photo:https://frieze.com



ĐÀO TRUNG ĐẠO

gilles deleuze: triết học & không triết học

(Kỳ 26)

 

Chương V

NHÂN VẬT KHÁI NIỆM

kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7, kỳ 8, kỳ 9, kỳ 10,  kỳ 11,  kỳ 12, kỳ 13, kỳ 14, kỳ 15, kỳ 16, kỳ 17, kỳ 18, kỳ 19, kỳ 20, kỳ 21, kỳ 22, kỳ 23, kỳ 24, kỳ 25, kỳ 26,

 


DELEUZE và PLATON, KANT, HEGEL

platon

   Theo Deleuze, biện chứng của Platon có thể tóm lược trong bốn hình thái: chọn lựa sự khác biệt (la sélection de la différence), tạo lập một vòng tròn huyền thoại (l’instauration d’un cercle mythique, thiết định một nền tảng (l’établissement d’une foundation), và đưa ra một liên hợp câu hỏi-vấn đề (un complexe question-problème). Trong chủ thuyết Platon liên hợp câu hỏi-vấn đề có một dạng thức mới khi Platon cho rằng Ý niệm là tiêu chí cho sự chọn lựa và cũng là một hình thức câu hỏi đặc biệt. Trong quyển Phèdre để củng cố cho quan niệm về chọn lựa Platon mô tả sự xoay vòng (circulation) của những linh hồn trước khi nhập thế vốn mang theo ký ức về những Ý niệm mà những linh hồn này kiếp trước đã chiêm ngưỡng. Như thế đây là sự chiêm ngưỡng có tính chất huyền thoại. Chính bản chất hay mức độ của sự chiêm ngưỡng này, chính loại cơ hội thiết yếu cho việc nhớ lại này qui định trật tự và giá trị những sự khác biệt để phân biệt được kẻ nào là yêu giả dối, kẻ nào là người có ý hướng tới (prétendant) thực sự, đâu là những đối thủ, những kẻ giả danh. Huyền thoại được Platon cho vai trò chứng thực nền tảng. Do đó phương pháp biện chứng của Platon là biện chứng của sự cạnh tranh, đối địch (amphisbetesis) chứ không phải biện chứng của mâu thuẫn (antiphasis).

   Theo Deleuze lật ngược chủ thuyết Platon  có nghĩa trả lời những câu hỏi: làm thế nào phân biệt được những cái hiện ra (appearances) mà không đặt chúng tùy thuộc vào Ý niệm? Hay nói cách khác ta có thể tư tưởng  và loại bỏ hình ảnh tư tưởng độc đoán mà không cần đến Ý niệm? Ý niệm của Platon là một dụng cụ chính trị, một khái niệm luân lý, và một lý tưởng thẩm mỹ nên khi lật ngược chủ nghĩa Platon thì phải thay thế bằng hình ảnh tư tưởng và những khái niệm nào? Khởi đi từ nhận xét muốn lật ngược chủ nghĩa Platon phải bắt đầu từ chính bản văn của Platon, nhất là trong quyển Sophiste khi Platon cho thấy nghệ thuật của nhà quỉ biện rất gần với nghệ thuật của triết gia thực sự.Từ điều này ta có thể suy ra không có tiêu chí tuyệt đối để phân biệt hình ảnh với giả hình/tượng. Trong đối thoại của Platon ta cũng nhận thấy có sự riễu cợt (ironie), nhạo báng được đẩy tới những giới hạn trở thành sự hài hước (humeur). Deleuze nêu thắc mắc: Làm sao giải thích được trong ba tác phẩm của Platon Phèdre, Politique, và Sophiste quyển sau cùng Platon lại không sử dụng tới huyền thoại? Deleuze trả lời: “Lý do cũng đơn giản thôi. Đó là, trong quyển Sophiste, phương pháp phân chia được dùng một cách nghịch lý không phải để đánh giá những kẻ thật sự có ý định nhưng ngược lại để truy lùng kẻ có ý định giả mạo như thế, để định nghĩa hữu (hay đúng ra không-hữu) của giả hình/tượng. Chính nhà quỉ biện là hữu của của giả hình, con quái vật nửa người nửa thần linh hay con quái vật nửa người nửa ngựa, kẻ Luôn biến đổi không, ngừng bí mật can thiệp vào chuyện người khác, xen vào khắp nơi. Nhưng theo nghĩa này, rất có thể là kết thúc của quyển Sophiste chứa đựng cuộc phiêu lưu kỳ thú của chủ thuyết Platon: để cố mà tìm ra phía tới giả hình và để chăm chú nhìn vực thẳm của nó. […] định nghĩa cuối cùng về người quỉ biện dẫn chúng ta tới điểm ở đó chúng ta không còn thể phân biệt ông ta [Platon] với Socrates nữa: kẻ riễu cợt tác hoạt riêng tư bằng những biện giải ngắn gọn. Có cần đẩy sự riễu cợt tới đó không? Và có phải Platon là người đầu tiên đã chỉ ra hướng để lật ngược chính chủ thuyết Platon?”[187] Hơn nữa chủ thuyết Platon “Chủ thuyết Platon là Cuộc Phiêu lưu triết học được tiếp tục trong chủ thuyết tân-Platon. Nghĩa là nó đối chất sự ngụy biện như kẻ thù của nó, nhưng cũng như giới hạn của nó và cái kép của nó: bởi vì nó có tham vọng về tất cả hay về bất cứ cái gì [cho nên] nhà ngụy biện rất có nguy cơ làm xáo trộn việc chọn lựa, làm cho phán đoán hư hoại.”[188] Hay nói như Salomon Maimon (1753-1800): Chủ thuyết Platon phơi lộ một sức mạnh nó không dung chứa nổi. Chịu ảnh hưởng Maimon nên Deleuze lấy khởi điểm của việc lật ngược chủ thuyết Platon ngay trong lòng chủ thuyêt này. Miguel de Beistegui nhận định: “Thế nên sách lược của Deleuze không phải là xây dựng một hệ thống tư tưởng nằm bên ngoài chủ thuyết Platon. Thay vì vậy, đó chính là bày ra sự lật ngược xảy ra ngay chính từ lúc chủ thuyết này được dựng lên, và xem xét toàn bộ hệ thống chính từ điểm nhìn của giả tượng.”[189] Daniel W. Smith trong The Concept of Simulacrum/Khái niệm Giả tưởng cho rằng việc lật ngược chủ thuyết Platon của Deleuze đã “như một một một trẻ trung hóa và ngay cả là một hoàn tất chủ thuyết Platon.” Ngoài ra cũng nên xét việc lật ngược chủ thuyết Platon thực ra được dẫn khởi từ những triết gia hậu-Platon, nhất là từ những chủ thuyết duy nhiên (naturalismes) của Lucrèce và chủ nghĩa khắc kỷ (Stoicisme).

   Deleuze lật ngược chủ thuyết Platon để sáng tạo hai khái niệm chủ vị Khác biệt (Différence) và Lập lại (Répétition). Nếu coi quyển Différence et Répétition của Deleuze là đối trọng của quyển Sein und Zeit/Hữu và Thời của Heidegger thì có thể nói Différence/Khác biệt chính là HữuRépétition/Lập lại chính là Thời. Deleuze chủ trương một triết học của sự trở thành thuần túy, giải phóng triết học khỏi hình ảnh tư tưởng siêu vượt độc đoán và quyền lực của phán đoán, tức của Ý niệm và luận lý nhất thể (logic of identity). Deleuze xóa bỏ hệ thống dung tượng (système de représentation) vốn do hệ hình sao chép, tương tự và gia nhập của Platon và thay bằng hệ thống của sự khác biệt và lập lại. Theo gót Nietszche trong nỗ lực lật ngược chủ thuyết Platon bằng khái niệm Qui hồi Vĩnh cửu (Éternel Retour), Deleuze cho rằng khái niệm qui hồi vĩnh cửu có thể dủng để lật ngược dung tượng và triệt hủy tượng hình thần linh và kiểu mẫu trong chủ thuyết Platon cũng như chỉ ra những ảo tưởng của cái Cùng Một được coi như nguồn gốc và cơ sở của mọi vật, là Hữu của những hữu. Deleuze khẳng định: “Trở lại là hữu, nhưng chỉ là hữu của trở thành. Qui hồi vĩnh cửu không mang cái “cùng một” trở lại, nhưng trở lại tạo lập cái Cùng Một duy nhất của cái trở thành. Trở lại, đó chính là cái trở thành-đồng nhất của chính sự trở thành. Như thế qui hồi là nhất tính độc nhất, nhưng là nhất tính như quyền lực thứ nhì, nhất tính của sự khác việt, cái đồng nhất được cho là của cái khác biệt, xoay quanh cái khác biệt. Một nhất tính như vậy, được sản xuất bởi khác biệt, được xác định như “sự lập lại”.[189]

kant

Tuy trong bài Tựa chuyên luận La Philosophie critique de Kant/Triết học phê bình của Kant (1963) Deleuze tuyên bố: “Quyển sách của tôi về Kant…Tôi đã viết quyển này như một quyển sách về một kẻ thù” nhưng thật ra sau chuyên luận này Deleuze đã nhiều lần quay lại Kant, coi Kant là bạn hơn là thù và có sự trọng thị và ngưỡng mộ đáng kể. Deleuze đặc biệt thích quyển Phê bình Phán đoán của Kant. Vì chuyên luận La Philosophie critique de Kant như tên gọi Deleuze phải bao quát cả ba quyển Phê bình (Phê bình Lý trí thuần túy, Phê bình Lý trí thực hành và Phê bình Phán đoán) nên điểm chính của quyển này là nói về phương pháp siêu nghiệm của Kant. Dekeuze chỉ ra đó là một phê bình nội tại tức là chính lý trí phê bình lý trí. Phương pháp này nhằm qui định bản chất thực sự những cứu cánh của lý trí. Vì sự giới hạn của chuyên luận La Philosophie critique de Kant cho nên đồng thời khi quyển này ra mắt Deleuze cho đăng bài viết Ý niệm Nguồn gốc trong Thẩm Mỹ Luận của Kant trên Revue d’esthétique vol.XVI, no.2,1963.[190] Điểm quan trọng trong bài này: Deleuze cho rằng chính Kant là người đã đặt nền tảng cho chủ nghĩa lãng mạn. Những diễn giải và phê bình chính yếu về Kant của Deleuze nằm rải rác suốt trong Différence et Répétition (1969). Với tham vọng đặt cơ sở cho Empiricisme transcendental/Thuyết duy nghiệm siêu nghiệm tất nhiên Deleuze phải “chạm trán/đối thoại” với chủ thuyết duy tâm siêu nghiệm (Idéalisme transcendental) của Kant. Deleuze cũng đã dành bốn buổi giảng dạy ở đại học Vincennes (1978) để nói về Kant, nhấn mạnh đến khái niệm thời gian đầy sáng tạo của Kant. Trong Qu’est-ce que la Philosophie?(1991) Deleuze và Guattari cũng nhiều lần nhắc tới Kant. Sau hết trong Critic et Clinique (1993) không lâu trước khi tự sát Deleuze đã “tóm lược triết học Kant” bằng bốn câu nói của Shakespeare (1), Rimbaud (2) và Kafka (1).[191]

   Một cách thật khái quát mục tiêu chính yếu của Kant trong Phê bình Lý trí thuần túy là phá bỏ giả định duy lý cho rằng tư tưởng thiết yếu tương xứng với hữu, hiện hữu có nghĩa được quan niệm trong khái niệm của trí tuệ vô hạn của Thượng đế  đem hiện hữu vào hữu. Chủ thuyết duy lý cổ điển này đưa ra một nguyên ủy luận (genesis) về hữu và về sự xác định của hữu. Kant ngược lại chủ trương một thuyết duy tâm siêu nghiệm (idéalism transcendental) phủ nhận nguyên ủy luận và xác định hữu của thuyết duy lý. Theo Kant, tư tưởng hữu hạn của con người không những không tương xứng với hữu mà còn không thể chắc chắn rằng có một trí tuệ vô hạn có thể tạo ra, xác định, và hoàn toàn thấu hiểu hữu. Tuy nhiên Kant cho rằng đầu óc con người có một ý niệm (idée) về một trí tuệ như vậy và những ý niệm về hữu được tạo ra và được hoàn toàn xác định: đó là “những ý niệm siêu nghiệm” (idées transcendentales) theo cách gọi của Kant. Nhưng những ý niệm này chỉ thể được suy tưởng chứ không thể được nhận biết. Trí tuệ con người không phải như ý niệm của một trí tuệ vô hạn có khả năng sản xuất những đối tượng khi suy tưởng, trí tuệ con người “chỉ thể tư tưởng” và áp dụng những khái niệm của nó vào những sự vật có thật tác động nó từ ngoại giới nên Kant đưa ra phương cách áp dụng khái niệm vào trực giác bằng những phạm trù (catégories) là những khái niệm tiên thiên thuần túy. Những phạm trù này không sản sinh hữu cũng không xác định hữu một cách nội giới. Những phạm trù được áp dụng từ bên ngoài vào sự vật có thật, qui định sự vật này như “đối tượng nói chung” có thể hình dung và nhận biết được. Thế nên định vấn đề là áp dụng những khái niệm vào vật chất được trực giác để nó thành một đối tượng của kinh nghiệm khả hữu. Và Kant cho rằng đối với con người vấn đề nguyên ủy và sự xác định nội giới của hữu là không thể tiếp cận và cứ phải để chúng là không thể qui định được như vậy.

___________________________________

[187] Gilles Deleuze, Logique du Sens trang 295: Pourtant comment expliquer que, des trois grands textes sur la division, le Phèdre, le Politique et le Sophiste, ce dernier ne présente aucun mythe fondateur? La raison est simple. C’est que, dans le Sophiste, la méthode de division est paradoxalement employée non pas pour évaluer les justes prétendants mais au contraire pour traquer le faux prétendant comme tel, pour définir l’être (ou plutôt non-être) du simulacre. Le sophiste lui-même est l’être du simulacre, le satyre ou centaure, le Protée qui s’immisce et s’insinue partout. Mais en ce sens, il se peut que la fin du Sophiste contienne l’aventure la plus extraordinaire du platonisme: à force de chercher du côté du simulacre et de se pencher sur son abîme […] La définition finale du sophiste nous mène au point où nous ne pouvons plus le distinguer de Socrate lui-même: l’ironiste opérant en privé par arguments brefs. Ne fallait-il pas pousser l’ronie jusque-là? Et que Platon le premier indiquât cette direction du renversement du platonisme?

[188] Gilles Deluze, Critique et Clinique trang 170: Le Platonisme est l’Odyssée philosophique qui se continue dans le néoplatonisme. Or il affronte la sophistique comme son ennemi, mais aussi comme sa limite et son double: parce qu’il  prétend à tout ou à n’importe quoi, le sophiste risque fort de brouiller la sélection, de perverter le jugement.

[189] Miguel de Beistegui, The Deleuzian Reversal of Platonism trong The Cambridge Companion to Deleuze trang 63: Deleuze’s strategy, then, is not to construct a system of thought outside Platonism. Rather, it is to show that its reversal takes place at the very moment at which it is set up, and to see the entire system from the point of view of the simulacrum itself.

[189] Gilles Deleuze, Différence et Répétition trang 59: Revenir est l’être, mais seulement l’être du devenir. L’éternel retour ne fait pas revenir “le même”, mais le devenir-identique du devenir lui-même. Revenir est donc la seule identité, mais l’identité comme puissance seconde, l’identité de la différence, l’identique qui se dit du différent, qui tourne  autour du différent. Une telle identité, produite par la différence, est determinée comme “répétition”.

[190] Gilles Deleuze, The Idea of Genesis in Kant’s Esthetics trong Desert Islands and Other Texts (1953-1974) trang 56-71.

[190] Gilles Deleuze, Sur Quatre Formules Poétiques qui pourraient resumer la Philosophie kantienne trong Critique et Clinique, trang 40-49.

(còn tiếp)

đào trung đạo

 

2020