đào trung đąo

3-Zero

±± triết học ±± lư thuyết văn chương ±± phê b́nh văn chương

≤≤ cùng một khác

(66)

 

 Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66,


Trung tính (Neutre)
: Trung tính giữ vị trí trung tâm tư tưởng của Blanchot. Về triết học (khái niệm Hữu trong hữu thể luận) cũng như về văn chương (khái niệm viết/văn tự) quan niệm về Trung tính của Blanchot đẩy những giới hạn khả hữu của diễn ngôn triết học và văn chương đi từ bất khả tính tới khả tính. Không thể đưa ra một định nghĩa cho Trung tính v́ Trung tính không phải là một ư niệm (concept). Tuy đă có những nét thấp thoáng về Trung tính ẩn hiện trong những bản văn của Blanchot viết trước năm 1960 (1) nhưng Blanchot chỉ thật sự khai triển tư tưởng về Trung tính từ những năm đầu thập niên 60, rơ nhất trong những quyển Entretien infini/Kết đàm Bất tận (tuy xuất bản năm 1969 nhưng là những bài viết từ đầu thập niên 60s), L’Amitié/T́nh thân hữu (1971), Le pas au-delà/Bước ra cơi ngoài (1973), và L’Écriture du désastre/Văn tự của Thảm họa (1980). Đọc những khai triển về Trung tính ở giai đoạn này ta có thể nhận ra tư tưởng của Blanchot đă có một bước ngoặt quan trọng. Bước ngoặt này là kết quả việc đối thoại,‘kết đàm’ không ngưng nghỉ với Heidegger, Bataille, Levinas, và Derrida. Cũng chính v́ điều này để đọc được Blanchot không thể không quen thuộc với những vấn đề triết học do Heidegger, Levinas, Bataille và Derrida đưa ra v́ Blanchot rất hiếm khi trực tiếp nêu tên những nhà tư tưởng ḿnh kết đàm: Blanchot là một “partenaire invisible/kẻ chung tay vô h́nh” như cách gọi tên sư phụ của đệ tử Christophe Bident. Thế nhưng, chung cuộc đối tượng phản biện chính của Blanchot vẫn là Heidegger.

   Vậy Trung tính là ǵ? Blanchot cho rằng chúng ta có thể không ngừng tra vấn về trung tính. Điều trước tiên chúng ta có thể thấy là trung tính được xác nhận trong một số văn phạm. Chữ to trong tiếng Hy Lạp có thể là một trong nhiều dấu chỉ khác chỉ ra sự quyết định của một ngôn ngữ mới sau đó được triết học thừa nhận (2) “nhưng với cái giá của cái trung tính dẫn nhập triết học vào ngôn ngữ đó” (mais au prix de ce neutre qui l’introduit). “Trung tính ở số ít chỉ danh/đặt tên sự vật nào đó trốn chạy khỏi sự chỉ danh, nhưng không làm ồn lên, cũng không là cái gây ồn ào của cái bí ẩn. Một cách khiêm tốn, một cách phớt qua, chúng ta gọi là sự vật. Sự vật: bởi, thật quá hiển nhiên, những sự vật thuộc vào một trật tự khác thế và rằng những sự vật đều là cái rất thân thuộc, điều đó làm chúng ta sống trong một môi trường của những sự vật, tuy chúng chẳng rơ rệt. Những sự vật được chiếu sáng, nhưng lại không để cho sự sáng tỏ đi qua, như thể chính chúng được tạo nên bởi những hạt ánh sáng, thu giảm ánh sáng vào sự mờ đục. Sự vật, cũng như cái nó [il trong tiếng Pháp], cũng như cái trung tính hay cơi ngoài, chỉ ra một đa tính, đa tính này có đặc điểm là tự biến thành số ít và v́ không hiện ra được nên ở nguyên trong cái không được xác định. Sự vật có chăng một tương quan với cái Trung tính: [đó là] một giả định quá đà và không thể chấp nhận, trong chừng mực cái trung tính không thể ngưng lại trong một danh từ đứng làm chủ từ, chủ từ này dù cho có tính tập thể, th́ vẫn có cái chuyển vận lộn ngược lại tất cả cái ǵ nó áp dụng cái yếu tính tức thời, ư nghĩa và định nghĩa của nó vào đó. “Sự vật có tương quan với Trung tính” [câu nói này] lập tức buộc chúng ta nghĩ rằng cái trung tính thay đổi tương quan thành không-tương quan, và Sự vật thành một sự vật khác , và cái trung tính biến thành không c̣n là cái Trung tính nữa, cũng không phải là cái trung tính hóa.”(3)

   Ở đây cần làm rơ quan niệm về chỉ danh/đặt tên của Blanchot v́ chỉ danh/đặt tên gắn liền với Trung tính. Đặt tên cho một sự vật có nghĩa sự vật này trước đó không có tên. Việc đặt tên cho sự vật đặt ra những vấn đề về mức độ đồng nhất giữa cái tên và sự vật và chính v́ sự đồng nhất này không có cơ sở hiển nhiên nên cái tên không đáng tin cậy hay là chung quyết như nó cho thấy. Thế nên cần đặt tên lại, cho sự vật một cái tên thứ nh́. Cái tên thứ nh́ là một sự thách thức đối với cái tên thứ nhất lần đầu đặt cho sự vật. Điều này chỉ ra việc đặt tên lại cũng có nghĩa xóa bỏ một cái tên. Theo luận lư th́ hành vi đặt tên là để đáp ứng sự vắng mặt một cái tên nên cần có một cái tên nghĩa là việc đặt tên tùy thuộc vào điều kiện nguyên ủy của tính chất không có tên. Nhưng luận lư này lại dẫn vào thế lưỡng nan (double bind): một mặt, đặt tên ngầm chứa sự khả hữu, sự cần thiết của việc đặt tên nói chung nếu không sẽ hoàn toàn không có cái tên, mặt khác, nguyên lư chủ tŕ của đặt tên lại là không có tên v́ vậy mối tương quan giữa cái tên và sự vật nó đặt tên lại chỉ thể là thứ cấp và tùy thuộc vào sự vật; nói thế khác, bất kỳ cái tên nào măi măi vẫn chỉ là một cái tên để gọi mà thôi. Cái tên đó rất có thể chỉ là tạm thời, được chấp nhận, hay cũng rất có thể là giả. Đây là một nan đề nền tảng (fundamental aporia) của việc đặt tên, nan đề này có ảnh hưởng tới mối tương quan giữa cái tên và sự vật nó qui chiếu. Quan trọng hơn cả trong trường hợp này là tính chất bền vững của diễn ngôn ư niệm (conceptual discourse) bị đặt thành vấn đề khiến người đọc không có một tiêu chí đáng tin cậy nào để dựa vào. Có thể nói việc gọi tên nằm giữa hai đối trọng với những điều kiện không thể thỏa hiệp. Ở thời điểm khi có yêu cầu đặt tên th́ những từ/chữ cần thiết được sử dụng để qui chiếu tới sự vật được đặt tên là đúng sự vật đó, nhưng liền ngay sau đó những từ/chữ này lại lâm vào t́nh trạng chênh vênh không hẳn đă nắm được hoàn toàn nhất tính (identity) của sự vật nằm trong cái tên như điều kiện để sử dụng. Trong chừng mực từ/chữ có ư nghĩa th́ từ/chữ lại thiết yếu là không có ư nghĩa. V́ vậy tính chất không có tên hóa ra lại là điều kiện tăng cường thay v́ giảm thiểu việc đặt của cái tên, và số phận của cái tên lại bị tính chất không có tên hủy hoại. Hệ quả là cái tên thiết yếu là tạm bợ và tùy tiện. Như vậy những cái tên đặt cho sự vật thay v́ cung cấp một điểm chốt vững chắc trong thực tại chúng lại chỉ đặt dấu vạch trong ngôn ngữ như một khả tính và sự cần thiết của một diễn tŕnh không ngừng trượt/lướt từ một từ/chữ này sang một từ/chữ khác. Từ thưở xa xưa Lăo Tử đă nhận thức được nan đề này khi cho rằng “danh khả danh vô thường danh”. Từ những nhận xét trên chúng ta có thể rút ra kết luận: ngôn ngữ luôn luôn có thể nói nhiều hơn hay ít hơn khả năng có thể nói, ngôn ngữ và ư nghĩa không bao giờ xứng hợp v́ vậy xảy ra t́nh trạng có rất nhiều chữ chỉ để biểu đạt một số ít ư nghĩa, và ngược lại cũng có quá nhiều ư nghĩa nhưng lại chỉ có không nhiều từ/chữ để biểu đạt. Blanchot mô tả sự kiện này bằng cách nói “sự vật trốn chạy việc đặt tên/chỉ danh” nhất là trong trường hợp cái Trung tính.

   “Trung tính, nếu như nó là trung tính, th́ nó sẽ là cái khuất diện trong khi lẩn mặt và lẩn mặt ngay đối với hành vi khuất diện, dù rằng không có cái ǵ hiện ra do từ cái biến mất, là một hậu quả được thu giảm vào sự vắng mặt của hậu quả: cái trung tính,  với sự biểu đạt của kiến-bất kiến, tính chất vẫn là không bằng nhau của cái bằng nhau, câu trả lời cho câu hỏi không kiên nhẫn (câu hỏi bất cẩn trong việc xếp loại và qui định từ trước trong khi phân đôi: cái nào trong hai cái?), nhưng lại là câu trả lời liền ngay sau đó và bằng một cách không cảm nhận được dù cho ngay khi hiện ra để đón nhận câu hỏi, câu trả lời này làm thay đổi cấu trúc của câu hỏi bằng sự từ chối không chỉ chọn lựa, mà c̣n tự đặt ḿnh dưới sự bất khả của một chọn lựa giữa hai hai cái: cái này hay cái kia, có hay không, này hay nọ, ngày hay đêm, thần linh hay con người. “Cái nào trong hai cái?” – “Chẳng cái này cũng không cái kia, cái kia, cái kia”, như thể Trung tính bao giờ cũng chỉ nói lên bằng tiếng vang, dù rằng trong khi làm lưu tồn cái kia bằng sự lập lại rằng sự khác biệt, luôn luôn có trong nơi cái kia, dù dưới h́nh thức của sự bất tận xấu xa, không ngừng kêu gọi, giống như sự lắc lư cái đầu của một kẻ được giao phó cho sự đong đưa lắc lư vĩnh viễn.”(4)

___________________________________

(1)     Theo Christophe Bident trong Maurice Blanchot, Partenaire invisible trang 434 khái niệm “Neutre/Trung tính” lần đầu xuất hiện trong bài viết “L’étrange et l’étranger/Sự xa lạ và kẻ xa lạ” của Blanchot đăng trong NNRF tháng Mười 1958.

(2)     Xem Martin Heidegger diễn giải cụm từ Hy Lạp to on/τ̣ ὄν trong Einführung in die Mataphysik, bản Anh văn Introduction to Metaphysics của Gregory Fried & Richard Pohl trang 33.

(3)     Maurice Blanchot, Le pas au-delà, trang 102: Le Neutre au singulier nomme quelque chose qui échappe à la nomination, mais sans faire de bruit, sans même le bruyant de l’énigme. Nous l’appelons, modestement, inconsidérablement, la chose. La chose: parce que, de toute évidence, les choses appartiennent à un autre ordre et que les choses sont ce qu’il y a de plus familier, nous faisant vivre dans un environnement de choses, sans que cependant elles soient transparentes. Les choses sont éclairées, mais ne laissent pas passer la clarté, fussent-elles elles-mêmes faites de grains de lumière, réduisant alors celle-ci à l’opacité. La chose, comme le il, comme le neutre ou le dehors, indique une pluralité qui a pour trait de se singulier et pour défaut de paraître se reposer dans l’indéterminé. Que la Chose ait rapport au Neutre: supposition outrancière et finalement irrecevable, mais dans la mesure où le neutre ne peut s’arrêter dans un nom sujet, celui-ci serait-il collectif, ayant aussi ce mouvement de détourner tout ce à quoi il s’appliquerait de son essence momentanée, de son sens et de sa définition. “La Chose a rapport au Neutre” nous oblige aussitôt à penser que le neutre change le rapport en non-rapport, et la Chose en autre chose et le neutre en ce qui ne saurait être le Neutre même, ni cela qui neutralize. 

(4)     Maurice Blanchot, Le pas au-delà, trang 107-108: Le Neutre, serait-il neutre, serait-il ce qui se dérobe en dérobant et dérobant jusqu’à l’acte de dérober, sans que rien apparaisse de ce qui par là disparaît, effet réduit à l’absence d’effet: le neutre, à l’articulation du visible-invisible, inégalité encore de l’égal, réponse à l’impatiente question (celle qui par avance classe et determine en divisant en deux, sans précaution: lequel des deux?), mais réponse qui aussitôt et insensiblement, tout en paraissant accueillir la question, en modifie la structure par le refus non seulement de choisir, mais de se soumettre à la possibilité d’un choix entre deux termes: tels que l’un ou l’autre, oui ou non, ceci ou cela, jour nuit, dieu ou homme, “Lequel des deux?” Neutre ne parlait jamais qu’en echo, cependant perpétuant l’autre par la répétition que la différence, toujours comprise en l’autre, fût-ce sous la forme du mauvais infini, appelle sans cesse, balancement de tête d’un home livré au branle éternel.

 

(c̣n tiếp)

           đào trung đąo

 

http://www.gio-o.com/daotrungdao.html

 

 

© gio-o.com 2015