đào trung đạo

3-Zero

± triết học ± lư thuyết văn chương ± phê b́nh văn chương

≤ cùng một khác

(74)

 

 Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74,

 

   Trước khi đi đến kết luận tiếng nói tự sự là trung tính dựa trên những điều đă học hỏi được từ Kafka, Blanchot một lần nữa thấy cần phải làm rơ nghĩa hơn về cái “il/hắn”: “Cái “hắn” không chỉ lấy vị trí được chiếm giữ bởi một chủ từ theo như truyền thống, nó làm thay đổi, một sự làm đoạn rời di động, cái người ta hiểu là vị trí: nơi chốn cố định, độc nhất hay được xác định bởi sự xếp chỗ của nó. Chính ở đây phải nói lại (một cách không rơ ràng): cái “hắn”, di chuyển/lan tỏa về nhiều phía theo cái cách của một sự thiếu vắng trong sự đa tính đồng thời – sự lập lại – của một vị trí chuyển dịch và không được chiếm giữ một cách khác nhau, [sự thiếu hụt này] chỉ ra vị trí “của nó” vừa như vị trí nó luôn luôn bị mất và vị trí này như thế sẽ vẫn bỏ trống, nhưng cũng như một sự dư thừa vị trí, một vị trí luôn luôn thừa thăi: sự bội vị.”(1) Blanchot nói rơ hơn: “…kể chuyện đưa cái trung tính vào cuộc chơi. Việc kể chuyện do cái trung tính chủ tŕ được giữ dưới sự canh giữ/chừng của cái “il/hắn/nó”, cái ngôi thứ ba này không phải một người thứ ba, cũng chẳng phải là một sự che đậy đơn giản tính chất không ngôi vị. Cái “il/hắn” của việc kể chuyện ở chỗ cái trung tính nói, một cách tổng quát, không hài ḷng với việc chiếm chỗ chủ thể/từ đóng đô ở đó, dù cho nó có là một cái “tôi” được xưng hô hay hiểu ngầm hoặc có thể là biến sự như xảy ra trong ư nghĩa không ngôi vị. Cái “tôi” tự sự tiếm vị mọi chủ thể/từ, cũng theo như cách nó không chấp nhận  mọi hành động ngoại động [có bổ từ trực tiếp] hay mọi khả hữu tính khách quan. Dưới hai h́nh thức: 1) lời lẽ của truyện kể luôn luôn làm cho chúng ta cảm nhận được rằng cái kể ra không do một ai kể ra: lời lẽ này nói ở ngôi trung tính; 2) trong không gian trung tính của truyện kể, những kẻ mang vác lời nói, những chủ từ hành động – những kẻ đă chiếm vị trí những nhân vật – rơi vào một tương quan của việc không-dồng nhất với chính họ: có cái ǵ đó xảy đến với họ, họ chỉ thể nắm bắt lại trong khi buông bỏ cái quyền nói “tôi” của họ, và cái xảy đến với họ luôn luôn là đă xảy đến: họ chỉ thể xem xét nó một cách gián tiếp, như thể sự quên lăng chính bản thân họ, sự quên lăng này đem họ vào hiện tại không kư ức của cái hiện tại của lời kể chuyện.”(2) Blanchot minh định điều nói trên không có nghĩa truyện kể thiết yếu kể lại một biến cố đă bị quên đi hay dưới sự phụ thuộc của biến cố quên lăng là những cuộc sống hay những xă hội bị tách rời khỏi chính nó (tha hóa, như người đời vẫn thường nói thế) chuyển vận để t́m cách tự nắm bắt lại chính chúng như trong giấc ngủ mơ. Không phải vậy: chính v́ độc lập với nội dung của nó nên truyện kể bị quên lăng v́ vậy kể chuyện có nghĩa tự đặt ḿnh vào sự chứng thực của sự quên lăng đàu tiên trước đó, tạo nên và phá đổ mọi kư ức. “Theo nghĩa đó, kể chuyện là sự hành hạ của ngôn ngữ, sự t́m kiếm không ngưng nghỉ tính chất vô cùng tận của ngôn ngữ. Và truyện kể không là ǵ khác hơn một ám chỉ về cái đường ṿng vo khởi đầu mà văn tự/chữ viết mang trên vai lôi tuột nó đi, đường ṿng này làm chệch hướng văn tự/chữ viết và nó làm cho chúng ta khi viết tự nạp ḿnh cho một thứ chạy ṿng quanh măi măi.”(3)

   Nếu cho rằng viết là lập mối tương quan với đời sống th́ mối tương quan này là một tương quan ṿng quanh qua đó cái không đáng quan tâm được xác định. Theo Blanchot, cái “il” tự sự có mặt hay vắng mặt, tự khẳng định hay trốn chạy, dù cho ṇ có làm thay đổi hay không những qui ước viết (chẳng hạn kể chuyện theo đường thẳng, liên tục trước sau, viết cho người khác đọc được, th́ như thế chính cái “il” này đánh dấu sự xâm nhập của một cái/kẻ khác – được hiểu như trung tính – trong tính chất xa lạ không thể thu giảm được, trong tính chất ngang ngược xảo trá của nó. “Kẻ khác nói. Nhưng khi kẻ khác nói, chẳng c̣n có ai nói cả, bởi kẻ khác, chúng ta phải cẩn thận đừng có biểu dương [nó] bằng một chữ viết hoa xác định nó theo kiểu một thực thể oai nghiêm, như thể nó có một sự hiện diện thực chất nào đó, nghĩa là độc nhất, một cách chính xác nó [kẻ khác] măi măi không đơn giản chỉ chỉ là kẻ khác, kẻ khác đúng ra không phải là kẻ này hay kẻ kia, và cái trung tính đánh dấu nó rút nó lại khỏi cả hai [này/nọ], như trung tính làm với đơn nhất tính, luôn luôn thiết lập nó bên ngoài hạn từ, hành vi hay chủ từ/thể nơi ở đó nó có ư định hiến thân. Tiếng nói tự sự (tôi không nói là kể chuyện) từ đó trở đi nhận được chứng bệnh mất tiếng nói. Tiếng nói không có chỗ trong tác phẩm, nhưng nó cũng không chủ tŕ tác phẩm, chẳng thể rơi tơm xuống từ bầu trời nào đó dưới sự đảm bảo của một sự Siêu việt tối cao, cái “il” không phải là cái bao gồm/dung chứa của [hiểu theo] Jaspers (4), đúng ra nó như là sự trống rỗng trong tác phẩm – cái chữ-không có mặt như Marguerite Duras (M.D.) gợi ra ở một trong những truyện của bà, “một chữ-thủng, bị một cái lỗ khoét sâu ở trung tâm nó, từ cái lỗ này tất cả những chữ/từ khác bị chôn vùi vào đó”, và bản văn [nêu trên của M.D.] viết thêm: “Nguời ta không thể nói lên chữ đó [chữ thủng] nhưng người ta lại có thể làm nó vang lên – cùng khắp, không ngưng, một cái chiêng/cồng trống rỗng…”(trích trong Le Ravissement de Lol. V. Stein của M.D.). Đó chính là tiếng nói tự sự, một tiếng nói trung tính nói tác phẩm từ chốn không nơi chốn ở đó tác phẩm bặt lặng.”

   Sau khi kết luận “Tiếng nói tự sự là trung tính” (La voix narrative est neutre) Blanchot đưa ra những nét chính về Tiếng nói tự sự trung tính: Một mặt, tiếng nói này không nói ǵ hết không phải chỉ v́ nó không nói thêm vào cái phải nói ra (v́ nó chẳng biết ǵ) hơn nữa nó hiểu ngầm cái “không/rien” bằng cách bắt cái “không” ngậm/câm miệng ở chỗ lời nói đă nói cái phải nói ra, và như vậy trước hết nó không được nghe thấy và tất cả những ǵ cho nó có một thực tại riêng biệt đều là phản bội nó. Mặt khác, v́ nó không có sự hiện hữu của riêng nó cho nên nó không cất tiếng ở đâu cả, nó bị treo lửng trong toàn truyện kể, nhưng nó cũng lại không biến mất theo cách của ánh sáng là làm cái không nh́n thấy được thành nh́n thấy được: nó triệt để nằm bên ngoài, nó đến từ bên ngoài, “cái cơi ngoài là sự bí ẩn của riêng ngôn ngữ và văn tự” (ce dehors qui est l’énigme propre du langage et de l’écriture). Tiếng nói tự sự cũng c̣n có những nét, những đặc điểm,khác nữa, nhưng thật ra những nét này cùng là một, cùng giống nhau cả. Nó chỉ là ở trong truyện kể với tư cách là ở ngoài, ở xa không khoảng cách (à distance sans distance), nó không thể nội nhập dù cho nó cũng có thể vay mượn lời lẽ của một nhân vật được chọn lựa một cách đúng đắn hay ngay cả người viết có thể tạo một chức năng lai tạp (fonction hybride) cho một trung gian (tiếng nói tự sự phá hỏng mọi việc làm trung gian), tiếng nói được chọn lựa hay trung gian này luôn luôn khác với cái xướng lên/biểu đạt cao giọng về nó, nó là sự khác biệt-không khác biệt (différence-indifférente) làm cho tiếng nói người ta khác đi. “Chúng ta hăy gọi nó (một cách bay bướm) là như bóng ma )spectral), ma quái  (fantomatique). “Nó như vậy không phải nó đội mồ chui lên, cũng chẳng phải nó biểu trưng một lần cho măi măi một cái ǵ đó khuất mặt, nhưng chính v́ nó có khuynh hướng tự làm ḿnh khuất mặt trong cái mang nó theo và cũng luôn luôn xóa bỏ cái mang vác nó như một trung tâm, như vậy là trung tính trong cái ư nghĩa dứt khóat rằng nó không thể nào ở trung tâm, không thể tạo ra trung tâm, không cất tiếng từ một trung tâm, nhưng ngược lại [nó ở] giới hạn ngăn cản tác phẩm có trung tâm, thu rút từ tác phẩm mọi trung điểm đặc quyền lợi ích, dù cho lợi ích có là không có tính chất trung tâm (afocalité) đi nữa, và không cho phép tác phẩm hiện hữu như một toàn thể hoàn tất, hoàn tất một lần và măi măi.”(5)

 

Như chúng ta biết, với Blanchot người viết không bao giờ viết hay nh́n thấy tác phẩm, tác phẩm luôn luôn vắng mặt, viết có nghĩa là viết trong sự vắng mặt quyển sách (l’absence du livre) mà thôi. Nói khác đi viết cũng có nghĩa là viết quyển sách sẽ viết (le livre à venir), quyển sách chưa có. Viết có nghĩa sản xuất ra sự vắng mặt của tác phẩm, nghĩa là giải tác. Chung cuộc/sự chấm dứt của hành vi viết không nằm trong quyển sách, cũng không nằm trong tác phẩm, viết tác phẩm tức là đặt ḿnh dưới sức hút của sự vắng mặt tác phẩm.Về sự vắng mặt/khiếm diện của quyển sách Blanchot viết: “Sự vắng mặt quyển sách, không bao giờ cùng thời với quyển sách, không phải v́ sự vắng mặt này nói lên từ một thời gian khác, nhưng bởi tính chất không-cùng thời đến từ nó tuy nó cũng đến từ đó. Sự vắng mặt quyển sách, luôn luôn ở t́nh trạng chuyển chiểu, luôn luôn không có mối tương quan của sự có mặt với chính nó [sự vắng mặt quyển sách], thể như chẳng bao giờ được đón nhận trong tính chất đa dạng đoạn rời bởi chỉ một người đọc ngay lúc đó trong việc đọc của hắn, ngoại trừ nếu như, tới tận cùng giới hạn, cái hiện tại bị xé rách, bị can gián…Sự vắng mặt quyển sách: việc làm hư hoại trước đó của quyển sách, tṛ chơi của sự bất đồng đối với không gian nơi nó được ghi xuống; sự chết đi tiên khởi của quyển sách. Viết, mối tương quan với quyển sách khác mọi quyển sách, với cái trong quyển sách sẽ là sự hủy-ghi/viết xuống, sự bó buộc viết xuống bên ngoài diễn ngôn, bên ngoài ngôn ngữ. Viết ngoài lề của quyển sách, bên ngoài quyển sách.”(6)

 

   Tiếng nói tự sự luôn trầm ngâm, kéo/hút ngôn ngữ một cách xuyên xéo (obliquement) và gián tiếp, và để cho cái trung tính nói/cất tiếng dưới sự kéo/hút này. Blanchot xuyên suốt trong quan niệm văn tự, văn chương vượt khỏi/quá độ cả hữu lẫn không-hữu, không phơi mở và che dấu Hữu như Heidegger quan niệm. Blanchot viết: “Tiếng nói tự sự mang vác cái trung tính. Nó mang vác cái trung tính ở chỗ: 1) nói ở trung tính, có nghĩa là nói từ xa, trong khi duy tŕ khoảng cách này, không có sự làm trung gian cũng không có cộng đồng, và ngay cả khi giữ vững việc tạo khoảng cách vô tận của khoảng cách, tính chất phi đảo nghịch, phi trực tuyến hay bất đối xứng của nó, bởi v́ chính cái trung tính (người ta không thể trung tính hóa cái trung tính) là khoảng cách lớn nhất do bất đối xứng cai quản, mà không cho để cho yếu tố này hay yếu tố kia được đặc quyền; 2) lời nói trung tính không phơi mở cũng không che dấu. Điều này không muốn nói rằng tiếng nói trung tính không chỉ nghĩa ǵ hết (như thể có ư từ bỏ ư nghĩa dưới hạng không-ư nghĩa), điều này muốn nói rằng nó không chỉ nghĩa theo kiểu chỉ nghĩa của kiến-bất kiến, nhưng đúng ra nó mở ra trong ngôn ngữ một quyền năng khác, xa lạ với khả năng soi sáng (hay làm cho tối tăm), của sự am hiểu (hay của sự khinh miệt). Nó không chỉ nghĩa theo kiểu quang học; nó ở bên ngoài sự qui chiếu về ánh sáng-bóng tối, sự qui chiếu này dường như là sự qui chiếu tối hậu của mọi tri thức hay thông giao đến mức nó làm cho chúng ta quên bẵng đi rằng nó chỉ có giá trị của một ẩn dụ đáng tôn kính, nghĩa là không được tôn kính; 3) sự bó buộc của cái trung tính hướng tới việc treo lửng cấu trúc thuộc ngữ của ngôn ngữ, chính là cái tương quan với hữu, ẩn tàng hay minh nhiên được lập tức đặt ra trong những tiếng nói của chúng ta ngay khi một điều ǵ đó được nói ra…Nói thế khác, mọi ngôn ngữ đều bắt đầu bằng cách xướng/phát ngôn và, khi phát ngôn, tức là xác định rồi. Nhưng rất có thể rằng kể chuyện (viết), đó chính là kéo ngôn ngữ vào trong một khả hữu tính của việc nói, khả hữu tính này nói mà không nói [đến] hữu và cũng không phủ nhận hữu – hay để nhắc lại, cho rơ rệt hơn, quá rơ rệt, thiết định cái trung tâm của sức hút của lời nói ở đâu đó, nơi mà nói, đó sẽ không phải là xác định hữu và cũng không cần đến sự phủ nhận để treo lửng công việc/tŕnh của hữu, cái công tŕnh thường tự hoàn tất trong mọi h́nh thức biểu tả. Tiếng nói tự sự, dưới mối tương quan này, là có tính cách phê phán hơn hết, như nó có thể làm cho người ta nghe tiếng [dù cho] không được nghe thấy. Từ điều này chúng ta có khuynh hướng, khi nghe nó, th́ lẫn lộn nó với tiếng nói gián tiếp/xéo ngang của sự khốn khổ/bất hạnh hay tiếng nói gián tiếp/xéo ngang của sự điên cuồng.”(7)

____________________________

(1)     Maurice Blanchot, EI trang 563-564 (note 1): Le “il” ne prend pas simplement la place occupée traditionnellement par un sujet, il modifie, fragmentation mobile, ce qu’on entend par place: lieu fixe, unique ou déterminé par son emplacement. C’est ici qu’il faut redire (confusément): le “il”, se dispersant à la façon d’un manque dans la pluralité simultanée – la répétition – d’une place mouvante et diversement inoccupée, désigne “sa” place à la fois comme celle à laquelle il ferait toujours défaut et qui ainsi resterait vide, mais aussi comme un surplus de place, une place toujours en trop: hypertopie.

(2)     Sđd, 563-564: …raconter met en jeu le neutre. La narration que régit le neutre se tient sous la garde du “il”, troisième personne qui n’est pas une troisième  personne, ni non plus le simple couvert de l’impersonnalité. Le “il” de narration où parle le neutre ne se contente pas de prendre la place qu’occupe en général le sujet, que celui-ci soit un “je” declaré ou implicite ou qu’il soit l’événement tel qu’il a lieu dans sa signification impersonnelle. Le “il” narratif destitue tout sujet, de même qu’il désapproprie tout action transitive ou toute possibilité objective. Sous deux forms: 1) la parole du récit nous laisse toujours pressentir que ce qui se raconte n’est raconté par personne: elle parle au neutre; 2) dans l’espace neutre du récit, les porteurs de paroles, les sujets d’action – ceux qui tenaient lieu jadis de personages – tombent  dans un rapport de non-identification avec eux-même: quelque chose leur arrive, qu’ils ne peuvent ressaisir qu’en se désaisissant de leur pouvoir de dire “je”, et ce qui leur arrive leur est toujours déjà arrivé: ils ne sauraient en rendre compte qu’indirectement, comme de l’oubli d’eux-même, cet oubli qui les introduit dans le présent sans mémoire qui est celui de la parole narrante.

(3)     Sđd, 564: En ce sens, raconter est le tourment du langage, la recherche incessante de son infinité. Et le récit ne serait rien d’autre qu’une allusion au detour initial que porte l’écriture, qui la déporte et qui fait que, écrivant, nous nous livrons à une sorte de détournement perpétuel.

(4)     Karl Jaspers, Philosophie Bd.2, các Phần I, II & III. Japers cũng tŕnh bày tóm tắt về “l’englobant” trong quyển Einfûhrung in die Philosophie/ Nhập môn Triết học.

(5)     Maurice Blanchot, EI trang 566: Appelons-la (par fantasie) spectrale, fantomatique. Non pas qu’elle vient d’outre-tombe ni même parce qu’elle représenterait une fois pour toutes quelque absence essentielle, mais parce qu’elle tend toujours à s’absenter en celui qui la porte et aussi à l’effacer lui-même comme centre, étant donc neutre en ce sens decisif qu’elle ne saurait être centrale, ne crée pas de centre, ne parle pas à partir d’un centre, mais aussi au contraire à la limite empêcherait l’œuvre d’en avoir un, lui retirant tout foyer privilégié d’intérêt, fût-ce celui de l’afocalité, et ne lui permettant pas non plus d’exister comme un tout achevé, une fois

 et à jamais accompli.

(6)     Sđd, trang 626: L’absence de livre, jamais contemporaine du livre, non parce qu’elle s’annoncerait à partir d’un autre temps, mais parce que d’elle vient la non-comtemporanéité d’où cependant elle vient aussi. L’absence de livre, toujours en divergence, toujours sans rapport de présent avec elle-même, de sorte que jamais reçue dans sa pluralité fragmentaire par un seul lecteur dans son présent de lecture, sauf si, à la limite, le présent dechiré, dissuadé - … L’absence de livre: la détérioration antérieure du livre, son jeu de dissidence par rapport à l’espace où il s’inscrit: le mourir préalable du livre. Écrire, le rapport à l’autre de tout livre, à ce qui dans le livre serait dé-inscription, exigence scripturaire hors discours, hors langage. Écrire au bord du livre, en dehors du livre.

(7)     Sđd, trang 567.

     (c̣n tiếp)

     đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/daotrungdao.html

 

 

© gio-o.com 2015