đào trung đąo

3-Zero

±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương

≤≤cùng một khác

(83)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83

 

     Bài Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung/Minh giải Thi ca của Hölderlin của  Heideggger vốn dĩ là một bài khó đọc v́ Heidegger sử dụng một lối viết quá cô đọng (scriptic), nhiều vấn đề được nêu ra không được tác giả giải thích, và muốn hiểu rơ hơn những vấn đề này phải t́m đọc, qui chiếu về những bài viết khác của Heidegger về Hölderlin và về Thi ca như các bài thuyết tŕnh Mùa Đông 1934-1935 Hölderlins Hymnen “Germanien” und “Der Rhein” GA39, “Wozu Dichter?Tại sao Thi sĩ?(Thi sĩ để làm ǵ?)” viết năm 1936 để kỷ niệm năm thứ 20 ngày mất của Rilke, , Hölderlins Hymne “Andenken” GA52 (1941-1942), và Hölderlins Hymne “Der Ister” GA 53 (1942), và nhất là bài Der Ursprung des Kunstwerkes/Nguồn gốc của Tác phẩm Nghệ thuật (1935/36). Cái khó khi đọc bài La Parole “sacrée” de Hölderlin/Lời “thiêng” của Hölderlin  của Blanchot lại nằm ở chỗ: tuy đây là một bài viết phê b́nh bài Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung nhưng Blanchot lại không lập lại những ư Heidegger nêu ra trong bài trên – đúng theo chủ trương phê b́nh không phải là lặp lại – nên người đọc phải theo sát bài viết của Heidegger và nên có bài viết này sẵn sàng để qui chiếu. Hơn thế nữa cả Heidegger và Blanchot c̣n làm khó người đọc ở điểm: v́ cả hai đều là những người đọc thông thạo toàn bộ khối tác phẩm đồ sộ của Hölderlin và những câu thơ hai người trích dẫn lại rải rác khắp nơi trong tác phẩm của Hölderlin nên người đọc nếu được cũng cần t́m về cả bài thơ có câu được trích dẫn để kiểm chứng và cũng có thể nhận xét và nêu ra câu hỏi về sự chính đáng của việc trích dẫn trong văn mạch lư luận và chứng minh của bài viết.

    Không kể phần đầu Heidegger theo thói quen khi thuyết tŕnh cho chép bài thơ Wie Wenn Am Feiertage của Hölderlin (Heidegger c̣n cho biết đă đọc chính bản thảo bài thơ này của Hölderlin) sau đó là bài viết dài khoảng 24 trang (bản Anh văn). C̣n bài La Parole “Sacrée” de Hölderlin của Blanchot cũng dài tương đương (18 trang nhưng in chữ nhỏ trong quyển La Part du feu). Nh́n chung, Blanchot tuy đọc Hölderlin ở “trung tâm” khác với Heidegger – khác ở chỗ trong khi Heidegger minh giải Hölderlin để t́m lư giải mối tương quan giữa thi ca và triết lư th́ Blanchot nghiêng quan điểm thuần văn chương, tuy đặt văn chương trên chân trời triết lư nhưng cho thấy văn chương luôn xuyên thủng và phân tán chân trời này – tuy cả hai có những chỗ đồng ư với nhau nhưng có những cách hiểu những chủ đề chính trong bài thơ này của Hölderlin khá khác biệt. Để dễ theo dơi minh giải của Heidegger cũng như phản biện của Blanchot chúng tôi chép lại bài Wie Wenn Am Feiertage kèm theo bản dịch sang tiếng Anh của Michael Hamberger và bản dịch sang tiếng Pháp của Gustave Roud trong phần chú thích ở dưới bài viết.(*)

   Nếu không đọc bài Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung mà chỉ đọc Blanchot qua bài La Parole “Sacrée” de Hölderlin người đọc khó có thể năm bắt ư tưởng trong bài này. V́ vậy chúng tôi thấy cần tóm tắt những ư chính của Heidegger trong bài Erläuterungen zu Hölderlin Dichtung/Minh giải Thi ca của Hölderlin. Trong bài này Heidegger bàn về hai chủ đề chính: khái niệm Tự/Thiên nhiên trong bài thơ của Hölderlin hiểu như Φύσις/ phusis theo nghĩa nguyên thủy Hy Lạp cổ đại, từ này có nghĩa  sự trồi/nổi lên vào cái  rộng mở (the open) và vai tṛ, chỗ đứng của thi sĩ. Thứ nhất, về khái niệm Natur: Dựa trên ba câu thơ Sie die Meister allein, die wunderbar/Allgegenwärtig erziehet in leichtem Umfangen/Die mächtig, die göttlichschöne Natur/ Whom no master alone, whom she, wonderfully/ All-present, educates in a light embrace,/The powerful, divinely beautiful nature [Keith Hoeller dịch] Heidegger chỉ ra: “Chuyển vận nội tại của ba gịng chữ này nỗ lực nhằm hướng tới từ/chữ cuối “tự/thiên nhiên,” và ở đó chuyển vận chấm dứt. Cái mà Hölderlin vẫn gọi là “tự/thiên nhiên” vang vọng suốt bài thơ cho tận tới từ/chữ cuối cùng.”(1) Heidegger quảng diễn khái niệm Natur/Φύσις/phusis theo tư tưởng của những triết gia tiền-Socrates và cho rằng: “Yếu tính của từ/chữ “tự/thiên nhiên” của Hölderlin vang vọng trong bài thơ này đi theo cái chân lư bị che khuất của từ/chữ nguyên thủy nền tảng Φύσις. “Thế nhưng Hölderlin chẳng bao giờ hiểu được sức mạnh của từ/chữ nguyên thủy Φύσις, sức mạnh của từ/chữ này cho đến nay cũng hiếm khi được xem xét. Tương tự như vậy, với cái ông ta gọi là “tự/thiên nhiên,” Hölderlin không chỉ muốn để cho kinh nghiệm của thời cố Hy Lạp được tái sinh. Với từ/chữ “tự/thiên nhiên,” Hölderlin đặt vào trong bài thơ của ḿnh một cái ǵ khác nữa, chắc chắn là vậy, cái ǵ khác này đứng ở một tương quan bị che khuất với Cái Đó trước đây đă từng được gọi là Φύσις.”(2)  Trước đó trong giáo tŕnh Mùa Hè 1935 Einführung in die Metaphysik (3) Heidegger giải thích từ Φύσις hiểu theo nghĩa ở thời đại khởi đầu triết học Tây phương các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại gọi hữu (số nhiều) là phusis và từ/chữ Hy Lạp nền tảng này sau đó được chuyển ngữ sang tiếng La tinh là natura có nghĩa “được sinh ra,” “sinh đẻ” và do chính sự chuyển ngữ này nghĩa chính thức có tính chất triết lỳ nguyên thủy của phusis cũng như sức mạnh chỉ danh bị phá hủy. V́ thế từ đó phusis chính thức được hiểu như natura trong Ky tô giáo và triết lư thời Trung cổ, và nghĩa này cho đến ngày nay vẫn tồn tại trong triết học Tây phương. Heidegger làm bước nhảy vọt khỏi tiến tŕnh bóp méo nghĩa chữ phusis này để t́m lại sức mạnh chỉ tên của ngôn ngữ và của các từ: “Vậy giờ đây từ phusis nói về điều ǵ? Nó nói về cái hiện/thoát ra từ chính nó (chẳng hạn, sự hiện ra, bừng nở của một bông hoa hồng), sự mở ra tự nó mở toang, sự đến-trong-hiện ra trong sự mở ra như thế, và sự tự trụ lại và tồn tại trong hiện ra – nói cho gọn, là sự hiện ra-lưu tồn trụ quản [Walten]…Phusis chính là Hữu, do tư cách này mà [những] hữu lần đầu tiên diên thành và luôn luôn có thể quan sát được.”(3) Heidegger minh giải ba câu thơ Sie die Meister allein, die wunderbar/Allgegenwärtig erziehet in leichtem Umfangen/ Die mächtig, die göttlichschöne Natur /Whom no mere master teaches, but in/A light embrace, miraculously omnipresent,/God-like in power and beauty, Nature brings up: Tự/thiên nhiên hiện diện nơi mọi vật có thực, xuất hiện trong công việc/tŕnh của con người và trong sinh mệnh của mọi dân tộc, trong những v́ sao và những thần linh, trong đá, súc vật, và ngay cả trong những gịng sông gịng suối và sấm sét. “wunderbar/kỳ diệu” là sự hiện diện cùng khắp của tự nhiên. Thế nhưng không thể t́m thấy tự nhiên giữa cái có thực như một yếu tố có thể tách rời, sự hiện diện toàn thể không phải là kết quả của một sự kết hợp cái có thực đă tách rời. Không thể cắt nghĩa hay chỉ ra sự hiện diện toàn thể dựa trên cái có thực v́ sự hiện diện toàn thể đă có từ trước. V́ sự hiện diện của kỳ diệu đi xuyên qua mọi vật nên tự/thiên nhiên dạy bảo (erziehet) “in leichtem Umfangen/ trong một ṿng tay ôm nhẹ nhàng”. Nhưng “ṿng tay ôm nhẹ nhàng” không có nghĩa tự/thiên nhiên yếu đuối. Ngược lại “hiện diện toàn khắp” lại “mächtig, göttlichschöne/mạnh mẽ, như sức mạnh thần linh”. Theo Heidegger diễn giải sức mạnh này tự/thiên nhiên vốn có v́ chính tự/thiên nhiên ban phát sức mạnh. “Yếu tính của sức mạnh được xác lập từ sự hiện diện cùng khắp của tự/thiên nhiên, điều này Hölderlin gọi là “mạnh mẽ, đẹp siêu phàm. Tự/thiên nhiên mạnh mẽ bởi [nàng] thiên/tự nhiên tựa thần linh trong sắc đẹp.”(4) Thế nhưng tự/thiên nhiên lại không phải là thần linh v́ nếu là thần linh th́ sự hiện diện lại bị đo đạc bởi tính chất thần linh, và như vậy không c̣n là tự/thiên nhiên nữa. “Tự/thiên nhiên được gọi là “đẹp” bởi nàng “hiện diện toàn khắp một cách siêu phàm.” Nhưng sự hiện diện toàn khắp này không có nghĩa trọn vẹn, nghĩa là định lượng được trong tất cả những ǵ có thực, “nhưng đúng ra đó là cách thế thẩm thấu những sự vật thực, và rằng tùy theo loại sự vật, dường như chúng loại bỏ lẫn nhau. Sự hiện diện toàn khắp giữ vật này đối nghịch tuyệt cùng đứng vững ở vị thế đối nghịch với vật kia, bầu trời cao nhất và vực thẳm sâu nhất.”(5)  Tự/thiên nhiên vạn năng ôm giữ thi sĩ, thi sĩ bị thu hút vào ṿng ôm của nàng, chuyển dịch thi sĩ vào tinh chất nền tảng của hữu của thi sĩ. Sự chuyển dịch này chính là sự giáo dục/dạy dỗ của tự/thiên nhiên, quyết định sinh phần thi sĩ. Drum wenn zu schlafen sie scheint zu Zeiten des Jahrs/Am Himmel oder unter den Pflanzen oder den Völkern,/So trauert der Dichter Angesicht auch,/ Sie scheinen allein zu seyn, doch ahnen sie immer./Denn ahnen ruhet sie selbst auch./So when she seems to be sleeping at times of the year/Up in the sky or among plants or the people,/The poets’ faces likewise are sad,/They seem to be alone, but are always divining. Heidegger chú giải: “zu Zeiten des Jahrs/ Ở những thời khoảng của năm” dường như sự hiện diện cùng khắp ngủ say. “Jahr/Năm” có nghĩa lập tức và cùng lúc, là những “mùa” và “những năm của dân chúng”, nghĩa là những thời đại của thế giới. “Tự/thiên nhiên dường như ngủ, tuy vậy nàng không ngủ. Nàng tỉnh thức, nhưng tỉnh thức trong cách thế tang chế. Tang chế thu kéo mọi thứ vào kư ức của chỉ một thứ. Sự hồi tưởng của tang chế trụ lại gần gũi cái đă bị lấy đi mất khỏi tang chế và dường như ở cách xa. Tang chế không chỉ bị kéo trở lại tới cái ǵ đă mất đi bởi một ḍng cuốn trôi. Tang chế để cho cái không hiện diện tới măi tới măi. Và những thi nhân chịu tang, về phần họ, dường như chỉ bị giam cầm vào sự cách ly của họ và bị cầm tù trong đó. Họ không “cô đơn một ḿnh”. Thật ra, “họ luôn đang tiên đoán.” Sự tiên đoán của họ hướng tưởng vào cơi xa xôi, cơi xa xôi này không thu rút lại, nhưng đúng ra là/hiện hữu, như cái đang tới. Nhưng bởi v́ chính cái sẽ tới hăy c̣n ngơi nghỉ trong tính chất nguyên ủy của nó và trụ lại đó, cho nên sự tiên đoán cái sẽ tới vừa là một nghĩ tưởng-tới vừa là một nghĩ tưởng-trở lại. Theo cách đó, thi sĩ kiên tŕ trong sự thuộc về “tự/thiên nhiên” của họ: Denn ahnen ruhet sie selbst auch/ For divining too she herself is at rest.(6) Tự/thiên nhiên ngủ để tập trung vào sự khởi đầu sẽ tới, cũng có nghĩa ngơi nghỉ tiên đoán. V́ tự/thiên nhiên là đồng nhất với chính nó nên tiên tưởng (thinking ahead) về chính việc sẽ tới sự hiện diện của chính sự toàn hiện (all-presence) của nó, đó chính là yếu tính của “toàn hiện.” Thi sĩ chính là những kẻ thuộc về và đáp ứng/lời tự/thiên nhiên toàn năng, toàn hiện, đẹp đẽ siêu phàm. Hölderlin chỉ rơ đó là những thi sĩ đứng trong “günstiger Witterung/ thời tiết thuận hảo” một ḿnh trụ lại trong đáp ứng/lời sự tiên đoán của tự/thiên nhiên đang ngơi nghỉ. Thế nên hữu của thi nhân sẽ được xác định làm mới dựa trên sự đáp ứng/lời này. Không phải là tất cả mọi thi nhân đều như vậy mà chỉ những thi nhân của tương lai mà hữu của họ sẽ được đo lường bởi sự thích nghi với yếu tính của tự/thiên nhiên mà thôi.

   Để giải thích tại sao trong bài thơ Wie Wenn Am Feiertage Hölderlin gọi “tự/thiên nhiên” là “toàn thể-sáng tạo/all-creative” Heidegger trở lại giảng nghĩa thêm từ/chữ Φύσις để dẫn đến ư nghĩa của cụm từ “leichtem Umfangen/nhẹ ôm”. “Φύσις, Φύειν có nghĩa tăng trưởng. Nhưng người Hy Lạp hiểu tăng trưởng như thế nào? Không phải như sự tăng thêm về lượng, cũng không phải là “triển khai,” ngay cả cũng không là sự tiếp diễn của một sự “diên thành.” Φύσις là một sự hiện ra và trồi lên, tự mở ra: sự tự mở ra trong khi hiện ra đồng thời cũng quay trở lại vào cái đă hiện ra và dấu ḿnh trong chính nó mỗi khi ban phát sự hiện diện cho cái hiện diện, có mặt. Và sự nổi/trồi lên vào sự rộng mở chính là chiếu sáng sự khai mở (clearing) để mọi thứ có thể đi vào sự hiện ra/ vẻ ngoài (είδος, ίδέα/appearance), Φύσις cũng chính là sự trồi/nổi lên của việc soi sáng, là nơi chốn và trung tâm của ánh sáng. “Sự chiếu sáng của “ánh sáng” thuộc về lửa; nó là lửa. Lửa ở trên tất cả sự sáng ngời và sáng rực. Sự sáng ngời chiếu sáng và trước hết cung cấp sự mở ra cho mọi sự hiện ra, và lần đầu cũng ban phát sự rơ ràng cho tất cả mọi thứ hiện ra. Sáng rực chiếu rọi, nó làm bốc lửa tất cả những ǵ trồi lên trong sự hiện ra nơi sự soi sáng của nó. Như vậy lửa, như “ánh sáng” của sự chiếu sáng-ngời sáng, là sự mở ra.”(7) Nói thế khác Φύσις là cái hiện diện, có mặt trong tất cả. Heidegger đặt câu hỏi: Phải chăng “tự/thiên nhiên,” nếu như nó là Φύσις, trong chừng mực là cái “toàn-hiện” cũng đồng thời phải là cái chiếu sáng tất cả (all-glowing)? Câu trả lời: Chính v́ lư do này mà Hölderlin gọi “tự/thiên nhiên” là cái “toàn-tạo” (all-creative) và cái “toàn-sinh” (all-living).

   Câu hỏi Blanchot trước hết đặt ra: việc luận giải của Heidegger t́m cách trả lời một cách trung thành bài thơ được đến mức nào? Blanchot nh́n nhận từ vựng Heidegger dùng, tuy bề ngoài tưởng như là từ vựng của riêng Heidegger, nhưng thực ra cũng là từ vựng của Hölderlin. Chẳng hạn từ/chữ “Offen/Ouvert/Open/Rộng mở” là thuật ngữ trong những tác phẩm mới đây của Heidegger dùng để giảng giải từ/chữ Tự/Thiên nhiên trong bài thơ của Hölderlin (theo nghĩa tự/thiên nhiên không phải là một thực tại riêng biệt, cũng không chỉ là toàn bộ cái có thực), nhưng là “Rộng mở”, cái chuyển vận mở ra cho phép mọi thứ hiện ra được hiện ra) cũng chính là một từ của Hölderlin, chẳng hạn như trong bài bi ca Gửi Landauer:

                               Und dem offenen Blick offen der Leuchtende sei

                               Et qu’à la vue qui s’ouvre s’ouvre ce qui est rayonnement de lumière

                                                                                                          (Blanchot dịch)

                               [Và tới mắt mở nh́n mở rộng là tia chiếu của ánh sáng]

Blanchot viết: “Việc lập lại hai lần từ offen, mở rộng, đáp lời một cách chính xác cho ư nghĩa chuyển vận kép của “cái Mở rộng”: mở ra cho cái mở rộng, và từ/chữ der Leuchtende, khả năng chiếu sáng của cái chiếu sáng, ở đây rơ ràng là được đưa ra như sau chuyển vận của sự mở ra, của sự mở rộng (des Himmels Blüte, như câu thơ trước đó nói) khả năng này làm cho sự mở rộng khả hữu. Das Offene trở lại nhiều lần trong những bài thơ, và chắc chắn nó vẫn giữ cái nghĩa gần như tương ứng với cách diễn đạt của chúng ta khi nói không khí thoáng đăng, đi ra chỗ không khí thoáng đăng, nhưng khi chúng ta đọc ḍng chữ dass wir das Offene schauen, ư nghĩa lại thành ra thế này: với ai muốn nh́n, th́ trước hết phải gặp được das Offene, người ta chỉ nh́n trong sự tự do của cái mở rộng, trong cái ánh sáng cũng là sự mở ra, sự mở rộng.

                               Công tŕnh thiêng liêng của ngươi, Ánh sáng, làm cho mọi sự vật mở ra,

như Empédocle đă nói, trong bản thảo thứ nhất vở kịch Cái Chết của Empédocle [của Hölderlin]; và việc mở rộng ra này là công tŕnh thần linh, bởi v́ công tŕnh này cũng là phần thần linh của ánh sáng, chuyển vận thần linh nhờ nó mà ánh sáng có thể chiếu sáng và ánh sáng nhận được một sự sáng tỏ có trước nó, như thể sự sáng tỏ này có trước tất cả.”(8)

   Blanchot đặt vấn đề về sự tương ứng giữa bản văn được đem ra chú giải với bản văn chú giải và phê phán ngôn ngữ của Heidegger khi chú giải Hölderlin đă quá “phong phú” so với ngôn ngữ “nghèo nàn” của Hölderlin. Theo Blanchot: “như người ta biết, ngôn ngữ của Hölderlin bề ngoài xem ra nghèo nàn, nghèo nàn trong từ vựng, nghèo nàn trong đề tài, đơn điệu, rất khiêm cung, thứ ngôn ngữ cao cấp không bao giờ được viết ra, bởi chuyển vận của nó nâng nó lên trên tất cả những ngôn ngữ khác. Nhưng ngôn ngữ của Heidegger ngược lại có một sự phong phú và một phẩm chất không thể nào so sánh được…Sự tự tin Heidegger đặt vào những từ/chữ của ngôn ngữ của ông ta, giá trị mà ông thỏa thuận cho vào những sự lắt léo ít nhiều bí ẩn của chúng, tạo nên một hiện tượng đáng kể. Những từ/chữ dường như mang trong chính chúng một sự thật ẩn tàng mà một sự truy vấn khéo léo  có thể làm hiện ra. Sau khi đă phân tích, theo từ nguyên, từ/chữ physis, ông ta nói thêm: “Thế nhưng Hölderlin đă không biết tới sức mạnh chỉ nghĩa của từ/chữ nền tảng và nguyên thủy mà ngày nay chúng ta mới chỉ bắt đầu xét tới.” Blanchot cũng nhận ra đằng sau giải thích về physis của Heidegger là sự hiện diện cẩn mật của những triết gia tiền-Socrate. “Nhưng quả thực Hölderlin đă không biết tṛ chơi bên trong của những từ/chữ, cái phẩm chất bừng sáng của kẻ diễn giải ḿnh và phẩm chất này đối nghịch hẳn với sự khiêm tốn của chính ngôn ngữ của Hölderlin. Chúng ta [cần nói] thêm  rằng cái sức bật độc đáo của ngôn ngữ này, cái nhịp điệu vốn là chân lư thượng đẳng này của nó, cái đà hướng lên cao, tất cả lần lượt đều bị bài luận giải không đếm xỉa tới, bài luận giải bài thơ này chỉ giữ lại sự triển khai và kết cấu tầm thường của nó.”(10) Chúng ta có thể nói phê phán này của Blanchot chỉ đúng một phần: thật ra trong giáo tŕnh Hölderlins Hymnen Germanien” und “Rhein” (1934-1935) Heidegger có giải thích khá cặn kẽ về giọng điệu (ton) và nhịp điệu (rythme) trong hai bài tụng ca này của Hölderlin. Nhưng cũng không thể trách cứ Blanchot v́ giáo tŕnh này măi cho tới năm 1980 mới được xuất bản trong khi Blanchot viết bài La Parole sacrée de Hölderlin vào năm 1947. Tuy vậy điều đáng khen ngợi là Blanchot dù không đọc giáo tŕnh này nhưng cũng đă nh́n ra và đánh giá cao giọng điệu và nhịp điệu trong thơ Hölderlin.

____________________________________

(1)     Martin Heidegger, Eluciations of Hölderlin’s Poetry trang 75: The inner movement of these three lines strives toward the final word “nature,” and there the movement comes to its end. What Hölderlin still calls “nature” here resounds throughout the entire poem up to its last word.

(2)     Sđd, 79: The essence of Hölderlin’s word “nature” resounds in this poem following the concealed truth of the primordial fundamental word Φύσις. But Hölderlin never knew the force of the primordial word Φύσις, whose force has still today been scarcely measured. Likewise, with what he names “nature,” Hölderlin does not only want to let the experience of ancient Greek times be brought to life again. With the word “nature,” Hölderlin puts into his poem something else that, to be sure, stands in a concealed relation to That which was once called Φύσις.

(3)     Martin Heidegger, Introduction to Metaphysics, bản dịch của Gregory Fried và Ricard Polt trang 15: Now what does the word phusis say? It says what emerges from itself (for example, the emergence, the blossoming, of a rose), the unfolding that opens itself up, the coming-into-appearance – in short, the emerging-abiding sway.

(4)     Martin Heidegger, Eluciations of Hölderlin’s Poetry trang 76: The essence of power is determined from the all-presennce of nature, which Hölderlin calls “powerful, divinely beautiful.” Nature is powerful because she is god-like in beauty.

(5)     Sđd, trang 76: Nature is called “beautiful” because she is “wonderful all-present.” That she is present in all does not mean a complete, quantitative comprehension of all that is real, but rather the manner of permeating the real things that, according to their kind, seem to mutually exclude each other. This omnipresence holds in opposition to each other the extreme opposites, the highest heaven and the deepest abyss.

(6)     Sđd, trang 77: “At times of the year” means, at one and the same time, the “seasons” and the  “years of the people,” the ages of the world. Nature seems to be sleeping; yet she is not sleeping. She is awake, but awake in the manner of mourning. Mourning witdraws from everything into the memory of one thing only. The remembrance of mourning remains near to what has been taken from it and seems to be distant. Mourning is not merely pulled back by a current to something that was lost. It lets what is absent come again and again. And the mourning poets, too, for their part, only seem to be confined to their isolation and imprisoned in it. They are not “alone.” In truth, “they are always divining.” Their divination thinks forward into the distant, which does not withdraw, but rather is, as what is coming. But because what is coming itself still rests in its primordiality and remains there, the divining of what is coming is both a fore-thinking and a thinking-back. In this way, the poets persist in their belonging to “nature”: For divining too she herself is at rest.

(7)     Sđd, trang 79: The illumination of “light” belongs to the fire; it is the fire. Fire is above all brightness and blaze. Brightness lightens and first affords the open for all appearing, and first gives clarity to all that appears. The blaze illuminates, it sets fire in its glowing all that emerges into its appearing. The fire, as the illuminating-blazing “light,” is the open, that which has already come to presence in everything that emerges and goes away within the open.

(8)     Maurice Blanchot, La Parole sacrée trong La Part du Feu trang 120: La double répétition du mot offen, ouvert, répond exactement au double mouvement que signifie “Ouvert”: s’ouvrir à ce qui s’ouvre, et der Leuchtende, le pouvoir d’éclairement de ce qui éclair, est ici nettement donné comme postérieur au mouvement d’épanouissement, d’ouverture (des Himmels Blüte, dit le vers précédent) qui le rend possible. Das Offene revient plusieurs fois dans les poems, et il garde sans doute le sens qui répond à peu près à notre expression, l’air libre, aller à l’air libre, mais quand nous lisons, dass wir Offene schauen, le sens devient encore ici: pour l’être qui veut voir, il faut d’abord rencontrer das Offene, on ne voit que dans la liberté de ce qui est ouvert, dans cette lumière qui est aussi ouverture, épanouissement.             

(9)      

Ton œuvre divine, Lumière, qui fais toutes choses se déployer,

 

dit Empédocle, dans la première version de La Mort d’Empédocle; et ce déployement est œuvre divine, parce qu’elle est aussi la part divine de la lumière, le mouvement divin par lequel la lumière peut éclairer et qu’elle reçoit d’une clarté qui lui est antérieure, comme elle est antérieure à tout.

 

(10)  Maurice Blanchot, La Parole Sacrée trong La Part du Feu trang 121: Mais, il est vrai, Hölderlin  a ignoré  ce jeu intérieur des mots, cette vituosité éclatante qui est celle de son commentateur et qui contraste avec la modestie de son propre language. Ajoutons que l’essor sans pareil de ce language, ce rhythme qui est sa vérité supérieure, cet élan vers en haut sont à leur tour ignorés par le commentaire qui du chant ne retient que son développement et sa composition prosaïques.

        *a/ Bản tiếng Đức bài thơ của Hölderlin:                                      

“WIE WENN AM FEIERTAGE”                                

Wie wenn am Feiertage, das Feld zu sehn

Ein Landmann geht, des Morgens,wenn   

Aus heisser Nacht die kühlenden Blize fielen           

Die ganze Zeit und fern noch tönet der Donner,

In sein Gestade wieder tritt der Storm,

Und frisch de Boden grünt

Und von des Himmels erfreuendem Reegen

Der Weinstock trauft und glänzend

In stiller Sonne stehn die Bäume des Haines:

 

So stehn sie unter günstiger Witterung

Sie die kein Meister allein, die wunderbar

Allgegenwärtig erzieht in leichtem Umfangen

Die mächtige, die göttlichschöne Natur.

Drum wenn zu schlafen sie scheint zu Zeiten des Jahrs

Am Himmel oder unter den Pflanzen oder den Völkern,

So trauert der Dichter Angesicht auch,

Sie scheinen allein zu seyn, doch ahnen sie immer.

Denn ahnen ruhet sie selbst auch.

 

Jezt aber tagts! Ich harrt und sah es kommen,

Und was ich sah, das Heilige sei mein Wort.

Denn sie, sie selbst, die älter denn die Zeiten

Und über die Götter des Abends und Orients ist,

Die Natur ist jezt mit Waffenklang erwacht,

Und hoch vom Ather bis zum Abgrund nieder

Nach vestem Geseze, wie einst, aus heiligen Chaos gezeugt,

Fühlt neu die Begeisterung sich,

Die Allerschaffende wieder.

 

Und wie im Aug’ein Feuer dem Manne glänzt,

Wenn hohes er entwart; so ist

Von neuem an den Zeichen, den Thaten der Welt jezt

Ein Feuer angezündet in Seelen der Dichter.

Und was zuvor geschah, doch kaum gefühlt,

Ist offenbar erst jezt,

Und die uns lächelnd den Aker gebauet,

In Knechtsgestalt, sie sind bekannt,

Die Allebendigen, die Kräfte der Götter.

 

Erfrägst du sie? im Liede wehet ihr Geist,

Wenn es der Sonne des Tags und warmer Erd

Entwächst, und Wettern, die in der Luft, und andern

Die vorbereiteter in Tiefen der Zeit

Und deutungsvoller, und vernehmlicher uns

Hinwandeln zwischen Himmel und Erd und unter den Völkern.

Des gemeinsamen Geistes Gedanken sind,

Still endend in der Seele des Dichters.

 

Daβ schnellbetroffen sie, Unenddlichem

Bekannt seit langer Zeit, von Erinnerung

Erbebt, und ihr, von heilgem Stral entzündet,

Die Frucht in Liebe geboren, der Götter und Menschen Werk

Der Gesang, damit er beiden zeuge, glükt.

So fiel, wie Dichter sagen, da sie sichtbar

Den Gott zu sehen begehrte, sein Bliz auf Semeles Haus

Und die göttlichgetroffne gebahr,

Die Frucht des Gewitters, den heiligen Bachus.

 

Und daher trinken himmlisches Feuer jezt

Die Erdensöhne ohne Gefahr.

Doch uns gebührt es, unter Gottes Gewittern,

Ihr Dichter! mit entblösstem Haupte zu stehen,

Des Vaters Strahl, ihn selbst, mit eigner Hand

Zu fassen und dem Volk ins Lied

Gehüllt die himmlische Gaabe zu reichen.

Denn sind nur reinen Herzens

Wie Kinder, wir, sind schuldlos unsere Hände.

 

Des Vaters Stral, der reine versengt es nich

Und tieferschüttert, eines Gottes Leiden

Mitleidend, bleibt das ewige Herz doch fest.

(Theo bản trong Elucidations of Hölderlin)

Theo bản do Michael Hamberger trong Friedrich Hölderlin, Poems and Fragments nxb Anvil Press 2004, trang 462 dựa trên bản Groβe Stuttgarter Ausgabe do Friedrich Beissner biên tập.. Bài As on a holiday ở trang 402 khổ thứ 7 (stanza) có thêm phần sau đây:

Doch weh mir! Wenn von

Weh mir!

  Und sag ich gleich,

Ich sei genaht, die Himmlischen zu schauen,

Sie selbst, sie werfen mich tief unter die Lebenden

Den falschen Priester, ins Dunkel, daβ ich

Das warnende Lied den Gelehrigen singe.

Dort

 

b/ Bản dịch Anh văn của Michael Hamberger:

AS ON A HOLIDAY…

   As on a holiday, to see the field

A countryman goes out, at morning, when

Out of hot night the cooling flashes had fallen

For hours on end, and thunder still rumbles afar,

The river enters its banks once more,

New verdure sprouts from the soil,

And with the gladdening rain of heaven

The grapevine drips, and gleaming

In tranquil sunlight stand the trees of the grove:

   So now in favourable weather they stand

Whom no mere master teaches, but in

A light embrace, miraculously omnipresent,

God-like in power and beauty, Nature brings up.

So when she seems to be sleeping at times of the year

Up in the sky or among plants or the people,

The poets’ faces likewise are sad,

They seem to be alone, but are always divining,

For divining too she herself is at rest

 

   But now day breaks! I waited and saw it come,

And what I saw, the hallowed, my word shall convey,

For she, she herself, who is older than the ages

And higher than the gods of Orient and Occident,

Nature has now awoken amid the clang of arms,

And from high Aether down to the low abyss,

According to fixed law, begotten, as in the past, on holy Chaos,

Delight, the all-creative,

Delights in self-renewal.

 

   And as a fire gleams in the eye of that man

Who has conceived a lofty design,

Once more by the tokens, the deeds of the world now

A fire has been lit in the souls of the poets.

And that which happened before, but hardly was felt,

Only now is manifest,

And they who smiling worked our fields for us,

Assuming the shape of laboureurs, now are known,

The all-alive, all animating powers of the gods.

 

   Do you ask where they are? In song their spirit wafts

When from the sun of day and from warm soil

It grows, and storms that are in the air, and others

That, more prepared in the depths of time,

More full of meaning and more audible to us,

Drift on between Heaven and Earth and amid the peoples.

The thoughts of the communal spirit they are,

And quietly come to rest in the poet’s soul,

 

   So that quickly struck and long familiar

To infinite powers, it shakes

With recollection and kindled by

The holy ray, that fruit conceived in love, the work of gods and men,

To bear wirness to both, the song succeeds.

So once, the poets tell, when she desired to see

The god in person, visible, did his lightning fall

On Semele’s house, and the divinely struck gave birth to

The thunder-storm’s fruit, to holy Bachus.

 

   And hence it is that without danger now

The sons of Earth drink heavenly fire.

Yet, fellow poets, us it behoves to stand

Bareheaded beneath God’s thunder-storm,

To grasp the Father’s ray, no less, with our own two hands

And, wrapping in song the heavenly gift,

To offer it to the people.

For if only we are pure in heart,

Like children, and our hands are guiltless,

 

   The Father’s ray, the pure, will not sear our hearts

And, deeply convulsed, and sharing his sufferings

Who is stronger than we are, yet in the far-flung down-rushing storms of

The God, when he draws near, will the heart stand fast.

But, oh, my shame! when of

 

My shame!

 

   And let me say at once

 

That I approached to see the Heavenly,

And they themselves cast me down, deep down

Below the living, into the dark cast down

The false priest that I am, to sing,

For those who have ears to hear, the warning song.

There

         

         [Tuy Michael Hamberger là người được coi như sớm sủa nhất có công chuyển ngữ thơ của Hölderlin sang  Anh văn nhưng Paul de Man trong bài The Riddle of Hölderlin (1970) trong quyển Critical Writing 1953-1978 phê b́nh việc dịch thơ Hölderlin của Michael Hamberger khá nặng nề.]                             

         

         c/ Bản dịch Pháp văn của Gustave Roud

In trong Hölderlin, Œuvres, Gallimard “Bibliothèque de la Pléiade” trang 833:

COMME AU JOUR DU REPOS…

Comme au jour du repos un paysan s’en va

Voir ses champs au matin, quand de la haute nuit brûlante

Sans relâche ont jaillit les éclairs glacés, et sourdement

L’orage à l’horizon s’apaise et gronde encore,

Le fleuve redescend à ses rives, une fraîcheur

D’herbe verdit au sol, et la pluie du ciel, porteuse

De joie, goutte à chaque cep, et les arbres du bosquet luisent

Debout dans la paix du soleil:

 

Tels vous voici, debout sous les cieux favorables,

Vous non formés par un seul maître, ô vous qu’élève

Aux lacs légers de sa magique omniprésence,

Belle divinement, puissante, la Nature!

C’est pourquoi, lorsqu’elle semble au long d’une saison dormir

Dans le ciel, ou parmi les plantes ou les peoples,

Les poètes aussi s’endeuillent, ils paraissent

Abandonnés, et pourtant pressentent le future,

Comme il est pressenti par celle qui repose.

 

Mais le jour luit! Je l’ai vu poindre à la cime de mon attente.

Ah! que ce que je vis, le sacré, soit mon dire!

Car celle qui est plus vieille que le Temps, celle-là même

Qui domine les dieux de l’Orient et ceux du Soir,

La Nature! aujourd’hui dans un fracas d’armes s’est éveillée,

Et du haut de l’Éther au tréfonds de l’abîme, selon

L’impérissable loi, comme jadis du Chaos sacré jaillie,

L’inspiration se sent vierge refleurir,

Céatrice de toutes choses.

 

Et tel aux yeux de l’homme, quand il conçut

De hauts desseins, ce feu qui luit, tel à cette heure,

Né des signaux et des actes du monde, à nouveau

Un feu s’est allumé dans l’âme des poètes.

Ce qui advint jadis, mais fut à peine

Ressenti, maintenant paraît dans sa neuve évidence,

Et celles qui cultivèrent notre champ, souriantes sous leur servile

Déguisement, les voici reconnues, les toutes

Vivantes, les puissances mêmes des dieux!

 

Tu voudrais les saisir? Leur esprit souffle dans ce chant

Qui jaillit du soleil des jours et de la terre chaude,

Et les orages au haut des airs, et d’autres dans les abîmes

Du Temps plus longement mûris, chargés d’un sens

Plus lourd, plus clair à notre cœur, et qui suivent leur errante

Voie entre terre et ciel ou parmi les peuples.

Les pensées de l’Eaprit unanime s’achévent

En silence dans l’âme du poète,

 

Pour que cette âme, par elles brusquement

Frappée, et de l’Infini depuis un long temps connue,

Frémisse de souvenirs et qu’au feu de l’éclair sacré, son fruit

Né dans l’amour, l’œuvre des homes et des dieux, le

Chant trouve naissance

Heureuse, leur rendant un double témoignage.

Ainsi (dissent les poètes) le dieu qu’elle voulut dans sa splendeur

Contempler, fit choir sur le palais de Sémélé sa foudre

Et, divinement blessée, elle enfanta le fruit

De l’orage, l’être sacré, Bachus.

 

Et c’est pourquoi les fils de la terre maintenant

Au feu céleste sans peril trempent leur lèvre.

Mais c’est à nous pourtant qu’il appartient

De rester debout, tête nue, ô poètes!

Sous les orages de Dieu, de saisir de notre proper main

Le rayon du Père, l’éclair

Lui-même, et de tendre aux foules, sous son voile

De chant, le don du ciel.

Que notre cœur, comme un cœur d’enfant,

Soit pur, que soient nos mains vierges de fautes, le rayon

Du Père, le pur éclair ne nous brûlera point.

Et dans son ébranlement suprême, sa douleur à la douleur unie

D’un dieu, le cœur éternel restera ferme à jamais.

 

So với nguyên bản th́ bản dịch của Gustave Roud quá phóng túng, không tôn trọng cả số câu của khổ thơ lẫn

giọng điệu và nhịp điệu cũng như những từ khóa chủ yếu của Hölderlin.

 (c̣n tiếp)

đào trung đąo

                                      

 

http://www.gio-o.com/daotrungdao.html

 

 

© gio-o.com 2015