đào trung đąo
3-Zero
±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương
≤≤ cùng một khác
(87)
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87,
Trong bài thuyết tŕnh của ḿnh v́ Heidegger chỉ rất mơ hồ cho rằng thi sĩ đứng trong “thời tiết thuận hảo” và “tṛng ṿng tay ôm dịu dàng của Tự/thiên nhiên” cất lời kêu gọi thiêng liêng nên Blanchot cật vấn: “Như chúng ta thấy, cái Toàn Thể thi ca giờ đây dấn thân vào này, thi ca lại cũng dấn thân vào trong một cường độ tuyệt cùng của những bí ẩn, của những tra hỏi và của những đối nghịch. Thoáng nh́n qua th́ tưởng như sự việc đơn giản đối với thi sĩ là chỉ thức giấc và tan biến đi trong sự ôm ấp của tự/thiên nhiên. Song vấn đề là: thi sĩ sẽ t́m thấy cái tự/thiên nhiên hiện diện khắp nơi, hiện diện gần gũi khắp chốn này ở đâu? Hắn sẽ t́m thấy tự/thiên nhiên như sự hiện diện của Toàn Thể, như một chuyển vận đi từ trời cao xuống vực thẳm, từ những thần linh tới sự hỗn mang, từ đỉnh cao của ngày tới tuyệt cùng của đêm ở đâu? Chính tự/thiên nhiên chỉ là sự hiện diện như Toàn Thể nếu thi sĩ kêu gọi nó, và than ôi! Hắn không thể kêu gọi nó, bởi v́, để có khả năng cất lời kêu gọi, để hiện hữu như thi sĩ, chính hắn lại cần đến sự toàn hiện bí ẩn hắn lại chưa có này. Ai cũng biết rằng Hölderlin nối kết thần linh với con người một cách sâu xa, kẻ này cần kẻ kia và duy chỉ có sự hiện hữu thi ca là đảm bảo cho sự thực về sự kết nối của thần linh với con người. Đành rằng những thần linh chẳng phải là cái cao xa trong thế giới, và rằng tự/thiên nhiên, như người mẹ của thần linh, ở phía trên chúng. Thế nhưng chính Cha thiêng liêng, đỉnh cao của ánh sáng, lại bị bỏ rơi trong cô quạnh, bị lấy mất chân lư và đời sống, rằng về phần ḿnh con người trở thành một cái bóng câm nín, bị cách ly, không có hơi ấm của hiện hữu thực của trái tim: tự/thiên nhiên đă mất đi cái yếu t́nh toàn hiện của nó và thế giới chỉ c̣n là Vũ trụ. Thế nên, đó là cái sẽ xảy đến nếu thế giới không có bài thơ:
Và thiếu vắng lời nói, cô quạnh,
Hiện hữu vô bằng trong bóng tối, tuy hắn
Trong sức mạnh của ḿnh, như tràn đầy ư tưởng,
Có đủ những chỉ dấu, những sấm sét
Và sóng tràn, hắn sẽ chẳng t́m lại được nơi đâu,
Cha thiêng liêng, có thực giữa nhân sinh
Nếu như bài ca không cất lên từ trái tim gắn kết với cộng đồng.(1)
Blanchot cho rằng thi sĩ kẻ cất tiếng ca hát chỉ thể đến với thế giới nếu thế giới là Vũ trụ đă ḥa giải và an b́nh có khả năng bao yểm, ôm ấp và “giáo huấn” thi sĩ một cách đầy thi tính, có nghĩa đó là “một vũ trụ nơi thi sĩ, vốn đă có mặt ở đó, hoàn thành tác phẩm của hắn, nơi mà con người là một cộng đồng, nơi mà bài ca của cộng đồng này được đón nhận như một bài ca duy nhất và là nơi ngay cả những thần linh cũng t́m thấy chân lư và chỗ đứng của ḿnh giữa nhân quần.”(2) Blanchot cho đó không phải là một khó khăn luận lư v́ sự nghịch lư này là trái tim, là yếu tính và qui luật của hiện hữu thi ca. Sẽ không có thi sĩ nếu như hắn đă không ngừng hiện diện, đă không phải sống trải chính sự bất khả hữu của hắn. Blanchot cho rằng sự bất khả hữu này là căn để chính v́ hắn phải hiện hữu như cảm thức của chính hắn về hắn, như tương lai của sự hiện hữu của hắn. Điều đó không có nghĩa hắn chưa là thi sĩ nhưng có nghĩa hắn đă phải là như kẻ sẽ là thi sĩ, trong sự “chưa là” tạo lập nên cái thiết yếu của tang chế, sự khốn cùng và cũng là sự giầu có lớn lao của chính hắn. Blanchot đưa ra nhận định trên căn cứ vào chính hoàn cảnh lịch sử Hölderlin từng sống trải, đă cảm nhận và đă ngợi ca trong sự rách nát sâu xa v́ đă sinh ra trong thời khổ nạn (in dürftiger Zeit) hiện tại trống không, thi sĩ bị tẩm liệm hai lần trong sự vắng mặt của những thần linh đă bỏ đi và sự trống vắng của thần linh chưa trở lại. Hắn cũng không có kẻ đồng hành, không có điều ǵ để nói ra và để làm và hắn ư thức sâu xa rằng bởi chính cái “không có ǵ cả” này nên hắn phải sống trong chờ đợi, trong chuyển vận vượt lên trên nỗi hư vô của hắn như Hölderlin đă từng thốt lên: ich harre, ich harrte/tôi chờ đợi, tôi đă đợi chờ và từ đợi chờ này xuất hiện trở đi trở lại trong thơ Hölderlin để diễn tả nỗi chán chường và sự cạn kiệt của đợi chờ trong khi từ ahnen/cảm nhận lại để chỉ giá trị và sự phong phú “bởi v́ chính cái hiện hữu luôn luôn sẽ là/tới của thi sĩ kẻ làm cho mọi tương lai thành khả hữu và bảo tồn lịch sử một cách cương quyết trong viễn tượng của “ngày mai” thật phong phú ư nghĩa (deutungsvoller) cần phải nỗ lực trong cái trống rỗng của ngày tháng sống trải cho cái ư nghĩa này.
Sie scheinen allein zu seyn, doch ahnen sie immer,
Denn ahnend ruhet sie selbst auch.
Dường như họ (những thi nhân) đều cô đơn, nhưng họ luôn luôn cảm nhận,
Bởi cảm nhận cũng là sự ngơi nghỉ (của tự/thiên nhiên).(3)
Theo Blanchot hai câu thơ này chỉ ra hoàn cảnh song song của Toàn Thể khi chưa có sự hiện hữu của thi sĩ và thi sĩ sống trong hoàn cảnh cô quạnh chưa nhận được những sức mạnh từ Toàn Thể để cất tiếng kêu gọi. Trong sự phụ thuộc hai chiều (implication réciproque) này và bởi tính chất hai chiều của sự vắng mặt và chuyển vận đưa cả hai tới gần nhau này vượt qua sự cô quạnh của thi sĩ và sự ngơi nghỉ ngủ say của Toàn Thể. Thế nhưng sự cô quạnh của thi sĩ chỉ là bề ngoài thôi bởi cô quạnh có nghĩa cảm nhận về nỗi cô quạnh và xác nhận sự cô quạnh tức là xác nhận sự vượt ra ngoài cô quạnh “sau đó”, cái “sau đó” này đủ để phá bỏ giới hạn của cô lập và vạch ra thông giao. Blanchot cho rằng sự ngơi nghỉ của tự/thiên nhiên xem ra chỉ thuộc về hiện tại trống rỗng không có sự hiện hữu của thi sĩ, nó ngơi nghỉ trong đó và cũng v́ nó chưa có chuyển vận thông giao. Nhưng cũng nhờ khoảng trống rỗng đầy cảm nhận là h́nh thức hiện thời của sự hiện hữu của thi sĩ này nên nó thoát ra khỏi sự ngơi nghỉ và phóng tới, cảm nhận được sự hiện diện-toàn khắp, sự hiện diện như Toàn Thể của nó. Blanchot viết: “Thi sĩ chỉ hiện hữu nếu hắn cảm nhận được thời gian của bài thơ, hắn đứng hạng sau trong tương quan với bài thơ tuy hắn là sức mạnh sáng tạo. Dường như đó là ư nghĩa thứ nh́ của sự đối lập và của bất khả tính cả hai nằm trong trung tâm thi ca. Tại sao hắn cảm nhận, tại sao hắn hiện hữu trên cách thế của sự cảm nhận? Chính bởi trước thi sĩ là bài thơ đă là, và đúng vậy, cái cảm nhận này là là chất liệu để cho thi sĩ cảm thấy ḿnh hiện hữu phía trước chính ḿnh và, được tự do thật sự, tự do như con chim én, trong sự tùy thuộc vào chính sự tự do này, sự tự do đáp lời cũng là đáp lời sự tự do này. Tất cả tác phẩm của Hölderlin làm chứng cho ư thức của một sức mạnh có trước đó vượt lên trên cả những thần linh lẫn con người, chính ư thức này chuẩn bị cho vũ trụ trở thành “toàn thể”. Heidegger với bài diễn giải của ông đặc biệt cảm nhận trên điểm này, cùng với Hölderlin, gọi điều đó là cái Thiêng liêng.”
Und was ich sah, das Heilige sein mein Wort.
Và tôi đă nh́n thấy, Thiêng liêng hăy là lời của tôi. (4)
Blanchot đưa ra nhận xét sau đây để chỉ ra Heidegger đă giải th́ch không tường tận ư nghĩa của Thiêng Liêng: Từ thiêng liêng thường đựoc Hölderlin dùng trong các bài thơ để chỉ những thần linh, tự/thiên nhiên, ngày, nhưng lại rất hiếm thấy được sử dụng như một từ căn bản (mot fondamental), cô đọng (condensé) và được thu góp vào trong chính nó (ramassé en lui-même). Điều này cho thấy Hölderlin nh́n nhận Thiêng Liêng trong tác phẩm của ḿnh – không phải trong tác phẩm đă được viết ra – nhưng trong tác phẩm Hölderlin giữ kín trong ḷng, là chiều sâu của trái tim, điều này gần như tương ứng với trái tim vĩnh cửu trong bài tụng ca Như vào một ngày nghỉ lễ. Từ này không chỉ để chỉ tính chất nội tại của Thiêng Liêng (l’intériorité du Sacré) như Heidegger giải thích, nhưng là nội tại tính của Thiêng Liêng trong nội tại tính của thi sĩ, trong trái tim thi sĩ, như sức mạnh làm trung gian trong chừng mực Thiêng Liêng cũng là t́nh yêu.
Cần phân biệt hai từ Thiêng Liêng (Le Sacré) và sự vật có tính thiêng liêng (sacré). Thiêng Liêng là sức mạnh chiếu sáng mở sự vật thiêng liêng ra bằng tất cả sức soi chiếu hướng tới bằng nhiều ngả xuyên suốt trong đó hai ngả chính là tự/thiên nhiên đang ngủ say và cảm nhận của thi sĩ. Mẹ thiên nhiên của những thần linh hiện diện một cách linh diệu (divinement) v́ nhận được từ Thiêng Liêng cái tinh yếu nhất là sự toàn hiện thiên sủng (divine toute-présence) như trong hai câu thơ (dù sau đó Hölderlin đă gạch xóa) trong bài Am Quell der Donau/Nơi nguồn sông Danube:
Wir nennen dich, heiliggenöthiget, nennen,
Natur! Dich wir, und neu, wie dem Bad entsteigt
Nous Te nommons, pressés par le Sacré, te nommons
Nature, toi nous…
Chúng tôi đặt tên Mẹ, do Thiêng Liêng thúc đẩy, chúng tôi đặt tên mẹ
Là Thiên nhiên, chúng tôi mẹ…
Blanchot cho rằng ngôn ngữ và nhịp điệu của những câu thơ này không đi vào được trong bản dịch nên không dịch trọn câu sau ra Pháp văn, (5) nguyên văn tiếng Đức cho chúng ta hiểu được rằng thiên nhiên chỉ là Thiên nhiên khi nhận được tên gọi từ thi sĩ bởi nếu như lời đến từ thi sĩ tạo lập nên thiên nhiên th́ việc đặt tên của thi sĩ chỉ là để đáp lại lời kên gọi bó buộc của Thiêng Liêng, rằng trong khi đáp lời chính thi sĩ cũng trở thành sự thiết yếu thiêng liêng (la nécessité sacrée) hắn tuân theo và cuối cùng khi thiên nhiên đă được đặt tên trở thành thân thiết gần gũi với thi sĩ, thi sĩ trở thành bạn bè thân thiết (le toi trong tiếng Pháp) của Thiên nhiên và từ “chúng tôi” trong thơ thôi không c̣n nói lên sự cách biệt nữa. Vậy: “Thiêng liêng là ǵ? Đó là cái tức thời, Heidegger nói thế do khởi hứng từ một đoạn thơ xuôi của Hölderlin, cái tức thời chẳng bao giờ được thông giao, nhưng lại là nguyên lư của mọi khả tính của thông giao. Cách chẳng bao xa sau đó Heidegger thêm: cái hỗn mang là cái Thiêng liêng tự nội. Về điểm này dường như nhà b́nh giải đă nhạy cảm với truyền thống hơn là với kinh nghiệm của Hölderlin. Đành rằng trong những bài thơ và tụng ca của Hölderlin hỗn mang mở ra một cách sâu thẳm, hỗn mang được Hölderlin gọi bằng cái tên khá lạ kỳ là freudigschauernde Chaos có nghĩa hỗn mang là nơi rùng ḿnh v́ lạnh làm sướng khoái. Do thế sẽ hoàn toàn hiểu sai kinh nghiệm của thi sĩ khi đi t́m trong kinh nghiệm này một kinh nghiệm về hỗn mang như thể một kinh nghiệm về đêm tối. Ở đó chẳng phải hỗn mang cũng chẳng phải đêm tối được cảm thấy một cách tuyệt đối. Ngược lại, đêm tối và hỗn mang luôn chấm dứt bằng chứng thực luật pháp và h́nh thức và ánh sáng. Không ai xa cách Hölderlin hơn một Novalis, dù rằng chuyển vận của một vài chủ đề có làm cho họ gần nhau đi nữa; trong những bài thơ của Hölderlin không hề có dạ ca, không hề có bi ca. Ngay cả trong thương ca Bánh ḿ và Rượu vang mà những lời thơ được viết vào ban đêm, Hölderlin khẳng định đêm tối “với những kẻ lạc lơng và với những kẻ đă chết nàng [đêm tối] là hoàn toàn thiêng liêng, chính nàng vĩnh viễn vẫn nằm trong tinh thần tự do nhất”. Và thi sĩ đươc cho biết: “Điều đó vẫn măi chắc chắn, dù cho vào đúng ngọ hay khi sắp nửa đêm, luôn có một mức độ chung cho tất cả.”(6)
Blanchot khẳng định: “Thiêng liêng, đó chính là ngày: không phải là ban ngày đối nghịch với ban đêm, cũng không phải là ánh sáng như nó chiếu rọi từ trên cao, cũng chẳng là ánh lửa Empédocle đă t́m kiếm ở phía dưới. Đó chính là ngày, nhưng trước ngày, và luôn luôn trước chính nó, đó là một trước-ngày, một ánh chiếu sáng trước chiếu sáng và chúng ta là kẻ gần cận ánh chiếu sáng này hơn cả, khi chúng ta nhận ra ḿnh tỉnh giấc, là thời khoảng cách xa vời vợi ngày tảng sáng, nó cũng là cái thân thiết với chúng ta nhất, nội tại hơn mọi tính chất nội tại.”(7)
Luận về Das Offene/Cái Mở ra Blanchot cho rằng cái mở ra khi mở kêu gọi mọi thứ c̣n lại mở ra, tự soi sáng, đi vào ban ngày. Cảm nhận về es tagt, về “ngày đang tới” làm cho cả đêm lẫn ngày, cả hỗn mang lẫn thần linh khả hữu, chính nó lại chiếu rọi một cách bí ẩn suốt trong tác phẩm của Hölderlin, thu hút Hölderlin một cách chóng mặt lên trên cao, nhưng ngoài ra nó được nhận biết một cách rơ ràng dưới nhiều h́nh thức không chỉ trong khá nhiều từ, những từ này nối kết trong mỗi sự vật sự kiện hiện ra, sự hiện ra ánh sáng của nó, nhưng được nối kết một cách rất bí ẩn, trong điều kiện kỳ lạ của những vật Bất tử gần cận tính chất thuần túy của tia sáng hơn chúng ta, và chính v́ lư do này chúng ở trong một cơi ngoài của ánh sáng, cơi ngoài này do đó được chiếu sáng và hoàn toàn được chiếu sáng.
Và trên tầng cao chất ngất, bên trên ánh sáng,
Thượng đế thuần khiết hạnh phúc t́m thấy niềm vui trong tṛ chơi những tia sáng
thiêng liêng,
Trong niềm im lặng ngài ngự một ḿnh, và sự sáng rỡ là bề ngoài khuôn mặt người.
Theo Blanchot sự sáng rỡ nguyên ủy, không thể vượt quá này không phát sinh từ những thần linh, bởi trong giấc ngủ hồn nhiên cái nh́n thuần túy của những thần linh vĩnh viễn chiếu rọi sự trong suốt của Thượng đế. “Sức mạnh chiếu sáng mà sự bộc phát là qui luật, là nguyên lư của hiện bày của cái hiện ra, là nguồn gốc của hết thảy khả năng thông giao, nếu như đó là cái Thiêng Liêng th́ người ta hiểu được rằng trong khi “cảm nhận” thi sĩ đă có vị trí trong ḷng cái toàn hiện và rằng sự tiếp cận cái Thiêng Liêng đối với thi sĩ phải là tiếp cận hiện hữu. Thế nhưng, giờ đây, sự bí ẩn lại có một h́nh thức khác. Vào lúc khởi đầu, khi vẫn chưa có thi sĩ, bởi chính thi sĩ cần cái Toàn Thể để hiện hữu và rằng cái Toàn Thể cũng cần có sự trung gian của thi sĩ để là cái Toàn Thể. Hiện giờ, hiện hữu như “chưa là”, hắn đă nắm bắt, cảm nhận sự tiến đến của Thiêng Liêng, Thiêng Liêng lại cũng là nguyên lư của chính sự tiến đến, là sự tiến đến có trước mọi “cái ǵ đó tới” và bằng sự tiến tới “tất cả” tới, cái Toàn Thể tới. Nhưng nếu như vậy th́ câu hỏi đặt ra là: nếu như có một Vũ trụ nơi tất cả thông giao nhau, th́ cần ǵ có thi sĩ, hắn c̣n phải hoàn thành ǵ nữa, và phẩm hạnh của yếu tính của hắn có vuột thoát khỏi hắn không, cái phẩm hạnh làm trung gian tuyệt vời và cũng là cái cùng-hiện diện, cùng thời với Toàn Thể? Hölderlin cũng đă cảm thấy cái h́nh thức khác này của sự bất khả thi ca:
Thiên nhiên, hiện diện một cách hiển linh,
Chẳng bao giờ cần đến lời…
như Empédocle đă nói thế. Và trong một trong những tụng ca cuối cùng, bài Đấng Duy nhất, trong đó tư tưởng thi ca tập trung một cách hiểm nguy nhất, nói rằng “Luôn luôn là có giá trị điều, ở mọi thời khắc, Vũ trụ là trong toàn thể của nó.” Ở mọi thời khắc, alltag: nếu qui luật, có trước đối với tất cả, đảm bảo trong mọi thời việc tiến tới với chính nó của cái Toàn Thể, th́ “ở mọi thời khắc này cũng khiến cho không có thời khắc nào cho hiện hữu thi ca. Tuy nhiên, tại sao khi vũ trụ ở trong sự toàn vẹn có giá trị ǵ (es gilt) khi mà vũ trụ lại do sự xác định thuần túy của qui luật thuần túy? Hai đoạn trong cùng bài tụng ca này cho chúng ta thoáng thấy [câu trả lời]: Trước hết là đoạn sau đây kế tiếp ngay sau bản văn đă trích dẫn:
…Luôn luôn
Điều này có giá trị, ở mọi thời khắc, vũ trụ ở trong toàn thể. Nhưng thường khi
Cái Vĩ Đại không cùng tới xác định
Với cái Vĩ Đại. Luôn luôn, như bên bờ vực thẳm, chúng đứng
Bên nhau…
Và mấy câu thơ phía trên:
Bởi luôn luôn sự hân hoan của Vũ trụ
Có khuynh hướng làm nó cách xa trái đất và bỏ mặc trái đất
Bị bóc trần; nếu con người không giữ vũ trụ lại. Nhưng từ một lời nói
Dấu vết c̣n lại; rằng một người có thể nắm lấy. (8)
____________________________________
(1) Maurice Blanchot, La Parole “sacrée” de Hölderlin trong La Part du feu trang 123: Nous le voyons, ce Tout avec lequel la poésie maintenant se trouve engagée, l’engage aussi dans une intensité extrême de mystères, d’interrogations et d’oppositions. En apparence, il paraît simple pour le poète de s’éveiller et de s’épanouir dans l’embrassement de la nature. Le question est pourtant celle-ci: où trouvera-t-il cette nature partout présente, partout proche présence? Où la trovera-t-il comme présence de Tout, comme mouvement passant de l’éther à l’abîme, des dieux au chaos, du plus haut du jour à l’extrême de la nuit? Elle-même n’est présence comme Tout que si le poète l’appelle, et hélas! Il ne peut l’appeler, car, pour être capable de cet appel, pour exister comme poète, il a précisément besoin de la miraculeuse omniprésence à laquelle il manque encore. Il est bien connu que Hölderlin a profondément lié dieu et homme, chacun ayant besoin de l’autre et seule l’existence poétique aussurant la vérité de leur union. Sans doute, les dieux ne sont-ils pas ce qu’il y a de plus haut dans le monde, et la nature, comme leur mère, plane au-dessus d’eux. Mais que le Père sacré lui-même, le sommet de la lumière, soit abandonné à la solitude, soit privé de vérité et de vie, que l’homme de son côté devienne une ombre muette, isolée, sans la chaleur de l’existence vraie qui est celle du cœur: la nature perdrait son essence de toute-présente et le monde ne serait plus l’Univers. Or, c’est ce qui arriverait si au monde manquait le poème:
Et privé de paroles, solitaire,
Existence vaine dans ses ténèbres, lui qui pourtant
En sa puissance, comme autant de pensées,
A assez de signes, de foudres
Et de flots, il ne se retrouverait nulle part,
Le Père sacré, vrai parmi les vivants
Si le chant ne s’élevait pas du cœur uni de la communauté.
(2) Sđd, trang 124:… un Univers où le poète, déjà présent, accomplit son œuvre, où les hommes sont une communauté, où le chant de cette communauté est accueilli en un seul et où les dieux eux-mêmes trouvent leur vérité et leur place parmi les vivants.
(3) Sđd, 124:…puisque c’est cette existence toujours à venir du poète qui rend possible tout avenir et maintient fermement l’histoire dans la perspective du “demain” plus riche de sens, deutungsvoller, pour lequel il faut s’efforcer dans le vide du jour vécu.
Ils semblent seuls (les poètes), mais toujours ils pressentent,
Car presentiment est aussi son repos (le repos de la nature).
(4) Sđd, trang 125: Heidegger, dont le commentaire est sur ce point particulièrement ahnend, l’appelle, avec Hölderlin, le Sacré, das Heilige.
Et ce que je vis, le Sacré soit ma parole.
(5) Gustave Roud dịch hai câu thơ này:
C’est nous, sur l’injonction sainte, qui te nommons, nous te
Nommons, Nature! et de toi tout ce qui dut aux dieux naissance
(Hölderlin, Œuvres, Gallimard, Bibliothèque de la Pléiade trang 843)
(6) Nguyên văn những câu thơ này bằng tiếng Đức của Hölderlin:
Weil den Irrenden sie geheiliget ist und den Todten,
Selber aber besteht, ewig, in freiestem Geist.
…………………………………………
Fest bleibt Eins; es sei um Mittag ode res gehe
Bis in die Mitternacht, immer bestehet ein Mass,
(7) Sđd, 127: Le Sacré, c’est le jour: non pas le jour tel qu’il oppose à la nuit, ni la lumière telle qu’elle rayonne d’en haut, ni la flame qu’Empédocle va chercher en bas. C’est le jour, mais antérieur au jour, et toujours antérieur à soi, c’est un avant-jour, une clarté d’avant la clarté et de laquelle nous sommes le plus proche, quand nous saisissons l’éveil, le loitain infiniment éloigné du lever du jour, qui est aussi ce qui nous est le plus intime, plus intérieur que toute intériorité.
(8) Sđd, 128: Puissance rayonnante dont le jaillissement est la loi, principle d’appartition de ce qui apparaît, origine de tout pouvoir de communiquer, si elle est le Sacré, on comprend qu’en le “pressentant” le poète se place déjà au sein de la toute-présence et que l’approche du Sacré soit pour lui l’approche de l’existence. Mais, à présent, l’énigme prend une autre forme. Au commencement, il n’y avait pas encore de poète, parce que lui-même avait besoin du Tout pour exister et que le Tout avait besoin de sa médiation pour être Tout. Maintenant, existant comme “pas encore”, il a saisi, pressenti la venue du Sacré, qui est principle de cette venue même, qui est la venue antérieure à tout “quelque chose vient” et par laquelle “tout” vient, le Tout vient. Mais alors se pose la question: s’il y a l’Univers où tout communique, à quoi bon le poète, que lui rest-t-il à accomplir, et la dignité de son essence ne lui échappe-t-elle pas, qui est d’être médiation par excellence et aussi le co-présent, le contemporain du Tout? Cette autre forme de l’impossibilité poétique, Hölderlin l’a aussi éprouvée:
La Nature, divinement présente,
N’a nul besoin de la parole…
dit Empédocle. Et dans l’un de ses hymnes, L’Unique, où la pensée poétique se concentre de la manière plus dangereuse, il est dit: “Toujours est valuable ceci que, à tout moment, l’Univers est dans son entier.” A tout moment, alltag: si la loi, antérieure à tout, assure en tout temps la venue du Tout à lui-même, cet “à tout moment” fait aussi qu’il n’y a plus de “moment” pour l’existence poétique. Cependant, que vaut (es gilt) l’univers toujours dans son entier, lorsqu’il est par la pure affirmation de la pure loi? Deux autres passages du même hymne nous le laissent entrevoir. Celui-ci d’abord qui fait immédiatement suite au texte cité:
…Toujours
Est valuable ceci que, à tout moment, l’univers est dans son entier, Mais souvent
Le Grand n’arrive pas à s’affirmer ensemble
Avec le Grand. Toujours, comme au bord de l’abîme, ils se tiennent
Côte à côte
Et quelques vers plus haut:
Car toujours la jubilation de l’Univers
Tend à l’éloigner de la terre et à laisser
Dépouillée; si l’humain ne le tient. Mais d’une parole
Demeure la trace; qu’un homme peut saisir.
(c̣n tiếp)
đào trung đąo
http://www.gio-o.com/daotrungdao.html
© gio-o.com 2015