis à un degré exceptionnel le pouvoir de la sobre mesure dont Homère reste le plus haut modèle. C’est pourquoi les Hespérides et, en particulier, les Allemands, sont devenus maîtres du pathos sacré qui leur était étranger, mais maintenant c’est ce qui leur est propre qu’il leur faut apprendre, et c’est le plus difficile, apprendre la mesure, le sens lucide et aussi la ferme subsistance en ce monde.
(8) Sđd, trang 367: Mais comment ce retournement est-il possible? Est-ce une révolte tout humaine? L’homme est-il invité à se dresser contre les puissances supérieures qui lui sont hostiles parce qu’elles le détourneraient de sa tâche terreste? Non, et c’est là que la pensée de Hölderlin, pourtant déjà sous le voile de la folie, apparaît plus réfléchie, moins facile que celle de l’humanisme. Si les hommes de l’ère occidentale ont à accomplir ce tournant décisif, c’est à la suite des dieux qui eux-mêmes accomplissent ce qu’il appelle “le retournement catégorique”. Les dieux aujourd’hui se détournent, ils sont absents, infidèles, et l’homme doit comprendre le sens sacré de cette infidélité divine, non pas en la contrariant, mais en l’accomplissant pour sa part. “Dans un tel moment, dit-il, l’homme s’oublie et oublie Dieu, il se retourne comme un traître, quoique d’une manière sainte.”
(9) Sđd, trang 368: Le dieu et l’homme, afin que le cours du monde n’ait pas de lacune et que le souvenir des Célestes ne se perde pas, entrent en communication sous la forme de l’infidélité où il y a oubli de tout, car l’infidélité est ce que l’on contient le mieux.
(c̣n tiếp)
đào trung đạo
http://www.gio-o.com/daotrungdao.html
© gio-o.com 2015