
photo:https://frieze.com
ĐÀO TRUNG ĐẠO
gilles deleuze: triết học & không triết học
(Kỳ 35)
kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7, kỳ 8, kỳ 9, kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12, kỳ 13, kỳ 14, kỳ 15, kỳ 16, kỳ 17, kỳ 18, kỳ 19, kỳ 20, kỳ 21, kỳ 22, kỳ 23, kỳ 24, kỳ 25, kỳ 26, kỳ 27, kỳ 28, kỳ 29, kỳ 30, kỳ 31, kỳ 32, kỳ 33, kỳ 34, kỳ 35,
Chương VI
KHÁC BIỆT và LẬP LẠI
Deleuze chỉ ra mâu thuẫn của triết học hình dung về sự lập lại khi coi sự lập lại là đối tượng của hình dung có nghĩa không những hiểu lập lại theo nhất tính mà còn có nghĩa giải thích sự lập lại một cách phủ định. Deleuze giải thích: nhất tính của một khái niệm không đánh giá được một sự lập lại nếu như một sức mạnh của sự phủ nhận không đồng thời ngăn cản khái niệm biệt phân theo chức năng của phức tính (multiplicité) mà nó bao gồm. Như chúng ta biết, vật chất liên kết hai sự việc: làm cho một khái niệm thành nhất tính một cách tuyệt đối như những mẫu mực hiện hữu và ngăn cản khái niệm này biệt phân hơn nữa với lý do hoặc khái niệm vốn nghèo nàn hoặc khái niệm do trạng thái tự nhiên vô thức, vong thân của nó. Như thế vật chất là nhất tính của khái niệm nhưng lại như khái niệm bị vong thân, không có ý thức về mình, bị đặt ra ngoài bản ngã của nó. Deleuze chỉ ra: “Một điểm thiết yếu của hình dung là lấy một sự lập lại có tính vật chất và trần trụi làm kiểu mẫu, rằng lập lại được hiểu bằng cái Cùng một và được giải thích bằng sự phủ nhận. Thế nhưng có phải đây lại là một tương phản của hình dung không, phải chăng hình dung chỉ thể hình dung sự lập lại dưới những loại này, và nó không thể hình dung sự lập lại như vậy mà không có mâu thuẫn không? Bởi cái kiểu mẫu vật chất và trần trụi này, nói cho ngay, là không thể tư tưởng được. (Ý thức làm thế nào lại có thể hình dung vô thức khi mà chính nó chỉ có một sự hiện diện?)[35] Hơn nữa những yếu tố đồng nhất chỉ thể lập lại dưới điều kiện của sự độc lập giữa những “trường hợp”(des cas), của sự bất liên tục của những “lần”(des fois) cho thấy một trương hợp hay một lần chỉ thể xuất hiện khi một trường hợp hay một lần khác biến đi. Mâu thuẫn: sự lập lại trong hình dung rõ ràng bị ép phải tự hủy cùng lúc được tạo thành. Sự lập lại không thể nào tự nó tạo thành trong những điều kiện như vậy. “Thế nên, để hình dung sự lập lại, cần phải dựng lên đây đó những linh hồn chiêm ngưỡng, những cái tôi thụ động, những tổng hợp hình dung-ngầm, những hệ thống có khả năng thu gồm những trường hợp hay những yếu tố cái này trong cái kia, để sau đó tái lập trong một không gian hay một thời gian của sự duy trì thuộc về chính sự hình dung. Nghĩa là, những hậu quả của điều này thật rất quan trọng: mâu thuẫn này là một sự khác biệt, nghĩa là một sự biến đổi của linh hồn chiêm ngưỡng, và cả sự biến đổi của linh hồn này, sự biến đổi duy nhất là của nó sau khi nó chết đi, hóa ra sự lập lại vật chất nhất chỉ được tạo nên bởi và bằng trong một sự khác biệt, sự khác biệt được sự bao gồm rút ra, bởi và trong một linh hồn rút sự khác biệt ra từ sự lập lại. Vậy nên sự lập lại là được hình dung, nhưng dưới điều kiện của một linh hồn có một bản chất hoàn toàn khác, [một linh hồn] chiêm ngưỡng và thu rút, nhưng không là [một linh hồn] hình dung và được hình dung.”[36] Cần phải hiểu rằng sự thu rút không phải là ở bên ngoài cái nó thu rút hay sự khác biệt ở bên ngoài sự lập lại: khác biệt là phần toàn thể (partie integrante) của thu rút, phần tạo lập nên thu rút, là chiều sâu nếu không có thì sẽ không có lập lại trên bề mặt.
Nếu khác biệt nằm dưới sâu và lập lại nằm trên mặt, nhưng do đâu có sự khác biệt? Khác biệt là thu rút nhưng do đâu có sự thu rút? Phải chăng sự thu rút này chẳng phải chính nó là mức độ được thu rút nhất, ở cấp độ căng thẳng nhất của một quá khứ cùng hiện hữu với chính nó ở mọi cấp độ của sự dãn ra và đưới mọi mức độ? Đó là những câu hỏi Bergson nêu lên để đưa ra giả thiết về khác biệt. Như trước đã chỉ ra thì khác biệt là được rút ra từ sự lập lại trên bề mặt của những khoảnh khắc sao cho để phác họa ra một chiều sâu bằng không có sự lập lại. Với giả thuyết của Bergson giờ thì lập lại không phải là sự lập lại của những yếu tố hay những phần ngoại tại nối tiếp nhau nữa nhưng là những toàn thể (les totalités) cùng hiện hữu ở những cấp độ và mức độ khác nhau. “Khác biệt không còn là được thu rút từ một sự lập lại sơ đẳng, mà nó là ở giữa những mức độ và những cấp độ của một sự lập lại luôn hoàn toàn và toàn thể hóa; nó di dời và giả dạng từ mức độ này qua mức độ kia, mỗi mức độ gồm những cá biệt thể của nó như những điểm được dành riêng là những điểm của riêng nó.”[37] Chính khác biệt là ở giữa hai sự lập lại: lập lại thứ nhất trên bề mặt của những yếu tố ngoại tại đồng nhất và tức thời nó thu rút và sự lập lại sâu thẳm những toàn thể nội tại của một quá khứ luôn biến đổi mà sự lập lại ở mức độ thu rút nhất. Cũng vậy sự khác biệt có hai khuôn diện, hay nói thế khác, tổng hợp của thời gian (synthèse du temps) có hai khía cạnh: khuôn mặt thứ nhất là Habitus (hệ thống của một tính cách được nhân hóa và những khuynh hướng xác định một cá nhân nhận ra và đáp ứng thế giới) được hướng về sự lập lại đầu tiên mà nó làm cho khả hữu, khuôn mặt thứ nhì là Mnemosyne (nữ thần ký ức) được dâng tặng cho sự lập lại thứ nhì mà từ đó nó rút ra.
Deleuze cho rằng ký ức là khuôn diện thứ nhất trong đó hiện ra những tính chất đối nghịch của hai thứ lập lại: sự lập lại thứ nhất là sự lập lại của cái cũng vậy (répétion du même) và nó chỉ có sự khác biệt đã bị thu rút, còn sự lập lại thứ nhì là của cái Khác biệt và bao gồm sự khác biệt. Xếp theo từng cặp những tính chất đối nghịch của sự lập lại thứ nhất với sự lập lại thứ hai ta có bảng đối chiếu sau đây:
· có hạn từ (termes) và những vị trí cố định vs thiết yếu bao gồm di dời và giả dạng,
· phủ định và vắng mặt vs xác dịnh và quá độ;
· của những yếu tố, những trường hợp, những lần, những thành phần ngoại tại vs của những toàn thể biến thiên, những mức độ và cấp độ;
· liên tục trong thực tế vs cùng hiện hữu trên nguyên tắc;
· tĩnh vs động;
· trải rộng vs cường lực;
· bình thường vs rõ rệt và có những cá biệt;
· hoành vs tung;
· được khai triển và phải được giải thích vs được bao gồm và phải được diễn giải;
· là sự lập lại của sự bằng nhau và của sự đối xứng trong hiệu quả vs không bằng nhau như bất đối xứng trong nguyên nhân;
· chính xác và do cơ động vs do chọn lựa và sự tư do;
· là một sự lập lại trần trụi chỉ thể được che đậy sau đó vs là một sự lập lại được che đậy bởi những mặt nạ, những di dời và những giả trang.
Từ việc đặt những tính chất này đối nghịch nhau Deleuze rút ra hai hậu quả nhằm đưa ra quan niệm về khác biệt và lập lại của mình: Trước hết, do đồng thời và từ cùng một điểm nhìn (quan điểm) người ta có ý định hiểu sự lập lại bằng cái Cùng một và giải thích lập lại một cách tiêu cực, phủ nhận. Vì thế ở đây có một sự phản nghĩa (contresens) đối với triết học về sự lập lại. Phản nghĩa này tương ứng y hệt với phản nghĩa làm cho triết học về sự khác biệt bị tổn thương. Thật thế, khái niệm khác biệt đã được định nghĩa bằng cái cách thế nó được ghi dấu trong khái niệm nói chung: khái niệm về khác biệt đã bị nhầm lẫn với một sự khác biệt đơn giản có tính chất khái niệm; sự khác biệt như vậy được hiểu trong nhất tính, khái niệm nói chung được coi là nguyên lý nhất tính như được triển khai trong hình dung. Cũng như vậy sự lập lại về phần nó chỉ còn được định nghĩa như một sự khác biệt không có khái niệm (une différence sans concept) và dĩ nhiên định nghĩa này tiếp tục giả thiết nhất tính của khái niệm cho cái được lập lại. Thế nhưng, thay vì đưa khác biệt vào trong khái niệm định nghĩa này lại đặt sự khác biệt ra ngoài như một sự khác biệt có hình thức của một sự khác biệt bằng số (différence numérique), và cũng đặt chính khái niệm ra khỏi chính nó như hiện hữu trong bao nhiêu thí dụ như có trong bấy nhiêu lần hay trường hợp phân biệt nhau về con số. Định nghĩa này cũng viện dẫn một lực ngoại tại tức là một hình thức của ngoại tại tính để đặt khác biệt ra khỏi khái niệm nhất tính và rồi đặt khái niệm nhất tính ra khỏi chính nó bằng cách chặn đứng việc chuyên biệt hóa (spécification) của nó. Việc này cũng như trước đây người ta đã viện dẫn một lực nội tại hay một hình thức của nội tại tính để đặt khác biệt vào khái niệm và đặt khái niệm vào chính khái niệm thông qua một chuyên biệt hóa liên tục. Như thế đúng là “đồng thời” và “ở cùng một điểm nhìn” nhất tính được giả thiết của khái niệm đã thống hợp (intégrer) và nội nhập (intérioriser) sự khác biệt như sự khác biệt có tính chất khái niệm (différence conceptuelle), và ngược lại, sự lập lại như sự khác biệt tương liên (différence corrélative) nhưng không có khái niệm được giải thích một cách phủ quyết. “Tuy nhiên, nếu tất cả được nối kết trong chuỗi phản nghĩa, tất cả cũng phải được nối kết trong sự điều chỉnh sự khác biệt và sự lập lại. Ý niệm không phải là khái niệm; nó phân biệt với nhất tính của khái niệm, cũng như phức tính biệt phân vĩnh viễn là xác định một cách vĩnh viễn; thay vì hình dung sự khác biệt bằng cách làm nó phụ thuộc vào khái niệm nhất tính, và kế đến là vào sự tương tự của tri giác, vào sự đối nghịch của những thuộc tính, vào loại suy của phán đoán, ý niệm giải phóng sự khác biệt, và làm cho nó tiến hóa trong những hệ thống tích cực ở đó cái khác biệt liên quan tới cái khác biệt, tạo nên sự di tâm, sự chênh lệch, sự làm khác nhau ngang với những đối tượng của sự xác định đập vỡ cái khung của sự hình dung khái niệm. Tuy vậy, sự lập lại có những sức mạnh của di dời và giả trang, cũng như sự khác biệt có sự làm phân biệt và làm ly tâm. Cái này thuộc về Ý niệm chẳng kém cạnh gì cái kia, bởi Khái niệm cũng chẳng có cái bên trong hay cái bên ngoài (nó là một erewhon).[38] Deleuze khẳng định Ý niệm coi khác biệt và lập lại cùng là một vấn đề. Ngoài ra Ý niệm còn có một sự quá độ riêng của nó làm cho khác biệt và lập lại thành một đối tượng tổ hợp, là cái “đồng thời” (simultané) của Ý niệm. Chính vì sự quá độ của Ý niệm này mà khái niệm hưởng lợi vô tội vạ vì thế nó cũng phản bội và làm mất bản chất sự quá độ này: thật thế, khái niệm phân chia quá độ có tính cách ý niệm ra hai phần, phần của khác biệt có tính chất khái niệm và phần của khác biệt không có khái niệm, nghĩa là phần của trở thành-ngang nhau (devenir-égal) hay trở thành như nhau (devenir-semblable) đối với chính nhất tính riêng của khái niệm, và phần của điều kiện do không có tiếp tục việc gỉa thiết cùng một nhất tính này, nhưng phần này bị chặn lại. Cái chặn khái niệm lại này không phải một sự thiếu hụt, một cái đối nghịch, cũng không phải là một sự giới hạn trên danh nghĩa (limitation nominale) của khái niệm, cũng không phải là một sự vô tình tự nhiên của không gian và thời gian, càng không phải là một đối nghịch có tính cách tinh thần (opposition spirituelle) của vô thức. “Luôn luôn chính là sự quá độ của Ý niệm tạo nên tính chất tích cực thượng đẳng làm khái niệm dừng lại, hay lật ngược những bó buộc của hình dung. Và chính cũng đồng thời, cùng ở một điểm nhìn mà sự khác biệt không còn bị thu giảm vào một thứ khác biệt chỉ có tính chất khái niệm một cách đơn giản, và rằng sự lập lại nối thật sâu với sự khác biệt, và đồng thời tìm được một nguyên lý tích cực cho chính nó và cho mối dây này. (Bên ngoài ký ức, chính là sự nghịch lý thấy rõ của bản năng của chết, rằng, mặc dù cái tên của nó, với chúng ta dường như ngay từ đầu như được phú cho có một chức năng kép: biết trong sự lập lại có tất cả sức mạnh của cái khác biệt và, đồng thời, cứu xét sự lập lại một cách tích cực hơn, quá độ hơn.”[39]
________________________________
[35] DR trang 366: Il appartient essentiellement à la représentation de prendre pour modèle une répétition matérielle et nue, qu’elle comprend par le Même et qu’elle explique par le négatif. Mais n’est-ce pas là encore une antinomie de la représentation, qu’elle ne puisse se représenter la représentation que sous ces espèces, et poutant qu’elle ne puisse pas, sans contradiction, la représenter ainsi? Car ce modèle matériel et nu est, à proprement parler, impensable. (Comment la conscience pourrait-elle se représenter l’inconscient, lui qui n’a qu’une présence?)
[36] DR trang 366: C’est pourquoi, a fin de représenter la répétition, il faut installer çà et là des âmes comtemplatives, des moi passifs, des synthèses sub-représentatives, des habitus capables de contracter les cas ou les éléments les uns dans les autres, pour les restituer ensuite dans un espace ou un temps de conservation propres à la représentation même. Or, les conséquences en sont très importantes: cette contraction étant une différence, c’est-à-dire une modification de l’âme contemplative, et même la modification de cette âme, la seule modification qui soit la sienne après laquelle elle meurt, il apparaît que la répétition la plus matérielle ne se fait que dans une différence qui lui est soutirée par contraction, par et dans une âme qui soutire une différence à la répétition.
[37] DR trang 367: La différence n’est plus soutirée à une répétition élémentaire, elle est entre les degrés ou niveaux d’une répétition chaque fois totale et totalisante; elle se déplace et se déguise d’un niveau à l’autre, chaque niveau comprenant ses singularités comme point priviligiés qui lui sont propre.
[38] DR trang 368-369: Or, si tout est lié dans cet enchaînement de contresens, tout doit être lié aussi dans le redressement de la différence et de la répétition. L’Idée n’est pas le concept; elle se distingue de l’identité du concept, comme la multiplicité differentielle éternellement positive; au lieu de représenter la différence en la subordonnant au concept identique, et par suite à la resemblance de la perception, à l’opposition de prédicats, à l’analogie du jugement, elle la libère, et la fait évoluer dans des systèmes positifs où le différent se rapport au différent, faisant du décentrement, de la disparité, de la divergence autant d’objets d’affirmation qui brisent le cadre de la représentation conceptuelle. Or, la répétition a pour puissance le déplacement et le déguisement, autant que la différence a la divergence et le décentrement. L’une n’appartient pas moins que l’autre à l’Idée car l’Idée n’a pas plus de dedans que dehors (elle est un erewhon).
[39] DR trang 369: C’est toujours l’excès de l’Idée qui constitue la positivité supérieure arrêtant le concept, ou renversant les exigences de la représentation. Et c’est en même temps, c’est du même point de vue que la différence cesse d’être réduite à une différence simplement conceptuelle, et que la répétition noue son lien le plus profond avec la différence et trouve un principle positif à la fois pour elle-même et pour ce lien. (Au-delà de la mémoire, c’était le paradoxe apparent de l’instinct de mort, que, malgré son nom, il nous apparaît dès le début comme doué d’une double fonction: comprendre dans la répétition toute la force du différent et, en même temps, rendre compte de la répétition de la manière la plus positive, la plus excessive.)
(còn tiếp)
đào trung đạo