Chủ Đề:

CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC � VIỆT NAM 1979

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời Người Dịch:

 

�Chiến dịch 1979, �t nhất đối với Qu�n Đội Giải Ph�ng của Nh�n D�n Trung Quốc, l� một sự thất bại. Trung Quốc đ� ph�ng ra cuộc tấn c�ng của n� trong một nỗ lực để buộc Việt Nam phải r�t lui khỏi Căm Bốt. Trung Quốc đ� r�t lui khỏi Việt Nam h�m 16 Th�ng Ba, 1979, nhưng Việt Nam đ� kh�ng rời Căm Bốt m�i cho đến năm 1989.� �.

 

�Cuộc chiến tranh theo học thuyết họ Mao chưa dứt, nhưng ph�a Trung Quốc đ� học được một b�i học quan trọng.�

 

Tr�n đ�y l� phần kết luận chắc nịch của Edward C. ODow�d, một t�c giả h�ng đầu về Chiến Tranh Bi�n Giới Trung Quốc � Việt Nam Năm 1979, chủ đề của loạt b�i nghi�n cứu dưới đ�y về biến cố quan trọng diễn ra 33 năm trước. Đối chiếu với b�i học lịch sử l�u d�i của đất nước, r� r�ng vấn đề sinh tử của d�n tộc Việt Nam hiện nay l� phải t�m mọi c�ch đ� duy tr� được sự độc lập v� vẹn to�n l�nh thố, đồng thời tho�t ra khỏi sự lệ thuộc ngoại giao v� qu�n sự đ�ng tủi hổ đối với Trung Quốc.

 

1.Sun Dreyer
VIỆC N�Y DẪN DẮT VIỆC KIA:
V�NG XO�Y TR�N ỐC SỰ VẤN ĐỀ V�
CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC � VIỆT NAM (1979)
One Issue Leads to Another: Issue Spirals and the Sino-Vietnamese War (1979)
.


2. Steven J. Hood,
BẮC KINH, H� NỘI, V� Đ�NG DƯƠNG �
C�C BƯỚC TIẾN TỚI SỰ ĐỤNG ĐỘ
(Beijing, Hanoi, and Indochina � Steps to the Clash,
trong quyển Dragons Entangled: Indochina and the China-Vietnam War, 1992.


3. Zhang Xiaoming,
ĐẶNG TIỂU B�NH V�
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRUNG QUỐC
ĐI Đ�N CHIẾN TRANH
VỚI VIỆT NAM
(Deng Xiaoping and China�s Decision to Go to War with Vietnam),
Journal of Cold War Studies, Summer 2010, vol. 12, No. 3, 3-29.


4, Nicolas Khoo,
HỒI KẾT CUỘC CỦA
MỘT T�NH HỮU NGHỊ BẤT KHẢ HỦY DIỆT:
Sự T�i Xuất Hiện Của S� Viết v�
Sự Chấm Dứt Li�n Minh Trung Quốc � Việt Nam, 1975-1979
trong quyển Collateral Damage: Sino � Soviet Rivalry and the Termination
of The Sino � Vietnamese Alliance, Columbia University Press, 2011, 103-136.

 

5. Herbert S. Yee,
CUỘC CHIẾN TRANH
BI�N GIỚI TRUNG QUỐC � VIỆT NAM:
C�C ĐỘNG LỰC, C�C T�NH TO�N V�
C�C CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG
trong quyển The Sino-Vietnamese Border War: China�s Motives,
Calculations and Strategies, China Report (xuất bản
tại New Delhi, India), Bộ 16, số 1, 1980, c�c trang 15-32.

 

6. Edward C. ODow�d,
CHIẾN DỊCH NĂM 1979
trong quyển Chinese Military Strategy In The Third Indochina War,
The Last Maoist War, Routledge: New York, 2007, Chapter 4: The 1979 Campaign,
c�c trang 45-73; Chapter 5: The Battle of Lang Son, February � March 1979,
c�c trang 74-88; Chapter 0: Conclusion: the legacy of an �incredible, shrinking war�,
c�c trang 159-166.

 

7.  Edward C. ODow�d,
TRẬN Đ�NH LẠNG SƠN, TH�NG HAI � TH�NG BA 1979
trong quyển Chinese Military Strategy In The Third Indochina War,
The Last Maoist War, Routledge: New York, 2007, Chapter 4: The 1979 Campaign,
c�c trang 45-73; Chapter 5: The Battle of Lang Son, February � March 1979,
c�c trang 74-88; Chapter 0: Conclusion: the legacy of an �incredible, shrinking war�,
c�c trang 159-166.

 

8. Harlan W. Jenks,
CUỘC CHIẾN TRANH �TRỪNG PHẠT�
CỦA TRUNG QUỐC Đ�NH V�O VIỆT NAM:
MỘT SỰ LƯỢNG ĐỊNH VỀ QU�N SỰ
(�China�s �Punitive� War on Vietnam: A Military
Assessment�, Asian Survey 14, no. 8 (1979): 801-815.

 

9. Chen C. King,
CUỘC CHIẾN CỦA TRUNG QUỐC
Đ�NH VIỆT NAM:
MỘT PH�N T�CH QU�N SỰ
(�China�s War Against Vietnam: A Military Analysis�),
Journal of East Asian Affairs, no. 1 (1983): 233-63.
 

 

10. John M. Peppers, ,
CHIẾN LƯỢC TRONG XUNG ĐỘT CẤP V�NG:
MỘT TRƯỜNG HỢP NGHI�N CỨU
ĐIỂN H�NH VỀ TRUNG QUỐC
TRONG CUỘC CHIẾN TRANH Đ�NG DƯƠNG
LẦN THỨ BA NĂM 1979
(Strategy In Regional Conflict:
A Case Study of China In The Third Indochina Conflict of 1979),
U.S. Army War College, Carlisle Barracks, 2001.

 

11. Alexander Woodside
D�N TỘC CHỦ NGHĨA V�
NẠN NGH�O Đ�I
TRONG SỰ TAN VỠ C�C QUAN HỆ
TRUNG QUỐC � VIỆT NAM
Nationalism and poverty in the Breakdown
of Sino-Vie6namese Relations,
Pacific Affairs, Fall 1979,
c�c trang 381-409.

   

12. Dennis Duncanson

CHIẾN TRANH VIỆT NAM
CỦA TRUNG QUỐC:
C�C Đ�I HỎI CHIẾN LƯỢC CŨ V� MỚI
China�s Vietnam War:
new and old strategy imperatives,
The World Today, 35, số 6 (1979),
c�c trang 241-248.

 

13. James Mulvenon

C�C GIỚI HẠN CỦA NGOẠI GIAO CƯỠNG H�NH:
CUỘC CHIẾN TRANH BI�N GIỚI
TRUNG QUỐC � VIỆT NAM NĂM 1979
Limits of Coercive Diplomacy:
The 1979 Sino-Vietnamese Border War,
Journal of Northeast Asian Studies; Fall 95,
Vol. 14 Issue 3, c�c trang 68-88.

 

14. Andrew Scobell

NGOẠI GIAO CƯỠNG H�NH NỬA VỜI:
CUỘC TẤN C�NG NĂM 1979 CỦA TRUNG QUỐC 
Đ�NH VIỆT NAM
�Explaining China�s Use of Force�,
China�s Use of Military Force Beyond the Great Wall and the Long March
Cambridge, United Kingdom: Cambridge University Press, 2003
c�c trang 192-198.

 

15. Daniel Tretiak

CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA TRUNG QUỐC
V� C�C HẬU QUẢ CỦA N�
�China�s Vietnam War and Its Consequences,� The China Quarterly 80 (1979), c�c trang 740-67.

   

16. Bruce Burton

C�C SỰ GIẢI TH�CH ĐỐI CHỌI
 VỀ CUỘC CHIẾN TRANH
 TRUNG QUỐC - VIỆT NAM NĂM 1979
�Contending explanations of the 1979 Sino � Vietnamese War�,
International Journal, Volume XXXIV, no. 4/Autumn 1979, c�c trang 699-722.

 

17. Ramesh Thakur

TỪ SỐNG CHUNG ĐẾN XUNG ĐỘT:
C�C QUAN HỆ
H� NỘI � MẠC TƯ KHOA � BẮC KINH
V� CUỘC CHIẾN TRANH TRUNG � VIỆT
Coexistence to Conflict: Hanoi-Moscow-Pekings Relations and The China-Vietnam War,
The Australian Outlook, Volume 34, số 1, 1980, c�c trang 64-74.

 

18. Todd West

TỪ SỐNG SỰ NGĂN CẤM  KH�NG TH�NH  C�NG
CUỘC XUNG ĐỘT TRUNG QUỐC � VIỆT NAM NĂM 1979
Failed Deterrence, The 1979 Sino-Vietnamese Conflict,
Stanford University Journal of East Asian Affairs,  Vol. 6, No. 1, Winter 2006, c�c trang 73- 85.
 

 

19. Colonel G.D Bakshi

Cuộc Chiến Tranh Trung Quốc - Việt Nam năm 1979:
Trường Hợp Nghi�n Cứu Điển H�nh
Trong C�c Cuộc Chiến Tranh Hạn Chế
VSM, The Sino-Vietnam War � 1979: Case Studies in Limited Wars,
Indian Defence Review, Volume 14 (2) July � September 2000

 

20. Bruce Elleman

C�c Quan Hệ S� Viết � Trung Quốc V� Cuộc Xung Đột
Trung Quốc � Việt Nam Th�ng Hai 1979
Đọc tại Cuộc Hội Thảo 1996 Vietnam Symposium,
�After the Cold War: Reassessing Vietnam�,
được tổ chức v�o c�c ng�y 18-20 Th�ng Tư, 1996
tại Vietnam Center, Texas Rech University, Lubbock, Texas

 

21. Henry J. Kenny

C�C NHẬN THỨC CỦA VIỆT NAM VỀ CUỘc CHIẾN TRANH,
1979 VỚI TRUNG QUỐC �Vietnamese Perceptions of the 1979 War with China,
Chinese Warfighting: The PLA Experience Since , đồng bi�n tập bởi
Mark A. Ryan, David Michael Frakelstein, Michael A. McDevitt, Chapter 10, c�c trang 217-241s

 

22. Xiaoming Zhang

CUỘC CHIẾN TRANH
NĂM 1979 CỦA TRUNG QUỐC VỚI VIỆT NAM: MỘT SỰ
T�I LƯỢNG ĐỊNH, �China�s War with Vietnam: A Reassessment�,
The China Quarterly, số 184, December 2005, c�c trang 851-874.

 

23. Edward C. O�Dowd & John F. Corbett, Jr.

CHIẾN DỊCH NĂM 1979 CỦA TRUNG QUỐC
TẠI VIỆT NAM:
C�C B�I HỌC LĨNH HỘI ĐƯỢC
The Lessons of History: The Chinese People�s Liberation Army at 75, Carlisle, PA.:
Strategic Studies Institute, U.S. Army War College, July 2003, c�c trang 353-378.

 

24. Douglas E. Pike,

CỘNG SẢN ĐẤU CỌNG SẢN
TẠI Đ�NG NAM A�
 (�Communism vs Communism in Southeast Asia), International Security, Vol. 4, No. 1 (Summer, 1979), từ trang 20.
 

 

25. Henry Kissinger,

�SỜ M�NG CON HỔ�
CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM THỨ BA�
 Chương 13: �Touching the Tiger�s Buttocks�: The Third Vietnam War, c�c trang 340-375,
trong quyển On China, xuất bản bởi The Penguin Press, New York, 2011.

   

26. Jimmy Carter,

GHI NHỚ VỀ
CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC � VIỆT NAM
NĂM 1979
cựu Tổng Thống Hoa Kỳ, tr�ch dịch từ c�c hồi k� Keeping Faith, Memoirs Of A President,
A Bantam Book: New York, November 1982, c�c trang 194-211, v� White House Diary, New York: Farrar, Straus and Giroux, 2010,
c�c trang 281-296, v� rải r�c, c�ng c�c phụ lục tr�ch dịch phần ghi nhớ về Chiến Tranh Trung Quốc � Việt Nam năm 1979 của:
Phụ Lục 1: Cyrus Vance, cố Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Hard Choices, Critical Years In America�s Foreign Policy, New York: Simon and Schuster, 1983, c�c trang 120-127.
Phụ Lục 2: Zbigniew Brzezinski, cựu Cố Vấn Tổng Thống Hoa Kỳ về An Ninh Quốc Gia, Power and Principle, Memoirs of the National Security Adviser, 1977-1981, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1983, c�c trang 404-414.
Phụ Lục 3: Anatoly Dobrynin, cựu Đại Sứ Li�n S� tại Hoa Kỳ, In Confidence, Moscow�s Ambassador to America�s Six Cold War Presidents, New York: Times books, a division of Random House, Inc., 1995, c�c trang 418-19.

 

 

Bruce Elleman

U. S. Naval War College

 

C�C QUAN HỆ S� VIẾT � TRUNG QUỐC

V�

CUỘC XUNG ĐỘT TRUNG QUỐC � VIỆT NAM

TH�NG HAI 1979

 

Ng� Bắc dịch

 

*****

Lời Người Dịch

������ Dưới đ�y l� bản dịch b�i tham luận của t�c giả Bruce Elleman, đọc tại Cuộc Hội Thảo 1996 Vietnam Symposium, �After the Cold War: Reassessing Vietnam�, được tổ chức v�o c�c ng�y 18-20 Th�ng Tư, 1996 tại Vietnam Center, Texas Rech University, Lubbock, Texas.� V� l� văn n�i, n�n c�c ch� th�ch về nguồn t�i liệu tham khảo được ghi ngay sau dữ kiện nơi th�n b�i, thay v� được sắp xếp như c�c cước ch� ở cuối b�i văn viết.

***

 

T�c giả Gerald Segal, trong quyển s�ch của �ng nhan đề Defending China, đ� kết luận rằng cuộc chiến tranh năm 1979 của Trung Quốc đ�nh Việt Nam l� một sự thất bại ho�n to�n: �Trung Quốc đ� thất bại kh�ng buộc được một sự triệt tho�i của Việt Nam ra khỏi [Căm Bốt], đ� thất bại kh�ng chấm dứt được c�c vụ đụng độ ở bi�n giới, đ� thất bại kh�ng tạo được sự nghi ngờ tr�n sức mạnh của quyền lực S� Viết, đ� thất bại kh�ng x�a tan được h�nh ảnh về Trung Quốc như một con hổ bằng giấy, v� đ� thất bại kh�ng l�i k�o được Hoa Kỳ v�o một li�n hiệp chống S� Viết�.

Trong một nỗ lực để th�ch đố lại quan điểm n�y cho rằng ch�nh s�ch của Bắc Kinh đ� l� một sự thất bại, b�i viết n�y sẽ gắng sức để t�i lượng gi� vai tr� trung t�m m� c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết đ� đ�ng giữ trong quyết định của Trung Quốc để tấn c�ng Việt Nam.� Quan trọng nhất, b�i viết sẽ cố gắng tr�nh b�y rằng việc ấn định thời biểu cho cuộc tấn c�ng h�m 17 Th�ng Hai của Trung Quốc v�o Việt Nam được nối kết với sự kỷ niệm h�ng năm lần thứ 29 bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Li�n Minh v� Trợ Gi�p Hỗ Tương giữa Trung Quốc v� S� Viết năm 1950.

Người ta phải nhớ lại rằng v�o ng�y 14 Th�ng Hai, 1950 Bắc Kinh v� Mạc Tư Khoa đ� k� kết một hiệp ước c� hiệu lực 30 năm bao gồm cả c�c nghị định thư b� mật ủng hộ vai tr� của Li�n Bang S� Viết (LBSV) như nước l�nh đạo phong tr�o cộng sản thế giới.� Khi sau n�y Mạc Tư Khoa cự tuyệt kh�ng t�i thương thảo về c�c sự tranh chấp l�nh thổ giữa Trung Quốc v� S� Viết, sự kiện n�y đ� dẫn dắt đến c�c vụ đụng độ ở bi�n giới Trung Quốc � S� Viết, quan trọng nhất l� v�o cuối thập ni�n 1960.

C�c học giả T�y Phương tất cả đều thường qu�n rằng ngay trong suốt thời kỳ căng thẳng n�y giữa Trung Quốc v� S� Viết, bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Li�n Minh v� Trợ Gi�p Hỗ Tương Trung Quốc-S� Viết 1950 vẫn c�n đầy đủ hiệu lực trong suốt to�n thể thời kỳ của sự x�o trộn.� �t nhất từ quan điểm của Bắc Kinh, hiệp ước Trung Quốc � S� Viết 1950 đ� l� một c�ng cụ quan trọng xuy�n qua đ� Mạc Tư Khoa đ� cố gắng h�nh xử �b� quyến� của n� tr�n Trung Quốc.

Mạc Tư Khoa r� r�ng quan t�m đến những g� c� thể xẩy ra khi hiệp ước Trung Quốc � S� Viết đ�o hạn 30 năm của n�.� Bắt đầu từ năm 1969, LBSV thường xuy�n th�c dục Trung Quốc thay thế hiệp ước 1950 bằng một hiệp định mới.� Trong năm 1978, c�c lực lượng S� Viết được gia tăng dọc c�c bi�n giới Trung Quốc � S� Viết v� Trung Quốc � M�ng Cổ.� Mạc Tư Khoa cũng đ� t�m c�ch buộc Bắc Kinh phải đi đến sự thỏa thuận bằng việc tăng cường c�c quan hệ ngoại giao với H� Nội, k� kết một hiệp ước ph�ng thủ hai mươi lăm năm với Việt Nam v�o ng�y 3 Th�ng Mười Một, 1978.

Tuy nhi�n, thay v� l�i bước, Trung Quốc đ� loan b�o � định của n� nhằm x�m lăng Việt Nam v�o ng�y 15 Th�ng Hai, 1979, ngay ch�nh ng�y đầu ti�n m� n� c� thể chấm dứt một c�ch hợp ph�p Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết 1950 v� Trung Quốc đ� tấn c�ng ba ng�y sau đ�.� Khi Mạc Tư Khoa kh�ng can thiệp, Bắc Kinh đ� tuy�n bố c�ng khai rằng LBSV đ� kh�ng giữ đ�ng nhiều lời hứa hẹn của LBSV nhằm trợ gi�p Việt Nam.� Sự thiếu s�t của LBSV để ủng hộ Việt Nam khiến cho Trung Quốc bạo dạn hơn để loan b�o h�m 3 Th�ng Tư, 1979 rằng n� đ� c� � định chấm dứt bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Li�n Minh v� Trợ Gi�p Hỗ Tương giữa Trung Quốc v� S� Viết năm 1950.

Thay v� l�m việc dưới sự giả định rằng cuộc x�m lăng năm 1979 của Trung Quốc v�o Việt Nam l� một sự thất bại ho�n to�n, b�i viết n�y sẽ cố gắng giải tr�nh rằng một trong c�c mục đ�ch ngoại giao ch�nh yếu đ�ng sau cuộc tấn c�ng của Trung Quốc l� nhằm phơi b�y c�c sự cam kết của S� Viết về sự ủng hộ qu�n sự cho Việt Nam l� một sự lừa bịp.� Nh�n dưới �nh s�ng n�y, ch�nh s�ch của Bắc Kinh thực sự đ� l� một sự th�nh c�ng về ngoại giao, bởi v� Li�n Bang S� Viết đ� kh�ng t�ch cực can thiệp, ch�nh v� thế ph� b�y c�c giới hạn thực tế của thỏa ước qu�n sự giữa S� Viết � Việt Nam.� Kết quả, b�i viết n�y sẽ n�u � kiến rằng Trung Quốc đ� đạt được một thắng lợi chiến lược bằng việc tối thiểu h�a khả t�nh tương lai về một cuộc chiến tranh tr�n hai mặt trận chống lại LBSV v� Việt Nam v� một chiến thắng ngoại giao bằng việc chấm dứt Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950.

B�i viết n�y cũng sẽ t�i lượng gi� lời tuy�n bố của Bắc Kinh rằng sự thiếu s�t kh�ng can thiếp của LBSV chống Trung Quốc đ� chứng tỏ rằng LBSV chỉ l� một �con gấu bắc cực bằng giấy�.� C�c t�i liệu văn khố được giải mật gần đ�y tại LBSV c� chiều hướng ủng hộ cho lời tuy�n bố của Trung Quốc, n�u l�n c�u hỏi quan trọng l� liệu v�o năm 1979 Bắc Kinh đ� sẵn x�c định một c�ch ch�nh x�c c�c triệu chứng ở Viễn Đ�ng cho sự suy đồi nội bộ của Mạc Tư Khoa � c�ng sự suy đồi sau hết dẫn đến sự sụp đổ của ch�nh quyền S� Viết năm 1991 � v�i năm trước khi bằng chứng tương tự của sự suy đồi n�y trở n�n khả cung tại chiến trường �u Ch�u.� Nếu đ�ng thế, khi đ� c� khả t�nh hiện hữu rằng �bước khởi đầu của sự kết th�c� Cuộc Chiến Tranh Lạnh thực sự đ� xảy ra tại � Ch�u.

 

Lược Sử C�c Quan Hệ Trung Quốc � S� Viết

Cho Đến Cuối Thập Ni�n 1960

 

C�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết cho đến cuối thập ni�n 1960 bị hư hỏng kh�ng chỉ bởi sự bất đồng s�u sắc về quy chế của v�ng Ngoại M�ng, m� c�n bởi nhiều cuộc tranh chấp l�nh thổ dọc theo bi�n giới Trung Quốc � S� Viết.� Trong thực tế, c�c sự xung đột n�y l�m ung thối b�n dưới bề mặt của c�c quan hệ Nga � Hoa trong hơn một thế kỷ, suốt từ khi Đế Quốc Nga đ� �p buộc Trung Quốc phải k� kết một loạt c�c hiệp ước nhượng lại cho Nga c�c v�ng đất bao la.� Theo quyển s�ch sắp xuất bản nhan đề Imperial Rivals (C�c Đối Thủ Đế Quốc) của S. C. M. Paine, �Đối với Trung Hoa, c�c sự mất m�t l�nh thổ thực sự th� khổng lồ: một khu vực vượt qu� diện t�ch b�n ph�a đ�ng s�ng Mississippi của Hoa Kỳ đ� ch�nh thức trở th�nh l�nh thổ của Nga hay, trong trường hợp của Ngoại M�ng, l� v�ng đất bảo hộ của S� Viết�.

Tiếp theo sau cuuộc C�ch Mạng năm 1949 của Trung Quốc, Mao Trạch Đ�ng đ� du h�nh sang Mạc Tư Khoa để điều đ�nh một hiệp ước ch�nh thức với Stalin.� Sau hai th�ng, Hiệp Ước Hữu Nghị, Li�n Minh, v� Trợ Gi�p Hỗ Tương giữa Trung Quốc � S� Viết được ho�n tất v� k� kết h�m 14 Th�ng Hai, 1950.� Thời hạn của bản hiệp ước n�y l� ba mươi năm v� điều khoản số s�u quy định một c�ch đặc biệt rằng nếu kh�ng b�n kết ước n�o loan b�o � định của m�nh muốn chấm dứt bản hiệp ước trong năm sau c�ng của n�, khi đ� li�n minh sẽ tự động được triển hạn cho năm năm nữa.

Trong thực tế, c�c phi�n bản được ấn h�nh của bản hiệp ước Trung Quốc � S� Viết n�y đ� kh�ng bao h�m nhiều nghị định thư b� mật.� Tạp Ch� Dự �n Lịch Sử Quốc Tế Về Chiến Tranh Lạnh, số M�a Đ�ng 1995 bao gồm một b�i viết gồm sự tr�nh b�y của họ Mao về c�c cuộc thương thảo Trung Quốc � S� Viết b� mật:

Trong c�c cuộc thương thảo, theo đề xướng của Stalin đ� c� một nỗ lực được tiến h�nh bởi Li�n Bang S� Viết để đảm nhận quyền sở hữu độc nhất Đường Hỏa Xa Changchun (tức Harbin, ?Trường Xu�n) của Trung Quốc.� Tuy nhi�n, sau đ� một quyết định đ� được đưa ra về việc khai th�c chung �Đường Hỏa Xa, ngo�i những g� m� CHNDTQ đ� trao cho LBSV căn cứ hải qu�n tại Hải Cảng Port Arthur, v� bốn c�ng ty cổ phần hỗn hợp được thiết lập tại Trung Quốc.� Theo đề xuất của Stalin, � M�n Ch�u v� T�n Cương trong thực tế được biến th�nh c�c khu vực chịu ảnh hưởng của S� Viết.

Ch�nh v� thế, mặc d� c�c phần c�ng bố của Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 đ� được hay biết từ l�u, một số lượng kh�ng được x�c định c�c nghị định thư b� mật cũng đ� được k� kết, cho đ�n nay, c�c bản sao của c�c nghị định thư n�y chưa hề được ấn h�nh. (Bruce Elleman, �The End of Extraterritoririality in China: The Case of the Soviet Union, 1919-1960�, Republican China (sắp được ấn h�nh, M�a Xu�n 1996).

V�o ng�y 15 Th�ng Hai, 1950, họ Mao cũng miễn cưỡng đồng � �quy chế độc lập� của MPR (Mongolian People�s Republic: Cộng H�a Nh�n D�n M�ng Cổ: CHNDMC).� Tuy nhi�n, sự nh�n nhận n�y c�n l�u mới l� việc thừa nhận sự độc lập ho�n to�n của M�ng Cổ ra khỏi Trung Quốc, bởi họ Mao tin tưởng một c�ch vững chắc rằng ch�nh phủ S� Viết trước đ�y đ� hứa hẹn trao trả M�ng Cổ lại cho Trung Quốc.� Dựa tr�n c�c sự ph�n n�n sau n�y của họ Mao, họ Mao hẳn đ� phải nhận được c�c sự bảo đảm của Stalin về quy chế của M�ng Cổ, cũng như về vị tr� ch�nh x�c của c�c bi�n giới Trung Quốc � M�ng Cổ v� Trung Quốc � S� Viết, sẽ được thảo luận trong c�c phi�n họp tương lai.� Ch�nh v� thế, sự cự tuyệt của Mạc Tư Khoa để mở c�c cuộc thương thảo với Bắc Kinh sau rốt đ� dẫn đến c�c sự đụng độ bi�n giới trong c�c thập ni�n 1950 v� 1960.� Mặc d� bi�n giới Trung Quốc � M�ng Cổ đ� được giải quyết trong năm 1962, họ Mao đ� c�ng khai tố c�o c�c sự x�m lấn của S� Viết v�o l�nh thổ của Trung Quốc v� �ng ta đ� phản đối sự kiểm so�t của S� Viết tại M�ng Cổ: �Li�n Bang S� Viết, lấy cớ bảo đảm cho nền độc lập của M�ng Cổ, thực sự đ� đặt xứ sở n�y dưới sự thống trị của n�.

V�o cuối thập ni�n 1960, trong một loạt c�c biến cố bi�n giới dọc c�c con s�ng Ussuri v� Amur, QĐGPNDTQ đ� biểu lộ một sự ki�n cường đ�ng ngạc nhi�n chống lại Hồng Qu�n [S� Viết].� C�c vụ xung đột n�y n�y c� phạm vi nhỏ v� kết cuộc cho thấy l� kh�ng ng� ngũ, nhưng ch�ng đ� dẫn dắt đến c�c vụ xung đột l�nh thổ sau n�y tại T�n Cương dọc theo bi�n giới của Trung Quốc với LBSV.

Mặc d� sự căng thẳng trong c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết th� lớn lao đ�n nỗi nhiều học giả T�y Phương đ� đề cập đrến n� như một �sự rạn nứt�, bản Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 vẫn tiếp tục hiện hữu.� Trong thực tế, bản hiệp ước n�y, bao gồm cả c�c điều khoản đ� được phổ biến một c�ch c�ng khai v� c�c nghị định thư b� mật, vẫn c�n l� nền tảng tr�n đ� c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết dựa v�o.� Tuy nhi�n, nền tảng n�y đ� bất ổn định ngay từ l�c khởi đầu, bởi LBSV đ� từ chối kh�ng chịu giao ho�n c�c phần đất gi�nh đoạt phi nghĩa của Nga thời Sa Ho�ng cho giới l�nh đạo cộng sản Trung Quốc.� Điều c� thể tranh luận rằng ch�nh điều n�y, hơn bất kỳ l� do n�o kh�c, đ� dẫn dắt c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc đến việc kết �n �chủ nghĩa b� quyền� của S� Viết tại v�ng Viễn Đ�ng.� Cũng ch�nh vấn đề n�y đ� nhất thiết l�m chua ch�t c�c quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam trong thập ni�n 1970.

 

C�c Quan Hệ Trung Quốc � S� Viết Trong Thập Ni�n 1970

C�c cuộc tranh chấp bi�n giới Trung Quốc � S� Viết hồi cuối thập ni�n 1960 đặc biệt đ�ng lo �u cho Mạc Tư Khoa v� Bắc Kinh, bởi cả LBSV lẫn Trung Quốc giờ đ�y đều l� c�c nước c� vũ kh� hạt nh�n; r� r�ng một sự đồng thuận kh�ng ch�nh thức đ� được đạt tới l� kh�ng b�n n�o sẽ vận dụng đến kh�ng lực. (Christian F. Ostermann, �New Evidence on the Sino-Soviet Border Dispute�, Cold War International History Project Bulletin, Issue 5 (Spring 1995), 186-193).

Tuy nhi�n, c�c vụ xung đột bi�n giới Trung Quốc � S� Viết n�y đ� c� c�c t�c động x� hội khổng lồ, buộc cả hai nước phải chuyển hướng c�c t�i nguy�n khan hiếm v�o việc chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh hạt nh�n khả hữu hay cho sự leo thang qu�n sự tương lai dọc theo c�c bi�n giới chung của hai nước.� Niềm tin tưởng mới t�m thấy của QĐGPNDTQ rằng n� c� thể đối đầu với Hồng Qu�n cũng đ� mang lại cho Bắc Kinh cơ hội trong năm 1971 để chấp nhận một đề nghị ch�nh s�ch ngoại giao mới bằng việc ph�t huy c�c quan hệ th�n hữu với Hoa Kỳ. �����

Ngo�i ra, Trung Quốc đ� r�n sức để cải thiện c�c quan hệ của n� với Nhật Bản, đ� k� kết một hiệp ước trong Th�ng T�m 1978 r� r�ng c� t�nh chất chỉ tr�ch ch�nh s�ch ngoại giao của Li�n Bang S� Viết tại � Ch�u bằng c�ch kết �n một c�ch c� biệt �chủ nghĩa b� quyền�.� Sau c�ng, c�c căng thẳng Trung Quốc � S� Viết cũng đ� l�m sinh s�i một số c�c cuộc chiến tranh ủy nhiệm tại Đ�ng Nam �, chẳng hạn như cuộc xung đột cuối thập ni�n 1970 giữa Căm Bốt v� Việt Nam, cũng như buộc Trung Quốc [sỉc, nhiều phần l� LBSV mới đ�ng nghĩa của c�u văn, ch� của người dịch] phải chấp nh�n vai tr� của Trung Quốc như một quyền lực trong v�ng, được thể hiện r� nhất bằng cuộc x�m lăng của n� trong năm 1979 v�o Việt Nam để triệt hạ ảnh hưởng gia tăng của LBSV.

Trong suốt thập ni�n 1970, c�c căng thẳng Trung Quốc � S� Viết vẫn c�n ở cao độ.� Trong thời kỳ n�y, Mạc Tư Khoa đ� cố gắng để thuyết phục Bắc Kinh thương thảo một hiếp định mới sẽ hoặc ủng hộ, hay ngay cả thay thế, cho Hiệp Ước Năm 1950 giữa Trung Quốc � S� Viết.� Khởi đầu trong năm 1969 v� 1970, Mạc Tư Khoa đ� đề nghị rằng hai ph�a hứa hẹn kh�ng tấn c�ng nhau, v� đặc biệt kh�ng bao giờ vận dụng tới c�c vũ kh� hạt nh�n.� Tuy nhi�n, khi Bắc Kinh kh�ng b�y tỏ bất kỳ sự quan t�m n�o đến sự thỏa thuận n�y, Mạc Tư Khoa đ� đề nghị trong năm 1971 rằng hai nước sẽ k� kết một hiệp ước mới sẽ c�ng từ bỏ [sử dụng] vũ lực.� Sau đ�, trong năm 1973, Mạc Tư Khoa đ� b�y tỏ sự quan t�m của n� bằng việc đề nghị một c�ch c� biệt rằng hai nước k� kết một thỏa ước bất tương x�m; Bắc Kinh tiếp tục tảng lờ c�c đề xuất của Mạc Tư Khoa.

Khi sự chấm dứt thời hạn 30 năm Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết đến gần, c�c nỗ lực của LBSV để thay thế bản hiệp ước n�y đ� gia tăng một c�ch quyết liệt.� Th� dụ, v�o ng�y 24 Th�ng Hai, 1978, Mạc Tư Khoa đ� đề nghị một c�ch c�ng khai rằng hai ch�nh phủ c�ng bố một tuy�n bố về c�c nguy�n tắc sẽ điều h�nh c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết.� Lời tuy�n bố về c�c nguy�n tắc n�y sẽ bao gồm: 1} sự b�nh đẳng, 2) sự t�n trọng hỗ tương chủ quyền v� sự to�n vẹn l�nh thổ, 3) việc bất can thiệp v�o c�c c�ng việc nội bộ của nhau, v� 4) việc kh�ng sử dụng vũ lực.� Mạc Tư Khoa r� r�ng đ� hy vọng rằng một bản tuy�n bố như thế c� thể được d�ng để thay thế cho bản Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 để điều h�a c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết.� Mục đ�ch tối hậu tcủa c�c đề nghị của LBSV, tuy thế, r� r�ng để giới hạn, hay c� lẽ c�n l�m giảm bớt, ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc khắp � Ch�u.� (Theo t�c giả Chang Pao-min, kh�a cạnh n�y trong c�c ch�nh s�ch của S� Viết đối với Trung Quốc th� c� t�nh chất hấp dẫn nhất đối với ph�a Việt Nam, c�n tr�ch dẫn một vi�n chức Việt Nam c� tuy�n bố như sau: �C� một quyền lợi S� Viết mạnh mẽ cụ thể nhất tr�ng hợp với c�c quyền lợi của Việt Nam � giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc tại phần đất n�y của thế giới�. Chang Pao-min, Kampuchea Between China and Vietnam (Singapore, Singapore University Press, 1985), 46-47).

Tuy nhi�n, Bắc Kinh đ� cự tuyệt tất cả c�c đề nghị của Mạc Tư Khoa, v� trong suốt thập ni�n 1970, sự kết �n của Trung Quốc đối với LBSV đ� trở n�n lớn giọng hơn.� Th� dụ, trong Th�ng Hai 1974, Mao Trạch Đ�ng đ� c�ng khai k�u gọi một li�n hiệp �thế giới thứ ba� chống lại điều được gọi l� �thế giới thứ nhất�, trong trường hợp n�y gồm cả LBSV lẫn Hoa Kỳ.� Tuy nhi�n, sau khi c� sự từ trần của họ Mao, một bản tin ng�y 1 Th�ng Mười Một 1977 của tờ Nh�n D�n Nhật B�o, đ� x�c định LBSV l� kẻ th� nguy hiểm nhất của Trung Quốc trong khi Hoa Kỳ giờ đ�y được xem l� một đồng minh.� Tất cả c�c nước cộng sản � kể cả đặc biệt Việt Nam (�Sự suy đồi trong c�c quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc sau năm 1975 v� sự xếp h�ng th�n S� Viết hiện thời của Việt Nam c� thể d�i t�m nơi sự kh�ng cự của Việt Nam trước �p lực của Trung Quốc buộc Việt Nam phải lựa chọn phe c�nh�, Ramesh Thaku[r] v� Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin�s Press, 1992), 287) � cũng đều được xem l� c�c đồng minh tiềm năng trong một �mặt trận thống nhất� đề nghị chống lại LBSV.� Sau c�ng, v�o ng�y 26 Th�ng Ba, 1978, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đ� đ�i hỏi rằng Mạc Tư Khoa, ngo�i việc thừa nhận sự hiện hữu của �c�c khu vực tranh chấp� dọc bi�n giới Trung Quốc � S� Viết, phải triệt tho�i ho�n to�n c�c bộ đội S� Viết ra khỏi Cộng H�a Nh�n D�n M�ng Cổ, cũng như r�t qu�n l�i xa khỏi to�n thể bi�n giới Trung Quốc � S� Viết. ��

Trong sự đ�p ứng với c�c đ�i hỏi của Trung Quốc, Leonid Brezhnev, Tổng B� Thư Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Li�n Bang S� Viết (ĐCSLBSV), đến thăm viếng v�ng Siberia (T�y B� Lợi �) hồi đầu Th�ng Tư 1978, v� c� loan b�o rằng trang thiết bị mới, t�n tiến hơn đ� được cung cấp cho c�c đơn vị hỏa tiễn dọc theo bi�n giới Trung Quốc � S� Viết.� C�c vũ kh� mới n�y, Brezhnev loan b�o, sẽ l� c�ng cụ trong việc �bảo to�n cho ch�nh ch�ng ta v� c�c nước th�n hữu x� hội chủ nghĩa của ch�ng ta chống lại sự x�m lược khả hữu, bất kể nguồn gốc từ đ�u�.� Kh�ng l�u sau đ�, v�o ng�y 12 Th�ng Tư, 1978, Ulan Bator [thủ đ� của M�ng Cổ, ch� của người dịch] cũng c�ng khai phản đối c�c đ�i hỏi của Bắc Kinh, tuy�n bố rằng c�c binh sĩ S� Viết bổ t�c đ� được đồn tr� dọc bi�n giới Trung Quốc � M�ng Cổ theo lời y�u cầu của M�ng Cổ nhằm d�p lại c�c sự tập trung bộ đội Trung Quốc gia tăng tại ph�a nam bi�n giới.

Như c�c biến cố n�y đ� ph� b�y ho�n to�n r� r�ng, v�o năm 1978 c�c căng thẳng bi�n giới Trung Quốc � S� Viết đ� gia tăng cường độ một c�ch mạnh mẽ, ch�nh yếu bởi c�c sự tập trung binh sĩ S� Viết nhiều hơn dọc theo bi�n giới Trung Quốc � S� Viết v� tại Cộng H�a Nh�n D�n M�ng Cổ. Ở một mức độ rộng lớn hơn, t�nh trạng n�y c� thể được giải th�ch bởi c�c nỗ lực li�n tục của Mạc Tư Khoa nhằm �p lực Bắc Kinh kh�ng được chấm dứt bản Hiếp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950, vốn c� thể bị kết th�c ngay trong lần đầu ti�n v�o năm 1979, hay � tốt hơn nữa � thương thảo một hiệp ước mới nhằm ph�c họa c�c nguy�n tắc tr�n đ� c�c quan hệ tương lai của Trung Quốc � S� Viết sẽ được đặt đinh.� Lời loan b�o của Brezhnev rằng �ng ta c� � định sử dụng c�c lực lượng S� Viết chống lại Trung Quốc nh�n danh �c�c nước th�n hữu x� hội chủ nghĩa� của Mạc Tư Khoa cũng l� một sự cảnh c�o cho Bắc Kinh kh�ng được nh�ng tay v�o CHNDMC cũng như c�c đồng minh của Mạc Tư Khoa tại Đ�ng Nam �.

Trung Quốc đ� kh�ng chỉ kh�ng nhượng bộ dưới �p lực qu�n sự v� ngoại giao của LBSV, m� Bắc Kinh kế tiếp đ� cố gắng sử dụng �p lực ngoại giao l�n tr�n Mạc Tư Khoa bằng c�ch gắng sức để củng cố c�c quan hệ của n� với cả Hoa Kỳ v� Nhật Bản.� Điều c� thể g�y tranh luận rằng ch�nh s�ch của Bắc Kinh đ� th�nh c�ng hơn trong hai đường lối, đưa đến việc Bắc Kinh đ� k� kết hai hiệp định đ�nh dấu lịch sử với cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Đ�ng Kinh.� Đối với Mạc Tư Khoa, điều hẳn phải xem r� r�ng rằng c�c hiệp định mới của Trung Quốc l� nhằm chống lại LBSV, bởi � �t nhất trong trường hợp bản hiệp ước Trung � Nhật � hai b�n đ� kết �n một c�ch c� biệt �chủ nghĩa b� quyền�, một khẩu hiệu hay được Trung Quốc sử dụng để chỉ ch�nh s�ch b�nh trướng của S� Viết.� Sự đ�p ứng của LBSV l� tăng cường c�c quan hệ ngoại giao của n� với tất cả c�c nước Đ�ng Nam � gi�p ranh với Trung Quốc, v� quan trọng nhất trong c�c nước đ�, Việt Nam.

 

C�c Quan Hệ Trung Quốc � S� Viết v�

Việt Nam Cho Đến Th�ng Hai Năm 1979

 

Mặc d� Trung Quốc kh�ng phải l� một nước tham dự v�o cuộc xung đột Việt Nam trong c�c thập ni�n 1960 v� 1970, sự ủng hộ vật liệu v� kinh tế của Trung Quốc cho Việt Nam đ� đ�ng một vai tr� quan yếu.� Trung Quốc đ� kh�ng chỉ gửi c�c binh sĩ sang Việt Nam để trợ gi�p việc duy tr� c�c tuyến tiếp tế, sự ước lượng của Bắc Kinh về sự hỗ trợ của n� cho H� Nội từ 1950 đrến 1978 đ� vượt qu� 20 tỷ [MỹKim?] (King C. Chen, China�s War with Vietnam, 1979 (Stanford, CA, Hoover Institution Press, 1987).� V� thế, thật kh�ng kh� khăn để hiểu rằng tại sao Bắc Kinh lại c� thể động l�ng trước c�c quan hệ được cải thiện giữa Mạc Tư Khoa v� H� Nộiv�o cuối thập ni�n 1970.

Điều n�y đặc biệt đ�ng sau khi hai nước k� kết một hiệp ước ph�ng thủ hỗ tương v�o ng�y 3 Th�ng Mười Một năm 1978 đặc biệt nhắm v�o Trung Quốc.� Theo một học giả, li�n minh S� Viết � Việt Nam n�y biến Việt Nam th�nh �mấu chốt� trong �nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc� của LBSV.� (Robert A. Scalapino, �The Political Influence of the USSR in Asia�, trong s�ch bi�n tập bởi Donald S. Zagoria, Soviet Policy in East Asia (New Haven, Yale University Press, 1982), 71).� V� thế, theo quan điểm của Bắc Kinh, mưu toan của mạc Tư Khoa nhằm bao v�y Trung Quốc về mặt ngoại giao r� r�ng tr�n bờ của sự th�nh c�ng.� Sự nhận thức n�y đ� ch�m ng�i cho cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam trong Th�ng Hai 1979.

Mặc d� c�c quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh v� H� Nội trong thập ni�n 1960 v� đầu thập ni�n 1970 n�i chung tốt đẹp, c�c sự kh�c biệt về ch�nh s�ch giữa Trung Quốc v� Việt Nam đ� xa c�ch hơn sau sự sụp đổ của S�ig�n hồi Th�ng Tư 1975.� Trong Th�ng Ch�n năm đ�, L� Duẩn, tổng b� thứ của ĐCSVN, đ� du h�nh sang Bắc Kinh v� trong h�ng loạt c�c cuộc gặp gỡ sau khi L� Duẩn đến nơi, điều trở n�n r� r�ng rằng Trung Quốc rất quan t�m về c�c quan hệ chặt chẽ của Việt Nam với LBSV.� Mặc d� c�c quan hệ tiếp tục xấu đi trong những năm kế tiếp, sự rạn nứt giữa Trung Quốc v� Việt Nam đầu ti�n chỉ trở n�n r� r�ng khi h�ng ngh�n d�n gốc Hoa bắt đầu chạy trốn khỏi Việt Nam trong m�a xu�n v� m�a hạ năm 1978.� Ngo�i ra, c�c sự tranh chấp l�nh thổ tại Quần Đảo Trường sa, cũng như tr�n cuộc x�m lăng gần đ� của Việt Nam v�o Căm Bốt, cũng đ� l�m gia tăng c�c sự căng thẳng giữa Trung Quốc v� Việt Nam.

Trong khi đ�, c�c dấu hiệu gia tăng của sự hợp t�c S� Viết � Việt Nam cũng đ� xuất hiện trong m�a h� 1978, khi Việt Nam y�u cầu trở th�nh một th�nh vi�n của khối COMECON.� Ngo�i ra, c�c nguồn tin ch�nh phủ tại Hoa Kỳ c� tường thuật rằng v�o Th�ng T�m 1978 c� đến 4000 cố vấn S� Viết c� mặt tại Việt Nam.� Trong Th�ng Ch�n 1978, LBSV khởi sự việc thực hiện c�c chuyến chở vũ kh� nhiều hơn sang Việt Nam, cả bằng đường h�ng kh�ng lẫn đường biển, bao gồm �m�y bay, hỏa tiễn, xe tăng, v� đạn dược�.� Sau c�ng, tất cả c�c dấu hiệu n�y của việc cải thiện c�c quan hệ S� Viết � Việt Nam đ� th�nh tựu v�o ng�y 3 Th�ng Mười Một 1978, khi Việt Nam v� LBSV k� kết một Hiệp Ước Hữu Nghị v� Hợp T�c.� Kh�ng c� g� nghi ngờ rằng bản hiệp ước n�y được nhắm v�o Trung Quốc, bởi điều thứ s�u tuy�n bố rằng Việt Nam v� LBSV sẽ �tức thời tham khảo lẫn nhau� nếu một b�n bị �tấn c�ng hay bị đe dọa tấn c�ng � nhằm loại trừ mối đe đọa đ�.� Theo sự tường thuật, bản hiệp ước n�y cũng bao gồm một nghị định thư b� mật chấp thuận c�c cho lực lượng qu�n sự S� Viết được tiếp cận c�c �phi trường v� hải cảng� của Việt Nam. (Ramesh Thaku[r] and Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin�s Press, 1992), 61).

Mặc d� Việt Nam tuy�n bố rằng n� đ� k� kết bản hiệp ước n�y với LBSV để chặn đứng c�c h�nh vi của �phe phi�u lưu� Trung Quốc, c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc tại Bắc Kinh chắc chắn đ� nh�n điều n�y như một phần trong c�c nỗ lực của Mạc Tư Khoa để �p lực Trung Quốc phải l�i bước v� tải lập c�c điều khoản bất b�nh đẳng của Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950.� Nếu LBSV đ� c� khả năng thiết lập một b�n đạp tại Đ�ng Nam �, n� c� thể th�c v�o cạnh sườn của Trung Quốc ở cả hai bi�n giới ph�a bắc lẫn ph�a nam.� Nếu th�nh c�ng, ch�nh s�ch n�y c� thể mang lại cho Mạc Tư Khoa đủ đ�n bẩy để buộc Bắc Kinh phải t�i tục, hay �t nhất t�i thương thảo, Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 theo c�c điều kiện của Mạc Tư Khoa.� Một chỉ dấu ban đầu của mối quan t�m của Bắc Kinh về Hiệp Ước S� Viết � Việt Nam được ph�t biểu bởi tờ Nh�n D�n Nhật B�o cảnh c�o rằng Mạc Tư Khoa đang sử dụng Việt Nam chống lại Trung Quốc như n� đ� cố gắng� trước đ�y � v� đ� thất bại � trong việc d�ng Cuba để tạo �p lực ngoại giao l�n tr�n Hoa Kỳ.� Bắc Kinh cũng cảnh c�o rằng mục đ�ch tối hậu của Mạc Tư Khoa l� �đặt to�n thể Đ�ng Dương dưới sự kiểm so�t của n�.

Qua việc k� kết bản hiệp ước ph�ng thủ S� Viết � Việt Nam h�m 3 Th�ng Mười Một 1978, LBSV đ� hy vọng sử dụng c�c quan hệ của n� với Việt Nam để ph� hỏng cơ mưu v� vượt thắng Trung Quốc.� Mối quan t�m ch�nh yếu của Trung Quốc rằng nếu c�c ch�nh s�ch của LBSV tại Việt Nam th�nh c�ng, khi đ� ch�nh quyền S� Viết c� thể buộc được một sợi d�y th�ng lọng qu�n sự v� chiến lược v�o cổ Trung Quốc.� Suốt từ khi c� sự rạn nứt Nga � Hoa, v� đặc biệt kể từ khi c� c�c cuộc xung đột bi�n giới Trung Quốc � S� Viết hồi cuối thập ni�n 1960, mục đ�ch chủ yếu của Bắc Kinh đ� l� việc x�y dựng tiềm năng qu�n sự của ch�nh n� nhằm đối ph� với Hồng Qu�n S� Viết, một mục đ�ch m� phần lớn n� đ� đạt được từ khoảng giữa đến cuối thập ni�n 1960, đầu thập ni�n 1970 khi qu�n số của QĐGPNDTQ được tường thuật đ� vươn tới 3.6 triệu qu�n.� Về mặt ngoại giao, Bắc Kinh vẫn tiếp tục gắng sức để th�c v�o cạnh sườn Mạc Tư Khoa bằng việc ch�nh thức b�nh thường h�a c�c quan hệ của n� với Hoa Thịnh Đốn h�m 1 Th�ng Một 1979.� T�c giả Ramses Amer đ� kết luận rằng c�c li�n minh mới của LBSV v� Trung Hoa đ� được nối kết một c�ch chặt chẽ: Ch�nh v� thế hai li�n minh chiến lược đ� được tạo lập trong những th�ng cuối c�ng của năm 1978, một li�n minh S� Viết � Việt Nam, v� một li�n minh Trung Quốc � Mỹ, v� ch�ng sẽ chế ngự trong khoảng một thập ni�n�.

Như một kết quả của sự tiến lại gần nhau giữa Trung Quốc v� Mỹ hồi đầu năm 1979, mối quan t�m của Mạc Tư Khoa về một cuộc chiến tranh tr�n hai mặt trận với c�c lực lượng của khối NATO do Mỹ cầm đầu tại ph�a t�y v� c�c lực lượng Trung Quốc tại ph�a đ�ng được n�ng cao.� Điều n�y c� thể đ� thuyết phục Mạc Tư Khoa gia tăng sự ủng hộ của n� cho cuộc x�m lăng đang tiếp diễn của Việt Nam v�o Căm Bốt, một biến cố m� t�c giả Robert Ross đ� nối kết một c�ch chặt chẽ với cuộc tấn c�ng sau đ� của Trung Quốc v�o Việt Nam khi �ng lập luận rằng sự tan vỡ của đồng minh th�n cận của Trung Quốc tại Căm Bốt khiến cho Bắc Kinh phải lo ngại rất nhiều.� Trong khi Bắc Kinh kh�ng sẵn l�ng can thiệp một c�ch trực tiếp tại Căm Bốt để chặn đứng sự x�m lấn của V9ệt Nam, cuộc x�m lăng qu�n sự của Trung Quốc v�o v�ng l�nh thổ tranh chấp giữa Trung Quốc � Việt Nam trong thực tế đ� �đồng bộ� một c�ch chặt chẽ với cuộc x�m lăng của Việt Nam tại Căm Bốt.� T�c giả Ross c�n kết luận th�m rằng c�c cuộc tranh chấp đang tiếp diễn tại Căm Bốt v� bi�n giới Trung Quốc � Việt Nam đ� c� một �sự li�n kết cơ hữu�, khi c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc đ� cảnh c�o Việt Nam đừng suy nghĩ một c�ch sai lầm rằng Trung Quốc th� �yếu ớt v� dễ bị bắt nạt�.

Tuy nhi�n, trong sự ph�n t�ch cuối c�ng, Việt Nam l� một nước tương đối nhỏ cả về mặt d�n số lẫn sức mạnh qu�n sự, v� rất c� thể sự đến nơi đột ngột của c�c số lượng to lớn c�c cố vấn S� Viết � ước lượng 5000 đến 8000 người v�o giữa năm 1979 � v� c�c số lượng khổng lồ c�c đồ tiếp tế qu�n sự đ� b�o hiệu kh�ng tốt cho an� ninh chiến lược tức thời của Trung Quốc; ch�nh v� thế, theo t�c giả King C. Chen, �Nếu kh�ng c� li�n minh S� Viết � Việt Nam, cuộc chiến tranh mười s�u ng�y giữa Trung Quốc v� Việt Nam c� thể đ� kh�ng được giao tranh�.� Trong một sự nh�n nhận r� r�ng rằng sự hợp t�c qu�n sự của LBSV với Việt Nam đ� khiến Trung Quốc lo ngại s�u xa, Đặng Tiểu B�nh đ� c�ng khai thừa nhận rằng �li�n minh qu�n sự� mới n�y giữa S� Viết v� Việt Nam thực sự đ�ng l� một phần trong mục đ�ch trong trường kỳ của LBSV mong muốn �bao v�y Trung Quốc�.

Tiếp theo sau sự k� kết bản Hiệp Ước S� Viết � Việt Nam h�m 3 Th�ng Mười Một 1978, Bắc Kinh đ� phải t�m kiếm một phương c�ch để ph� vỡ mưu toan bao v�y Trung Quốc của S� Viết.� Ch�nh từ đ�, nỗi lo sợ bị �p hai b�n sườn bởi Mạc Tư Khoa đ� l� c�ng cụ trong việc th�c đẩy Bắc Kinh phải h�nh động.� R� r�ng, bước tiến đầu ti�n của Trung Quốc l� trắc nghiệm quyết t�m của LBSV để xem l� liệu n� c� l�m đ�ng theo hiệp ước của n� với Việt Nam hay liệu n� sẽ l�i lại v� chấp nhận sự thất bại.� Đặng Tiểu B�nh c�n được tường thuật c� n�i với Tổng Thống Carter trong Th�ng Một 1979 rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc v� Việt Nam sẽ �l�m sụp đổ c�c t�nh to�n chiến lược của S� Viết ��� Hậu quả, ngay t�c giả Ross đ� kết luận rằng theo ch�n sự chiếm đ�ng th�nh c�ng của Việt Nam tại Căm Bốt, ch�nh sự �bao v�y ph�t sinh của S� Viết nhắm v�o Trung Quốc đ� nhất thiết tạo ra một cuộc x�m lăng hạn chế v�o Việt Nam�.

 

Cuộc Chiến Tranh Trung Quốc � Việt Nam Năm 1979

C�c lực lượng Trung Quốc đ� x�m lăng Việt Nam h�m 17 Th�ng Hai năm 1979. �Mặc d� c�c động lực x�c thực nằm dưới cuộc tấn c�ng của Trung Quốc vẫn c�n được mở ngỏ cho sự giải th�ch, mối quan ngại của Bắc Kinh rằng hiệp ước ph�ng thủ hai mười lăm năm của Mạc Tư Khoa với H� Nội c� thể dẫn dắt đến việc qu�n sự h�a của S� Viết v�ng bi�n giới Trung Quốc � Việt Nam chắc chắn đ� l� một yếu tố quan trọng; Mạc Tư Khoa c� thể cũng đ� hy vọng rằng bản hiệp ước của n� với H� Nội sẽ l�m chuyển hướng c�c bộ đội Trung Quốc khỏi miền bắc, do đ� l�m suy yếu sự ph�ng thủ qu�n sự của Trung Quốc dọc theo bi�n giới Trung Quốc � S� Viết.

Tuy nhi�n, c�c hy vọng của Mạc Tư Khoa đ� bị tan t�nh khi Bắc Kinh quyết định tiến đ�nh Việt Nam.� Chỉ sau ba tuần lễ giao tranh, Trung Quốc đ� triệt tho�i v� c�c tranh chấp tr�n bi�n giới Trung Quốc � Việt Nam vẫn c�n chưa được giải quyết.� Đối với phần lớn c�c người b�n ngo�i, h�nh động qu�n sự của Trung Quốc ch�nh v� thế r� r�ng l� một sự thất bại.� Nhưng nếu mục đ�ch thực sự đ�ng sau cuộc tấn c�ng của Trung Quốc l� nhằm bộc lộ c�c sự bảo đảm của S� Viết về sự ủng hộ qu�n sự cho Việt Nam l� một sự dối tr�, khi đ� sự từ khước của LBSV để can thiệp đ� chấm dứt một c�ch hữu hiệu bản hiếp ước ph�ng thủ S� Viết � Việt Nam.� Ch�nh v� thế, Bắc Kinh đ� đạt được một thắng lợi chiến lược r� r�ng bằng việc ph� vỡ sự bao v�y của S� Viết v� bằng việc loại trừ sự đe dọa của Mạc Tư Khoa về một cuộc chiến tranh tr�n hai mặt tr�n.

V�o ng�y 15 Th�ng Hai, 1979, kh�ng chỉ l� ng�y đ�nh dấu 29 năm sự thỏa thuận của họ Mao v� Stalin về M�ng Cổ m� c�n l� ng�y đầu ti�n m� Trung Quốc c� thể ch�nh thức loan b�o sự chấm dứt bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Li�n Minh v� Trợ Gi�p Hỗ Tương giữa S� Viết � Trung Quốc, Đặng Tiểu B�nh đ� tuy�n bố rằng Trung Quốc đ� hoạch định để thực hiện một cuộc tấn c�ng hạn chế đ�nh Việt Nam.� Để ngăn cản sự can thiệp của S� Viết nh�n danh Việt Nam, họ Đặng đ� cảnh c�o Mạc Tư Khoa trong ng�y kế đ� rằng Trung Quốc đ� chuẩn bị một cuộc chiến tranh to�n diện chống lại LBSV; trong sự chuẩn bị cho cuộc xung đột n�y, Trung Quốc đ� đặt to�n thể binh sĩ của n� dọc theo bi�n giới Trung Quốc � S� Viết v�o sự b�o động chiến tranh khẩn cấp, thiết lập một bộ chỉ huy qu�n sự mới tại T�n Cương, v� c�n cho di tản khoảng 300,000 thường d�n ra khỏi bi�n giới Trung Quốc � S� Viết (Chang Pao-min, Kampuchea Between China and Vietnam (Singapore, Singapore University Press, 1985), 88-89).

Ngo�i ra, khối c�c lực lượng ứng chiến của Trung Quốc (nhiều đến nửa triệu binh sĩ) được đồn tr� dọc bi�n giới của Trung Quốc với LBSV. (Robert A. Scalapino, �Asia in a Global Context: Strategic Issue for the Soviet Union�, trong s�ch bi�n tập bởi Richard H. Solomon v� Masataka Kosaka, The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA, Auburn House Publishing Company, 1986), 28).

Như hứa hẹn, cuộc tấn c�ng qu�n sự của Trung Quốc đ�nh Việt Nam khởi sự h�m 17 Th�ng Hai, 1979, trong v�ng ba ng�y kỷ niệm lần thứ 29 bản Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950.� Như họ Đặng đ� loan b�o, ngay từ bước khởi đầu Trung Quốc đ� thực hiện một hoạt động hạn chế chống lại Việt Nam.� Kh�ng chỉ nhiều binh sĩ thiện chiến nhất của Trung Quốc được đồn tr� dọc bi�n giới Trung Quốc � S� Viết, Bắc Kinh c�n quyết định kh�ng điều động khoảng 500 chiến đấu cơ v� oanh tạc cơ m� n� đ� cho đồn tr� trong khu vực.� Để đ�p ứng lại cuộc tấn c�ng của Trung Quốc, LBSV đ� ph�i v�i t�u hải qu�n v� khởi sự một cuộc kh�ng vận vũ kh� S� Viết sang Việt Nam.� V�o ng�y 22 Th�ng Hai 1979, Đại T� N. A. Trarkov, t�y vi�n qu�n sự S� Viết, tại H� Nội, c�n đe dọa rằng LBSV sẽ �thi h�nh c�c tr�ch vụ của n� chiếu theo bản hiệp ước S� Việt � Việt Nam�; tuy nhi�n, ở c�c nơi kh�c, c�c nh� ngoại giao S� Viết c� n�i r� rằng LBSV sẽ kh�ng can thiệp chừng n�o cuộc xung đột vẫn c�n được hạn chế.� (John Blodgett, �Vietnam: Soviet Pawn or Regional Power?�, trong s�ch bi�n tập bởi Rodney W. Jones v� Steven A. Hildreth, Emerging Powers Defense and Security in the Third World (New York, Praeger Publishers, 1986), 98).� LBSV r� r�ng kh�ng c� � định mạo hiểm v�o một cuộc chiến tranh to�n diện với Trung Quốc v� Việt Nam.

Sau ba tuần lễ giao tranh dữ dội, Trung Quốc c� thể tuy�n bố rằng n� đ� chiếm đoạt được ba trong s�u tỉnh lỵ của Việt Nam � Cao Bằng, Lạng Sơn, v� L�o Cai � nằm gi�p ranh với Trung Quốc.� Mặc d� c�c lực lượng Trung Quốc c� tổng số hơn một phần tư triệu qu�n, ph�a Việt Nam đ� d�ng c�c chiến thuật để cướp đi một thắng lợi mau ch�ng của ph�a Trung Quốc.� Khi Bắc Kinh loan b�o � định của n� để triệt tho�i c�c bộ đội của n� h�m 5 Th�ng Ba, 1979, v� thế, r� r�ng l� c�c mục đ�ch chủ yếu của cuộc tấn c�ng n�y vẫn chưa đạt được; tức, tiềm năng qu�n sự của Việt Nam chưa bị tổn hại nghi�m trọng bởi Trung Quốc.� Từ đ� về sau, bi�n giới Trung Quốc � Việt Nam vẫn c�n căng thẳng khi, sau chưa đầy ba tuần lễ giao tranh, Trung Quốc triệt tho�i khỏi Việt Nam.

Đối với nhiều quan s�t vi�n b�n ngo�i, điều r� r�ng rằng cuộc tấn c�ng của Trung Quốc v�o Việt Nam đ� l� một sự thất bại trọn vẹn v� tổng qu�t.� Nhưng như t�c giả Banning Garrett đ� nhận x�t một c�ch ch�nh x�c, �ph�a Trung Quốc đ� chứng tỏ rằng họ đ� c� thể tấn c�ng một đồng minh của S� Viết m� kh�ng c� sự trả đũa từ �con gấu bắc cực bằng giấy�.� (Banning Garrett, �The Strategic Triangle and the Indochina Crisis�, trong s�ch bi�n tập bởi David W. P. Elliott, The Third Indochina Conflict (Boulder, CO, Westview Press, 1981), 212).

Trong thực tế, bằng việc chứng minh rằng LBSV sẽ kh�ng t�ch cực can thiệp nh�n danh Việt Nam, Trung Quốc vững tin rằng sự chấm dứt của n� bản Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 cũng sẽ kh�ng dẫn đến chiến tranh.� Kết quả, v�o ng�y 3 Th�ng Tư, 1979, Bắc Kinh đ� loan b�o c�c � định của n� nhằm chấm dứt bản Hiệp Ước Th�n Hữu, Li�n Minh v� Trợ Gi�p Hỗ Tương giữa Trung Quốc � S� Viết năm 1950.� Từ đ� về sau, mặc d� c�c cuộc thương thuyết giữa Trung Quốc v� S� Viết được mở ra một c�ch ch�nh thức trong Th�ng Mười 1979, cuộc x�m lăng của S� Viết v�o A Ph� H�n đ� mang lại cho Trung Quốc một duy�n cớ để b�i bỏ c�c cuộc họp tương lai, theo đ� loại trừ bất kỳ nhu cầu tức thời n�o để thương thảo một hiệp ước ngoại giao mới giữa Trung Quốc v� S� Viết.

Bởi v� c�c động lực đ�ch thực nằm dưới cuộc x�m lăng năm 1979 của Trung Quốc v�o Việt Nam vẫn chưa được r�, c�c học giả nghi�n cứu cuộc xung đột n�y đ� đề xướng ra nhiều l� thuyết vững chắc khả t�n.� C� lẽ l� thuyết th�ng thường nhất rằng Trung Quốc mong muốn �trừng phạt� Việt Nam v� việc x�m lăng Căm Bốt, một khu vực trước đ�y đ� từng được xem l� một nước triều cống đối với đế quốc Trung Hoa.� C�c vấn đề kh�c giữa Trung Quốc � Việt Nam, chẳng hạn như c�c sự tranh chấp l�nh thổ tại Quần Đảo Trường Sa v� cuộc di cư ồ ạt của d�n gốc Hoa từ Việt Nam, cũng đ� được ph�c họa như c� đ�ng giữ một vai tr� quan trọng.� Tuy nhi�n, điều khả t�n nhất l� một số tương đối nhỏ c�c nh� học giả đ� lập luận rằng quyết định của Việt Nam để ph�t huy c�c quan hệ gần gủi hơn với LBSV đ� l� l� do ch�nh yếu đ�ng sau cuộc tấn c�ng của Trung Quốc.

Trong số c�c học giả n�y, c�c người đ� n�u giả thuytết rằng c�c h�nh động của Trung Quốc l� một sự đ�p ứng đối với bản hiệp ước ph�ng thủ S� Viết � Việt Nam ng�y 3 Th�ng Mười Một 1978, đ� c� một loạt rộng lớn c�c sự giải th�ch về việc liệu ch�nh s�ch của Trung Quốc đ� l� một sự th�nh c�ng hay thất bại.� Th� dụ, theo t�c giả Gerald Segal, ch�nh s�ch của Trung Quốc đ� thất bại bởi v� n� đ� kh�ng đặt bản hiệp ước ph�ng thủ S� Viết � Việt Nam v�o sự �trắc nghiệm tối hậu�.� T�c giả Robert Ross cũng đ� kết luận rằng ch�nh s�ch của Trung Quốc l� một sự thất bại, mặc d� �ng t�ch cực hơn Segal bằng việc cho rằng cuộc chiến tranh Trung � Việt l� lần đầu ti�n kể từ năm 1949 m� Trung Quốc đ� sử dụng vũ lực khi l�nh thổ của n� kh�ng bị đe dọa một c�ch trực tiếp, ch�nh v� thế chứng tỏ rằng Trung Quốc giờ đ�y c� khả năng để �h�nh động như một quyền lực cấp v�ng với c�c quyền lợi cấp v�ng�.� Sau c�ng, t�c giả Banning Garrett v� Nayan Chanda th� t�ch cực hơn, �t nhất c�ng nhận c�c lời tuy�n bố của Trung Quốc rằng cuộc chiến tranh Trung � Việt dở dang đ� l� một sự th�nh c�ng bởi n� chứng tỏ rằng LBSV l� một �con gấu bắc cực bằng giấy�v� Mạc Tư Khoa từ khước kh�ng thi h�nh c�c nghĩa vụ theo hiệp ước của n� nh�n danh H� Nội.

C� lẽ quan điểm t�ch cực nhất về cuộc xung đột Trung � Việt đến từ t�c giả Chang Pao-min.� Theo t�c giả Chang, khi người ta cứu x�t cuộc xung đột n�y từ một quan điểm của Bắc Kinh, khi đ� bản hiệp ước ph�ng thủ S� Viết � Viết Nam năm 1978 đ� l� một sự đe dọa r� r�ng đến an ninh của Trung Quốc.� LBSV đ� kh�ng chỉ hy vọng sử dụng hiệp ước n�y để dựng l�n một �Hệ Thống An Ninh Tập Thể � Ch�u� nhắm v�o Trung Quốc, nhưng c�c quan hệ qu�n sự của n� với Việt Nam được m� tả như một mưu toan để �đe dọa v� nỗ lực nhằm tr�i buộc Trung Quốc từ ph�a nam�; trong kh�a cạnh n�y, Việt Nam được m� tả trong c�c lời tuy�n bố sau n�y của Trung Quốc như l� �con dao m� Li�n Bang S� Viết kề sau lưng Trung Quốc�.� Do đ�, như t�c giả Chang nhận x�t, cuộc xung đột Trung � Việt phải được nh�n như một phản ứng trước mưu toan của Li�n Bang S� Viết muốn d�ng Việt Nam �để ngăn chặn v� bao v�y Trung Quốc tại Đ�ng Nam � � [ch�nh v� thế đặt ra] một sự đe dọa nghi�m trọng cho cạnh sườn ph�a nam của Trung Quốc�.

C�c lập luận tr�nh b�y trong b�i viết n�y c� khuynh hướng ủng hộ quan điểm rằng cuộc chiến tranh Th�ng Hai 1979 của Trung Quốc với Việt Nam đ� l� một sự th�nh c�ng.� Một khi Bắc Kinh tin tưởng rằng Mạc Tư Khoa sẽ kh�ng can thiệp nh�n danh H� Nội, điều n�y khiến cho Bắc Kinh mạnh dạn để đoạn tuyệt ho�n to�n với Mạc Tư Khoa; sự đoạn tuyệt n�y c� thể nhận thấy r� nhất trong lời loan b�o h�m 3 Th�ng Tư 1979 của Bắc Kinh rằng n� c� � định chấm dứt bản Hiệp Ước S� Viết � Trung Quốc năm 1950.� Như bằng chứng cuối c�ng rằng c�c ch�nh s�ch của Trung Quốc tại Việt Nam được nối kết một c�ch rối rắm với LBSV, t�c giả Amers đ� ghi nhận nhận một c�ch x�c thực rằng quyết định năm 1988 của Trung Quốc về việc gỡ bỏ c�c quan hệ bi�n giới của n� với Việt Nam ra khỏi vấn đề Căm Bốt tuơng ứng gần như ch�nh x�c với c�c nỗ lực của Gorbachev nhằm b�nh thường h�a c�c quan hệ với Trung Quốc v� cải thiện c�c quan hệ của LBSV với c�c quốc gia thuộc khối ASEAN.� Ch�nh v� thế, bằng việc ph� vỡ sự bao v�y của S� Viết v� loại trừ được mối đe dọa của Mạc Tư Khoa về một cuộc chiến tranh tr�n hai mặt trận, Trung Quốc đ� đạt được một thắng lợi chiến lược quan trọng đối với LBSV.

 

LBSV C� Phải L� �Con Gấu Bắc Cực Bằng Giấy�?

C�c học giả T�y Phương gần như nhất tr� kết luận rằng cuộc x�m lăng năm 1979 của Trung Quốc v�o Việt Nam l� một sự thất bại.� Th� dụ, theo t�c giả Gerald Segal, �cuộc chiến tranh Trung � Việt năm 1979 đ� l� một sự thất bại trong ch�nh s�ch ngoại giao quan trọng nhất kể từ 1949�.� T�c giả Robert Roos đ� đồng � phần lớn, ph�t biểu: �Sự thất bại trong ch�nh s�ch của Trung Quốc nhấn mạnh vai tr� mơ hồ của quyền lực cấp v�ng trong ch�nh trị quốc tế đương đại�.� Gần đ�y nhất, t�c giả Ellis Joffe, một chuy�n vi�n về QĐGPNDTQ tại Đại Học Hebrew University tại Jerusalem, đ� kết luận: �Trung Quốc bị tổn thương bởi c�c biện ph�p hạn chế chống lại Việt Nam hồi năm 1979.� Trung Quốc t�m c�ch giảng dạy cho Việt Nam một b�i học, nhưng Việt Nam đ� dạy cho Trung Quốc một b�i học�. (�Strait of Uncertainty Taiwan braves increased pressure from China�, Far Eastern Economic Review, 8 Th�ng Hai 1996, 20-21.)

C�c sự lượng định ti�u cực n�y của T�y Phương th� tương phản một c�ch sắc n�t với c�c lời tuy�n bố của ch�nh Bắc Kinh rằng cuộc chiến tranh năm 1979 của n� chống lại Việt Nam l� một sự th�nh c�ng, bởi v� quyết định của Mạc Tư Khoa kh�ng can thiệp chứng tỏ rằng LBSV chỉ l� một �con gấu bắc cực bằng giấy�.� Bắc Kinh r� r�ng sẵn l�ng hậu thuẫn lời tuy�n bố n�y bằng h�nh động, khi n� kh�ng chỉ loan b�o sự chấm dứt bản Hiệp Ước S� Viết � Trung Quốc năm 1950 m� rồi sau n�y c�n chuyển đến Mạc Tư Khoa ba điều kiện ti�n quyết cho việc cải thiện c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết.� Ba điều kiện ti�n quyết n�y gồm: 1) triệt tho�i bộ đội S� Viết ra khỏi bi�n giới Trung Quốc � S� Viết v� M�ng Cổ, 2) triệt tho�i binh sĩ S� Viết ra khỏi A Ph� H�n, v� 3) đ�nh chỉ sự ủng hộ của S� Viết cho sự x�m nhập của Việt Nam v�o Căm Bốt.� (Yao Wengin, �Soviet Military Deployments in the Asia-Pacific Region: Implications for China�s Security�, trong s�ch đồng bi�n tập bởi Richard H. Solomon v� Masataka Kosaka, The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 103.)

V� thế, ngo�i việc chấp nhận một vị thế khẳng định hơn trong c�c quan hệ của n� với LBSV, c�c l�n bang ph�a nam của Trung Quốc cũng buộc phải đối xử với Trung Quốc với nhiều sự nể trọng hơn; theo một b�o c�o năm 1986, bởi H� Nội bị thua v�n cờ năm 1979 rằng Bắc Kinh sẽ kh�ng bao giờ thực sự tấn c�ng, Việt Nam, �bị trừng phạt bởi kinh nghiệm năm 1979, giờ đ�y đồn tr� 700,000 qu�n chiến đấu tại phần ph�a bắc của xứ sở�. (Karl D. Jackson, �Indochina, 1982-1985: Peace Yields to War�, trong s�ch đồng bi�n tập bởi Richard H. Solomon v� Masataka Kosaka, The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 206.)

Vai tr� khẳng định hơn của Trung Quốc tại � Ch�u trong suốt thập ni�n 1980 v� thế khi�n ta nghĩ rằng Bắc Kinh đ� thực sự tin tưởng rằng n� đ� chiến thắng trong cuộc chiến tranh Trung � Việt năm 1979.� Ch�nh từ đ�, mặc d� t�c giả Nayan Chanda v� c�c t�c giả kh�c cảnh c�o rằng c�c lời tuy�n bố của Trung Quốc rằng LBSV đ� chỉ l� một �con gấu bắc cực bằng giấy� c� thể ho�n to�n l� sự tuy�n truyền, c�c h�nh động của ch�nh Bắc Kinh cho thấy rằng họ tin tưởng một c�ch vững chắc quan điểm n�y.� Ch�nh v� l� do n�y m� c�c cuộc thảo luận gần đ�y về thời điểm khi m� Cuộc Chiến Tranh Lạnh thực sự được chấm dứt sẽ r� r�ng c� một sự li�n quan trực tiếp đến sự x�c quyết năm 1979 của Bắc Kinh rằng Mạc Tư Khoa đ� sẵn qu� yếu k�m để giao chiến.� Trong thực tế, theo c�i nh�n của Trung Quốc, sự thất bại của LBSV kh�ng can thiệp nh�n danh Việt Nam trong năm 1979 đ� l� bằng chứng t�ch cực rằng Mạc Tư Khoa đ� kh�ng c�n l�ng dạ để chiến đấu một cuộc chiến tranh quan trọng; n�i c�ch kh�c, kỷ nguy�n nguy hiểm nhất của Chiến Tranh Lạnh đ� sẵn qua đi.

Cho đến nay, cuộc thảo luận phổ qu�t rằng liệu Cuộc Chiến Tranh Lạnh đ� thực sự bị vượt qua sớm hơn sự sụp đổ của Bức Tưiờng B� Linh năm 1989 vốn xoay quanh c�c lời tuy�n bố được đưa ra bởi vi�n Tướng 4 S� Viết bốn sao Anatoly Gribkov, cựu tham mưu trưởng Thỏa Ước Warsaw hồi đầu thập ni�n 1980.� Gribkov đặt c�c lập luận của �ng tr�n sự kiện rằng v�o Th�ng Mườ� Hai năm 1981, Bộ Ch�nh Trị S� Viết r� r�ng đ� đ�nh mất � ch� ch�nh trị để sử dụng vũ lực nhằm giữ vững sự kiểm so�t đế quốc mở rộng của họ.� Sự lượng định n�y được dựa tre6n sự từ khước của Bộ Ch�nh Trị kh�ng gửi binh sĩ đến Ba Lan để ph� tan một sự nắm quyền b�nh của phe d�n chủ, một dấu hiệu của sự suy yếu m� Gribkov vạch ra như bằng chứng rằng LBSV đ� thực sự �thua� Cuộc Chiến Tranh Lạnh ngay từ 1981.� (The Two Trillion Dollar Mistake�, Worth, (February 1996), 78-83/128-129.)

Bi�n bản một phi�n họp của Bộ Ch�nh Trị S� Viết từ ng�y 10 Th�ng Mười Hai 1981 được giải mật gần đ�y c� khuynh hướng hậu thuẫn cho sự tuy�n x�c của Gribkov, qua việc ph� b�y rằng giải ph�p gửi binh sĩ chống lại đảng �Li�n Đới: Solidarity� của Ba Lan được b�c bỏ một c�ch nhất tr� bởi Mạc Tư Khoa v� c� sự bất trắc qu� to lớn. �(Cold War International History Project Bulletin, Issue 5 (spring 1995), 135-137).� Ngo�i ra, c�c bi�n bản n�y cũng tiết lộ rằng Bộ Ch�nh Trị đ� cứu x�t một c�ch nghi�m trọng sự tho�i bộ tại v�ng Viễn Đ�ng qua việc ra lệnh r�t qu�n S� Viết ra khỏi M�ng Cổ; nếu Mạc Tư Khoa thực sự thi h�nh kế hoạch n�y, khi đ� n� đ� nhượng bộ một trong ba điều kiện ti�n quyết của Bắc Kinh cho việc cải thiện c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết.

C�c t�i liệu S� Viết n�y, v� c�c t�i liệu kh�c tương tự như ch�ng, r� r�ng hậu thuẫn cho lời x�c quyết của Gribkov rằng v�o năm 1981 giới l�nh đạo S� Viết đ� sẵn mất khả năng sử dụng vũ lực hầu chống đỡ đế quốc S� Viết đang tan t�nh.� Ch�nh c�ng l� luận n�y cũng c� thể �p dụng cho cuộc xung đột Trung � Việt năm 1979, bởi cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam r� r�ng đặt ra một sư đe dọa thực sự cho an ninh v� sự ổn định của khu vực ảnh hưởng của S� Viết tại Đ�ng Nam �.� Ch�nh sự kiện rằng Bộ Ch�nh Trị S� Viết từ khước kh�ng chu to�n c�c nghĩa vụ theo hiệp ước của n� với Việt Nam v� đ� từ chối can thiệp chống lại Trung Quốc khiến ta nghĩ rằng lập luận của Gribkov cho rằng Bộ Ch�nh Trị S� Viết đ� mất � chị ch�nh trị để duy tr� đế quốc của n� lại với nhau bằng vũ lực cũng c� thể �p dụng một c�ch đồng c�n sức � nếu kh�ng phải nhiều hơn � cho kết cuộc của cuộc chiến tranh Trung � Việt năm 1979.�

Sự sụp đổ của Bức Tường B� Linh năm 1989 v� sự tan r� kh�ng ngờ của LBSV năm 1991 đ�i hỏi một sự lượng định mới về t�c động của c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết tr�n cuộc xung đột Trung � Việt Th�ng Hai 1979.� Một kh�a cạnh của sự lượng định n�y phải được cứu x�t liệu lời tuy�n x�c năm 1979 của Trung Quốc rằng LBSV đ� sẵn l� một �con gấu bắc cực bằng giấy� giờ đ�y c� vẻ khả t�n hơn chiếu theo sự giải t�n sau n�y của LBSV.� Mặc d� lời tuy�n x�c của Gribkov rằng Chiến Tranh Lạnh đ� sằn bị vượt qua năm 1981 c� thể sớm hơn nhiều thời hạn m� phần lớn c�c học giả T�y Phương sẵn l�ng chấp nhận, n� đi sau v�i năm theo c�i nh�n của Trung Quốc.� V� thế, trong sự hậu x�t, hạn kỳ 1979 của Trung Quốc kh�ng chỉ c� vẻ khả t�n, m� đối với c�c học giả tương lai, một ng�y n�o� d�, thời điểm 1979 c� thể chứng tỏ rằng c�n ch�nh x�c hơn năm 1981.� Nếu như thế, khi đ� Bắc Kinh phải được d�nh cho c�ng lao th�ch đ�ng cho việc x�c định một c�ch ch�nh x�c c�c triệu chứng Viễn Đ�ng trong c�c nhược điểm nội tại của Mạc Tư Khoa sớm hơn hai năm trước khi c�c dấu hiệu tương tự trở n�n nhận thức được bởi khối T�y.� Điều n�y khi đ� n�u l�n c�u hỏi liệu �bước khởi đầu của sự kết th�c� Chiến Tranh Lạnh đ� thực sự xảy ra trong năm 1979, do kết quả của sự từ khước của Mạc Tư Khoa chấp nhận sự th�ch đố trơ tr�o của Bắc Kinh đối với ưu thế qu�n sự của LBSV tại Viễn Đ�ng hay kh�ng.

 

Kết Luận

C�c cuộc nghi�n cứu trước đ�y về cuộc xung đột Trung � Việt ng�y 17 Th�ng Hai 1979 n�i chung ph�c họa c�c h�nh động của Trung Quốc như một sự thất bại tuyệt đối.� B�i viết n�y, ngược lại, đ� nỗ lực để t�i lượng gi� cuộc chiến tranh Trung � Việt dưới kh�a canh c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết bằng việc li�n kết cuộc xung đột n�y với lần kỷ niệm 29 năm ng�y k� kết Hiệp Ước Hữu Nghị, Li�n Minh v� Trợ Gi�p Hỗ Tương giữa Trung Quốc � S� Viết h�m 14 Th�ng Hai năm 1950.� Như một kết quả trực tiếp của quyết định của S� Viết kh�ng can thiệp nh�n danh Việt Nam, Trung Quốc trở n�n tin tưởng rằng LBSV thiếu mất � ch� ch�nh trị để vận dụng đến chiến tranh hầu chống đỡ khu vực ảnh hưởng của S� Viết tại � Ch�u.� Sự tin tưởng n�y đ� dẫn dắt Bắc Kinh đến việc th�ng b�o Mạc Tư Khoa h�m 3 Th�ng Tư 1979 rằng Trung Quốc c� � định chấm dứt bản Hirệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 khi đạt tới hết thời hiệu 30 năm của n� v�o năm 1980.

Từ 1950 cho đến 1979, Hiệp Ước Hữu Nghị, Li�n Minh, v� Trợ Gi�p Hỗ Tương Trung Quốc � S� Viết năm 1950 đ� l� nền tảng tr�n đ� c�c quan hệ Trung Quốc � S� Viết được đặt định.� Mặc d� c�c phần được c�ng bố của bản hiệp ước n�y được cung cấp từ l�u, nội dung đ�ch thực của c�c nghị định thư b� mật đ�nh k�m bản hiệp ước n�y phần lớn vẫn chưa được hay biết.� Tuy nhi�n, với c�c nghị định thư b� mật n�y li�n hệ đến c�c sự tranh chấp l�nh thổ Trung Quốc � S� Viết kh� r� r�ng, v� trong c�c thập ni�n 1950 v� 1960 c�c sự tranh chấp bi�n giới thường xuy�n giữa LBSV v� Trung Quốc đ� phản ảnh mức độ căng thẳng m� c�c nghị định thư b� mật đ� sản sinh ra.� Mặc d� kh�ng c� một trong c�c cuộc xung đột bi�n giới Trung Quốc � S� Viết n�o được ph�p để leo thang th�nh chiến tranh to�n diện, Bắc Kinh tiếp tục trắc nghiệm quyết t�m của LBSV để xem liệu n� c� vận dụng đến vũ lực hầu chống đỡ cho c�c điều khoản của Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 hay kh�ng.� Ch�nh từ đ�, trong quan điểm của Bắc Kinh, bản Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 đ� l� c�ng cụ trọng yếu qua đ� Mạc Tư Khoa đ� cố gắng để h�nh sử �b� quyền� của n� tr�n Trung Quốc v� khắp phần c�n lại của � Ch�u.

Ngược lại, Mạc Tư Khoa r� r�ng quan t�m đến những g� c� thể xảy ra khi Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết đạt tới thời hiệu 30 năm của n�.� Khởi sự trong năm 1969, LBSV thường xuy�n th�c dục Trung Quốc thay thế bản hiệp ước n�y bằng một thỏa ước nới.� Để buộc Bắc Kinh l�i bước, Mạc Tư Khoa đ� kh�ng chỉ gia cố c�c bi�n giới Trung Quốc � S� Viết v� M�ng Cổ, n� c�n thực hiện �p lực Trung Quốc từ ph�a nam, bằng việc ho�n tất một hiệp ước li�n minh với Việt Nam.� Ch�nh từ đ�, sự cải thiện c�c quan hệ S� Viết � Việt Nam, l�n đến cực điểm với sự k� kết hiệp ước ph�ng thủ S� Viết � Việt Nam h�m 3 Th�ng Mườu Một 1978, c� thể được nối kết một c�ch trực tiếp với c�c quan hệ đang tồi tệ của Trung Quốc với LBSV v�o cuối thập ni�n 1970.� Tuy nhi�n, thay v� l�i bước, Trung Quốc đ� x�m lăng Việt Nam h�m 17 Th�ng Hai, 1979, chỉ ba ng�y sau lễ kỷ niệm thứ 29 ng�y k� kết bản Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950.� Khi Mạc Tư Khoa từ khước can thiệp nh�n danh H� Nội, Bắc Kinh đ� quyết định rằng Bộ Ch�nh Trị S� Viết sẽ kh�ng vận dụng đến chiến tranh để buộc Trung Quốc phải duy tr� bản Hiệp Ước Trung Quốc � S� Viết năm 1950 v� như thế đ� mạnh dạn loan b�o h�m 3 Th�ng Tư 1980 rằng n� c� � định chấm dứt bản hiệp ước n�y.

Một trong c�c mục đ�ch ch�nh yếu của Bắc Kinh trong việc tấn c�ng Việt Nam l� nhằm bảo đảm rằng Trung Quốc kh�ng bị bao v�y cả ph�a bắc lẫn ph�a nam bởi c�c lực lượng S� Viết.� Cuộc x�m lăng năm 1979 của Trung Quốc v�o Việt Nam, bất kể c�c sự khuyết điểm hiển nhi�n của n�, đ� đạt được mục ti�u chiến lược n�y bởi sự từ khước của LBSV để can thiệp nh�n danh Việt Nam đ� triệt hạ mối đe dọa một cuộc chiến tranh tr�n hai mặt trận với LBSV v� Việt Nam.� Tr�n b�nh diện ngoại giao, Trung Quốc cũng gi�nh đạt được một chiến thắng r� r�ng chống lại c�c mưu toan của S� Viết nhằm �p lực Trung Quốc tiến tới việc k� kết một hiệp ước mới để thay thế hay bổ t�c bản Hiệp Ước Hữu Nghị, Li�n Minh, v� Trợ Gi�p Hỗ Tương giữa Trung Quốc � S� Viết ng�y 14 Th�ng Hai, 1950.� Sau c�ng, khi nh�n lại sau n�y, sự tuy�n bố của Trung Quốc rằng LBSV thực sự chỉ l� một �con gấu bắc cực bằng giấy� r� r�ng kh� ch�nh x�c, v� ch�nh v� thế tương trưng c� lẽ cho dấu hiệu b�n ngo�i đầu ti�n rằng đế quốc S� Viết đ� bị đe dọa bởi sự tan r� b�n trong, một sự tan r� chỉ trở n�n hiển hiện mười năm sau n�y với sự sụp đổ của Bức Tường B� Linh v� với sự giải t�n của LBSV năm 1991./- ��

 

Nguồn: b�i tham luận của t�c giả Bruce Elleman, đọc tại Cuộc Hội Thảo 1996 Vietnam Symposium, �After the Cold War: Reassessing Vietnam�, được tổ chức v�o c�c ng�y 18-20 Th�ng Tư, 1996 tại Vietnam Center, Texas Rech University, Lubbock, Texas

��

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

10.12.2012    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2012

������ ����