đào trung đạo
3-Zero
±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương
≤≤ cùng một khác
(89)
Phụ Lục: Heidegger/Hölderlin/Blanchot
1. Heidegger/Hölderlin
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89,
Từ giữa thập niên 30s thế kỷ trước Heidegger đă lần lượt đưa ra một loạt bài về Hölderlin như bài thuyết tŕnh Mùa Đông 1934-1935 Hölderlins Hymnen “Germanien” und “Der Rhein”, Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung (1936), Hölderlins Hymne “Andenken” (1941-1942), và Hölderlins Hymne “Der Ister”(1942). Những bài viết này đánh dấu “Kehre/Bước ngoặt” trong lộ tŕnh tư tưởng của Heidegger. Tuy vậy trong tất cả những bài này bài minh giải tụng ca Wie Wenn Am Feiertage có một vị trí quan trọng hơn cả.Tại sao?
Jean Greisch trong bài Hölderlin et le chemin ver le sacré/Hölderlin và ngả đường hướng tới cái thiêng liêng (1) đưa ra giải đáp khá tường tận. Bắt đầu bằng câu hỏi: “Thượng đế đi vào triết học, không chỉ triết học thời Hiện đại, nhưng triết học như nó là ra sao” có thực sự là câu hỏi của Heidegger? Có chắc rằng đó là câu hỏi Heidegger gửi tới triết học để buộc triết học phải đặt vấn đề về sự xây dựng hữu-thể-thần-luận (constitution onto-théo-logique) của siêu h́nh học, nhưng theo nghĩa nào người ta có thể nói Heidegger coi đó là câu hỏi của ông ta? Cũng cần nhắc lại, với Heidegger, “câu hỏi chỉ thể có câu trả lời nếu nó được khai triển như một câu hỏi.” Jean Greisch đưa ra giả thiết: “Câu hỏi chắc chắn Heidegger khai triển để cho đó là một câu hỏi của ḿnh là câu hỏi: làm sao cái thiêng liêng đến với ngôn ngữ. Câu hỏi này dẫn tới trung tâm tư tưởng của Heidegger, ở đó sinh phần của sự khác biệt hữu thể luận được quyết định một cách khả dĩ. Sự khác biệt của cái thiêng liêng và của thượng đế hiện ra ở đó không chỉ như một sự thể hiện của sự khác biệt, nhưng có thể c̣n như sinh phần tối hậu của nó.” 2) Giả thiết này cho phép đưa ngả đường hướng về cái thiêng liêng tương cận với ngả đường hướng về lời nói (la parole) tuy hai ngả đường này không trùng hợp nhau. Trích dẫn lời Heidegger trong quyển Unterwegs zur Sprache/Ngả đường hường về lời nói “Die Sprache als Sprache zur Sprache bringen/Đưa lời nói đúng như lời nói đem tới lời nói” Greisch coi đó là một Wegformel/Công thức chỉ đường của Heidegger. Tuy nhiên, theo Greisch, trong tư tưởng của Heidegger dường như có một mối liên hệ ruột thịt không rơ rệt giữa con đường hướng về cái thiêng liêng và con đường hướng về lời nói tuy rằng tư tưởng của Heidegger về ngôn ngữ và về cái thiêng liêng đều được triển khai từ vùng đất của phát biểu thi ca (énonciation poétique) và “trong phát biểu này Freidrich Hölderlin giữ một vị trí hoàn toàn riêng biệt” (dans cette énonciation Freidrich Hölderlin occupe une position tout à fait priviligiée) giống như phát biểu của Heidegger về Nietszche: cái tên riêng này [Nieyszche] chỉ định nguyên nhân của một tư tưởng. Heidegger → Hölderlin, Nietszche →Wegformel của Heidegger theo Greisch có hai nghĩa: một mặt chỉ ra con đường của Heidegger hướng về (vers) cái thiêng liêng, mặt khác có nghĩa con đường của cái thiêng liêng trong ngôn ngữ và trong tư tưởng, và hai ngả đường này không trùng lấp nhau. Nhưng cần xác định con đường tư tưởng khác rất nhiều với con đường chủ quan của nhà tư tưởng, và đó là qui luật đối với bất cứ tư duy nào. Tư tưởng Heidegger không ngoại lệ và được Heidegger minh định rơ ràng rằng tư tương của mùnh tự đặt dưới qui luật này.
Jean Greisch chia bài viết ra các phần: Lên đường của Heidegger hướng về cái thiêng liêng (L’acheminement heideggerien vers le sacré), Con đường của cái thiêng liêng (Le chemin du sacré), Khám phá cái thiêng liêng: những giáo tŕnh năm 1934-1935 (La découverte du sacré: les cours de 1934-1935), Tư tưởng về những bán-thượng đế (Penser des demi-dieux), Nói cái thiêng liêng trong sự chắc thực của nó (Dire le sacré dans sa fermeté), và sau chót là Tính chất kề cận và khoảng cách xa của thượng đế (Proximité et distance du dieu). Trong mục đích giới hạn tŕnh bày mối quan hệ Heidegger/Hölderlin nghĩa là tầm quan trọng của Hölderlin trong Bước ngoặt/Kehre tư tưởng Heidegger chúng tôi chỉ sơ lược tŕnh bày phần đầu “Lên đường của Heidegger hướng về cái thiêng liêng” (L’acheminement heideggerien vers le sacré). Trong Unterwegs zur Sprache Heidegger nói thật rơ ràng trong phần “đối thoại với một người Nhật”: tuy chủ đề cuộc đối thoại không trực tiếp đề cập tới cái thiêng liêng nhưng xoay quanh vấn đề ngôn ngữ, nhưng theo khuôn khổ qui chiếu chung Heidegger đề nghị với người đối thoại cho thấy vấn đề ngôn ngữ cũng có quan hệ tới minh giải con đường hướng tới cái thiêng liêng. Jean Greisch tóm lược bốn giai đoạn chính của con đường này: 1. Từ 1915 khi viết luận án về những phạm trù trong triêt lư của Duns Scot, Heidegger đă có quan nhận khởi đầu về tính chất căn để của mối tương quan giữa hữu và ngôn ngữ nhưng chưa khai triển được vấn đề này. Tự phê quyển Sein und Zeit Heidegger cho rằng quyển này chưa chín chắn và đă đi quá xa. Tuy nhiên những phân tích trong Sein und Zeit cũng đă mở ra một con đường tư tưởng và Heidegger không hề đặt thành vấn đề trong những triển khai tư tưởng sau này. 2. Trong suốt gần hai mươi năm sau khi cho xuất bản Sein und Zeit (1927) Heidegger chấp nhận không phát biểu ǵ về vấn đề ngôn ngữ. Cho măi tới 1934-1935 thông qua minh giải thơ Hölderlin trong các giáo tŕnh Mùa Đông ở Friburg như Hölderlins Hymnen “Germanien” (1934) và “Der Rhein” (1935). Theo Jean Greisch những giáo tŕnh này đóng vai tṛ dọn đường cho tư tưởng Heidegger tuy ngôn từ và nội dung vẫn c̣n gắn bó với tư tưởng trong Sein und Zeit, con đường từ phân tích hiện sinh (analytique existential) sang hữu thể học nền tảng (ontologie fondamentale) vẫn được duy tŕ. Nhưng đă có những dấu hiệu bứt phá của một bước ngoặt về một khởi đầu tư tưởng nguyên ủy hơn (andersanfänglicher Anfang) bỏ lại sau lưng không những siêu h́nh học và hữu thể-thần-luận (onto-théo-logique) truyền thống mà cả dự án xây dựng một hữu thể luận nền tảng đă được đề ra trong Sein und Zeit nữa. Bắt đầu từ giai đoạn này Heidegger thay đổi cách gọi Hữu không c̣n là Sein mà là Seyn. Vai tṛ của việc làm trung gian của sự bí ẩn của cái thiêng liêng và của ngôn ngữ rất quan trọng cho bước ngoặt. 3. Phải mất gần mười năm để t́m ra “những từ để nói về điều đó” (mots pour le dire). Jean Greisch đặt câu hỏi: cái ǵ đă diễn ra trong khoảng mười năm đó? Và trả lời: một mặt Heidegger đọc Hölderlin cặn kẽ hơn, mặt khác đào sâu tư tưởng Nietszche, hai việc đọc này không thể tách rời. Kết quả: bộ sách hai tập gần một ngàn trang về Nietszche và những bài thuyết tŕnh trong quyển Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung kế tiếp là những giáo tŕnh 1934-1935. 4. Sau hết là giai đoạn đă t́m thấy les mots pour le dire được Heidegger diễn giải trong Unterwegs zur Sprache. Jean Greisch nhận xét: “Ở khúc đầu con đường, vẫn c̣n phải xây dựng nên con đường, nhưng giữa khoảng thời gian đó, con đường đă đổi dấu chỉ. Công thức chỉ đường tuyên bố sự thay đổi dấu chỉ này. Trong tư tưởng sau chót này, chủ đề về cái thiêng liêng và về thần linh không c̣n là trung tâm và tác động mạnh mẽ mấy như trong Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung nữa. Tuy nhiên chủ đề này vẫn tiếp tục tạo ra con đường, đặc biệt nhất là qua suy tư về những bài thơ của Georg Trakl.” Qua lược đồ lộ tŕnh này Jean Greisch cho rằng tư tưởng về cái thiêng liêng của Heidegger trong Erläuterungen không thể nghi ngờ được là có trung tâm điểm ở bài diễn giải bài tụng ca Wie wenn am Feiertage đặc biệt trong hai câu thơ Jetzt abar tagts! Ich haart und sah es kommen,/ Und was ich sah, das Heilige sei mein Wort [Nhưng giờ đây là ngày! Tôi đă chờ đợi, nh́n thấy nó tới/ Và cái tôi đă nh́n thấy, cái Thiêng liêng, phải là lời của tôi.] Điều thú vị ở đây là: trước Greisch gần nửa thế kỷ chính Blanchot đă đặc biệt chọn bài Heidegger diễn giải bài thơ này trong bốn bài của quyển Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung để phản biện. Để kết luận, Greisch cho rằng, tuy có vẻ ép uổng, nhưng có thể coi hai câu thơ trên của Hölderlin tương ứng với hai giai đoạn của tư tưởng Heidegger: Câu thơ đầu chỉ ra giai đoạn chờ đợi, tương ứng với những giáo tŕnh 1934-1935 dù rằng tuy mới chỉ là khởi đầu (inchoative) đặt Heidegger bước chân trên con đường hướng về cái thiêng liêng nhưng chưa ban cho Heidegger les mots pour le dire/những từ để nói ra điều đó, sự chờ đợi tích cực của một tư tưởng trên ngưỡng xoay chiều. Mấy năm sau đó tư tưởng Heidegger mới thực sự dấn nhập vào kinh nghiệm của bước ngoặt và Heidegger mới có thể nói được như Hölderlin: “Und was ich sah, das Heilige sei mein Wort.”
Jean-François Mattéi trong chương Dẫn Nhập quyển Heidegger et Hölderlin, Le Quadriparti/Heidegger và Hölderlin, Tứ tượng. [Tứ tượng (Geviert) gồm Thiên, Địa, Nhân, Thần] lư giải vấn đề ảnh hưởng của Hölderlin trong quan niệm về Tứ Tượng của Heidegger. Trước hết Mattéi đặt câu hỏi và cũng để đưa ra phản bác một số câu trả lời cho câu hỏi này: Tại sao Heidegger lại chọn Hölderlin mà không là những đại thi sĩ khác? Phải chăng chọn lựa của Heidegger là xu thời? V́ trong thập niên 30s ở Đức sau khi tác phẩm của Hölderlin được Norbert von Hellingrath cho xuất bản Hölderlin trở thành, ít ra trong môi trường đại học, một tác gia thời thượng? Hay như một số nhà phê b́nh Heidegger sau này cho rằng Heidegger đă chọn Hölderlin v́ coi Hölderlin không những là “thi sĩ của thi sĩ” mà c̣n là “thi sĩ của dân tộc Đức” như một lối thoát cho kinh nghiệm chính trị thảm họa của chính Heidegger khi – tuy trong một khoảng thời gian ngắn ngủi – Heidegger hậu thuẫn chủ nghĩa Quốc xă. Mattéi cho rằng những dư luận này là quanh co, không có cơ sở khi người ta giả thiết rằng Heidegger đă t́m thấy nơi Hölderlin sự biện chính cho hệ tư tưởng nguy hiểm của ḿnh, rằng quan điểm hữu thể luận triệt để (le radicalisme ontologique) của Heidegger chỉ là phản ánh của quan điểm chính trị triệt để. Như dưới mắt Theodor Adorno – Adorno coi Hölderlin chỉ là một thi sĩ hạng nh́ (poète mineur) – Heidegger đả sử dụng Hölderlin để làm công việc “anh hùng hóa một cách dễ dăi thi sĩ này như một nhà lập ra nền tảng chính trị để phục vụ tốt hơn cho những chủ đề đưa ra trong tư tưởng của ḿnh nhằm phục vụ những “cứu cánh độc đoán.”(4) Và Adorno cũng chỉ ra rằng trong tác phẩm của Hölderlin không hề có nói tới thần linh sẽ tới, “pathos/thương cảm” hay sự “tôn thờ cội nguồn”. Sau hết, người ta kết luận rằng huyền thoại vế Tính chất Đức Heidegger t́m kiếm nơi Hölderlin là một thất bại dựa trên giả thiết Heidegger coi Hölderlin như kẻ bảo kê cho chủ thuyết mỹ học quốc gia (national esthétisme) của ḿnh.
Để phản bác ư kiến của Adorno, Mattéi đưa ra những chứng cớ: Việc hướng về Hölderlin của Heidegger được biện minh qua lời của chính Heidegger khi thuyết tŕnh về bài thơ In lieblicher Bläue…/Bằng màu xanh thân yêu của Hölderlin, Heidegger đă lật ngược hoàn toàn câu nói cho rằng chân lư của bài thơ và việc chọn bài thơ này sẽ được đặt dưới thẩm quyền của Hölderlin trong lời phát biểu tại cuộc hội thảo ở Zurich: “Bài thơ không phải là chân lư v́ nó là của Hölderlin, nhưng ngược lại: Hölderlin đă chỉ ca ngợi chân lư bởi nó là chân lư, theo ư nghĩa của một bài thơ.”(5) Câu nói này của Heidegger theo Mattéi đơn giản có nghĩa Heidegger lên án sự tùy thuộc của tư tưởng vào thi ca cũng như sự tùy thuộc của nhà tư tưởng vào thi sĩ. Lư do: chính Hữu đă khiến Hölderlin làm thơ chứ không phải Hölderlin đă khiến Heidegger tư tưởng về Hữu. Thế nên mối liên hệ nối kết Heidegger và Hölderlin không phải là sự tùy thuộc hay phục tùng. “Điều Heidegger t́m kiếm nơi Hölderlin, với tư cách một nhà tư tưởng, không hẳn là thi sĩ của thi sĩ hay thi sĩ cưu mang sinh phần của người Đức, mà là chứng cớ của trực giác về hữu của Heidegger, trực giác về hữu này ông ta vốn đă có.(6) Để chứng minh luận điểm của ḿnh Mattéi đă liệt kê một cách hết sức chi tiết những giai đoạn của con đường tư tưởng qua những tác phẩm của Heidegger đồng hành với Hölderlin.
Giai đoạn 1: Khóa Mùa Hè 1934-1935 với bài giảng Hölderlins Hymnen “Germanien” und “Der Rhein”.
Giai đoạn 2: Ngày 2 tháng 1936: Bài thuyết tŕnh Holderlin và Thi ca sau được cho vào trong tập Erlaüterungen.
Giai đoạn 3: 1939 và 1940: Bài thuyết tŕnh Như vào một ngày nghỉ lễ (xuất bản năm 1941) và những bài viết khác trong tập Erlaüterungen.
Giai đoạn 4: Khóa Mùa Đông 1941-1942: Giáo tŕnh Hölderlins Hymne “Andenken”
Giai đoạn 5: Khóa Mùa Hè 1942: Giáo tŕnh Hölderlins Hymne “Der Ister”.
Giai đoạn 6: 6 tháng Sáu 1943: Bài thuyết tŕnh “Trở về nhà” (in trong tập Erlaüterungen)
Giai đoạn 7: 1943 kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hölderlin với giáo tŕnh Andenken.
Giai đoạn 8: Bài thuyết tŕnh Wozu Dichter/Thi sĩ để làm ǵ? vào tháng Chạp 1946 kỷ niệm 20 năm ngày mất của Rilke và minh giải bài thơ Bánh ḿ và Rượu vang của Hölderlin.
Giai đoạn 9: Thư về Chủ nghĩa Nhân bản cho in vào quyển Wegmarken năm 1967.
Giai đoạn 10: Viết bài thơ xuôi Aus der Erfahrung des Denken/Kinh nghiệm tư tưởng xuất bản năm 1954 khép lại tư duy về mối tương quan tư tưởng/thi ca.
Giai đoạn 11: Tháng 6, 1951 đọc bài thuyết tŕnh Con người cư ngụ nơi thi sĩ nói về bài thơ En bleu adorable của Hölderlin.
Giai đoạn 12: Bài thuyết tŕnh Vấn đề kỹ thuật ngày 18 tháng 11, 1953 khởi hứng từ hai câu thơ nổi danh của Hölderlin “Thế nhưng nơi đâu có hiểm nguy, nơi đó cũng/Nảy sinh cái cứu nguy” và “Con người cư ngụ nơi thĩ sĩ trên trái đất này”. Trong bài thuyết tŕnh 1952 Was heist Denken? Hölderlin cũng được gián tiếp qui chiếu qua bài thơ Mnémosyne.
Giai đoạn 13: 1957 in lại Bài diễn văn ngắn Hebel, ngừơi bạn của căn nhà đọc năm 1954.
Giai đoạn 14: 1957-1958 được đánh dấu với ba bài thuyết tŕnh Sự khai mở lời nói đọc ở đại học Fribourg tháng Chạp 1957 và tháng Giêng 1958, Từ với nhiều trích dẫn Hölderlin; tháng Giêng 1959 bài thuyết tŕnh Con đường hướng tới lời nói.
Giai đoạn 15: 6 tháng Sáu 1959 diễn thuyết tại Hiệp Hội Hölderlin ở Munich đề tài Đất và Trời của Hölderlin, sau được lập lại ba lần ở Stuttgart (6/1959), Fribourg-en-Brisgau (11/1959) và ở Heidelberg (1/1960).
Giai đoạn 16: Ngày 25 tháng Tám 1968 đọc bài diễn văn ngắn Bài Thơ ở Amrisvil nhân kỷ niệm sinh nhật thứ 70 của Friedrich G. Jünger kết thúc toàn bộ những bản văn về Hölderlin.
Mục tiêu của Mattéi ngoài việc phản bác Adorno hay ư kiến chừng mực hơn của Philippe Lacoue-Labarthe và Jean-Luc Nancy trong quyển Le mythe nazi tỏ ư quan tâm về những dư luận hiện nay lên án Heidegger đă sử dụng Hölderlin để tạo “huyền thoại Biến cố tuyệt đối, nền tảng” (le mythe de l’Événement absolu, fondateur) nhưng mục tiêu chính của Mattéi là “Thay vào đó tôi t́m cách chứng minh cái cách thế có ư nghĩa Heidegger dần dần đă làm rơ, bằng cách dựa vào việc đọc Hölderlin của ông ta, khuôn diện Tứ Tượng của hữu mà ông ta đă diễn giải như hệ thống của Đất và Trời, Thần linh và Con người, một tứ tượng bí ẩn trong đó tứ tượng của vật hiện sinh bắt rễ, tứ tượng này được phác họa một cách tối tăm trong triết lư của Aristote và, như chúng ta sẽ thấy, trong triết lư của Kant. Tư tưởng của Heidegger không nhượng bộ chút nào đối với sự cần thiết có một huyền thoại mới; tư tưởng đó triển khai cái không gian tự do của một tư tưởng không gắn liền với tính chất phi lư mù quáng của huyền thoại cũng như với lư trí do siêu h́nh học đ̣i hỏi.”(7)
Về ảnh hưởng của Hölderlin đối với Kehre/ bước ngoặt tư tưởng của Heidegger, Mattéi cũng có ư kiến khác với đa số những chuyên gia nghiên cứu Heidegger, tiêu biểu là Beda Alleman với tác phẩm đồ sộ Hölderlin und Heidegger (8). Beda Allemann cho rằng cấu trúc thi ca đặc biệt Hölderlin đă đặt tên trong Những Nhận định về Antigone là “quay trở về quê cha đất tổ” (vaterländische Umkehr) đă ảnh hưởng một cách quyết định đối với Kehre/Bước ngoặt tư tưởng của Heidegger. Beda Allemann trong hai phần đầu cuốn sách của ḿnh đă đặt song song vaterländische Umkehr của Hölderlin với Kehre của Heidegger và cho rằng cả hai đều từ một cấu trúc, một ư hướng tương tự. Điều này có nghĩa đặt tư tưởng của Heidegger dưới sự phụ thuộc vào thi ca của Hölderlin. Theo Mattéi, “phân tích cấu trúc” (analyse structurale) của Beda Allemann có ư định vạch ra, khởi từ một cấu trúc chung (communauté de structure) cùng có một nỗ lực là vượt qua siêu h́nh học, trước là ở Hölderlin, sau dó là ở Heidegger, trong khi chính giải thích của Beda Allemann lại được thực hiện theo quan niệm về Verwindung/xoáy ṿng của siêu h́nh học vốn là quan niệm riêng biệt của Heidegger trong khi có lẽ Hölderlin chẳng mấy quan tâm về vấn đề này. Theo Mattéi, ảnh hưởng của Hölderlin cũng như của Husserl trên Heidegger chỉ ở bước đầu mà thôi. Và cũng không có ảnh hưởng trực tiếp v́ Heidegger đă chỉ quyết định b́nh giải Hölderlin kể từ năm 1934 để xác quyết trực giác đặc biệt của ḿnh về hữu vốn được đánh thức rất sớm vào năm 1907 khi Heidegger được đọc quyển sách của Franz Brentano viết về Aristote do Cha Conrad Graüberg cho mượn. “Tôi thấy mối quan hệ nguyên ủy từ Heidegger qua Hölderlin đă bị làm giả bởi v́ người ta, một cách tổng quát đặc biệt dành riêng cho Hölderlin để thử hiểu Heidegger, hay để phế bỏ ông ta, trong khi đúng ra phải khởi đi từ Heidegger, và từ mối quan hệ thân thiết của ông ta với Aristote, để thử nắm bắt được sự mới mẻ tuyệt đối của việc đọc Hölderlin của ông ấy.”(9). Mattéi cũng phiền trách Beda Allemann đă chỉ dành những nhận định ngắn ngủi cho diễn giải riêng kiểu Heidegger về “cái thiêng liêng” trong thơ Hölderlin và chỉ nhắc thoáng qua về “Tứ tượng hợp nhất của trời và đất, thần và người” (Uniquadrité du ciel et de la terre, du divin et du mortel) mà không lưu tâm tới sự lập nên diện mạo vũ trụ này cũng như đă không đẩy sự so sánh này đi xa hơn nữa. Tệ hơn nữa Beda Allemann c̣n nhất quyết từ chối - trong phần cuối quyển sách của ḿnh – đào sâu hơn nữa sự tương tự giữa hai thế giới của Hölderlin và của Heidegger khi viết: “Chắc chắn thực quá dễ để trưng ra những mối tương quan mới giữa Tứ Tượng và thế giới tinh thần của Hölderlin, hay chỉ ra một cách chính xác, trong Hölderlin, bản văn có thể làm nảy sinh nơi Heidegger một việc đặt tên như: những thứ là bốn thành một. Thật ra, chẳng có ǵ đáng kể cả.”(10) Mattéi mỉa mai: “Chẳng đáng kể? Thế mà toàn thể công tŕnh của Beda Allemann lại dành cho việc cho rằng việc quay trở về nơi sinh trưởng – “cái thế giới của Hölderlin” – điều khiển sự quay ṿng trở lại của Heidegger mục đích để mở ra không gian tṛ chơi trải rộng giữa những thần linh và con người. Thế nhưng, nhà diễn giải lại không một giây phút nào đặt câu hỏi về biểu đạt tứ tượng của Đất và Trời, Thần và Người mà ông ta đă để sang một bên trong bài b́nh giải bài thơ sông Rhin, cũng không thắc mắc ǵ về sự tạo lập Geviert/Tứ Tượng của Heidegger mà ông ta đă có sự hiểu biết khi biên soạn quyển sách của ông ta, được xuất bản năm 1954, bởi ông ta có nói đến điều này trong đoạn văn trích dẫn. Ngoài ra, người ta không thấy được tại sao, v́ lư do ǵ nhà diễn giải lại không đặt mối tương quan giữa “Tứ Tượng” của Heidegger với “bốn làm Một” của Hölderlin, hay chỉ ra bản văn nào của Hölderlin đă dẫn Heidegger tới việc chọn “một việc đặt tên như: những thứ là bốn thành một.” Không có ai cấm đoán Beda Allemann cho rằng chắc chắn những câu thơ Hölderlin đă phác thảo muộn màng trong bài Le Vatican trong đó thi sĩ ngơi ca “bài ca hôn phối đất trời” và cộng hưởng của trái đất cát bụi v.v…Tại sao Beda Allemann lại thận trọng như vậy? Sự dễ dàng trong việc đặt song song một số những câu thơ của Hölderlin với những diễn giải về những bài thơ này của Heidegger thực ra che dấu một sự nan giải đáng ngờ. Làm thế nào để diễn giải và biện chính con đường dẫn từ “cái thiêng liêng” của Hölderlin tới “cái thiêng liêng” của Heidegger vào một nối kết thực sự toàn thể (une liaison vraiment totale) mà không tự giới hạn vào việc xét tới những bản văn tương ứng của thi sĩ và của nhà tư tưởng, nhưng là biểu đạt một cách thuyết phục từ tứ tượng của Hölderlin sang tứ tượng của Heidegger? Mattéi dẫn lời cảnh báo của Heidegger trong bài thuyết tŕnh Đất và Trời ở Friburg ngày 27 tháng Một năm 1959 rằng: “vấn đề không phải là tŕnh bày những ư tưởng của Hölderlin về trái đất và bầu trời” dù rằng làm thế cũng đem lại sự biện chính; nhưng đúng ra phải thay đổi hoàn toàn “cách điệu” (Stimmung/tonalité) và đi từ “cách h́nh dung theo thói quen” của chúng ta về trạng huống của thi ca sang một “thực chứng không theo thói quen, bởi đơn giản – đó là thực chứng tư duy.” Mattéi cho rằng Beda Allemann đă không làm theo lời Heidegger để cho tư tưởng Heidegger một ḿnh đối diện với ngôn ngữ của hữu mà không tra vấn gần hơn nữa lời nói của Tứ Tượng và cũng sẽ không mất đi cơ hội khám phá ra “biểu đạt tứ tượng” (quadruple articulation) của tính chất nhân quả nơi Aristote và ghi nhận được rằng “Heidegger t́m thấy lại được tính chất thực sự của nguyên nhân trong nhất tính của nó” (Heidegger retrouve le caractère véritable de la cause dans son unité). Beda Alleman cũng đă không nhấn mạnh về điều kỳ lạ “bốn trong một” của nhân quả tính đă quyến rũ Heidegger như thế nào trước khi nhà tư tưởng minh giải những bài tụng ca của Hölderlin.
_________________________________
(1) Jean Greisch, Hölderlin et le chemin vers le sacré in trong Heidegger, Cahiers de L’Herne (1983, Michel Haar chủ biên) trang 543-566.
Jean Greisch cũng là tác giả quyển Ontologie et Temporalité, Esquisse d’une interprétation intégrale de Sein und Zeit (PUF,1994). Quyển này được coi như một trong những quyển nghiên cứu thế giá về tác phẩm Sein und Zeit của Heidegger. Trước đó Jean-François Courtine khởi đầu thế hệ thứ nh́ những chuyên gia nghiên cứu Heidegger ở Pháp với quyển Heidegger et la Phénoménologie (Vrin, 1990). Năm 1995 ở Mỹ Theodore Kisiel cũng cho xuất bản The Genesis of Heidegger’s Being & Time và mới đây Marlène Zarader cho ra mắt Lire Être et Temps de Heidegger (Vrin, 2012). Thế hệ thứ hai ở Pháp với những Philippe Lacoue-Labarthe, Jean-Luc Nancy, Michel Haar, Dominique Janicaud, Jean-François Mattéi, J-F.Courtine, J. Greisch, Françoise Dastrure, M.Zarader… đọc và thông diễn Heidegger có may mắn và ưu thế hơn thế hệ trước để có thể rạch ṛi về chuyển vận của những ngả đường tư tưởng của Heidegger v́ từ năm 1976 hầu như toàn bộ tác phẩm của Heidegger đă được xuất bản dưới tên gọi Gesamtausgabe GA đến nay đă được gần 100 tập.
(2) Sđd, 543: La question que Heidegger a incontestablement deployée pour la faire sienne, est la question: comment le sacré vient-il au langage? Elle conduit au cœur de la pensée heideggerienne, là où se decide véritablement le destin de la différence ontologique. La différence du sacré et du dieu y apparaît non seulement comme une manifestation de la différence, mais peut-être comme son destin ultime.
(3) Sđd, trang 546: Au bout du chemin, il y a encore du chemin à faire, mais entre-temps, le chemin a changé de signe. La Wegformel énonce ce changement de signe. Dans cette dernière pensée, le thème du sacré et du divin ne paraît plus aussi central et aussi agissant que dans les Erläuterungen sur Hölderlin. Mais il continue néamoins à faire du chemin, notamment à travers la méditation des poèmes de Georg Trakl.
(4) Theodor Adorno, “Parataxe. Sur les derniers poèmes de Hölderlin” trong quyển F. Hölderlin, Hymnes, Élégies et autres poèmes, A. Guerne dịch ra Pháp văn, Philippe Lacoue-Labarthe viết Dẫn nhập, nxb Flammalion, 1983 trang 141.
(5) Martin Heidegger, Séminaire de Zurich, trang 54.
(6) Jean-François Mattéi, Heidegger et Hölderlin, Le Quadriparti nxb PUF 2001 trang 21: Ce que Heidegger a cherché dans Hölderlin, en tant que penseur, c’est moins le poète du poète ou le poète qui porte le destin des Allemands, que l’épreuve de son intuition de l’être qui le possédait déjà.
(7) Sđd, trang 25: Je cherche plutôt à montrer de manière significative dont Heidegger a peu à peu fait apparaître, en s’appuyant sur sa lecture de Hölderlin, la figure quadripartite de l’être qu’il interprète comme le système de la Terre et du Ciel, des Divins et des Mortels, en une quadruple énigme dans laquelle s’enracine la quadrature de l’étant, esquisée de façon obscure par la philosophie d’Aristote et, nous le verrons, de Kant. La pensée de Heidegger ne succombe en rien à la nécessité d’un nouveau mythe; elle déploie le libre espace d’une pensée qui n’est pas plus attaché à l’irrationalité aveugle du mythe qu’à la raison revendiquée par la métaphysique.
(8) Beda Allemann, Hölderlin et Heidegger, bản Pháp văn của François Fédier, nxb PUF 1959.
(9) Jean-François Mattéi, Heidegger et Hölderlin, Le Quadriparti trang 26: Le rapport original de Heidegger à Hölderlin me paraît faussé parce que l’on privilégie généralement Hölderlin pour tenter de comprendre Heidegger, ou de le disqualifier, alors qu’il faut partir de Heidegger, et de son rapport intime avec Aristote, pour essayer de saisir la nouveauté absolue de sa lecture de Hölderlin.
(10) Beda Allemann, Hölderlin et Heidegger, Mattéi trích dẫn bản dịch tiếng Pháp trang 249-250: Il serait assurément facile de mettre en évidence de nouvelles relations entre l’Uniquadrité [Geviert] et le monde spiritual de Hölderlin, ou bien même d’indiquer exactement, dans Hölderlin, le texte qui a pu faire naître chez Heidegger une dénomination telle que: ceux qui sont quatre en un. Ce serait peu de chose, en vérité.
(11) Jean-François Mattéi, Heidegger et Hölderlin, Le Quadriparti trang 27-28: Peu de chose? Pourtant l’entreprise entière de Beda Allemann revient à établir que le retournement natal – “le monde spiritual de Hölderlin” – commande le virage de Heidegger afin d’ouvrir l’espace de jeu qui s’étend entre les dieux et les homes. Or, l’interprète ne s’interroge pas un instant sur cette quadruple articulation de Terre et Ciel, Divins et Mortels, qu’il laisse de côté dans son commentaire du Rhin, ni sur la constitution du Geviert heideggerien, dont il avait connaissance lors de la rédaction de son livre, paru en 1954, puisqu’il le mentionne explicitement dans le passage cité. On ne voit pas, du reste, pour quelle raison l’interprète se priverait de la facilité de mettre en rapport l’ “Uniquadrité” de Heidegger et le “quatre en Un” de Hölderlin, ou indiquer le texte de Hölderlin qui a conduit Heidegger à choisir “une dénomination telle que: ceux qui sont quatre en un”.
(c̣n tiếp)
đào trung đạo
http://www.gio-o.com/daotrungdao.html
© gio-o.com 2015