đào trung đąo

3-Zero

±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương

≤≤ cùng một khác

(67)

 

 Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67,

 

Khi luận về Trung tính Blanchot kết nối Trung tính với ba mối quan tâm chính: viết/văn tự (Écrire/écriture). Hữu (Être) và chết đi (mourir), nghĩa là tư tưởng về Trung tính trên hai đường chân trời văn chương và triết học. Blanchot t́m thấy trong thơ của René Char nhiều từ/chữ/cụm từ quan trọng đứng về mặt văn phạm là những từ/chữ/cụm từ trung tính hay ít ra cũng rất gần gũi trung tính. Chẳng hạn: “Le prévisible, mais non encore formulé/ Cái tiên kiến, nhưng vẫn chưa rơ ràng”, “l’absolu inextinguible/cái tuyệt đối không thể dập tắt”, “impossible vivant/ cái/kẻ bất khả sống c̣n”, “le gémir du plaisir/sự rên la của khoái lạc”, “Transir/xuyên thấu”, “Attendants/những kẻ đợi chờ”, “le grand lointain informulé (le vivant inespéré)/ thẳm xa bất định (kẻ đang c̣n sống không hy vọng)“, “l’essentiel intelligible/cái thiết yếu khả tri”, “l’entrouvert/cái hé mở”, “l’infini impersonnel/ cái tuyệt cùng vô ngă”, “”l’obscur/cái tối tăm”, “Quitter/Rời bỏ”. Khi trích dẫn những từ/cụm từ này Blanchot không có ư muốn chứng thực Trung tính nằm nơi chúng nhưng chỉ cốt để ta chú ư. Nói cho đúng trung tính không nằm trong những cụm từ này v́ trung tính là tiếng vang của sự biểu đạt trong niềm im lặng của ngôn ngữ. Đối với Blanchot việc mỗi cụm từ/từ/chữ nêu trên vận hành khác nhau trong cách dùng để biểu đạt  không quan trọng v́ cái trung tính không chỉ là một vấn đề về ngữ/từ vựng. “Khi René Char viết “cái đi qua” – và ngay cả khi ông ta không viết chữ đó ra, th́ chúng ta thường cảm thấy rằng từ/chữ này trú ngụ nơi ông – “cái đi qua bị xói ṃn”, sự đi qua ngoại động, nếu như chúng ta có ư định phiên dịch là: “người ấy đi qua” hay “kẻ ấy đi qua”, tôi nghĩ rằng chúng ta đă làm cho sự chỉ định trung tính khác đi với điều từ/chữ này muốn đem vào ngôn ngữ. Cũng vậy, như khi René Char đặt tên “ngôi sao của nơi hướng đến” hay “những lời đồn đăi của kẻ/sự thù nghịch”. Thế nhưng cái Trung tính là ǵ?(1)

 

   Để trả lời câu hỏi này Blanchot trích dẫn câu đầu tiên trong trang đề từ “Argument/Tranh luận” của tập thơ Le poème pulverisé/Bài thơ hóa bụi của Char: “Làm sao sống mà không có điều/cái không biết ở phía trước?”(2) và nhận xét từ/chữ “không biết” (inconnu) dù có được viết ra hay không trong những bài thơ của tập thơ này nhưng vẫn có mặt trong ngôn ngữ của những bài thơ đó. Và rất ít khi từ này đứng một ḿnh nhưng được ghép với một từ khác chẳng hạn “l’inconnu equilibrant/cái không biết lập cân bằng”, “l’inconnu qui creuse/cái không biết đào xới”. Blanchot đặt câu hỏi: tại sao lại bó buộc phải có mối tương quan với cái không biết? và trả lời: “Trước hết một câu trả lời kết hợp hai câu hỏi. Cái không biết là một cái trung tính do lời nói ra. Sự tùy tiện của tiếng Pháp không sẵn sàng để có giống cho trung tính là không hữu dụng, nhưng cuối cùng lại hóa ra không phải là không có cái hay, bởi v́ cái ǵ thuộc về trung tính không phải là một giống thứ ba đối nghịch với hai giống kia [đực, cái] và tạo nên một hạng được xác định những vật hiện sinh hay những hữu của lư trí. Cái trung tính là là cái không thuộc về một giống nào cả: cái không-tổng quát, cái không-giống tính, như cái không-riêng biệt. Nó từ chối sự thuộc về phạm trù của đối tượng cũng như về phạm trù của chủ thể. Và điều này không phải chỉ muốn nói rằng nó vẫn chưa được xác định và như thể trần chờ giữa hai [phạm trù], điều này muốn nói rằng nó giả thiết một mối tương quan khác thế, mối tương quan này không phải từ những điều kiện khách quan, cũng không từ những năng hướng chủ quan.”(3)

 

   Đẩy vấn đề xa hơn nữa Blanchot cho rằng “Cái không biết luôn luôn được tư tưởng ở trung tính. Và tư tưởng về trung tính là một mối đe dọa và một ś-căng-đan đối với tư tưởng.” (4) Viện dẫn Héraclite nhà tư tưởng khởi nguyên của tư tưởng phương Tây Blanchot nhận thấy Héraclite đă nói về trung tính ở số ít như “Cái một-sự vật-minh trí” (L’un-la-chose-sage), “cái không-để-hy vọng” (le non-à-espérer), “cái không-để t́m kiếm” (le non-à-trouver), “cái không-để-đề cập” (le non-à-aborder), “cái chung cùng” (le commun) và Blanchot nhấn mạnh những lời nói này không phải là những khái niệm hiểu theo nghĩa luận lư của Aristote hay của Hegel, cũng không phải là những ư niệm (idées) hiểu theo Platon và cách chỉ định cái trung tính của Héraclite này nếu phiên dịch sang tiếng Pháp không có khả năng trực tiếp đón nhận. Trước câu hỏi làm sao biết được cái ǵ đưa ra với chúng ta khi cái không biết đi theo ngả trung tính, nghĩa là khi chúng ta cảm nhận được rằng kinh nghiệm về trung tính ngầm chứa trong mọi tương quan với cái không biết Blanchot đưa ra nhận xét – tuy hiển nhiên là quá giản lược – người ta có thể nhận ra trong toàn bộ lịch sử triết học có một nỗ lực hoặc để thích nghi, thuần hóa cái “trung tính” bằng cách thay trung tính bằng qui luật của cái không có chủ thể (la loi de l’impersonnelle) và sự ngự trị của cái phổ quát (le règne de l’unversel), hoặc để kết án cái trung tính bằng cách khẳng định ưu tiên đạo đức của cái Tôi-Chủ thể, khẳng định này do khát vọng huyền hoặc về một cái Độc Nhất riêng biệt (Unique singulier). Do đó cái trung tính luôn luôn bị đẩy ra khỏi ngôn ngữ và chân lư. Từ nhận định này Blanchot đưa ra phê phán ba quan niệm tiêu biểu của tư tưởng triết học hiện đại đă thất bại trong việc tư tưởng cái trung tính: Freud, Heidegger, và Sartre. Freud đă giải thích cái trung tính bằng sự ẩn ức (refoulement) có tính cách nhân học. Blanchot phê phán Heidegger: “Triết lư của Heidegger có thể được hiểu như một đáp án cho truy nguyên về trung tính và một ḍ thử để tiếp cận vấn đề một cách không theo ngả khái niệm nhưng ta cũng phải hiểu triết lư này như một sự tháo lui mới trước cái tư tưởng dường như không có khả năng đón nhận nên chỉ c̣n cách thăng hoa nó.”(5) Về Sartre sự phê phán của Blanchot c̣n nặng nề hơn: “Tương tự như vậy, khi Sartre lên án cái ông ta gọi là “practico-inerte/thực hành-quán/n[g]ọa tính”(6) ông ta lại nói năng như những nhà thần học nói về sự xấu xa tội lỗi, nh́n thấy ở đó, chính trong phần c̣n lại, không phải một nhịp/khâu của biện chứng, nhưng là một nhịp/khâu của cái kinh nghiệm có khả năng làm thất bại mọi biện chứng, dù rằng vẫn chính là cái trung tính tư tưởng tiếp cận nhưng lần này tuy tư tưởng về cái trung tính nhưng lại làm nó mất giá trị, chính là bằng cách từ chối tư tưởng nó như cái trung tính.”(7)

__________________________________

(1)     Maurice Blanchot, L’Entretien infini trang 439 René Char et la pensée du neutre: Quand René Char écrit “le passant” – et même quand il ne l’écrit pas, nous sentons souvent que ce mot l’habite – “passant raviné”, passant intransitif, si nous contentions de traduire: “l’homme qui passe” ou “celui qui passe”, je crois que nous altérerions la désignation neutre que ce mot voudrait porter au langage. De même, quand René Char nomme “l’étoile du destiné” ou “les rumeurs de l’hostile”. Mais qu’est-ce que le neutre?

(2)     René Char, Œuvres complètes, Gallimard, Bibliothèque de la Pléiade trang 247: Argument  Comment vivre sans inconnu devant soi?

(3)     Maurice Blanchot, L’Entretien infini trang 440: Une réponse unit d’abord les deux questions. L’inconnu est verbalement un neutre. La discrétion de la langue française qui ne dispose pas du genre neutre est incommode, mais finalement non sans vertu, car ce qui appartient au neutre n’est pas un troisième genre s’opposant aux deux autres et constituant une classe determinée d’existants ou d’êtres de raison. Le neutre est ce qui ne se distribute dans aucun genre: le non-général, le non-générique, comme le non-particulier. Il refuse d’appartenannce aussi bien à la catégorie de l’objet qu’à celle du sujet. Et cela ne veut pas seulement dire qu’il est encore indéterminé et comme hésitant entre les deux, cela veut dire qu’il suppose une relation autre, ne relevant ni des conditions objectives, ni des dispositions subjectives.

(4)     Sđd, 440: L’inconnu est toujours pensé au neutre. La pensée du neutre est une menace et un scandale pour la pensée.

(5)     Sđd, 441: La philosophie heideggerienne pourrait être entendue comme une réponse à cette interrogation du neutre et une tentative pour s’en approcher d’une manière non-conceptuelle, mais il faut l’entendre aussi comme un nouveau retrait devant ce que la pensée ne paraît pouvoir accueillir qu’en le sublimant.

   Blanchot giải thích thêm: Tư duy về sự khác biệt giữa hữu và vât hiện sinh, sự khác biệt này không phải là sự khác biệt thần học của cái Siêu vượt và của cái hữu hạn (đôi khi không tuyệt đối và nguyên ủy hơn sự khác biệt thần học), sự khác biệt này cũng khác hẳn với sự khác biệt của vật hiện sinh và của cách thế nó hiện hữu, dường như kêu gọi tư tưởng và ngôn ngữ nh́n nhận trong cái Sein/Hữu một từ/chữ nền tảng dành cho cái trung tính, nghĩa là tư tưởng ở trung tính. Tuy nhiên lập tức phải kiểm chính và nói rằng cái phẩm cách được trao cho hữu trong sự kêu gọi đến với chúng ta từ phẩm cách này, tất cả cái ǵ bằng một cách mơ hồ làm tiếp cận hữu của thần tính, sự tuơng giao của Sein/Hữu và của Dasein/Tại hữu, sự kiện thiên ư cho rằng hữu và sự am hiểu hữu cùng đi với nhau, hữu là cái tự soi sáng, mở ra và hướng tới vật hiện sinh, hiện sinh này tự phơi tự phơi mở được soi sáng, vậy nên mối tương quan giữa Sein/Hữu và chân lư, sự che đậy tự vén lên trong sự hiện diện của ánh sáng, lại không cho chúng ta đi tới sự t́m kiếm cái trung tính như cái không biết ngầm chứa/ La réflexion sur la différence de l’être et de l’étant, différence qui n’est pas la différence théologique du Transcendant et du fini (à la fois moins absolue et plus originelle que celle-ci), différence qui est aussi tout autre que la différence de l’existant et de sa manière d’exister, semble appeler la pensée et le langage à reconnaître dans le Sein un mot fundamental pour le neutre, c’est-à-dire à penser au neutre. Mais il faut rectifier aussitôt et dire que la dignité qui est accordée à l’être dans l’appel qui nous viendrait de lui, tout ce qui rapproche d’une façon ambiguë l’être du divin, la correspondence du Sein et du Dasein, le fait providentiel qu’être et comprehension de l’être vont ensemble, l’être étant ce qui s’éclaire, s’ouvre et se destine à l’étant qui se fait ouverture de clarté, ce rapport donc du Sein et de la vérité, voilement se dévoilant dans la présence de lumière, ne nous disposent pas à la recherche du neutre telle que l’implique l’inconnu.

(6)     Jean-Paul Sartre, Critique de la raison dialectique I, Gallimard trang 162: Sartre giải thích nghĩa cụm từ “practico-inerte”: Et lorsqu’il s’agit d’objets pratiques – machines, ustensils, objets de pure consummation, etc. − , c’est notre action présente qui leur donne l’apparence de totalités en ressuscitant – de quelque façon que ce soit – la praxis qui a tenté de totaliser leur inertie. Nous verrons plus loin que ces totalités inertes ont une importance capitale et qu’elles créent entre les hommes ce type de relation que nous nommerons plus loin de pratico-inerte/ Khi liên quan đến những đối tượng thực hành – máy móc, dụng cụ, những đối tượng thuần túy của sự tiêu thụ, v.v…‒ th́ đó chính là hành động hiện thời của chúng ta đă cho những đối vật này cái vẻ ngoài của những tổng thể bằng cách làm cho sinh động – dù bằng cách nào chăng nữa – cái praxis/thực hành này thử nghiệm tổng hợp quán/ngọa tính của chúng. Chúng ta sẽ thấy [ở phần xa xa trong quyển sách] rằng những tổng hợp này có một tầm quan trọng chủ yếu và rằng chúng sáng tạo ra giữa những con người cái thứ tương quan chúng tôi sau này sẽ gọi là cái thực hành-quán/n[g]ọa tính.

(7)     Maurice Blanchot, L’Entretien infini trang 441: De même, lorsque Sartre condamne ce qu’il appelle “le pratico-inerte” dont il parle comme les théologiens parlent du mal, y voyant, du reste justement, non pas un moment de la dialectique, mais un moment d’expérience capable de faire échec à toute dialectique, c’est du neutre encore que la pensée s’approche, cette fois en le dépréciant, c’est-à-dire précisément en refusant de le penser comme neutre.

 

(c̣n tiếp)

          đào trung đąo

 

http://www.gio-o.com/daotrungdao.html

 

 

© gio-o.com 2015