Chủ Đề:

CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC � VIỆT NAM 1979

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời Người Dịch:

 

�Chiến dịch 1979, �t nhất đối với Qu�n Đội Giải Ph�ng của Nh�n D�n Trung Quốc, l� một sự thất bại. Trung Quốc đ� ph�ng ra cuộc tấn c�ng của n� trong một nỗ lực để buộc Việt Nam phải r�t lui khỏi Căm Bốt. Trung Quốc đ� r�t lui khỏi Việt Nam h�m 16 Th�ng Ba, 1979, nhưng Việt Nam đ� kh�ng rời Căm Bốt m�i cho đến năm 1989.� �.

 

�Cuộc chiến tranh theo học thuyết họ Mao chưa dứt, nhưng ph�a Trung Quốc đ� học được một b�i học quan trọng.�

 

Tr�n đ�y l� phần kết luận chắc nịch của Edward C. ODow�d, một t�c giả h�ng đầu về Chiến Tranh Bi�n Giới Trung Quốc � Việt Nam Năm 1979, chủ đề của loạt b�i nghi�n cứu dưới đ�y về biến cố quan trọng diễn ra 33 năm trước. Đối chiếu với b�i học lịch sử l�u d�i của đất nước, r� r�ng vấn đề sinh tử của d�n tộc Việt Nam hiện nay l� phải t�m mọi c�ch đ� duy tr� được sự độc lập v� vẹn to�n l�nh thố, đồng thời tho�t ra khỏi sự lệ thuộc ngoại giao v� qu�n sự đ�ng tủi hổ đối với Trung Quốc.

 

1.Sun Dreyer
VIỆC N�Y DẪN DẮT VIỆC KIA:
V�NG XO�Y TR�N ỐC SỰ VẤN ĐỀ V�
CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC � VIỆT NAM (1979)
One Issue Leads to Another: Issue Spirals and the Sino-Vietnamese War (1979)
.


2. Steven J. Hood,
BẮC KINH, H� NỘI, V� Đ�NG DƯƠNG �
C�C BƯỚC TIẾN TỚI SỰ ĐỤNG ĐỘ
(Beijing, Hanoi, and Indochina � Steps to the Clash,
trong quyển Dragons Entangled: Indochina and the China-Vietnam War, 1992.


3. Zhang Xiaoming,
ĐẶNG TIỂU B�NH V�
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRUNG QUỐC
ĐI Đ�N CHIẾN TRANH
VỚI VIỆT NAM
(Deng Xiaoping and China�s Decision to Go to War with Vietnam),
Journal of Cold War Studies, Summer 2010, vol. 12, No. 3, 3-29.


4, Nicolas Khoo,
HỒI KẾT CUỘC CỦA
MỘT T�NH HỮU NGHỊ BẤT KHẢ HỦY DIỆT:
Sự T�i Xuất Hiện Của S� Viết v�
Sự Chấm Dứt Li�n Minh Trung Quốc � Việt Nam, 1975-1979
trong quyển Collateral Damage: Sino � Soviet Rivalry and the Termination
of The Sino � Vietnamese Alliance, Columbia University Press, 2011, 103-136.

 

5. Herbert S. Yee,
CUỘC CHIẾN TRANH
BI�N GIỚI TRUNG QUỐC � VIỆT NAM:
C�C ĐỘNG LỰC, C�C T�NH TO�N V�
C�C CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG
trong quyển The Sino-Vietnamese Border War: China�s Motives,
Calculations and Strategies, China Report (xuất bản
tại New Delhi, India), Bộ 16, số 1, 1980, c�c trang 15-32.

 

6. Edward C. ODow�d,
CHIẾN DỊCH NĂM 1979
trong quyển Chinese Military Strategy In The Third Indochina War,
The Last Maoist War, Routledge: New York, 2007, Chapter 4: The 1979 Campaign,
c�c trang 45-73; Chapter 5: The Battle of Lang Son, February � March 1979,
c�c trang 74-88; Chapter 0: Conclusion: the legacy of an �incredible, shrinking war�,
c�c trang 159-166.

 

7.  Edward C. ODow�d,
TRẬN Đ�NH LẠNG SƠN, TH�NG HAI � TH�NG BA 1979
trong quyển Chinese Military Strategy In The Third Indochina War,
The Last Maoist War, Routledge: New York, 2007, Chapter 4: The 1979 Campaign,
c�c trang 45-73; Chapter 5: The Battle of Lang Son, February � March 1979,
c�c trang 74-88; Chapter 0: Conclusion: the legacy of an �incredible, shrinking war�,
c�c trang 159-166.

 

8. Harlan W. Jenks,
CUỘC CHIẾN TRANH �TRỪNG PHẠT�
CỦA TRUNG QUỐC Đ�NH V�O VIỆT NAM:
MỘT SỰ LƯỢNG ĐỊNH VỀ QU�N SỰ
(�China�s �Punitive� War on Vietnam: A Military
Assessment�, Asian Survey 14, no. 8 (1979): 801-815.

 

9. Chen C. King,
CUỘC CHIẾN CỦA TRUNG QUỐC
Đ�NH VIỆT NAM:
MỘT PH�N T�CH QU�N SỰ
(�China�s War Against Vietnam: A Military Analysis�),
Journal of East Asian Affairs, no. 1 (1983): 233-63.
 

 

10. John M. Peppers, ,
CHIẾN LƯỢC TRONG XUNG ĐỘT CẤP V�NG:
MỘT TRƯỜNG HỢP NGHI�N CỨU
ĐIỂN H�NH VỀ TRUNG QUỐC
TRONG CUỘC CHIẾN TRANH Đ�NG DƯƠNG
LẦN THỨ BA NĂM 1979
(Strategy In Regional Conflict:
A Case Study of China In The Third Indochina Conflict of 1979),
U.S. Army War College, Carlisle Barracks, 2001.

 

11. Alexander Woodside
D�N TỘC CHỦ NGHĨA V�
NẠN NGH�O Đ�I
TRONG SỰ TAN VỠ C�C QUAN HỆ
TRUNG QUỐC � VIỆT NAM
Nationalism and poverty in the Breakdown
of Sino-Vie6namese Relations,
Pacific Affairs, Fall 1979,
c�c trang 381-409.

   

12. Dennis Duncanson

CHIẾN TRANH VIỆT NAM
CỦA TRUNG QUỐC:
C�C Đ�I HỎI CHIẾN LƯỢC CŨ V� MỚI
China�s Vietnam War:
new and old strategy imperatives,
The World Today, 35, số 6 (1979),
c�c trang 241-248.

 

13. James Mulvenon

C�C GIỚI HẠN CỦA NGOẠI GIAO CƯỠNG H�NH:
CUỘC CHIẾN TRANH BI�N GIỚI
TRUNG QUỐC � VIỆT NAM NĂM 1979
Limits of Coercive Diplomacy:
The 1979 Sino-Vietnamese Border War,
Journal of Northeast Asian Studies; Fall 95,
Vol. 14 Issue 3, c�c trang 68-88.

 

14. Andrew Scobell

NGOẠI GIAO CƯỠNG H�NH NỬA VỜI:
CUỘC TẤN C�NG NĂM 1979 CỦA TRUNG QUỐC 
Đ�NH VIỆT NAM
�Explaining China�s Use of Force�,
China�s Use of Military Force Beyond the Great Wall and the Long March
Cambridge, United Kingdom: Cambridge University Press, 2003
c�c trang 192-198.

 

15. Daniel Tretiak

CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA TRUNG QUỐC
V� C�C HẬU QUẢ CỦA N�
�China�s Vietnam War and Its Consequences,� The China Quarterly 80 (1979), c�c trang 740-67.

   

16. Bruce Burton

C�C SỰ GIẢI TH�CH ĐỐI CHỌI
 VỀ CUỘC CHIẾN TRANH
 TRUNG QUỐC - VIỆT NAM NĂM 1979
�Contending explanations of the 1979 Sino � Vietnamese War�,
International Journal, Volume XXXIV, no. 4/Autumn 1979, c�c trang 699-722.

 

17. Ramesh Thakur

TỪ SỐNG CHUNG ĐẾN XUNG ĐỘT:
C�C QUAN HỆ
H� NỘI � MẠC TƯ KHOA � BẮC KINH
V� CUỘC CHIẾN TRANH TRUNG � VIỆT
Coexistence to Conflict: Hanoi-Moscow-Pekings Relations and The China-Vietnam War,
The Australian Outlook, Volume 34, số 1, 1980, c�c trang 64-74.

 

18. Todd West

TỪ SỐNG SỰ NGĂN CẤM  KH�NG TH�NH  C�NG
CUỘC XUNG ĐỘT TRUNG QUỐC � VIỆT NAM NĂM 1979
Failed Deterrence, The 1979 Sino-Vietnamese Conflict,
Stanford University Journal of East Asian Affairs,  Vol. 6, No. 1, Winter 2006, c�c trang 73- 85.
 

 

19. Colonel G.D Bakshi

Cuộc Chiến Tranh Trung Quốc - Việt Nam năm 1979:
Trường Hợp Nghi�n Cứu Điển H�nh
Trong C�c Cuộc Chiến Tranh Hạn Chế
VSM, The Sino-Vietnam War � 1979: Case Studies in Limited Wars,
Indian Defence Review, Volume 14 (2) July � September 2000

 

20. Bruce Elleman

C�c Quan Hệ S� Viết � Trung Quốc V� Cuộc Xung Đột
Trung Quốc � Việt Nam Th�ng Hai 1979
Đọc tại Cuộc Hội Thảo 1996 Vietnam Symposium,
�After the Cold War: Reassessing Vietnam�,
được tổ chức v�o c�c ng�y 18-20 Th�ng Tư, 1996
tại Vietnam Center, Texas Rech University, Lubbock, Texas

 

21. Henry J. Kenny

C�C NHẬN THỨC CỦA VIỆT NAM VỀ CUỘc CHIẾN TRANH,
1979 VỚI TRUNG QUỐC �Vietnamese Perceptions of the 1979 War with China,
Chinese Warfighting: The PLA Experience Since , đồng bi�n tập bởi
Mark A. Ryan, David Michael Frakelstein, Michael A. McDevitt, Chapter 10, c�c trang 217-241s

 

22. Xiaoming Zhang

CUỘC CHIẾN TRANH
NĂM 1979 CỦA TRUNG QUỐC VỚI VIỆT NAM: MỘT SỰ
T�I LƯỢNG ĐỊNH, �China�s War with Vietnam: A Reassessment�,
The China Quarterly, số 184, December 2005, c�c trang 851-874.

 

23. Edward C. O�Dowd & John F. Corbett, Jr.

CHIẾN DỊCH NĂM 1979 CỦA TRUNG QUỐC
TẠI VIỆT NAM:
C�C B�I HỌC LĨNH HỘI ĐƯỢC
The Lessons of History: The Chinese People�s Liberation Army at 75, Carlisle, PA.:
Strategic Studies Institute, U.S. Army War College, July 2003, c�c trang 353-378.

 

24. Douglas E. Pike,

CỘNG SẢN ĐẤU CỌNG SẢN
TẠI Đ�NG NAM A�
 (�Communism vs Communism in Southeast Asia), International Security, Vol. 4, No. 1 (Summer, 1979), từ trang 20.
 

 

25. Henry Kissinger,

�SỜ M�NG CON HỔ�
CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM THỨ BA�
 Chương 13: �Touching the Tiger�s Buttocks�: The Third Vietnam War, c�c trang 340-375,
trong quyển On China, xuất bản bởi The Penguin Press, New York, 2011.

   

26. Jimmy Carter,

GHI NHỚ VỀ
CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC � VIỆT NAM
NĂM 1979
cựu Tổng Thống Hoa Kỳ, tr�ch dịch từ c�c hồi k� Keeping Faith, Memoirs Of A President,
A Bantam Book: New York, November 1982, c�c trang 194-211, v� White House Diary, New York: Farrar, Straus and Giroux, 2010,
c�c trang 281-296, v� rải r�c, c�ng c�c phụ lục tr�ch dịch phần ghi nhớ về Chiến Tranh Trung Quốc � Việt Nam năm 1979 của:
Phụ Lục 1: Cyrus Vance, cố Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Hard Choices, Critical Years In America�s Foreign Policy, New York: Simon and Schuster, 1983, c�c trang 120-127.
Phụ Lục 2: Zbigniew Brzezinski, cựu Cố Vấn Tổng Thống Hoa Kỳ về An Ninh Quốc Gia, Power and Principle, Memoirs of the National Security Adviser, 1977-1981, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1983, c�c trang 404-414.
Phụ Lục 3: Anatoly Dobrynin, cựu Đại Sứ Li�n S� tại Hoa Kỳ, In Confidence, Moscow�s Ambassador to America�s Six Cold War Presidents, New York: Times books, a division of Random House, Inc., 1995, c�c trang 418-19.

 

 

 

Alexander Woodside

University of British Columbia

 

 

 

D�N TỘC CHỦ NGHĨA V�

 

NẠN NGH�O Đ�I

 

TRONG SỰ TAN VỠ C�C QUAN HỆ

 

TRUNG QUỐC � VIỆT NAM

 

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

***

 

Lời Người Dịch

 

������ Dưới đ�y l� b�i dịch của một b�i nghi�n cứu được viết rất sớm (Th�ng S�u, 1979) ngay sau cuộc chi�n tranh bi�n giới Trung � Việt hồi Th�ng Hai � Th�ng Ba 1979.� Gi�o Sư Alexander Woodside l� một t�c giả h�ng đầu về văn h�a đối chiếu trong lịch sử c�c nước Đ�ng �, đặc biệt giữa Trung Quốc v� Việt nam.� C�c b�i giảng của Gi�o Sư Woodside về Việt Nam tại trường Đại Học Harvard nổi tiếng trong thập ni�n 1960 đ� được ấn h�nh th�nh s�ch gi�o khoa.

 

�Trong b�i viết n�y, t�c giả đ� đặt cuộc xung đột vừa mới� xảy ra trong bối cảnh kinh tế c�ng c�c vấn đề ch�nh trị nội bộ của cả hai nước Việt Nam v� Trung Quốc để ph�n t�ch về nguy�n do của cuộc xung đột, dưới một lăng k�nh phi qu�n sự, do đ� tạo th�nh một c�i nh�n rất đặc biệt về cuộc chiến.

 

***

 

Trong c�c quan hệ của họ với b�n kia kể từ khi Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Thư Nh� kết th�c trong năm 1975, cả Trung Quốc v� Việt Nam đều phải g�nh chịu c�c tai họa ch�nh s�ch ngoại giao ho�n to�n.�� Kh�ng c� b�n n�o c� thể gi�nh thắng từ cuộc khủng hoảng gần đ�y nhất trong c�c quan hệ Trung Quốc � Việt Nam.� Đặc biệt đối với Việt Nam, ngay d� với viện trợ S� Viết vị kỷ dồi d�o nhất, ho�n to�n thiếu c�c phương tiện để duy tr� một t�nh trạng th� nghịch trường kỳ với Trung Quốc v� c�ng l�c lại c� thể tự c�ng nghiệp h�a một c�ch th�nh c�ng.� Bởi v� kh�ng b�n n�o gi�nh được thắng lợi, điều hiển nhi�n l� mỗi b�n đ� đưa ra c�c ước t�nh sai lầm tai hại về ph�a b�n kia.� Nhưng c�c sai lầm v� x�c cảm ch�m lửa v�o c�c quan hệ Trung Quốc � Việt Nam đ� được ph�t sinh nhiều phần bởi c�c �p lực của nạn ngh�o đ�i v� sự bất an chủng tộc hơn l� bởi t�nh coi m�nh l� trung t�m (egocentricity) của Trung Quốc hay bởi sự ki�u ngạo của Việt Nam, bất kể c�c lời tuy�n bố ra sao của c�c kẻ tuy�n truyền ở cả Bắc Kinh lẫn H� Nội.

 

������ Cuộc x�m lăng �ho�n k�ch tự vệ� (self-protective retaliatory) v�o c�c v�ng đất bi�n giới của bắc Việt Nam, li�n can một c�ch hiển nhi�n đến c�c xe thiết gi�p v� h�ng trăm ngh�n binh sĩ, v� k�o d�i từ giữa Th�ng Hai cho đến giữa Th�ng Ba 1979, chỉ l� một m�n thứ ba đ�ng kinh sợ nhất trong vở kịch của c�c sự căng thẳng đ� được h�nh th�nh trong nhiều năm.� Mới gần đ�y th�i, trong Th�ng Mười Một 1977, L� Duẩn, Tổng B� Thư của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đ� c� thể thực hiện một cuộc thăm viếng quốc gia đến Trung Quốc, trong đ� �ng ta đ� th�ng b�o một c�ch khoa trương với c�c th�nh giả Trung Quốc v� Việt Nam rằng c�c quan hệ Trung Quốc � Việt Nam đang ph�t triển tốt đẹp nhiều hơn.� �ng cũng c�m ơn Trung Quốc về viện trợ �h�o hiệp� của n� cho Việt Nam trong c�c cuộc chiến tranh tại Đ�ng Dương, đ� tuy�n bố c�c sự việc ch�nh trị Trung Quốc gần nhất đang mang lại �niềm vui� cho c�c d�n tộc c�ch mạng của mọi nước, v� n�i rằng sự ủng hộ v� viện trợ tương lai của Trung Quốc sẽ l� một �nguồn kh�ch lệ quan trọng� trong thời kỳ t�i x�y dựng của Việt Nam. 1 Trong hậu trường, ng�n ngữ của �ng ta hẳn phải kh�c biệt. Bởi vi�n trưởng đo�n ch�nh trị Trung Quốc đ� từng nh�n nhận � trong Th�ng Ch�n 1978 � rằng v�o khoảng giữa thập ni�n 1960, khi cuộc đấu tranh của Việt Nam chống lại người Mỹ ở v�o thời điểm chua ch�t nhất, �c�c đồng ch� Trung Quốc c� biệt� đ� cố gắng xuất cảng Cuộc C�ch Mạng Văn H�a sang Việt Nam xuy�n qua sự trung gian của c�c Hoa kiều hải ngoại ở Việt Nam. 2 Sự bất m�n về sự ph� hoại ch�nh trị như thế -- như L� Duẩn v� c�c đồng sự của �ng, lo ngại s�u xa về �phe tả� v� �phe cơ hội chủ nghĩa� ngay ch�nh bản th�n đảng Cộng Sản Việt Nam , 3 �đ� phải giải th�ch về n� -- c� thể đ� bị đ� n�n trong khi Việt Nam đang tiếp nhận thực phẩm v� viện trợ qu�n sự kh�ng thể thi�u được của Trung Quốc.� Nhưng n� đ� tồn tại để l�m hỏng sự tạo lập c�c quan hệ Trung � Việt hậu chiến c� tinh chất x�y dựng.� Ngay từ 1975 (theo c�c sự tường thuật của Trung Quốc), tuy�n truyền của ch�nh phủ Việt Nam tại c�c tỉnh miền bắc đ� nhấn mạnh rằng Trung Quốc l� kẻ th� h�ng đầu của Việt Nam. 4 Trong năm 1976, khi ch�nh phủ Trung Quốc cố gắng sửa chữa c�c đoạn đường ray của đường hỏa xa bi�n giới Trung � Việt (bị đ�ng cửa trong Th�ng Mười Hai 1978), d�n qu�n v� l�nh bi�n cảnh của Việt Nam bị tố gi�c đ� tấn c�ng c�c to�n c�ng nh�n Trung Quốc, c�o buộc rằng họ đ� x�m phạm v�o l�nh thổ Việt Nam.

 

������ Giữa thời khoảng từ 1976 đến 1979, c�c cuộc c�i cọ bi�n giới, c�c sự nhậy cảm về vai tr� của Hoa kiều hải ngoại, v� c�c quan điểm kh�c biệt trong ch�nh trị quốc tế v� cấp miền, tất cả đ� t�ch tụ trong sự ph�nh to khối u ung thư đến nỗi l�m t� liệt sự đối thoại ngoại giao giữa c�c kẻ kế thừa Mao Trạch Đ�ng với c�c kẻ thừa kế Hồ Ch� Minh.� Trung Quốc c�o buộc rằng Việt Nam thời hậu chiến đ� cố t�nh �ngược đ�i� v� �g�y tổn thương� d�n số Hoa kiều hải ngoại của Trung Quốc đến hơn triệu người.� Sự ngược đ�i được nghĩ c� li�n can đến việc �p đặt tư c�ch c�ng d�n Việt Nam tr�n họ trong cuộc kiểm k� d�n số năm 1976, ngăn cấm họ tham gia v�o một số nghề nghiệp n�o đ� (ngư nghiệp, l�m nghiệp, sửa chữa m�y thu ph�t thanh, phục vụ c�c h�nh kh�ch tr�n t�u thủy hay xe hỏa), bởi họ l� c�c kẻ nước ngo�i khuynh đảo tiềm ẩn, trong năm 1977; v� cưỡng b�ch trục xuất gần 200,000 người trong họ trở về Trung Quốc, hay đi nơi kh�c, trong năm 1978.� (Nhưng đếm số nạn nh�n v� tội, gốc Hoa hay kh�ng, trong số h�ng trăm ngh�n d�n tỵ nạn trốn chạy khỏi Việt Nam từ 1975, c� phần n�o giống như việc đếm số người nổi loạn thuộc ph�i Bạch Li�n Gi�o tại Trung Hoa hồi thế kỷ thứ mười t�m: đ� l� một c�ng việc may rủi, bị sai lạc bởi th�nh kiến).� C�c sự cưỡng b�ch trục xuất vi phạm một thỏa ước năm 1955 giữa C�c Ủy Ban Trung Ương của hai đảng Cộng Sản, đ�i hỏi c�c nh� l�nh đạo Việt Nam phải mở rộng c�ng c�c quyền hạn v� đặc quyền cho c�c Hoa kiều hải ngoại giống như đối với người d�n Việt Nam th�ng thường, v� sẽ �ki�n nhấn trong việc th�c dục họ tiến tới việc nhập tịch c�ng d�n Việt Nam.� Đổi lại, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đ� đồng � rằng c�c Hoa kiều hải ngoại tại Việt Nam phải �t�nh nguyện� trở th�nh c�c c�ng d�n Việt Nam, v� ch�nh từ đ� th�i kh�ng c�n l� khối u �c t�nh, kh�ng thể ti�u h�a được trong x� hội Việt Nam cho đến nay,� m� nhiều người d�n Việt, giống như c�c người d�n Đ�ng nam � kh�c, tin rằng họ [Hoa kiều] l� như thế.

 

������ H� Nội, về phần m�nh, nh�n nhận rằng Hoa kiều hải ngoại đ� thực hiện một cuộc di cư ồ ạt ra khỏi Việt Nam.� Nhưng họ đ� quy tr�ch điều n�y, kh�ng phải l� do c�c h�nh động của ch�nh Việt Nam, m� cho c�c kẻ phản động v� �c�c phần tử xấu� trong số Hoa kiều hải ngoại lo sợ ch�nh s�ch tập thể h�a c�c t�i sản của họ.� Những kẻ như thế, H� Nội c�o buộc, bận rộn loan truyền c�c tin đồn độc hiểm trong thực tế rằng người gốc Hoa tại Việt Nam c� thể trở th�nh c�c con tin nếu Trung Quốc tự m�nh can dự s�u hơn chống lại Việt Nam tại Căm Bốt, hay, mơ hồ hơn, c�c tin đồn n�i rằng �ch�nh phủ Trung Quốc� đ� �triệu hồi� Hoa kiều hải ngoại trở về Trung Quốc, v� rằng những ai kh�ng đếm xỉa đến lệnh triệu hồi tức l� kh�ng v�ng lời với đất tổ.� H� Nội bổ t�c, một c�ch sắc b�n � nhưng trong một c�ch trả miếng m� ph�a Trung Quốc cảm thấy đủ tự tin để c�ng bố tr�n c�c nhật b�o Trung Quốc 5 � rằng Việt Nam kh�ng những �kh�ng ngược đ�i c�c Hoa kiều hải ngoại của Việt Nam, m� c�n trợ gi�p thực phẩm v� qu�n �o cho h�ng ngh�n Hoa Kiều hải ngoại bị l�m lơ bởi Bắc Kinh l� những kẻ đ� bị ch�nh quyền Pol Pot của Căm Bốt đẩy họ sang miền nam Việt Nam.

 

������ V� thế, c�c ph�t ng�n vi�n cho Việt Nam li�n kết th�nh phần bất ổn trong khối Hoa kiều hải ngoại của họ với sự đối đầu giữa c�c ch�nh s�ch của Trung Quốc v� Việt Nam tại nơi kh�c ở Đ�ng Dương.� Trong thực tế, đ� c� một sự li�n hệ ở đ�y, mặc d� kh�ng nhất thiết theo c�c lối m� Việt Nam đ� tuy�n truyền. �Sự bất ổn v� sự đối đầu đ� bị ph�ng đại một c�ch tương tự vượt qu� sự kiểm so�t, nếu kh�ng phải được tạo lập ho�n to�n, bởi c�c kh� khăn nội tại của Việt Nam l�m suy m�n nhiều tự do h�nh động của H� Nội kể từ 1975.� Sự x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt, v� sự thiết lập bằng vũ trang một t�n ch�nh phủ Căm Bốt phục t�ng hơn tại Nam Vang trong Th�ng Một 1979, l� c�c h�nh vi của sự tuyệt vọng.� Dưới mắt nh�n của Việt Nam, Việt Nam đ� l� nạn nh�n của chiến tranh bi�n giới được ph�ng ra để chống lại n�, trong khi đang c� c�c trở ngại nội bộ nghi�m trọng, bởi một chế độ Căm Bốt kh�t m�u do Trung Quốc ủng hộ.� Hơn nữa, chế độ Căm Bốt, dưới danh nghĩa mở đường cho một �chủ nghĩa cộng sản triệt để� trong thực tế đang phản bội lại chủ nghĩa cộng sản bằng việc x�a tan c�c mối quan hệ gia đ�nh [?], tịch thu c�c quyền tập thể của quyền sở hữu bởi c�c c�ng nh�n tr�n vật tư sản xuất của họ, v� việc từ bỏ sự ph�n t�ch giai cấp tại Căm Bốt � để nghi�ng về việc ph�n chia d�n ch�ng một c�ch th� sơ th�nh �người t�t� v� �người xấu�. 6 Sự đ�n �p của chiến tranh bi�n giới, l�m rung đ�ng to�n thể miền nam Việt Nam, đ�i hỏi một cuộc x�m lăng v�o Căm Bốt.� Bởi v� Trung Quốc l� đồng minh của Pol Pot, Việt Nam cần đến, v� đ� k� kết trong Th�ng Mười Một 1978, một thỏa ước qu�n sự với Li�n Bang S� Viết để bảo vệ cạnh sườn của n�.� Chắc chắn một thỏa ước như thế xem ra chỉ l� một v�i bước tiến s�u hơn nữa đến vực thẳm m� Việt Nam đ� sẵn tiến tới với sự gia nhập của n� v�o khối COMECON, khối kinh tế do Nga S� khống chế, hồi Th�ng S�u 1978.� Sự gia nhập với khối COMECON tự n� đ� trở n�n một sự cần thiết dựa tr�n bối cảnh kh�ng c� sự quan t�m kinh tế của T�y Phương tại Việt Nam; ph�a Việt Nam cần nhập cảng c�c kỹ nghệ phẩm với gi� c�ng rẻ c�ng tốt để b�n cho c�c n�ng d�n Việt Nam như một c�ch thức để c� nhiều thực phẩm hơn từ họ; t�nh con bu�n vụ lợi cố hữu trong c�c ch�nh s�ch mậu dịch th�ng thường của Trung Quốc tại Đ�ng Nam �, 7 v� sự vắng mặt một sự th�ng cảm đủ thực tiễn của Trung Quốc về sự khốn kh� của c�c nước � Ch�u nhỏ b� hơn kh�ng c� tiếp cận với thị trường nội địa to lớn của Trung Quốc; v� tr�n hết, sự vắng b�ng của bất kỳ chương tr�nh tương tự như Kế Hoạch Marshall để h�n gắn cac vết thương chiến tranh của Việt Nam.

 

C�c Nguồn Gốc v� C�c Viễn Ảnh

 

Của Quyền Tối Thượng (Supremacy)

 

Của Việt Nam Tại Đ�ng Dương

 

������ Vấn đề với phần lớn t�c phong của H� Nội tại Đ�ng Dương � h�y cứu x�t điều đ� trước ti�n � kh�ng qu� nặng về việc n� kh�ng thể giải thich hợp l� được m� đ�ng hơn, trong trường kỳ, n� đơn giản sẽ kh�ng thực h�nh được.� Trước ti�n, việc kết hợp một li�n minh với S� Viết với sự vận dụng vũ trang đối với c�c nước Đ�ng Dương kh�c biến Việt Nam, trong mắt nh�n của Trung Quốc, th�nh một �Cuba của Đ�ng Nam ��, một tham dự vi�n ch�nh yếu v�o c�c nỗ lực của S� Viết để �bao v�y� Trung Quốc từ ph�a nam, 8 ngay d� c�c động lực của Việt Nam tại Căm Bốt v� L�o, kh�ng giống như c�c nước của Cuba tại Phi Ch�u, ho�n to�n l� một vấn đề quyền lợi quốc gia vị kỷ.� Việt Nam chỉ c� thể tự th�o gỡ ra khỏi vị thế khả x�m n�y bằng việc g�p phần l�m dịu bớt sự tranh đua Nga-Hoa tr�n to�n cầu, song sự phối hợp nghi�ng hẳn về ph�a Li�n Bang S� Viết (LBSV) thực sự l�m trầm trọng hơn sự tranh gi�nh v� c�ng l�c tước bỏ Việt Nam bất kỳ cơ may n�o để phục vụ như c�c kẻ điều giải th�nh thật trong đ�.� Thứ nh�, chứng liệu l�u d�i của ch�nh s�ch thực d�n của Việt Nam tại Căm Bốt th� hiển hiện tr�n mọi bản đồ của Đ�ng Nam �.� Mới v�i thế kỷ trước đ�y, phần lớn miền nam Việt Nam của năm 1979 thuộc về Căm Bốt.� It ch�nh trị gia Căm Bốt hi�n đại lại c� thể qu�n được rằng trong năm 1834 triều đại nh� Nguyễn đ� mưu toan nuốt trọn Căm Bốt, biến đổi n� th�nh một thuộc địa qu�n sự của Việt Nam trong một thời gian ngắn với một tổng trấn Việt Nam [chỉ �ng Trương Minh Giảng, ch� của người dịch] tr� đ�ng tại Nam Vang.� V� thế, kh� c� bất kỳ ch�nh trị gia Căm Bốt đ�ng tin n�o lại sẽ phục t�ng một c�ch khoan h�a sự gi�m hộ của H� Nội trong thời khoảng thật d�i.� Ngay nh�m Cộng Sản Căm Bốt hiện thời kh� x�c xơ m� H� Nội đang đỡ đầu c� thể sớm hay muộn t�m c�ch tự t�ch biệt họ ra khỏi Việt Nam.� Kỹ năng với n� để cố l�m điều n�y sẽ x�c định sự tồn vong của họ.� Hoặc l� kiểm so�t họ, hay kiểm so�t sự chống đối tất nhi�n của Căm Bốt m� sự r�ng buộc của họ với H� Nội sẽ l�m sinh s�i, Việt Nam sẽ bị buộc phải can thiệp qu�n sự gần như thường trực tại Căm Bốt, phải duy tr� � như Bắc Kinh đ� nhận định một c�ch cay độc � nhiều binh sĩ của Việt Nam b�n ngo�i c�c bi�n giới của ch�nh m�nh hơn bất kỳ nước n�o kh�c tr�n thế giới ngoại trừ hai si�u cường.� Nhưng nền kinh tế Việt Nam, ngay với sự gi�p đỡ của S� Viết, kh�ng thể chấp nhận v� hạn định c�c sự can thiệp như thế.� V� thế, con đường kh�ng lối tho�t tại đ� Bộ Ch�nh Trị Việt Nam thấy m�nh rơi v�o � nếu to�n thể khung cảnh của ch�nh trị quốc tế kh�ng sớm thay đổi một c�ch quyết liệt � nhiều phần sẽ bị tr�n ngập bởi nỗi lo sợ bị v�y k�n gia tăng.

���

������ Cũng kh�ng thể chống đỡ H� Nội khỏi sự tố c�o g�y tổn thương rằng, trong thực tế, n� đang tại diễn c�c động t�c thực d�n h�a của Việt Nam cổ xưa li�n quan đến Căm Bốt v� L�o.� (Cũng rất giống như thế, cuộc x�m lăng trừng phạt của Trung Quốc v�o Việt Nam năm 1979 c� c�c �m hưởng lạnh gi� trong n� cuộc tấn c�ng trừng phạt của ho�ng đế C�n Long nh� Thanh v�o Bắc Kỳ -- m� Việt Nam đ� đ�nh đuổi � trong c�c năm 1788-89).� Điều mời gọi một sự t�i diễn như thế l� sự kiện rằng ch�nh s�ch thực d�n Ph�p l�m trầm trọng hơn c�c kiểu mẫu bất đồng đều của sự ph�t triển văn h�a v� kinh tế tại ba nước Đ�ng Dương.� Việt Nam, kh�c với Căm Bốt v� L�o, được thụ hưởng c�c t�i sản chẳng hạn như c�c trường chuy�n m�n h�a v� một đại học.� Người Ph�p đ� biến S�ig�n, H� Nội, v� Hải Ph�ng, chứ kh�ng phải Nam Vang hay Vạn Tượng, th�nh c�c viện hối đo�i của tư bản chủ nghĩa thuộc địa � v� của một giới tr� thức hiếu động về mặt ch�nh trị.� Sự ph�t triển kh�ng đồng đều ch�nh s�ch thực d�n của Ph�p, bổ t�c cho sự kiện rằng Việt Nam đ� sẵn sở đắc một cảm nhận cố kết hơn về c�c truyền thống d�n tộc của n� so với c�c l�ng giềng Đ�ng Dương, đ� mang lại cho Việt Nam một vị thế mở đường cấp miền to lớn trong việc ph�t động c�ch mạng, v� khuyến kh�ch họ tổ chức trong năm 1930 một �Đảng Cộng Sản Đ�ng Dương� duy nhất, bao gồm tr�n danh nghĩa cả c�c người Căm Bốt v� c�c sắc d�n ở L�o.� Kh�ng mấy ngạc nhi�n rằng ch�nh phủ Căm Bốt của năm 1976, đọc bản tuy�n bố Việt Nam � L�o trong năm đ�, đ� tin tưởng rằng H� Nội c� � định s�p nhập họ v�o một �Li�n Bang Đ�ng Dương�.� Bởi v� bản tuy�n bố đ� đ� kỷ niệm, một c�ch n�o đ� hơi gian xảo, �sự đồng khai sinh� của c�c phong tr�o Cộng Sản Việt Nam v� L�o từ một đảng Đ�ng Dương duy nhất do Việt Nam kiểm so�t trong năm 1930, v� x�c quyết rằng sự c�ng khai sinh n�y đ� l� gốc rễ của �mối quan hệ đặc biệt� giờ đ�y được nghĩ hiện hữu giữa H� Nội v� Vạn Tượng. 9

 

������ �Mối quan hệ đặc biệt� l� g�? Bản hiệp ước hữu nghị v� hợp t�c giữa Việt Nam v� L�o, được k� kết tại Vạn Tượng h�m 18 Th�ng Bảy, 1977, bởi Phạm Văn Đồng v� Kaysone Phomvihan (Thủ Tướng L�o v� Tổng B� Thư Đảng Nh�n D�n C�ch Mạng L�o) c� hiệu lực trong 25 năm, với một sự gia hạn tự động. Bản hiệp ước giao cho Việt Nam quyền gi�p L�o huấn luyện c�c c�n bộ đảng của n�; bản hiệp ước xiết chặt c�c sự li�n kết của Việt Nam với nền kinh tế L�o qua c�c ưu đ�i mậu dịch đặc biệt; v� n� cho ph�p Việt Nam tham gia v�o c�ng t�c ph�n phối sự tuy�n truyền, ph�t thanh, v� sự ấn h�nh c�c tờ b�o v� tạp ch� tại L�o.� (C�c thỏa ước kh�c trong Th�ng Ch�n 1977 v� Th�ng Năm 1978 đ� tăng cường cho điều khoản cuối c�ng n�y).� C�c đặc ưu quyền như thế c� t�nh c�ch hỗ ứng, tr�n giấy tờ.� Như bối cảnh của bản hiệp ước l� sự hiện diện c� lẽ v�o khoảng 50,000 binh sĩ Việt Nam (theo sự ước lượng của Trung cộng) tại L�o như một đội qu�n đồn tr� giữ an ninh biến L�o th�nh một kẻ tập sự học nghề -- hay tệ hơn � của l�ng giềng ph�a đ�ng của n�, chứ kh�ng phải như một đồng minh.

 

������ Ngo�i sự lệ thuộc qu�n sự của n�, người ta c� thể thực sự quy tr�ch đến đ�u việc ch�nh phủ L�o chấp nhận sự bảo trợ kỹ thuật v� kinh tế của Việt Nam, việc tiếp tục gửi sinh vi�n đến c�c đại học Việt Nam (như thuộc địa L�o từng c� thời gửi sinh vi�n đến trường Đại Học Đ�ng Dương tại H� Nội), v� cho việc hy vọng Việt Nam c� thể gi�p đỡ hiện đại h�a một số l�nh vực n�o đ� trong nền kinh tế của L�o trong khi c�c ch�nh trị gia L�o tập trung năng lực của họ v�o c�c l�ng x�? Trong năm 1975, L�o kh�ng chỉ kh�ng c� đại học n�o, chỉ c� hai hay ba trong số mười tỉnh c� được c�c trường cao đẳng tiểu học (lớp ba n�i chung).� V�o năm 1977, nước L�o mới đ� lập ra c�c trường như thế tại mười một tỉnh, đ� n�ng cao sĩ số tại c�c trường phổ th�ng l�n khoảng 13 phần trăm d�n số; (ngược lại, tại Bắc Việt trước đ�y, số học tr� c�c trường phổ th�ng trong ni�n kh�a 1975-76 gần gấp đ�i con số đ�, hay gần bằng một phần tư d�n số); v� đang cố gắng để chinh phục nạn m� chữ với �c�c phong tr�o học tập b�nh d�n� được nung nấu bởi c�c khẩu hiệu r� r�ng kh�t khao như �đi đến trường l� y�u nước�.� N� cũng gia tămg số trường đ�o tạo gi�o vi�n tại L�o từ một l�n hai mươi lăm trường.� Tổng kết, t�n ch�nh phủ L�o, đối diện với điều c� thể gọi l� sự k�m ph�t triển qu� mức (hyper-underdevelopment), lựa chọn để x�y dựng c�c trường tiểu học v� c�c trường đ�o tạo gi�o chức trước ti�n, v� triển ho�n việc x�y dựng đại học cho đến sau n�y.� Sự lựa chọn của n� th� vững chắc cả về mặt kinh tế v� vị kỷ về mặt ch�nh trị, trong � nghĩa rằng việc ưu ti�n cho c�c trường tiểu học tr�n đại học c� nghĩa đặt ưu ti�n v�o việc nhồi sọ đại ch�ng hơn l� gi�o dục chuy�n m�n chuy�n biệt h�a.� Nhưng c�i g�� của sự lựa chọn l� sự lệ thuộc ho�n to�n li�n tục v�o gi�o dục cao đẳng của Việt Nam (v� của S� Viết lẫn Trung cộng).� Do cơn �c mộng Đ�ng Dương xa xưa của c�c sự bất đồng đẳng cấp miền trong việc mở rộng c�c trường học hiện đại, sự lựa chọn cũng c� thể c� t�nh chất tất nhi�n.

 

������ Nhưng kim tự th�p của c�c sự lệ thuộc, m� L�o giờ đ�y nh�n thấy vị tr� của m�nh ở tầng đ�y, th� dốc hơn nhiền, v� bị che khuất s�u k�n hơn nhiều so với c�c t�nh trạng bất b�nh đẳng lịch sử cấp miền kh�ng th�i buộc n� phải chịu.� Hiệp ước năm 1977 cũng quy định rằng Việt Nam sẽ thực hiện một loạt c�c khoản cho vay kh�ng t�nh tiền l�i cho L�o, cũng như k�o d�i vi�n trợ t�i ch�nh m� L�o sẽ kh�ng phải ho�n tr�i cho tới sau năm 1980. 10 Ch�nh v� thế Việt Nam, một trong những nước ngh�o nhất tr�n thế giới, đến mức ho�n to�n sự sống c�n lệ thuộc v�o thực phẩm, dầu hỏa v� truyền tiếp trợ gi�p tư bản từ c�c nước kh�c, tuy thế lại đ� t�m c�ch tạo dựng �mối quan hệ đặc biệt� giữa ch�nh n� với L�o th�nh mối quan hệ giữa một chủ nợ với con nợ, gần như một sự tối thiểu h�a m� h�nh mang t�nh c�ch b� trừ cho mối quan hệ chủ nợ - con nợ giờ đang hi�n hữu giữa Mạc Tư Khoa v� H� Nội.� Người ta kh�ng phải l� một Andr� Gunder Frank để c� c�c dự kiến bi quan về L�o trong tương lai như một nước phụ thuộc của tiểu mẫu quốc Việt Nam thuộc mẫu quốc S� Viết trong chủ nghĩa tư bản nh� nước �x� hội chủ nghĩa� to�n cầu (global �socialist� state capitalism).� Bởi thật kh� khăn để kh�ng cự lại tư tưởng rằng c�ng thức chủ nợ - con nợ trong li�n minh Việt Nam � L�o năm 1977 đại diện cho sự tạo lập chủ � một loại chế độ chư hầu ch�nh trị bằng phương tiện kinh tế.

 

������ Dĩ nhi�n, một sự giải th�ch kh�c l� ch�ng ta đang chứng kiến một sự phục hồi truyền thống, một c�ch đặc biệt, truyền thống thời tiền thuộc địa theo đ� c�c �ng ho�ng xứ L�o c� l�nh thổ bị v�y k�n, sẵn l�ng hơn nhiều c�c �ng ho�ng xứ Căm Bốt, thường chấp nhận quyền ch�a tể của Việt Nam, một phần nhằm gi�nh được sự tiếp cận với c�c sản phẩm thương mại của một hệ thống mậu dịch thế giới vốn kh�ng c� sự ch� � trực tiếp đ�n họ.� Chắc chắn, �m nhạc chỏi nhau, ngột ngạt của phần lớn lịch sử đ� qua c� thể được nghe thấy tromg tiếng lải nh�i ph�t sinh từ c�c sự căng thẳng tại Đ�ng Dương đương đại.� Người ta c� thể t�m thấy c�c th� dụ về điều đ� trong nhật b�o Việt Nam than thở rằng c�c nh� l�nh đạo của Cộng H�a Nh�n D�n Trung Quốc (People�s Republic of China: PRC) l� �c�c kẻ thừa kế trung th�nh nhất� của vị ho�ng đế phong kiến đầu ti�n của Trung Hoa, trong mọi điều, từ việc đốt s�ch v� ch�n sống c�c học giả cho đến việc b�nh trướng l�nh thổ Trung Hoa; hay trong c�c ảnh chụp tr�n c�c tờ b�o Trung cộng. trong năm 1979, trưng b�y c�c cột mốc đ�nh dấu bằng đ� thời trước năm 1911 vẫn c�n đứng g�c bi�n giới của tỉnh V�n Nam, được khắc bằng tiếng Ph�p v� tiếng Hoa v� th�ng b�o cho c�c binh sĩ Trung Hoa rằng họ đang băng từ �Trung Hoa: V�n Nam của đế quốc Đại Thanh� sang An Nam � của đế quốc Đại Ph�p�.� Song chủ nghĩa d�n tộc c�ch mạng tại t�m điểm của c�c quan hệ Trung � Việt trong năm 1979 kh�c biệt trong t�nh chất của sự b�ng nổ của n� với bất kỳ c�c cảm x�c tinh t�y n�o của qu� khứ.� V� sự tranh c�i chủng tộc m�nh liệt giờ đ�y đang cung cấp chất liệu cho sự đối kh�ng giữa Bắc Kinh v� H� Nội � cuộc tranh c�i về Hoa kiều hải ngoại � l� một minh chứng đ�ng ch� � nhất của sự kh�c biệt.

 

 

Tầm Quan Trọng T�m L� Của Vấn Đề Chủng Tộc

 

������ Người ta c� thể suy đo�n một c�ch nghi�m chỉnh rằng một động lực căn bản đ�ng sau sự đột nhập của Trung Quốc v�o Việt Nam năm 1979 l� nỗi lo sợ rằng Việt Nam, giữa cơn thanh lọc trơ tr�o c�c thương nh�n Hoa kiều hải ngoại của m�nh, c� thể cải thiện c�c quan hệ của n� với c�c nước Đ�ng Nam � kh�ng cộng sản đến một mức độ c� thể xuất cảng c�c cảm x�c đi�n cuồng ch�ng T�u của n� sang c�c nước đ�.� Điều n�y kế đ� c� thể dẫn đến một li�n hiệp cấp miền, nhằm chống lại Bắc Kinh, của c�c nước c� nền tảng kh�ng n�i ra sẽ l� một sự th� nghịch chung đối với �d�n Do Th�i của Phương Đ�ng� � như một quốc vương b�i ngoại của Th�i Lan từng c� lần m� tả về người Hoa ở hải ngoại � v� c�c sự m�c nối đ�ng nghi ngờ của họ với Trung Quốc.� C�c quan hệ của Việt Nam với c�c nước khối ASEAN, kể cả Indonesia (nước đ� trục xuất một số Hoa kiều hải ngoại của n� v�o năm 1966) l� Th�i Lan, đang bắt đầu nở rộ v�o l�c c� sự suy đồi trong c�c quan hệ Trung � Việt năm 1978.� Th�i Lan c�n đồng � tham gia c�ng với Việt Nam v� L�o như đối t�c thứ ba trong Ủy Ban S�ng Mekong L�m Thời.� Tổ chức n�y, được th�nh lập ch�nh thức tại Vạn Tượng v�o Th�ng Một 1978, đ� nh�m họp lần đầu ti�n tại H� Nội trong Th�ng Hai 1978. �Trong c�c t�nh huống như thế , sự đột nhập của Trung Quốc c� thể c� chủ � ph� diễn sự x�c thực của t�nh trạng th� nghịch giữa Bắc Kinh v� H� Nội, v� l�m việc đ� trong c�c lối g�y x�c động v� khẳng quyết đ�n nỗi c�c quốc gia Đ�ng Nam � kh�c sẽ phải ngần ngại trước khi can dự,� ngay d� chỉ l� sự tiếp lại gần nhau t�nh cờ nhất với Việt Nam. (C�c nh� bi�n tập Trung cộng đ� ph�n n�n trong Th�ng Ba 1979 về c�c sự bất th�ch đ�ng trong lập trường của khối ASEAN về mối th� hận Trung � Việt, ngay cả sau khi c�c đo�n qu�n Trung cộng đ� được r�t ra khỏi Việt Nam). 11 Nếu đường lối l� luận n�y d� chỉ đ�ng một phần, điều mỉa mai rằng ch�nh sự x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt, chứ kh�ng phải sự x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam, đ� l�m vẫn đục một c�ch nặng nề c�c quan hệ của Việt Nam với khối ASEAN.� V� bất kỳ sự chu to�n thực sự n�o đ�i hỏi ch�nh yếu m� Trung Quốc �p đặt tr�n Việt Nam v�o m�a xu�n 1979 � sự gỡ bỏ của Việt Nam c�c đội qu�n của n� ra khỏi Căm Bốt � c� thể cho ph�p H� Nội t�i lập c�c li�n kết đe dọa tiềm ẩn với c�c l�n bang kh�ng cộng sản của n�, v� sẽ kh�ng thực sự khu trừ được c�c căng thẳng Trung � Việt.� �����

 

������ Nhưng ngay d� vấn đề Hoa Kiều hải ngoại kh�ng phải l� yếu tố x�c định ch�nh yếu cho cuộc khủng hoảng, n� l� một biểu kế quan trọng của c�c t�m l� d�n tộc chủ nghĩa giờ đ�y đang t�c động b�n trong hậu trường ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam.� Theo c�c chuy�n vi�n ph�p l� Việt Nam, trong năm 1945 người Hoa (gốc Trung Hoa) tại Việt Nam kh�ng phải l� một nh�m đồng nhất.� Đa số trong họ l� �c�c thần d�n An Nam� (Annamite subjects),sống dưới chế độ thực d�n Ph�p, l� c�c kẻ đ�ng thuế th�n v� nhận thấy m�nh được xếp v�o nhiều loại chủng tộc phụ yếu, chẳng hạn như người N�ng hay Minh Hương.� Chỉ l� một d�n tộc �t người nhỏ b�, một �tầng lớp tư bản� (capitalist stratum) tại c�c th�nh phố thụ hưởng một số đặc ưu quyền kinh tế v� tổ chức n�o đ�, c� thể mang c�c tấm thẻ căn cước m� tả họ như l� �c�c kh�ch tr� Trung Hoa: Chinese sojourners� hay �Hoa Kiều� [hải ngoại] (overseas Chinese).� Trong Th�ng Mười 1945, Việt Nam D�n Chủ Cộng H�a của Hồ Ch� Minh, được thiết lập tại H� Nội chưa đầy hai th�ng, đ� c�ng bố một sắc lệnh biến mọi d�n tộc �t người tại Việt Nam, ngoại trừ �c�c kh�ch tr� Trung Hoa� tư bản th�nh thị, trở th�nh c�c c�ng d�n Việt Nam; trong Th�ng Hai 1951, đại hội đảng lần thứ nh� của Cộng Sản Việt Nam đ� khuyến kh�ch ngay cả �c�c kh�ch tr� Trung Hoa�h�y tham gia v�o cuộc kh�ng chiến của Việt Nam chống lại nước Ph�p, v� ban cấp cho họ c�c quyền hạn của tư c�ch c�ng d�n Việt Nam nếu họ �t�nh nguyện� l�m như thế.

 

������ Từ đ�, ngay c�c định nghĩa về �Hoa kiều hải ngoại� cũng kh�c biệt nhau tại Trung Quốc v� Việt Nam.� V�o ng�y 6 Th�ng Một 1952, Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc bị c�o gi�c bởi ph�a Việt Nam l� đ� �phủ nhận� c�c nguy�n tắc M�c X�t � L� nin n�t căn bản về chủng tộc.� Việc đ� được n�i đ� được l�m như thế bởi một chỉ thị đ� xếp loại một c�ch v� điều kiện mọi người Hoa tại Việt Nam v� c�c nơi kh�c như �c�c kh�ch tr� Trung Hoa� (Chinese sojourners) (Huaqiao: (Hoa kiều) trong tiếng Hoa), một h�nh vi khi�u kh�ch v� kh�ng thể chấp nhận được trong mắt nh�n của H� Nội, v� l� điều khẳng định rằng họ kh�ng phải, v� kh�ng thể trở th�nh, một nh�m d�n tộc �t người b�nh thường tại những nước m� họ đang sinh sống. �Trong Th�ng S�u 1955, Trung Ương Đảng Việt Nam đ� t�m c�ch sửa đổi �chủ nghĩa y�u nước cuồng t�n� (chauvinism� của Trung Quốc bằng c�ch khiến cho Trung Ương Đảng Trung Quốc đồng � rằng �c�c kh�ch tr� Trung Hoa� tại Bắc Việt Nam dần dần trở th�nh c�c c�ng d�n Việt Nam.� Điều n�y, trong thực tế, l� một thời kỳ được vinh danh bởi c�c học giả T�y Phương chẳng hạn như Stephen Fitzgerald, kẻ đ� tr�nh b�y rằng từ cuối thập ni�n 1950 Bắc Kinh thực sự đ� cho thi h�nh �một ch�nh s�ch giải trừ thực d�n� (decolonization) mối quan hệ giữa ch�nh phủ Trung Quốc với c�c cộng đồng Hoa kiều hải ngoại, một mối quan hệ �thừa hưởng� từ c�c ch�nh phủ Quốc D�n Đảng tiền nhiệm với một sự tr�u mến nổi bật cho c�c luật lệ quốc tịch Trung Hoa đặt nền tr�n huyết thống (jus sanguinis) (c� nghĩa,bất kỳ ai sinh ra bởi một người cha Trung Hoa, hay một người mẹ Trung Hoa khi quốc tịch của người cha kh�ng x�c định được, l� một c�ng d�n Trung Hoa, bất kể sinh ra ở đ�u). 12� �����������������

 

������ Quan điện hiện thời của H� Nội l� thời kỳ từ 1955 đến đầu thập ni�n 1960 chỉ l� một thời gian khi chủ nghĩa y�u nước cuồng t�n của Trung Hoa bị tắt tiếng một c�ch b�nh thường.� Trong c�c năm n�y, Trung Quốc đ� �hợp t�c tốt đẹp� với Việt Nam để thực hiện thỏa ước năm 1955.� Trong Th�ng Mười Một 1957, Trung Quốc đ� chuyển giao cho Việt Nam mọi c�ng t�c ch�nh trị v� văn h�a trong giới Hoa Kiều hải ngoại tại Bắc Việt Nam.� V� trong Th�ng Một 1961, Trung Quốc c�n loan b�o rằng t�a đại sứ Trung Quốc tại H� Nội sẽ kh�ng c�n chuẩn cấp c�c th�ng h�nh đặc biệt cho Hoa kiều hải ngoại tại Việt Nam muốn thăm viếng Trung Quốc; thay v�o đ�, họ sẽ phải nạp đơn xuy�n qua c�c cơ quan Việt Nam thường lệ.� Nhưng sự kiềm chế n�y đ� tan biến trong c�c cơn cuồng nộ của Cuộc C�ch Mạng Văn H�a.� C�c sự đi�n cuồng như thế giờ đ�y được tuy�n x�c để đẩy Trung Quốc quay trở về, v�o khoảng cuối thập ni�n 1970, tất cả c�c ch�nh s�ch triệt để cổ xưa của luật quốc tịch thời nh� Thanh năm 1909 (t�n thờ luật theo huyết th�ng: jus sanguinis). 13

 

������ Bản c�o gi�c của H� Nội về ch�nh phủ Trung Quốc c� gi� trị đến bao nhi�u?� Điều quan trọng l� cuộc c�i cọ chủng tộc đ� trở th�nh gần như thường trực giữa hai quốc gia.� Ch�ng ta giờ đ�y biết được rằng n� đ� thấm nhập gần như mọi giai đoạn của c�c cuộc c�ch mạng Trung Quốc v� Việt Nam trong một phần tư thế kỷ vừa qua.� Cuộc tấn c�ng gần đ�y của Việt Nam về c�c chỉ thị đ�ng gh� tởm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc năm 1952, c�c chỉ thị được bi�n soạn tại Bắc Kinh v�o một l�c khi Trung Quốc v� Li�n Bang S� Viết đều l� c�c đồng minh ủng hộ Hồ Ch� Minh, chỉ l�m điều n�y trở n�n qu� r� r�ng.� Việt Nam giờ đ�y nh�n mọi sự d�n xếp ph�p l� giữa ch�nh n� v� Trung Quốc kể từ 1949 � về vấn đề n�y � l� mong manh hay kh�ng đ�ng tin cậy.� Từ đ� n� đ� hướng đến c�c tiền lệ lịch sử phi c�ch mạng, trong thực tế phản c�ch mạng, để chứng minh sự hiện hữu lưu truyền l�u đời, trước 1949, về một quốc tịch Việt Nam bao gồm mọi người gốc Hoa tại Việt Nam.� C�c chuy�n vi�n tại Viện Luật Học ở H� Nội, mặc d� họ l� c�ng nh�n vi�n của một nh� nước c�ch mạng chống thực d�n, tuy thế giờ đ�y trưng dẫn hồi tố việc l�m luật thời thuộc địa Ph�p như một tiến tr�nh x�y dựng quốc gia ch�nh thống, lập lu�n rằng c�c luật ph�p thực d�n Ph�p v� c�c hiệp ước thời thuộc địa với Trung Quốc, l� hiệu lực cần thiết đ� củng cố �t�nh Việt Nam� chuy�n độc tr�n c�c Hoa kiều như thế.� Một sắc lệnh của Ph�p năm 1871 r� r�ng đ� xem mọi người Hoa tại Việt Nam l� �d�n bản xứ: natives�; c�c bộ luật d�n sự thời thuộc địa của Bắc Kỳ v� Trung Kỳ trong thập ni�n 1930 quy định rằng một �người � Ch�u: Asiatics� c� nguồn gốc từ c�c nước kh�c, nhưng sinh sống tại Bắc Kỳ v� Trung Kỳ v� kh�ng �li�n can đến c�c tư c�ch c�ng d�n nước kh�c�, sẽ được xem l� c� �quốc tịch An Nam�; c�c quy định thực d�n Ph�p c�c năm 1883, 1930, v� 1933 cho Nam Kỳ v� c�c th�nh phố H� Nội, Hải Ph�ng, v� Đ� Nẵng d�nh cho� �c�c thần d�n Ph�p: French subjects� của phần lớn trẻ em lai c� cha mẹ phần n�o đ� �đồng h�a th�nh � Ch�u� với quy chế �thần d�n Ph�p�, được chuyển đổi một c�ch hợp ph�p th�nh �c�ng d�n Việt Nam� bởi một thỏa thuận giữa Ph�p v� ch�nh phủ Ng� Đ�nh Diệm trong năm 1955 v� v.v.� T�nh trạng rắc rối n�y trong c�c quyết định về quốc tịch thời thuộc địa với ng�n ngữ đầy c�c th�nh kiến chủng tộc cũ rich của �u Ch�u, giờ đ�y được n�i đ� trợ gi�p biến mọi người tại Việt Nam trở th�nh một c�ng d�n của d�n tộc Việt Nam. 14

 

������ Tuy nhi�n, �t người Việt Nam sẽ nh�n một sự hồi tưởng phục sinh luật lệ thực d�n Ph�p như thế như phản đề của một chủ nghĩa d�n tộc c�ch mạng.� Trong nhiều thế kỷ, c�c nh� l�nh đạo văn h�a c� nhận thức hơn của Việt Nam đ� bị �m ảnh bởi sự t�m kiếm một qu� khứ hữu dụng trọn vẹn hơn v� nhu cầu tạo lập v� l�m chủ một � thức được lập chứng phong ph� hơn về di sản d�n tộc.� C�c nh� l�nh đạo hiện thời của Việt Nam đ� thừa kế nỗi �m ảnh n�y, đ� từng biểu lộ trong nhiều cung c�ch.� Th� dụ, mặc d� ch�nh phủ H� Nội đ� kh�ng vinh danh một c�ch qu� đ�ng sự y�u th�ch của n� sự bất đồng mang t�nh chất ch�m biếm, n� đ� khuyến kh�ch sự ấn h�nh, trong năm 1974, một quyển s�ch gần 600 trang cố gắng tuyển chọn văn chương tr�o ph�ng Việt Nam từ thế kỷ thứ mười ba cho đến 1945. 15 Khi quyển s�ch được hi�n hiện, n� bị chỉ tr�ch � kh� điển h�nh � trong b�o ch� Việt Nam về sự kh�ng đầy đủ của n�, về việc hạn chế sự tuyển chọn chỉ c� 339 t�c phẩm văn học Việt Nam thời tiền hiện đại. �Nhưng c� bao nhi�u x� hội n�ng nghiệp � Ch�u ngh�o đ�i sẽ cố gắng điển chế văn chương tr�o ph�ng thời trung cổ của ch�ng khi ch�ng đang chiến đ�u cho sự sống c�n của m�nh chống lại một si�u cường T�y Phương? C�c nh� tư tưởng v� ch�nh trị gia Việt Nam từ một Ho�ng Đức Lương trong thế kỷ thứ mười lăm đến L� Qu� Đ�n trong thế kỷ thứ mười t�m cho đến c�c ủy vi�n Bộ Ch�nh Trị trong năm 1979, đ� từng tin tưởng s�u xa rằng sự yếu k�m của d�n tộc bị l�m trầm trọng hơn bởi sự bảo tồn v� học tập kh�ng đầy đủ c�c t�i liệu ph�p l�, lịch sử v� văn học Việt Nam, bất kể nguồn gốc của ch�ng, v� bởi � thức d�n tộc yếu k�m một c�ch tai hại của c�c t�i liệu như thế g�y ra. N� l� một dấu hiệu về tầm quan trọng của cơn b�o tố tr�n Hoa kiều hải ngoại m� niềm tin n�y giờ đ�y được �p dụng ngay cả đến sự quản trị của n�, v� rằng ngay c�c t�n t�ch ph�p l� của thời thuộc địa Ph�p được thu nhập v�o trong sự h�nh th�nh c�c l� thuyết Việt Nam đương đại về t�nh chủng tộc.

 

 

C�c Kh� Khăn Của C�ch Mạng Việt Nam

 

Như Một Nh�n Tố Quốc Tế

 

������ Chủ nghĩa d�n tộc Việt Nam rất c� thể kh�ng kỳ thị trong c�c nỗ lực của n� để định vị trong qu� khứ nền tảng ph�p l� cho một � nghĩa đồng nhất hơn về tư c�ch c�ng d�n.� Nhưng sự thiếu kỳ thị của n� một phần đến từ một t�m l� lịch sử, một phần từ một sự quan t�m s�i nổi về c�i ngh�o kh� chữa trị của Việt Nam.� Lịch sử gần đ�y của miền nam Việt Nam, đặc biệt, cung cấp nhiều, v� c�n c� lẽ tất cả, c�c sự giải th�ch trực tiếp cho sự can thiệp của Việt Nam v�o Căm Bốt, v� cho sự đụng độ của n� với Hoa kiều hải ngoại v� với Trung Quốc.� C�c sự thất vọng m� H� Nội đ� đối diện trong việc cố gắng để kiểm so�t v� t�i tổ chức c�c t�i nguy�n kinh tế đ�ng kể của miền nam kể từ Th�ng Năm 1975 đ� tạo ra một số kh�c quanh quan yếu trong lịch sự đương đại.

 

������ Điều n�y xem ra l� một sự tuy�n x�c lớn lao.� Nhưng từ l�c kết th�c cuộc chiến trong năm 1975, c�c nh� hoạch định nh� nước Việt Nam h�ng mạnh đ� lập luận rằng cơ may duy nhất m� Việt Nam chưa từng c� đựoc để giải quyết c�c sự thiếu hụt thực phẩm đ�ng lo sợ của n� sẽ l� việc thống nhất sự quản trị kinh tế tr�n cả nước c�ng sớm c�ng tốt, v� bằng �việc t�i ph�n phối� nhiều đến mười triệu người Việt Nam � một phần d�n số -- từ miền bắc qu� đ�ng đ�c xuống miền nam thưa d�n hơn, v� c�ng để đến v�ng cao nguy�n n�i non.� Trong năm 1976, c� v�o khoảng 50 triệu d�n Việt Nam, được ph�n chia tương đối đồng đều giữa miền bắc trước đ�y v� miền nam trước đ�y.� Đến năm 2000, nếu c�c giấc mơ của c�c nh� lập kế hoạch nh� nước trở th�nh sự thực, sẽ chỉ c� 75 triệu người Việt Nam, thay v� 100 triệu với c�c tỷ số sinh sản đương thời, m� H� Nội mong muốn cắt giảm ph�n� nửa, nhất thiết sẽ dẫn đến.� Trong đất nước l� tưởng n�y với 75� triệu người d�n, một đa số� 47 triệu người sẽ bị buộc phải sinh sống tại miền nam tương đối k�m ph�t triển.� Chỉ c� 28 triệu người � thay v� 38 triệu người được suy luận bởi đ�ng c�c tỷ số l� tưởng, chứ kh�ng phải tỷ số hiện thời của sự gia tăng d�n số tự nhi�n � sẽ được ph�p sống tại v�ng đất trung t�m miền bắc bạc m�u (b�n tr�n tỉnh B�nh Trị Thi�n, c�c tỉnh cũ của Quảng B�nh, Quảng Trị, v� Thừa Thi�n).� Dự kiến hậu chiến mở rộng n�y của một cuộc c�ch mạng c� kiểm so�t trong địa l� nh�n văn của Việt Nam được đi k�m bởi một nỗi lo sợ lớn lao.� Nếu miền nam kh�ng thể được chế biến để đ�ng vai tr� kinh tế quan yếu của n� gần như� tức thời, �kế hoạch năm năm� 1976-80 sẽ thất bại.� Nếu kế hoạch thất bại, Việt Nam c� thể đ�nh mất cơ hội duy nhất của n� trong thế kỷ n�y để c� được một sự cất c�nh kinh tế khi�m nhường, v� rồi thay v�o đ� c� thể bị buộc l�m v�o t�nh trạng tr� trệ, với c�c vấn đề tinh thần lan tr�n v� �t đường lối khả dĩ chấp nhận được trong việc th�ch ứng với c�c �p lực d�n số nặng nề kh�ng k�m bất kỳ nước n�o tại Đ�ng Nam �.� Do đ� c�c nh� hoạch định nh� nước đ� th�c dục trong năm 1976 rằng �sự t�i x�y dựng x� hội chủ nghĩa� của miền nam sẽ phải được thực hiện nhanh ch�ng hơn sự �t�i x�y dựng x� hội chủ nghĩa� của miền bắc như đ� diễn ra sau năm 1954. 16

 

������ C�c hy vọng của họ ho�n to�n bị tan t�nh.� �Sự t�i x�y dựng x� hội chủ nghĩa� tại miền nam, c�n l�u mới diễn ra nhanh hơn, gần như dậm ch�n tại chỗ.� Một sự thất vọng qu� s�u xa đ�n nỗi chắc chắn sẽ khiến xảy ra c�c sự đụng độ với c�c doanh nh�n Hoa kiều hải ngoại đ� khống chế phần lớn nền kinh tế miền nam thời tiền 1975; v� với cả c�c người Căm Bốt, c�c kẻ r� r�ng đ� khởi xướng c�c cuộc va chạm bi�n giới, sự k�o d�i t�nh trạng n�y sẽ kh�ng thể chấp nhận được đối với Việt Nam v�o thời khoảng khi m� cuộc c�ch mạng tại miền nam đang tan r�.� V� thế, ch�nh trị thế giới gần đ�y, đ� bị ảnh hưởng cấp thời bởi c�u hỏi: điều g� đ� g�y ra c�c sự tuyệt vọng của H� Nội tại miền nam Việt Nam?

 

������ Một phần do c�c sự vận dụng địa phương của hai cường lực đế quốc T�y Phương kh�c nhau, kinh tế miền nam đ� v� hiện l� một nền kinh tế đặc th� nhất tại � Ch�u.� N� được thu gọn lại bởi S�ig�n, một Thượng Hải của Việt Nam v� hơn nữa, được đổi t�n th�nh th�nh phố Hồ Ch� Minh trong năm 1975.� C�c sự mơ hồ nổi tiếng của kinh tế học M�c X�t � L�ninn�t khiến cho c�c đặc t�nh kinh tế của S�ig�n xem ra gần như mờ mịt một c�ch nhức nhối đối với c�c kẻ chinh phục cộng sản.� Một mặt, kinh tế S�ig�n mang lại một kiểu m�u kh� cực đoan của sự ly dị giữa chủ nghĩa tư bản thực d�n với c�c quyền lợi v� sự an sinh của c�c tầng lớp bản xứ thấp k�m hơn: S�ig�n sở hữu hơn 200 kh�ch sạn, v� một trong c�c năng lực kỹ nghệ to lớn nhất của Đ�ng Nam � cho việc sản xuất ra c�c vật phẩm như bột giặt, kẹo, dầu thực vật, thuốc l�, v� nước ngọt giải kh�t, nhiều mặc d� kh�ng phải tất cả sản phẩm phải được chống đỡ bởi nguy�n liệu ngoại quốc hay nhi�n liệu ngoại quốc, hay c�c thị hiếu ti�u thụ T�y phương h�a.� Mặt kh�c, sự tập trung của S�ig�n c�c t�i sản kinh tế hiện đại mang lại cho c�c nh� quản trị cộng sản Việt Nam một loại nền tảng may mắn trời cho một cuộc kỹ nghệ h�a ch�nh thống,� kh�ng phi�u lưu về mặt � thức hệ của đất nước.� (S�ig�n chiếm v�o khoảng 80 phần trăm tổng sản lượng kỹ nghệ của miền nam Việt Nam v�o cuối thập ni�n 1970.� Sự tr�n ngập c�c h�ng dược phẩm, c�c cơ sở biến chế g�, v� c�c cơ xưởng cắt may do tư nh�n l�m chủ, đ� l� chưa n�i đến c�c năng lực mạnh mẽ của n� trong việc sản xuất xe đạp, quạt điện, v� thủy tinh, l�m hoa mắt c�c nh� c�ch mạng miền bắc thừa kế n� trong m�a xu�n 1975.) 17 Nhưng S�ig�n cũng l� một mảnh đất nu�i dưỡng v� tổ chức một lực lượng chiếm ngụ kh�ng trồng trọt g� cả v� kh�ng chế tạo g� cả: đ� l� số 300,000 người bu�n b�n của n�, tr�n một tổng số d�n cư l� 3,5 triệu người.� Bị điều kiện h�a bởi chủ nghĩa tư bản thực d�n mang tinh c�ch c� biệt cao độ, v� được quy định lỏng lẻo để tự dấn m�nh theo đuổi việc bu�n sỉ v� lẻ, l�nh thầu theo khế ước, b�n h�ng rong, trao đổi h�ng giả v� x�y dựng chợ đen, c�c kẻ bu�n b�n như thế đ� phản ứng trước sự chiến thắng của phe cộng sản trong năm 1975 bằng việc cất dấu sản phẩm, nhằm k�o d�i c�c lối sống cũ của họ chống lại viễn ảnh về c�c sự khan hiếm h�ng nhập cảng.� Sự quản trị S�ig�n đ� mau ch�ng trở th�nh một sự thử nghiệm lớn lao về c�c mục đ�ch, phương ph�p, v� th�nh kiến của c�c nh� c�ch mạng Việt Nam đang nắm quyền.

 

������ Để t�i định hướng sự ph�n phối v� sử dụng c�c t�i nguy�n của miền nam, H� Nội đ� theo đuổi một số ch�nh s�ch từ năm 1975.� Gi� l�a gạo đ� gia tăng hơn ba mươi ch�n lần từ cuối thập ni�n 1950 v� 1974, v� đ� c� gần gấp bốn lần số tiền giấy lưu h�nh ch�nh thức tại miền nam năm 1975 so với số lượng của năm 1970.� Để chặn đứng nạn lạm ph�t, nhưng cũng v� c�c l� do ch�nh trị hiển nhi�n, c�c du k�ch qu�n tự biến thể th�nh c�c kẻ đổi tiền.� V�o ng�y 23 Th�ng Ch�n 1975, sau c�c sự chuẩn bị b� mật, chế độ -- hiện th�n bởi vi�n thống đốc ng�n h�ng nh� nước � đột nhi�n loan b�o tr�n l�n s�ng ph�t thanh một luật đổi tiền quyết liệt.� �C�c b�n đổi tiền� được thiết lập tại c�c th�nh phố v� l�ng x� của miền nam, được canh g�c bởi c�c binh sĩ.� Người d�n miền nam bị bắt buộc phải khai b�o v� nạp tiền cũ của họ; c�c th�nh phần n�o đ� của tiền mới m� họ nhận được khi đổi tiền, họ phải k� th�c v�o c�c trương mục tiết kiệm c� đăng k� do nh� nước kiểm so�t.� D�n ch�ng tại Đ� Nẵng được d�nh cho hai ng�y để đổi tiền của họ; ba triệu rưỡi d�n của th�nh phố Hồ Ch� Minh chỉ c� đ�ng ba ng�y. 18 (L�o c�ng thực hiện một vụ đổi tiền rập khu�n cho ch�nh n� ch�n th�ng sau đ�, trong Th�ng S�u 1976.) Như một phương c�ch kh�c để v� hiệu h�a c�c sự đầu cơ, cất dấu sản phẩm v� nguy�n liệu, c�ng �c�c �m mưu ph� hoại� kh�c của �tư sản mại bản� miền nam, ch�nh phủ cộng sản mới đ� đưa ra c�c sắc thuế đặc biệt tr�n c�c lợi nhuận qu� đ�ng (Th�ng S�u 1976).� N� cũng cố gắng đi bọc v�ng quanh sự cấu kết b� ẩn của thị trường S�ig�n � Chợ Lớn bằng việc tạo lập c�c hợp t�c x� người ti�u thụ, bắt đầu từ Th�ng Mười 1975, cơ cấu c� thể mua thực phẩm v� c�c nhu yếu phẩm kh�c từ c�c tổ chức mậu dịch nh� nước ph�i thai.� Gia nhập v�o c�c hợp t�c x� như thế, người ngh�o của S�ig�n c� thể t�m được sự bảo vệ chống lại �giới tư sản cũ� (old bourgeoisie) b�c lột v� giới �gian thương� (tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch) lường gạt.� Tất cả điều n�y l� đ�ng theo chủ nghĩa L� Nin N�t, học thuyết được t�n s�ng.� H� Nội c�n chuẩn bị cả cho sự chiến thắng của n� tại miền nam, trong năm 1975, bằng việc in lại bản dịch sang tiếng Việt tập khảo luận Th�ng Tư 1918 của Lenin về c�c c�ng t�c tức thời của ch�nh phủ S� Viết: một bản văn trong đ� Lenin đặc biệt khuyến c�o sự sử dụng c�c tổ chức quần ch�ng chẳng hạn như c�c hợp t�c x� người ti�u thụ, như một c�ng thức để trợ lực c�c nh� c�ch mạng c� được sự kiểm so�t tốt hơn tr�n sự ph�n phối c�c h�ng h�a. 19 C�c n�ng d�n v�ng s�ng Mekong, sau năm 1975, ch�nh v� thế được mời mua c�c con g� theo phương thức m� Lenin đ� ph�t kiến ra s�u thập ni�n trước.� C�c kẻ đầu cơ v� t�ch trữ qu� đ�ng bị x�t xử bởi c�c t�a �n qu�n sự, bị bắt bỏ t� v� bị tịch thu t�i sản. 20

 

������ Tất cả c�c thủ thuật như thế, n�i một c�ch tương đối, đều đ� thất bại.� T�nh đến Th�ng Ch�n 1978, khi c�c quan hệ Trung � Việt về vấn đề Hoa kiều hải ngoại đ� trở n�n b�ng ch�y vượt qu� bất kỳ sự chữa trị tức thời n�o, c�c tổ chức thương mại nh� nước tại nam Việt Nam chỉ kiểm so�t 40 phần trăm c�c nguồn h�ng h�a, v� khoảng 40 phần trăm mậu dịch sản phẩm b�n lẻ, trong to�n v�ng.� Khoảng trống hiển hiện nhất v� cốt yếu nhất giữa c�c tham vọng v� th�nh quả của ch�nh quyền c�ch mạng mới tại miền nam nằm trong l�nh vực n�ng nghiệp.� Kh�ng phải l� n�ng nghiệp đ� kh�ng nhận được nhiều sự ch� � của guồng m�y h�nh ch�nh: trong khoảng 1975 đến 1978, bốn mươi c�ng ty mậu dịch nh� nước, được hỗ trợ bởi 300 cửa h�ng, 15000 c�n bộ, v� một mạng lưới c�c hợp t�c x� mua b�n đ� vươn tới ba phần tư số l�ng x� của miền nam, đ� được thiết lập để quản trị sự mua b�n thực phẩm của miền nam. 21? Nhưng v�o cuối năm 1978, guồng m�y to lớn n�y đ� đạt được trong việc thu gom v� kiểm so�t chưa đến 20 phần trăm sản lượng h�ng năm về thực phẩm của miền nam.� Đối với một số sản phẩm thực sự quan yếu n�o đ� � l�a gạo, đường m�a, thuốc l�, c� � c�c sức mua hay trưng mua của nh� nước thực sự sụt giảm trong thời khoảng 1975 v� 1977, 22 khi so s�nh với c�c k�ch thước thu hoạch ước định.� Sự bền bỉ của nền kinh tế Nam Kỳ cũ kỹ được hiển hiện rất sống động trong thực tế nơi c�c bảng thống k� d�i gi�ng, được c�ng bố một c�ch thẳng thắn tr�n b�o ch� Việt Nam, về c�c số lương thực phẩm m� c�c thẩm quyền ch�nh trị tại th�nh phố Hồ Ch� Minh muốn với tay tới, v� c�c số lượng m� họ c� thể chụp nắm được cho đến nay.� Ho�n to�n chỉ để thỏa m�n c�c thị trường địa phương của miền nam, chế độ h�ng năm cần chuyển giao khoảng 100,000 tấn thịt (trong năm 1978 thực sự chỉ quản thủ được 30,000 tấn); 400,000 tấn rau (thực sự thu gom được 60,000 tấn); tr�n 100,000,000 tr�i trứng (thực sự thu gom được 10,000,000 tr�i); v� 30,000 tấn đậu phụng (thực sự thu gom được 6,000 tấn). 23 Song miền nam được giả định sẽ g�p phần nu�i dưỡng miền bắc sau chiến tranh, cũng như nu�i bản th�n n�.� V� bởi v� miền bắc trong thời kỳ n�y, một phần g�y ra bởi thời tiết xấu một c�ch bất thường, đang sống b�n bờ nạn đ�i, thật kh�ng mấy kh� khăn để tưởng tượng t�m trạng tuyệt vọng của giới l�nh đạo H� Nội v�o cuối năm 1978 � v� sự sẵn l�ng của n� để chấp nhận c�c rủi ro quốc tế hầu đ�nh đổi lấy c�c liều thuốc giảm đau phần n�o.

 

������ C�c kh�n th�nh giả T�y Phương, đặc biệt c�c người Mỹ, c� thể tự nhủ rằng họ c� g�nh một phần sự quy tr�ch cho một t�nh trạng tuyệt vọng như thế.� Nhưng chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam kh�ng phải l� nguy�n do duy nhất cho sự đ�nh trệ kinh tế của c�ch mạng Việt Nam.� C�c sử gia tương lai, được y�u cầu giải tr�nh cho c�c sự chấn thương của c�c năm nguy kịch nhất (1975-1978) trong lịch sử Việt Nam hiện đại, cũng c� thể theo đuổi một c�c hữu dụng một số lời giải th�ch kh�c.� Hiệu lực tương đối của mỗi c�ch giải th�ch sẽ kh�ng dễ để quyết đo�n.

 

������ Một sự giải th�ch � tức th� l� sự giải th�ch đơn giản nhất, tai hại về mặt ch�nh trị nhất v� �t c� khả năng nhất để ph�t hiện một c�ch r� rệt từ b�n ngo�i � sẽ l� sự giải th�ch về sự sụp đổ một phần trong t�nh thần n�ng d�n Việt Nam.� Sau tất cả những sự thiếu thốn v� hy sinh của cuộc đấu tranh của họ chống lại si�u cường Mỹ, c�c n�ng d�n Việt Nam được đề nghị, kh�ng phải một lớp m�n xen giữa để nghỉ ngơi v� ăn mừng, m� l� c�c thử th�ch của một kế hoạch năm năm tham vọng kh�c thường.� Li�n quan đến n�ng nghiệp kh�ng th�i, H� Nội đ� mơ tưởng c�c giấc mơ rực s�ng theo sau cuộc chiến thắng của n�.� H� Nội đ� hy vọng rằng, đến băm 1980, Việt Nam c� thể sản xuất được 21 triệu tấn thực phẩm; ph�n chia 500,000 mẫu t�y (hectares) đất (bằng một phần bẩy tổng số diện t�ch trồng l�a gạo trong to�n quốc v�o cuối thập ni�n 1970) cho c�c mục đ�ch sản xuất n�ng nghiệp d�nh ri�ng cho xuất cảng; chuyển dịch 1,800,000 lao động (v� th�n nh�n của họ, tổng số l�n tới khoảng bốn triệu người) đến �c�c v�ng kinh tế mới� tại miền nam v� cao nguy�n trung phần; đầu tư khoảng năm tỷ đồng tiền vốn trong c�c c�ng cuộc tưới ti�u, v� biến cải khoảng một nửa tất cả diện t�ch gieo trồng của Việt Nam sang việc trồng v� gặt h�i bằng m�y m�c.� C�c tham vọng như thế c� thể ph�t sinh từ một loại ngạo mạn ph�ng đ�ng hậu chiến thắng; ch�ng thật dễ d�ng c� thể được nhận thấy như một kh�t vọng c� � thức để vượt tho�t c�c sự lệ thuộc kinh ni�n cố hữu trong sự k�m ph�t triển c�ng nghiệp v� c�c số nhập cảng thực phẩm h�ng năm.� Nhưng một trong những kh� khăn ch�nh yếu nằm ở sự kiện rằng sẽ kh�ng dễ d�ng để khai th�c chủ nghĩa d�n tộc của n�ng d�n cho c�c c�ng t�c kinh tế phức tạp đ�n thế, như đ� được thực hiện, trước năm 1975, để điều hướng giới n�ng d�n chống lại c�c kẻ x�m lăng da trắng v�o xứ sở.� Vấn đề vận động d�n ch�ng trong c�ch mạng Việt Nam đ� tiến v�o một giai đoạn ho�n to�n mới.

 

������ Điều quan trọng rằng n�ng d�n miền bắc, c�c kẻ cũng được triệu tập như lao động tiền phong của �c�c khu vực kinh tế mới� từ l�u đ� sống trong một thế giới của sự tiến bộ �t c� thể đo lường được về mặt kinh tế ch�nh danh.� Từ 1960 đến 1975, thu nhập tổng qu�t của c�c hợp t�c x� n�ng nghiệp của miền bắc, cả về mặt tuyệt đối lẫn tương đối, đ� trải qua sự gia tăng �kh�ng đ�ng n�i tới�.� Đ�ng thực rằng nếu người ta lấy chỉ số 100 cho tổng trị gi� sản lượng n�ng nghiệp mi�n bắc trong năm 1960, c�c chỉ số của sản lượng của c�c năm kế tiếp (được tuy�n bố) sẽ l� 123 trong năm 1965, 113 trong năm 1969, 122.5 trong năm 1970, v� 115.7 trong năm 1971.� Nhưng c�c phi tổn cụ thể li�n can đến sự hiện đại h�a n�ng nghiệp � chẳng hạn như mua ph�n b�n h�a học, hay sử dụng nhiều điện lực hơn � đ� ngốn ng�y c�ng mạnh mẽ hơn v�o trị gi� sản lượng n�y.� Ch�ng gia tăng từ 25.8% của trị gi� trong năm 1960 l�n đến 40% trị gi� hay nhiều hơn v�o đầu thập ni�n 1970.� Sự kiện n�y cướp mất bất kỳ sự gia tăng n�o trong lợi tức.� (Như một sự đo lường năng suất thấp một c�ch thảm hại của sự đầu tư tư bản trong nền n�ng nghiệp tập thể h�a của Việt Nam, trong khi ngạch số trung b�nh của sự đầu tư tư bản tr�n mỗi mẫu t�y (ha) canh t�c mỗi năm tại miền bắc gia tăng từ một chỉ số 100 trong năm 1965 l�n đến 173 trong năm 1967, trị gi� thực sự của sản lượng tr�n mỗi mẫu t�y canh t�c tại miền bắc đ� chỉ gia tăng từ một chỉ số 100 trong năm 1965 �l�n tới 104.6 trong năm 1967).� Thu nhập h�ng năm trung b�nh của c�ng nh�n canh t�c tại miền bắc th� trồi sụt.� Nhưng nhất quyết n� đ� kh�ng ph� được h�ng r�o khi�m tốn l� 200 đồng một năm; thu nhập đ� l� 126 đồng trong năm 1964, 135 đồng trong năm 1965, 127 đồng trong năm 1966, 139 đồng trong năm 1967, v� giảm xuống c�n 120 đồng trong năm 1969. 24 Tại �t nhất một số nơi của Bắc Việt (Tonkin), v�o năm 1967, c�c d�n l�ng đ� từ bỏ một c�ch bất hợp ph�p c�c đồng l�a của họ để đi kiếm thu nhập lớn hơn bằng việc mậu dịch v� vận chuyển sản phẩm tr�i ph�p; hơn thế, ủy ban nh�n d�n tại một số l�ng x� đ� bị tố gi�c dung chấp cho h�nh vi như thế. 25

 

������ Một cuộc điều tra của ch�nh phủ về t�nh trạng khẩn cấp tr�n c�c gi� cả, lương bổng, v� tiền tệ của Việt Nam, được thực hiện v�o l�c sắp c� cuộc đụng độ của Việt Nam với Trung Quốc, đ� ph�t gi�c rằng sự tham nhũng của ch�nh quyền, v� nhược điểm tổng qu�t của guồng m�y kinh tế nh� nước, đặc biệt tại c�c l�ng x�, đ� đặt giới n�ng d�n ho�n to�n trong b�n tay chi phối bởi �thị trường tự do�. Ngay cả nếu sự ph�n phối c�c sản phẩm của nh� nước , tr�n l� thuyết, c� thể thỏa m�n hay vượt qu� c�c y�u cầu, nhiều h�ng h�a vẫn c�n ngo�i tầm tay với của c�c n�ng d�n.� Sau năm 1975, theo cuộc điều tra, cư d�n �trung b�nh� tại một th�nh phố hay tỉnh lỵ Việt Nam nhận được bốn thước vải mỗi năm từ guồng m�y ph�n phối nh� nước, cư d�n trung b�nh tại một quận (huyện) lỵ nhận được ba thước, v� cư d�n trung b�nh tại một l�ng x� chỉ nhận được 2.3 thước.� Sự mục n�t của thư lại quan li�u, n�i c�ch kh�c, đang đe dọa đưa tới một sự ph�ng đại đầy tai họa trong c�c sự kh�c biệt kinh tế n�ng th�n � th�nh thị.� Bị c�ch biệt bởi sự co r�t của c�c thẩm quyền ph�n phối nh� nước, c�c n�ng d�n Việt Nam đ� bị b� buộc phải mua một k�-l�-gam ph�n đạm h�a học (nitrogenous) tr�n thị trường tự do cao hơn mười lần gi� ch�nh thức, hay một hộp thuốc s�t tr�ng cao hơn mười s�u lần trị gi� do nh� nước ấn định.� Đổi lại, họ kh�ng c�n c� thể chịu được việc b�n sản phẩm của ch�nh họ cho nh� nước.� Ngay c�c x� nghiệp do nh� nước quản l�, trong thực tế, đ� �l�m thất tho�t� c�c sản phẩm của họ -- vải, x�-ph�ng, thuốc l�, b�t viết bơm mực � ra ngo�i thị trường tự do, 26 nơi c� c�c kẻ quản thủ, đặc biệt tại miền nam, l� c�c Hoa kiều hải ngoại.

 

 

 

C�c Sự Bất Th�ch Đ�ng Của Sự Cải C�ch

 

������ Để giải quyết cuộc khủng hoảng, hay cuộc khủng hoảng tiềm ẩn, của sự c�ch biệt kinh tế n�ng d�n, ch�nh quyền Việt Nam đ� đưa ra c�c sự cải c�ch quan trọng hồi đầu năm 1978 theo c�c chiều hướng thu mua ch�nh thức c�c sản phẩm canh t�c.� Trong việc thu mua th�c, ch�nh phủ đ� b�i bỏ ch�nh s�ch cũ của c�c sự trưng thu gạo cưỡng b�ch �b�nh ổn h�a� (stabilized), kết hợp với sự khuyến kh�ch hờ hững c�c việc b�n tự nguyện cho nh� nước với gi� cao gấp ba lần c�c gi� cả cưỡng b�ch rất thấp. �Thay v�o đ�, trong hiện th�n mới của n� tại c�c đồng l�a, nh� nước giờ đ�y mua 90% sản lượng ngũ cốc với �gi� mua căn bản�, nhưng sẽ mua c�c số thu hoạch vượt qu� chỉ ti�u ở �c�c mức gi� kh�ch lệ� cao, được m� tả một c�ch c�ng khai như c� bản chất của �tiền thưởng� (reward money).� Với c�c sự kh�c biệt địa phương, Việt Nam được ph�n chia th�nh năm khu vực định gi� n�ng phẩm � ch�nh phủ kỳ vọng c�c gi� cả của c�c vụ thu mua th�c theo c�c cải c�ch như thế được n�ng cao khoảng 20-30%� (c�c gi� cả ch�nh thức của c�c n�ng phẩm tại miền bắc gia tăng chỉ c� 50% trong to�n thể thời kỳ từ 1960-78), v� gi� cả c�c loại rau sẽ gia tăng �một c�ch kh�ch lệ� hơn nữa�. 27

������

������ Liệu c�c cải c�ch như thế, tự bản th�n ch�ng, sẽ đủ để th�o gỡ n�ng nghiệp Việt Nam ra khỏi c�c kh� khăn của n� hay chưa?� Cho đến giờ chỉ c� �t bằng chứng t�ch cực.� Một vấn đề l� tinh thần của n�ng d�n sau năm 1975 c� thể chưa bị triệt hạ kh�ng chỉ bởi cảm nhận về một sự tr� trệ k�o d�i của c�c niềm hy vọng kinh tế, m� cũng c�n bởi c�c t�c dụng địa phương đ�ch x�c của một sự lỏng lẻo thư lại quan li�u tổng qu�t hơn.� C�c t�c dụng v� hiệu h�a của sự �thiếu mạch lạc� (disarticulation) của nh� nước Việt Nam r� r�ng đ� trở n�n nghi�m trọng.� Khu vực kinh tế do nh� nước quản trị, khu vực với liều lượng nhiều nhất của sự thẩm nhập thư lại quan li�u � c�c n�ng trại nh� nước, c�c chương tr�nh l�m nghiệp, c�c ng�nh x�y dựng cơ bản � đ� l� khu vực nơi m� c�c kết quả của sự đầu tư, v� tỷ số t�ch lũy tư bản, bị suy giảm nghi�m trọng nhất sau năm 1975.� Mặc d� lực lượng nh�n c�ng trong khu vực n�y gia tăng h�ng năm từ 8% đến 10%, với c�c ng�n khoản d�nh cho lương bổng v� an sinh gia tăng tương ứng, năng suất lao động của n�, được t�nh theo c�c số thu nhập của c�ng d�n, lại giảm s�t. 28 Thay v� viện dẫn một sự khan hiếm ngoại viện, hay c�c tinh thần cổ lỗ của c�c n�ng d�n Việt Nam, như l� c�c trở ngại ch�nh cho sự du nhập kỹ thuật ti�n tiến v�o sự canh t�c của Việt Nam, Thứ trưởng Bộ N�ng Nghiệp, Dương Hồng Dat [Đạt?], đ� giải th�ch trong một cuộc phỏng vấn trong m�a h� năm 1978 rằng kh� khăn lớn lao l� sự chưa trưởng th�nh về định chế của nh� nước Việt Nam.� Việt Nam c�n thiếu �c�c căn bản ph�p l�� cho một cuộc c�ch mạng n�ng nghiệp, �c�c quy đinh của nh� nước� hay �c�c đạo luật� c� thể chi phối v� phối hợp c�ng việc của c�c ng�nh kinh tế kh�c nhau v� c�c địa phương.� V� thế, mặc d� Ủy Ban Khoa Học v� C�ng Nghệ Nh� Nước gi�m s�t t�m viện v� 500 trạm nghi�n cứu thực nghiệm, n� đ� bị kết �n đ� đưa ra c�c quan điểm của n� ho�n to�n theo một �phương thức chương tr�nh h�a� [ ti�ng Việt trong nguy�n bản, được dịch ra Anh ngữ như sau: programmizing manner, ch� của ngườiu dịch], như c�c h�nh b�ng kh�ng được thả neo bởi thực chất của �một hệ thống c�c quy tắc�. 29 Nhiều bộ kh�c nhau trong ch�nh phủ d�nh l�u đến n�ng nghiệp chắc chắn đ� thiếu sự phối hợp.� Điều n�y đặc biệt đ�ng tại �c�c khu kinh tế mới�, vốn đ�i hỏi sự ch� �, v�o cuối năm 1977, của Bộ Lương Thực v� Thực Phẩm (cung cấp thức ăn cho ngườiu d�n thuộc c�c khu kinh tế mới); của Ủy Ban Kế Hoạch Nh� Nước, Bộ Vật Tư, Bộ X�y Dựng, Bộ T�i Ch�nh, v� Ng�n H�ng Nh� Nước (tất cả c�c cơ quan đ� cung cấp hoặc c�c vật liệu x�y dưng hay vốn cho c�c khu kinh tế mới); của Bộ L�m Nghiệp (phụ tr�ch cung cấp gỗ, v� quy định sự sử dụng c�c vật tư khan hiếm chẳng hạn như c�c �ng v� m�y bơm nước); của Bộ Y Tế C�ng Cộng (phụ tr�ch việc chống lại bệnh sốt r�t); của Bộ Giao Th�ng v� Vận Tải (di chuyển d�n ch�ng đến c�c khu kinh tế mới); v� của Bộ N�ng Nghiệp. ��

 

������ � Một sự ph�n t�n hỗn loan như thế của c�c quyền lực kinh tế ở trung t�m của một chế độ độc t�i c�ch mạng đ�i hỏi một sự giải th�ch.� C� thể rằng c�c nh� ch�nh trị c� thẩm quyền thực sự để ph�n phối c�c quyền hạn cấu tạo quyết định giữa c�c bộ qu� tệ hại kh�ng chịu học hỏi c�c vấn đề kinh tế v� kỹ thuật để c� khả năng thực hiện sự ph�n phối như thế một c�ch r� r�ng.� Người ta c� thể n�u c�c c�u hỏi về khả năng đ�ch x�c của V� Nguy�n Gi�p, th� dụ, như nh� hoạch định cho sự thay đổi n�ng nghiệp, bất kể tất cả c�c b�i diễn văn �ng đ� đưa ra về chủ đề n�y kể từ 1975.� Như một biến thể hay một sự nối d�i của điều n�y, người ta c� thể quan s�t thấy rằng c�ng việc ch�nh của phe d�n tộc chủ nghĩa Việt Nam trước 1975 � sự tống xuất c�c người nước ngo�i theo phe thực d�n, xuy�n qua sự động vi�n v� l�nh đạo của một giới n�ng d�n c� vũ trang � được ph�t huy một c�ch s�ng tạo nhất bởi một thứ ch�nh trị nghi�ng nặng tr�n một �phương thức chương tr�nh h�a� hơn l� tr�n sự khai triển c�c cấu tr�c ph�p l� v� bộ m�y thư lại quan li�u dễ hiểu.� Điều l�m hơi thắc mắc rằng c�c hồi tưởng v� c�c th�i quen của một qu� khứ vinh quang giờ đ�y lại được triệu mời một c�ch vật n�i để kiểu ch�nh c�c nhược điểm của một hiện tại k�m xa vinh quang.� Khi sự kiện tiết lộ, v�o cuối năm 1977, rằng c�c sự phong tỏa đồ tiếp liệu đ� trợ lực v�o việc ngăn cản hơn một phần ba số c�ng nh�n cần thiết kh�ng đựoc di chuyển đến c�c v�ng kinh tế mới trong năm đ�, Bộ Lương Thực v� Thực Phẩm nhận lệnh xử l� c�c số tiếp liệu thực phẩm của c�c khu kinh tế mới như thể ch�ng l� c�c tiếp liệu thực phẩm của qu�n đội. 30 C�c h�nh ảnh v� từ ngữ qu�n sự đ� ti�n tới việc th�m nhập v�o tư tưởng kinh tế Việt Nam.� Sự phổ th�ng của ch�ng được tr� li�u để gợi nhớ c�c chiến thắng của Việt Nam tr�n người Ph�p v� người Mỹ.� Nhưng n� c�ng gợi nhớ lại một tiền lệ �t thuận lợi hơn: sự ch� � khắc nghiệt của Trotzky đ�n �việc qu�n sự h�a c�ng việc� tại LBSV sau năm 1917.

 

������ C� lẽ điều l�m lo �u ch�nh c�c nh� khoa học x� hội Việt Nam s�u sắc kh�ng� phải l� sự sử dụng c�c truyền thống qu� khứ để đ�u tranh với c�c kh� khăn hiện tại, m� lại l� sự vắng mặt của c�c dự kiến bản địa h�a to�n diện đầy đủ về tương lai c� thể được nối kết một c�ch bao qu�t với c�c thực tại x� hội v� văn h�a Việt Nam.� Ngược lại, cảnh tr� dường như bị rối loạn bởi sự x�m nhập qu� sớm của qu� nhiều c�c biểu tượng th�ng th�i rởm của c�c sự hiện đại h�a, được chế tạo ở nơi n�o kh�c, kh�ng phản ảnh c�c nếp suy nghĩ của Việt Nam.� Một th� dụ c� thể được t�m thấy trong cuộc tấn c�ng to�n quốc v�o �chủ nghĩa thư lại quan li�u: bureaucratism� m� H� Nội đ� ph�ng ra trong năm 1976, một phần chắc chắn để giảm bớt c�c ph� tổn gia tăng th�i qu� về lao động v� vật tư sản xuất trong nền kinh tế Việt Nam (tr�n l� thuyết, nhưng cho đến giờ kh�ng phải tr�n sự thực h�nh của Việt Nam, c�c khoản đầu tư vật tư cao hơn sẽ phải dẫn đến c�c ph� tổn lao động thấp hơn, cho ph�p sự tạo lập �trị gi� thặng dư�).� Nguyễn Đức Uy [?], một nh� t�m l� x� hội, viết trong năm 1977, đ� nhận thấy một điều kỳ lạ về cuộc tấn c�ng n�y.� C�c b�o ch� Việt Nam, cố gắng ch�m biến c�c thư lại quan li�u kh�ng đ�p ứng, đ� m� tả họ như c�c sinh vật cưỡi c�c m�y điện thoại của họ tr�n đường đi l�m.� N�i c�ch kh�c, t�c giả Nguyễn Đức Uy [?] đ� viết, c�c tờ b�o như thế chỉ giả định rằng c�c thư lại quan li�u Việt Nam hẳn phải giống như �c�c đồng sự� của họ tại �c�c nước x� hội chủ nghĩa kh�c� vốn l� �c�c chiếc m�y tự động� b�m �chặt� lấy h�ng loạt bao la c�c quy định c�ng việc ch�nh x�c, được ghi tr�n văn kiện r� r�ng, v� bị bao quanh bởi c�c đống điện thoại k�u r�o inh tai.� Nhưng trong thực tế Việt Nam chỉ c� rất �t điện thoại.� V� một thư lại quan li�u Việt Nam điển h�nh đ� tiến h�a từ một �kiểu: model� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của ngườiu dịch] kh�c, tiền-khoa học (prescientific) của chủ nghĩa thư lại quan li�u.� Anh ta đ� l�m chậm trễ c�c thủ tục ch�nh quyền bởi sự quan t�m đến tư thế của anh trong việc tỏ ra vừa uy nghi�m một c�ch hống hạch lẫn kh�m n�m [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] th�i qu�, nhưng sự ch� � ch�nh yếu của anh nhằm v�o việc thiết lập �c�c t�m l� ban ph�t �n huệ� l�m mất nhiều th� giờ đối với c�c người d�n m� anh ta giao dich. 31 H�m � l� một l� do cho sự v� hiệu năng tương đối của ch�nh phủ Việt Nam trong việc thay đổi nền kinh tế rằng ngay c�c ti�u chuẩn m� bản th�n n� chỉ tr�ch � như c�c tranh biếm họa cho thấy � th� đ�i khi bị vay mượn qu� hiển nhi�n, v� qu� lỗi thời, để x�c định được c�c vấn đề cụ thể.

 

������ C�c ti�u chuẩn v� h�nh ảnh vay mượn thường đơn giản kh�ng đủ mạnh mẽ để thay đổi một c�ch nhanh ch�ng c�c xung lực lịch sử tại x� hội Việt Nam � v� trong phong tr�o Cộng Sản Việt Nam � đang tạo ra sự tổn hại nhiều nhất.� C�c nh� kinh tế Việt Nam, cố gắng để x�c định c�c xung lực như thế, đ� chỉ tr�ch ch�nh phủ của ch�nh họ về việc kh�ng hiểu biết về t�nh s�ng tạo của thương mại: một khuynh hướng tự nhi�n, c� lẽ, trong một x� hội Khổng học trước đ�y vốn thiếu một tầng lớp kinh doanh bản địa.� Giữa c�c năm 1976 v� 1980, H� Nội đ� hy vọng di chuyển v�o khoảng bốn triệu c�ng nh�n v� c�c th�n nh�n của họ đến ba khu vực kinh tế mới tại miền nam: một khu vực trồng l�a gạo ở ch�u thổ s�ng Mekong l� nơi m� c�c n�ng d�n ch�u thổ s�ng Hồng sẽ được di chuyển đến (thuộc c�c tỉnh Minh Hải, Ki�n Giang v� Long An); một khu vực Nam Kỳ [Cochinchina trong nguy�n bản, ch� của người dịch] cấy rừng trồng c�y kỹ nghệ v� c�c loại thực phẩm c� thể xuất cảng được (thuộc c�c tỉnh T�y Ninh, S�ng B� v� Đồng Nai); v� một khu vực cao nguy�n chuy�n n�ng nghiệp chuy�n m�n h�a tr�n quy m� rộng lớn (thuộc c�c tỉnh L�m Đồng, Darlac v� GiaLai � Kontum).� Nhưng theo c�c kinh tế gia tại Viện Kinh Tế H� Nội, 32 chế độ đ� ước lượng thấp sự kiện rằng c�c khu kinh tế mới kh�ng chỉ kh�ng c� thể tạo ra c�c sản phẩm thương mại mới của ch�nh ch�ng ngay tức th�, m� sẽ phải thu h�t c�c số lượng lớn lao c�c sản vật từ c�c nơi kh�c.� Ch�nh phủ Việt Nam đ� tin tưởng một c�ch sai lạc, theo c�c chuy�n vi�n của ch�nh họ, rằng hoạt động thương mại chỉ l� �sản phẩm: product� hay �kết quả: result� của một sự ph�n chia x� hội n�o đ� về lao động, chứ kh�ng phải cũng l� một chất x�c t�c cho sự quản trị v� tăng trưởng tốt hơn.� Nh�n thương mại thuần t�y về mặt �kẻ trung gian: middleman�, chứ kh�ng phải hiểu n�[trong một cung c�ch �t�ch cực� chi phối bởi �t�nh thực dụng: practicality�, ch�nh phủ đ� khinh thị sự tạo lập ra một �tổng c�ng ty mậu dịch� cho c�c khu kinh tế mới.� Ho�n to�n kh�ng chủ �, ch�nh phủ v� thế đ� bỏ rơi c�c khu kinh tế mới cho �c�c thị trường tự do� của chế độ quả đầu (oligarchy) thương mại miền nam.

 

������ Tất cả điều n�y mang ch�ng ta trở về cuộc khủng hoảng với Trung Quốc, ph� sản quốc tế của c�c sai lầm, c�c sự bất th�ch đ�ng, v� c�c di sản lịch sử tai hại như thế.� Bởi giới quả đầu thương mại miền nam cũ hiển nhi�n hưởng lợi từ sự ngờ vực của giới n�ng d�n Việt Nam, v� c�c nhược điểm thư lại quan li�u v� ch�nh trị của nh� nước Việt Nam thống nhất, hầu bảo vệ c�c quyền lợi của n� một c�ch xuất sắc.� Sau năm 1975, c�c doanh nh�n Hoa kiều hải ngoại tại Th�nh Phố Hồ Ch� Minh tiếp tục tự li�n minh với c�c mạng lưới mậu dịch �ch�n rết: centipede-legged�tư nh�n, dẻo dai, tại ch�u thổ s�ng Mekong, vốn dựa tr�n �c�c nh�n vật trung t�m� (như một v�i c�n bộ kh�m ph� một c�ch chậm trễ) của c�c l�ng x� miền nam, tức �c�c n�ng d�n trung gian� c� đầu �c kinh doanh c� thể t�nh to�n một c�ch sắc sảo c�c ph� tổn tiếp thị v� vận tải. 33 Tại c�c th�nh phố miền nam, c�c doanh nh�n như thế đ� duy tr� c�c thương nghiệp của họ bằng c�ch k� kết c�c hợp đ�ng quản trị kinh tế với nh� nước cho ph�p họ tiếp tục sở hữu c�c vật tư sản xuất.� Hay, nếu c�c x� nghiệp của họ bị �t�i x�y dựng� v�o c�c x� nghiệp nh� nước hay c�c x� nghiệp hỗn hợp quốc doanh � tư doanh, họ được ph�p để khống chế c�c ủy ban chỉ đạo vốn h�nh sử thẩm quyền tr�n c�c doanh nghiệp mới, thường �p đảo c�c th�nh vi�n c�ng nh�n tại c�c ủy ban như thế bởi tỷ số cao đ�n mười tr�n một.� C�c c�n bộ đảng tại miền nam bị �t�n tỉnh� bởi c�c �kẻ theo tư bản chủ nghĩa� Hoa kiều hải ngoại một c�ch hữu hiệu đến nỗi nhiều người trong họ đ� đ�nh mất �quan điểm giai cấp của họ� , bỏ rơi sự ch� � đến việc x�y dựng c�c nghiệp đo�n lao động quần ch�ng , v� ngay cả th�ng đồng với c�c kẻ tư bản chủ nghĩa để đ�nh cắp t�i sản nh� nước. 34 Sự tham nhũng n�y của c�c c�n bộ, kế đ�, lại được l�m cho dễ d�ng hơn � nhưng cũng kh�ng thể tha thứ hơn � bởi sự kiện rằng đảng đ� c� một sự tập trung đ�ng đảo c�c đảng vi�n tại miền bắc hơn l� tại miền nam.� Do một phần từ c�c sự tổn thất trong chiến tranh, đảng nhận thấy m�nh, một c�ch kh�ng tự nguyện, ở v�o vị tr� g�n như giới thư lại quan li�u Khổng học Việt Nam trước khi thực d�n Ph�p đ�n trong thập ni�n 1850: cai trị miền nam như thể l� một l�nh địa gi�u c�, v� luật lệ, nơi m� sự hiện diện đ� thiết định của t�nh ch�nh thống chỉ được nh�n thấy một c�ch mờ nhạt.� Về mặt to�n quốc, số đảng vi�n của Đảng Cộng Sản Việt Nam chiếm 3.13% d�n số Việt Nam trong năm 1977.� Nhưng ri�ng tại miền nam trong năm 1977, số đảng vi�n chỉ chiếm 1.2% [?] d�n số (c�n chưa tới ph�n nửa tỷ lệ đ� trước Th�ng Năm 1975).

 

 

Trận Đ�nh Thứ Nh� Tại Saig�n V�

 

Hậu Quả Quốc Tế Của N�

 

������ Để cứu v�n c�c chương tr�nh kinh tế v� x� hội bị cắt mất nửa kh�c ruột của họ tại miền nam, c�c nh� cầm quyền Việt Nam, v�o ng�y 23 Th�ng Ba 1978, đ� ph�ng ra điều c� thể được gọi l� trận đ�nh thứ nh� v�o S�ig�n.� Cuộc đấu tranh trong một v�i kh�a cạnh c�n nguy hiểm hơn trận đ�nh thứ nhất v�o S�ig�n diễn ra trong m�a xu�n 1975.� Ch�nh họ đ� đề cập đến n� như l� một �chiến dịch chiến tranh� nhằm bẻ gẫy � sau c�ng � quyền lực của doanh nh�n tư doanh của miền nam.� C�c sự bất m�n của quần ch�ng được huy động.� Tất cả c�c c�ng nh�n ăn lương Việt Nam trước đ�y đ� phục vụ c�c doanh nh�n như thế, chẳng hạn c�c t�i xế, thợ mộc, thợ nề, hay lao c�ng, bị y�u cầu h�y th�ng b�o nh� nước về c�c h�ng h�a cất dấu m� c�c chủ nhận của họ đ� kh�ng khai b�o trước đ�y.� Trong cuộc li�n hoan của c�c hoạt động chỉ điềm tại c�c khu phố r� r�ng tiếp nối theo đ�, c�c hận th�, kể cả c�c hận th� chủng tộc lịch sử, c� l� đ� được thanh to�n.� Bản th�n ch�nh quyền Việt Nam n�i rằng 90 phần trăm c�c sự c�o gi�c của c�c điềm chỉ vi�n về c�c h�ng h�a cất dấu được chứng tỏ l� đ�ng, c� nghĩa rằng �t nhất c� 10% [sự c�o gi�c] l� sai.� Kết quả của trận đ�nh thứ nh� v�o S�ig�n rằng quyền lực kinh tế của khoảng 10% c�c gia đ�nh kinh doanh tư nh�n của miền nam đ� bị �thủ ti�u� một c�ch cưỡng b�ch � một thắng lợi kh� yếu cho c�c sự chấn thương quốc tế m� sự kh�ch động đ� g�p phần tạo lập. 36

 

������ To�n thể cộng đồng Hoa kiều hải ngoại khắp Việt Nam, bắc cũng như nam, người ngh�o cũng như c�c thương gia gi�u c�, c� vẻ đ� tự đổ x� v�o một sự sụp đổ tinh thần.� Kh�ng c� sự suy sụp đầu �c n�y, v� kh�ng c� cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt m� t�nh trạng tr� trệ kinh tế tại miền nam Việt Nam cũng đ� g�p phần quyết định để lao tới, kh�ng c� mấy x�c xuất rằng c�c căng thẳng k�o d�i từ l�u giữa Bắc Kinh v� H� Nội, g�y ra bởi c�c ch�nh s�ch ngoại giao kh�c nhau, sẽ b�ng nổ vượt qu� mọi sự ngăn chặn.� Tại miền bắc Việt Nam, c�c tin đồn v� thực chất của cuộc chiến tranh chủng tộc lạnh l�ng cũng c� thể bị ph�t chiếu ra b�n ngo�i từ th�nh phố hải cảng Hải Ph�ng, nới c� 1.2 triệu d�n bao gồm c�c số lượng quan trọng của Hoa kiều hải ngoại.� Bất kể sự tập thể h�a hời hợt bề ngo�i của c�c doanh nghiệp ở Hải Ph�ng v�o năm 1960, c�c nh� mậu dịch tư nh�n v� �thị trường tự do� vẫn c�n chiếm tới 32% số thương mại b�n lẻ tại th�nh phố n�y trong năm 1974. 37 Để kiềm h�m c�c hoạt động tiếp thị tư nh�n gia tăng tại Hải Ph�ng, ch�nh phủ Việt Nam, theo sự thừa nhận của ch�nh họ, trong năm 1977 đ� đ�p ph� h�ng ngh�n ng�i nh�, t�p lều v� c�c quầy b�n h�ng được dựng l�n �một c�ch bất hợp ph�p� tại c�c th�nh phố nội v� ngoại �, v� đ� gửi h�ng ngh�n c�c kẻ bu�n b�n nhỏ tr�i ph�p của Hải Ph�ng đến bốn trại lao động được th�nh lập đặc biệt.� Sự ph� vỡ c�c sự kiểm so�t thương mại của nh� nứoc tại Hải Ph�ng trong năm 1977 đ� được so s�nh trong b�o ch� Việt Nam với t�nh trạng v� ch�nh phủ thương mại đồi trụy của S�ig�n trước 1975. 38

 

������ Durkheim từng c� lần ghi nhận rằng c�c nh� c�ch mạng hiếm khi tra hỏi đ�u l� c�c mục đ�ch hữu dụng thu đạt được bởi c�c sự sắp xếp x� hội kh�ng thể chịu đựng được một c�ch tổng qu�t hơn, m� họ mong mu�n lật đổ.� Hiển nhi�n sự triệt hạ của ch�nh quyền Việt Nam chủ nghĩa tư bản của Hoa kiều hải ngoại sẽ kh�ng thực sự giải quyết một c�ch mau ch�ng bất kỳ chứng bệnh ch�nh trị v� kinh tế n�o m� Việt Nam đang g�nh chịu.� Song người ta cũng phải hiểu rằng l�m sao chỉ c� rất �t c�c kẻ b�nh vực tại Việt Nam (hay nơi kh�c tại Đ�ng Nam �) m� doanh nh�n Hoa Kiều hải ngoại tranh thủ được, v� l�m sao m� nhiều sự ngờ vực về l�ng y�u mến được đ�nh thức dậy của Trung Quốc d�nh cho Hoa kiều hải ngoại, v�o cuối thập ni�n 1970, nhiều phần sẽ được nu�i dưỡng khắp v�ng, từ H� Nội cho đến, th� dụ, Jakarta.� Quan điểm của Trung Quốc về cuộc khủng hoảng rằng chỉ c� v�o khoảng �một phần trăm� Hoa kiều hải ngoại tại Việt Nam l� c�c nh� tư bản S�ig�n.� Do đ�, �c�ng cuộc tại x�y dựng x� hội chủ nghĩa� kh�ng thể l� động lực thực sự cho c�c �p lực của Việt Nam tr�n họ. �t người d�n Đ�ng Nam � lại thấy được rằng c�c lập luận như thế l� khả t�n. �H� Nội kh�ng phủ nhận rằng c�c nh� tư sản trong số Hoa kiều hải ngoại l� một thiểu số nhỏ.� Nhưng n� đặt định luận cứ của m�nh tr�n c�c sự tuy�n x�c rằng thiểu số nhỏ n�y tuy thế đ� c� một d�y th�ng lọng hữu hiệu tr�n nền kinh tế miền nam.� C�c doanh nh�n Hoa kiều hải ngoại bị c�c gi�c đ� thực sự độc quyền h�a ng�nh bu�n b�n sỉ v� c�c thương nghiệp xuất-nhập cảng, đ� sở hữu 42 trong số 60 c�ng ty miền nam c� thương vụ h�ng năm trong năm 1975 l�n tới tr�n một tỷ đồng, v� đ� kiểm so�t hơn 80 % c�c cơ sở kỹ nghệ của miền nam về thực phẩm, h�ng dệt, đồ kim loại, v� c�c sản phẩm h�a học.� Ri�ng một doanh nh�n Hoa ki�u ở S�ig�n như L� Long Th�n, theo H� Nội, đ� c� thể nghĩ một c�ch hữu l� về việc ảnh hưởng c�c thị trường v� c�c gi� cả tại miền nam ngay sau 1975, bởi �ng ta đ� rải c�c số lượng chủ � khoản tư bản đầu tư khắp mười t�m x� nghiệp lớn như Vinatexco (h�ng dệt), Vinatefineo (nhuộm), Vicasa (sắt v� th�p), Nakydaco (dầu thực vật), cũng như qua mười s�u ng�n h�ng kh�c nhau. 39 Nơi đ�y, �t nhất, nếu kh�ng c� một l�nh địa n�o kh�c kể từ 1975, ch�nh phủ Việt Nam c� lẽ c�n c� thể dựa tr�n cảm t�nh d�n tộc chủ nghĩa của nhiều người Việt Nam kh�ng phải l� cộng sản.� Sau hết, �ng Nguyễn Văn Hảo, nh� kinh tế đ� từng l�m tổng đốc Quỹ Ph�t Triển Quốc Gia của ch�nh phủ cũ của �ng Thiệu, đ� viết trong năm 1972 rằng vấn đề ch�nh yếu trong việc biến đổi kinh tế n�ng nghiệp của miền nam l� l�m sao gi�p đỡ cho c�c n�ng d�n tổ chức đời sống của họ gi�p cho họ sẽ kh�ng bị nằm dưới quyền kiểm so�t của c�c Hoa kiều trung gian l� những kẻ lu�n lu�n ăn trộm c�c lợi nhuận của họ. 40 Trở l�i về thời kỳ thuộc địa Ph�p, điều thường xảy ra trong số c�c k� giả Việt Nam c� đầu �c ghen tỵ rằng c�c doanh nh�n v� c�ng nh�n Hoa kiều hải ngoại được tổ chức tốt hơn, xảo quyệt hơn đ� c� thể mang lại c�c b�i học cho người Việt Nam về việc qua mặt được c�c sự trấn �p ph�p l� của người Ph�p, qua c�c phường nghề v� hội qu�n b� ẩn của họ. 41

 

������ Liệu c� khả t�nh n�o cho bất kỳ người ngoại quốc n�o đ�ng vai một quan s�t vi�n kh�ch quan trong cuộc xung đột Trung Quốc � Việt Nam? Bất kể c� sự nghi ngờ đến đ�u m� bất kỳ sử gia n�o c� thể c� về ph�p thần diệu của c�c toa thuốc cũ rich của Lenin cho việc thay đổi nền kinh tế cũ ở S�ig�n, cũng ch�nh sử gia đ�, đặc biệt nếu �ng ta đ� từng sống tại S�ig�n trước năm 1975, kh�ng thể qu�n được c�c đường phố dơ bẩn của n� với c�c kẻ bị c�i hủi, c�c c� g�i điếm v� c�c đứa trẻ đ�nh giầy ở tuổi c�n thơ � lại kh�ng n�i g� về c�c t�a biệt thự của số người gi�u c� độc �c về tinh thần, kể cả c�c nh� ph� h�o (plutocrats) Hoa Kiều hải ngoại, c�c kẻ trồng hoa lan v� tổ chức c�c buổi đ� g�.� Để c� được sự c�ng bằng đối với ch�nh phủ Việt Nam hiện nay đ�i hỏi �t nhất sự nh�n nhận rằng sự �p đặt c�c mục đ�ch quốc gia v� c�ng cộng mạnh mẽ hơn tr�n x� hội n�y l� đ� qu� muộn m�ng.� Song để c� sự c�ng bằng đối với đối thủ của H� Nội, ch�nh quyền Trung Quốc hiện nay, cũng sẽ đ�i hỏi một sự nh�n nhận rằng vấn đề Hoa kiều hải ngoại kh�ng chỉ l� một vấn đề của c�c quan hệ đối ngoại đối với c�c ch�nh trị gia Trung Quốc.� Kh�ng chỉ c� vấn đề về quyền lợi trực tiếp đối với h�ng triệu người d�n tại miền nam Trung Quốc c� c�c th�n nh�n tại Đ�ng Nam �, bản chất v� số phận của c�c Hoa kiều hải ngoại cũng l� c�c đề t�i tranh c�i ngay tại trung t�m của chiến trường tr�n đ� hai c�nh ch�nh yếu của đảng Cộng Sản Trung Quốc đang tranh gi�nh.

 

������ Trong Cuộc C�ch Mạng Văn H�a, th� dụ, c�c Hoa kiều hải ngoại hồi hương đang sinh sống tại Trung Quốc đ� bị đối xử tồi tệ bởi Tứ Nh�n Bang v� đ�ng đảo m�n đồ giờ đ�y đ� bị qu�n l�ng của họ, v� bị tố c�o bởi bọn họ vừa l� đội qu�n thứ năm cho c�c ảnh hưởng ngoại quốc (một �li�n hiệp quốc của gi�n điệp�, Chen Boda được nghĩ đ� n�i như thế), vừa như chất men của một sự t�i lập tư bản chủ nghĩa (bởi thu nhập từ c�c khoản tiền gửi về từ hải ngoại của họ gi�p họ vượt l�n tr�n c�c tiền c�ng v� ti�u chuẩn sinh hoạt của người Trung Quốc th�ng thường hơn).� C�c nh� l�nh đạo Trung Quốc đ� kh�ng chế phe Tứ Nh�n Bang sau năm 1976 lại nh�n c�c Hoa Kiều hải ngoại một c�ch rất kh�c biệt.� Lo �u về việc học hỏi c�c phương thức c�ng nghiệp ngoại quốc v� c�c phương ph�p mậu dịch được khao kh�t going như một thế hệ trước đ�y của c�c người y�u nước Trung Quốc mong ước học hỏi bản phi�n dịch của Yen Fu c�c � tưởng của T. H. Huxley về sự tiến h�a trong năm 1898, c�c nh� l�nh đạo như thế tin tưởng rằng sự chuyển giao kiến thức khoa học T�y Phương cho Trung Quốc c� thể được l�m nhanh hơn bằng việc sử dụng c�c tr� thức Hoa kiều hải ngoại � c�c học giả đang giảng dạy tại c�c đại học của Canada, Mỹ, v� �u Ch�u � với tư c�ch c�c kẻ mai mối, như c�c kẻ trung gian trao đổi kiến thức giữa Phương T�y v� Trung Quốc.� Đ�n bẩy th� đơn giản kh�ng c� g� phải ngượng ng�ng: niềm tự h�o d�n tộc.� Như Đặng Tiểu B�nh đ� n�i với nh� sinh vật học Mỹ gốc Trung Hoa Niu Manjiang hồi Th�ng T�m 1977, sự quan t�m chế ngự giờ đ�y phải l� một sự t�i khẳng định về ��c th�ng minh� của �d�n tộc Trung Hoa�, 42 kh�ng chỉ c�c c�ng nh�n của C�ng H�a Nh�n D�n, n�i c�ch kh�c, m� l� một thế giới chủng tộc vượt qu� c�c bi�n cương quốc gia.� Trong Th�ng Một 1978, Liao Chengzhi, chủ nhiệm văn ph�ng Hoa Kiều Hải Ngoại Sự Vụ thuộc Hội Đồng Nh� Nước, c�n tr�nh b�y c�c Hoa kiều hải ngoại chống cộng, kh�ng phải như c�c kẻ th� giai cấp hay ch�nh trị, m� như c�c �cặn b�: dregs� của �d�n tộc Trung Hoa� � như c�c phần tử tho�i h�a của d�n tộc.� �ng ta tiếp tục x�c định rằng tr�o lượng của thu nhập từ c�c khoản tiền gửi về tư hải ngoại cho c�c gia đ�nh Hoa kiều hải ngoại hồi hương tại Trung Quốc th� ho�n to�n ch�nh đ�ng, �giống�� như c�c d�n l�ng Trung Quốc nhận được thu nhập từ c�c th�n nh�n cự ngụ tại th�nh phố để phụ gi�p cho c�c chi ph� của gia đ�nh. 43 �t người d�n Đ�ng Nam � n�o lại c� thể kh�c biệt với sự �p dụng c� biệt của họ Liao về sự h�nh dung th�nh phố v� l�ng x� như thế với thế giới của c�c quốc gia-d�n tộc được giả định c� chủ quyền, đặc biệt khi sự �p dụng, c�ng l�c, trong một v�i phương c�ch, l� một sự đảo ngược ở cấp địa phương: sự sử dụng của phe �theo chủ nghĩa họ Mao� trước đ�y về sự h�nh dung như thế để m� tả sự li�n đới của người ngh�o to�n cầu, bất kể chủng tộc ri�ng của họ, chống lại phe gi�u c� tr�n to�n cầu.� Thời đại Đặng Tiểu B�nh tại Trung Quốc kết hợp một c�ch mỉa mai một ti�u điểm được m�i nhọn tr�n chủ nghĩa d�n tộc của chủng tộc với c�c sự tấn c�ng m�nh liệt v�o c�c mối nguy hiểm nơi t�nh b�i ngoại của Trung Quốc trong c�c vấn đề văn h�a v� khoa học.� C� lẽ điều n�y kh�ng đến nỗi qu� nghịch l� như một sự c�n bằng cần thiết về mặt ch�nh trị v� t�m l�.� Họ Đặng v� c�c người ủng hộ �ng ta, người ta phải ghi nhớ, đ� c�ng khai bị sỉ nhục trước năm 1976 l� một �tập đo�n ngoại vụ�, nh�m kh�ng muốn dựa tr�n c�c t�i nguy�n ri�ng của m�nh để hiện đại h�a.

 

������ Nhưng c�c nh� ph�n t�ch Việt Nam giờ đ�y nh�n sự t�n s�ng được phục hoạt d�nh cho c�c Hoa kiều hải ngoại tại Bắc Kinh như một sự từ bỏ thực sự của Trung Quốc đối với bản th�n cuộc c�ch mạng, như một sự quay trở lại c�c kh�i niệm về tư c�ch c�ng d�n �theo huyết thống� c� t�nh chất đế quốc, xấu xa của triều đ�nh cuối nh� Thanh.� Dĩ nhi�n, điều n�y kh�ng hợp l�.� Nhưng việc mở lại c�c đại học d�nh cho c�c sinh vi�n Hoa kiều hải ngoại tại Trung Quốc trong năm 1978 � th� dụ, trường Đại Học Jinan tại Quảng Ch�u, cấp bằng về ng�nh nh�n văn, khoa học, v� y khoa, hay Đại Học Hoa Kiều Hải Ngoại tại Quanzhou (Ch�uan-chou), Ph�c Kiến, cấp bằng về c�c khoa học c�ng nghiệp � �đ� đổ thểm dầu v�o ngọn lửa n�y, bởi c�c Hoa kiều hải ngoại từ Việt Nam ở trong số c�c sinh vi�n theo học tại Đại Học Jinan trong m�a thu năm 1978, 44 v� một trường của Jinan d�nh cho Hoa Kiều hải ngoại đ� được tạo lập trước ti�n bởi triều đại nh� Thanh kh� l�u trước năm 1911, chỉ đơn giản được �t�i thiết lập� � từ ngữ ch�nh c�c nhật b�o của Trung Quốc sử dụng � bởi c�c nh� c�ch mạng cộng sản.� Tuy nhi�n, tất cả c�c sự phản đổi của Việt Nam như thế đ� bị suy yếu bởi sự bắt chước trực tiếp của ch�nh Việt Nam phần lớn guồng m�y của Trung Quốc cho việc động vi�n l�ng trung th�nh của c�c chủng tộc hải ngoại.� Ch�nh v� thế Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam c� ủy ban Việt Kiều [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] của ch�nh họ, theo d�i số phận của c�c Việt kiều tại Th�i Lan v� cũng cố gắng chi�u dụ sự trợ gi�p của c�c tr� thực Việt Nam y�u nước đang s�ng v� l�m việc tại �c Đại Lợi, �u Ch�u v� Bắc Mỹ Ch�u.

 

������ C� những g� mỉa mai hơn � hay giả dối, một c�ch v� tinh hay cố � � c�n lại để được nhắc tới? Điểm thực sự l� một điều đơn giản, c� lẽ thế.� Sự ngh�o đ�i tiếp diễn của cả Trng Quốc lẫn Việt Nam đ� th�c đẩy c�c nh� c�ch mạng theo d�n tộc chủ nghĩa cai trị hai nước đến c�c ch�nh s�ch m�, qua c�c tai nạn đ�ch thực trong ni�n lịch, v�o một khung cảnh của c�c sự căng thẳng v� bất đồng sẵn c�, khiến cho sự xung đột giữa họ trở n�n kh�ng thể tr�nh được, v� tạm thời kh�ng thể kiểm so�t được.� V�o ngay l�c khi Bắc Kinh bắt đầu nh�n c�c đầu �c v� khối tiền hồi quốc của Hoa Kiều hải ngoại như c�c t�i sản sinh tử trong sự cứu nguy Trung Quốc, H� Nội trở n�n tin tưởng rằng sự cứu vớt Việt Nam kh�ng c� thể ho�n tất m� kh�ng c� �t nhất sự trấn �p kinh tế v� sự xiết chặt x� hội đối với c�c Hoa kiều hải ngoại tại Việt Nam.� (C�c vi�n chức Việt Nam th� nhận một c�ch hiển nhi�n với c�c nh� ngoại giao T�y Phương, sau khi sự việc xẩy ra, rằng trận đ�nh thứ nh� v�o S�ig�n l� �bị ấn định thời điểm sai lầm một c�ch đầy tai họa�). 45 Cả hai niềm tin như thế b�y tỏ một sự lo lắng lớn lao về sự chậm tiến của quốc gia, v� ch�ng mang v�o cuộc đối đầu một số sự tự h�o chủng tộc h�o huyền n�o đ� vốn được cảm nhận s�u xa v� c�c sự bất an m� kh�ng c� một liều lượng n�o của t�nh duy l� trong M�c-xit, L�-non-n�t c� thể kiềm chế một c�ch ho�n to�n được. �Kh�ng may, c� mọi l� do để tin rằng c�c sự bất an về chủng tộc cạnh tranh như thế sẽ ng�y c�ng bộc ph�t hơn tr�n khắp c�i � Ch�u trong c�c t�nh huống của sự tr� trệ kinh tế k�o d�i v� sự sững sờ ch�nh trị về những g� phải l�m để khắc phục n�.

 

������ Tương lai sẽ ra sao?� Như l� một hậu quả của cuộc tấn c�ng bi�n giới của Trung Quốc, v� c�c sự mạo hiểm sai lầm của ch�nh họ tại Căm Bốt, c�c nh� l�nh đạo Việt Nam bị đẩy s�u hơn nữa v�o v�ng tay �m của Li�n Bang S� Viết.� Sự biến mất to�n diện quyền tự do h�nh động của họ sẽ l� một tổn thất nghi�m trọng cho to�n thể thế giới, vốn vẫn thường giả định � c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc nằm trong số c�c kẻ tội lỗi g�y tai họa nhiều nhất ở đ�y � rằng kh�t vọng của ch�nh quyền Việt Nam muốn tạo lập một m� h�nh thu nhỏ của con t�u khổng lồ S� Viết tại c�c c�nh đồng l�a gạo của Đ�ng Nam � th� lớn hơn nhiều so với thực trạng của n�.� Ngay sau năm 1975, c�c tạp ch� khoa học của Việt Nam, thuộc loại ấn phẩm kh�ng phải d�nh cho sự tuy�n truyền m� d�nh cho sự cứu x�t nghi�m chỉnh của c�c nh� hoạch định Việt Nam, c� ấn h�nh c�c b�i viết đ�ng ngưỡng mộ về c�c chủ đề chẳng hạn như c�c c�ng nghiệp n�ng th�n cỡ nhỏ của Trung Quốc, vạch ra rằng c�c kỹ nghệ như thế đ� trợ lực v�o t�nh trạng kh� khăn của điều li�n quan đến những g� phải l�m với số �lao động n�ng th�n dư thừa. 50 (C�c tạp ch� như thế cũng ghi nhận rằng c�c ch�nh sach kinh tế S� Viết đ� g�y ra một sự tr�i giạt ra c�c th�nh phố của gần 25 triệu n�ng d�n S� Viết giữa c�c năm 1939 v� 1958, một kết cuộc sẽ mang đến đầy tai họa tại Đ�ng Nam �).� V� c�c l� do t�m l� được nối kết với lịch sử l�u d�i, Việt Nam thường ph�ng đại c�c hứng khởi m� n� r�t ra từ LBSV; n� thường tối thiểu h�a c�c hứng khởi r�t ra từ Trung Quốc.� Về sự gia nhập của Việt Nam v�o khối COMECON, khu�n mẫu trong lịch sử của COMECO cho đến nay dường như gợi �, một c�ch đ�ng lo ngại, rằng trong khi chủ quyền quốc gia kh�ng tan biến trong đ�, c�c nước n�y đ� được ph�ng vệ tốt nhất bởi c�c nước n�y vốn sẵn c� sự hiện đại h�a kinh tế nhiều hơn Việt Nam.� Theo c�c thống k� mậu dịch của khối COMECON được tr�nh b�y cho c�ng ch�ng Việt Nam � nhiều người trong họ sắc sảo hơn đủ để r�t ra c�c kết luận g�y thất vọng hiển nhi�n � Roumania chỉ thực hiện 39.2 % tổng số ngoại thương của n� với c�c th�nh vi�n kh�c của COMECON trong năm 1976; bản th�n S� Viết đ� thực hiện tỷ số 50.8%; nhưng Ngoại M�ng bị kết �n đ� thực hiện 97.2% mậu dịch năm 1976 của n� trong khối COMECON.

 

������ Người d�n Việt Nam, bất kể c�c quyết định ph� du của c�c ch�nh trị gia của họ, th� qu� ki�u h�nh để trở th�nh một Ngoại M�ng về kinh tế của Đ�ng Nam �.� Ngay viễn ảnh của sự lệ thuộc kinh tế gi�n tiếp, vốn kh� quen thuộc tại c�c phần đất �t tham vọng m�nh liệt hơn của Thế Giới Thứ Ba, hẳn phải g�y kh� khăn s�u xa cho sự ổn định của một Bộ Ch�nh Trị ổn cố một c�ch kh�c thường cho đ�n nay.� Sau hết, L� Duẩn kh�ng c�n l� sự ph�t biểu chung cuộc của c�ch mạng Việt Nam như Đặng Tiểu B�nh l� sự ph�t biểu chung thẩm của c�ch mạng Trung Quốc.� V�o cuối năm 1977, khi Việt Nam đang ở b�n bờ của sự xếp h�ng to�n diện hơn của n� với Li�n Bang S� Viết, một nh� xuất bản ở H� Nội cho ấn h�nh một bản dịch mới sang Việt ngữ t�c phẩm Faust của Goethe.� Nhưng �t người Việt Nam c� hiểu biết về ch�nh trị, bị đe dọa bởi việc bị đặt v�o một vị tr� tương đương như một d�n tộc, nhiều phần phản ứng c�ng với một sự l�nh đạm kinh khiếp m� Faust đ� bộc lộ khi Mephistopheles th�ng b�o với �ng rằng t�nh trạng n� lệ v�o �ph�a b�n kia xa x�i� đ� l� c�c gi� phải trả cho sự hồi sinh v� h�i l�ng trong hiện tại./-

 

University of British Columbia, Th�ng S�u 1979. ����������������������������

����� ���

 

___

 

CH� TH�CH

 

1. Nh�n D�n [H� Nội], ng�y 22 Th�ng Mười Một, 1977, c�c trang 1, 6.

 

2. Diễn văn của Zhong Xidong tại H� Nội, 19 Th�ng Ch�n, 1978, được in lại trong tập Guanyu Yuenan qugan Huaqiao wenti (C�c t�i liệu li�n quan đến vấn đề Việt Nam trục xuất c�c Hoa kiều hải ngoại) (Peking, 1978), c�c trang 62-3.

 

3. Xem b�o c�o của L� Đức Thọ tại đại hội đảng lần thứ tư ở H� Nội, Nh�n D�n, 20 Th�ng Mười Hai, 1976, trang 2.

 

4. Guangming ribao, 17 Th�ng Hai, 1979, trang 1.

 

5. Renmin Ribao, 10 Th�ng S�u, 1978, trang 5.

 

6. L� Sỹ Thăng [?], �Chủ nghĩa cộng sản triệt để ở Cam-pu-chia hiện nay� (�Radical communism in contemporary Cambodia�), Triết Học (Journal of Philosophy) (H� Nội), 3 (1978), trang 154.

 

7. Về đề t�i �chủ nghĩa trọng thương� (mercantilism) của Trung Hoa, xem Jay Taylor, China and Southeast Asia: Peking�s relations with Revolutionary Movements (New York: Praeger Publishers, 1976), trang 388.

 

8. Bernard Hamel, �Aspects de la rivalit� sino-sovietique en Asie du Sud-Est�, Politique �trang�re (Paris), 2 (1978), c�c trang 199-207.

 

9. N�ng Quốc Chấn, �Mối quan hệ đặc biệt giữa hai nền văn h�a Việt Nam v� L�o� (�The special relationship between the two Vietnamese and Lao cultures�), Văn H�a Nghệ Thuật (Culture and the Arts) (H� Nội), 10 (1978), c�c trang 3-4.

 

10. Muốn c� một sự tr�nh b�y về bản hiệp ước, xem Nh�n D�n, 19 Th�ng Bẩy, 1977, trang 5.

 

11. Muốn c� th� dụ, xem Renmin ribao, 19 Th�ng Ba, 1979, trang 1.

 

12. Stephen Fitzgerald, China and the Overseas Chinese: A Study of Peking�s Changing Policy, 1949-1970 (London and New York: Cambridge University Press, 1972).

 

13. Nguyễn Xu�n Lương, �Vấn đề quốc tịch của người Hoa ở Việt Nam� (�The nationality problem of the ethnic Chinese people in Vietnam�), Luật Học (Journal of Legal Studies) [H� Nội], 3 (1978), 7-16.

 

14. Lương, �Vấn Đề Quốc Tịch�, c�c trang 7-10.

 

15. Vũ Ngọc Kh�nh, bi�n tập, Thơ Văn Tr�o Ph�ng Việt Nam (Vietnamese Writings of Ridicule and Satire), H� Nội: Nh� xuất Bản Văn Học, 1974.

 

16. Chế Viết T�n [?], �Một số đề nghị về kế hoạch năm năm� (�A few proposals about the five-year plan�), Nh�n D�n, 7 Th�ng Mười Hai, 1976, trang 5.� T�c giả l� một th�nh vi�n của Ủy Ban Kế Hoạch Nh� Nước.

 

17. Xem c�c b�i viết của Thế Dũng [?] tr�n b�o Nh�n D�n, 26 Th�ng Mười Một, 1977, trang 4; của Văn Đại [?] tr�n tờ Nh�n D�n, 22 Th�ng Mười, 1976, trang 2.

 

18. L� Như B�ch [?], �Một thắng lợi quan trọng tr�n mặt trận tiền tệ ở miền nam Việt Nam� (�An important victory on the currency front in southern Vietnam�), Học Tập (Study and Practice) (H� Nội), Th�ng Mười Một 1975, c�c trang 72-7.

 

19. Nh�n D�n, 22 Th�ng S�u, 1976, trang 1.

 

20. W. S. Turley, �Urban Transformation in South Vietnam�, Pacific Affairs, 49 (Winter 1976-77), c�c trang 614-6.

 

21. Vũ Lộ [?], �Tiếp tục đẩy mạnh việc x�y dựng thương nghiệp x� hội chủ nghĩa � ở c�c tỉnh v� th�nh phố miền Nam� (�Continue to promote the establishment of socialist commerce --- in the provinces and cities of the south�), Tạp Ch� Cộng Sản (The Communist Journal) (H� Nội), (1978), c�c trang 59-68.

 

22. B�i viết của Thanh Lam [?] thuộc Bộ T�i Ch�nh Việt Nam, trong Nh�n D�n, 8 Th�ng Mười Hai, 1977, trang 4.

 

23. Vũ Lộ, �Tiếp tục đẩy mạnh�, trang 61.

 

24. Nguồn gốc của c�c số thống k� v� nhận x�t n�y l� của Nguyễn Khi�m, �Vấn đề ph�n phối thu nhập trong hợp t�c x� n�ng nghiệp� (�The problem of income distribution in agricultural cooperatives�), Nghi�n Cứu Kinh Tế (Journal of Economic Research) (H� Nội), 85 (Th�ng S�u 1975), c�c trang 33-46.

 

25. Muốn c� th� dụ đ�ng ch� � từ tỉnh Quảng Ninh, xem b�o Nh�n D�n, 9 Th�ng Mười Hai, 1976, trang 4.� Người đọc cần phải được cảnh gi�c rằng kh�ng thể n�i l� c�c sự đ�o ngũ như thế lan truyền hay t�i diễn ra sao.

 

26. C�c số thống k� v� kh�m ph� n�y nằm trong b�i viết của T� Duy [?], Chủ Tịch Ủy Ban Vật Gi� Nh� Nước, tr�n b�o Nh�n D�n, 24 Th�ng Hai, 1978, trang 4.

 

27. B�i viết của T� Duy, tr�n b�o Nh�n D�n, 3 Th�ng Ba, 1978, trang 4.

 

28. Khảo luận về vấn đề ng�n s�ch nh� nước tr�n tờ Nh�n D�n, 15 Th�ng Mười Một, 1977, trang 4.

 

29. Cuộc phỏng vấn xuất hiện trong Tạp Ch� Hoạt Động Khoa Học (Journal of Scientific Activities) (H� Nội), 7 (1978), c�c trang 56-8.

 

30. Nh�n D�n, 17 Th�ng Mười Một, 1977, trang 1: chỉ thị của thủ tướng.

 

31. Nguyễn Đức Uy [?], �Thử ph�n t�ch t�m l� người mắc bệnh quan li�u� (�A trial analysis of the psychology of people who suffer from the bureaucratic disease�), Nh�n D�n, 6 Th�ng Một, 1977.

 

32. Đặc biệt xem b�i ph� b�nh của Ho�ng Duc Tao [?], �Về một tổ chức thương nghiệp cho c�c v�ng kinh tế mới� (�On a commercial organization for the new economic zones�), Nghi�n Cứu Kinh Tế, 103 (Th�ng S�u 1978), c�c trang 56-64.

 

33. Vũ Lộ [?], �Tiếp tục đẩy mạnh�, trang 64.

 

34. Vũ Xu�n Cẩn [?], �Phải dựa hẳn v�o c�ng nh�n, lao động để l�m tốt cuộc cải tạo x� hội chủ nghĩa đối với c�ng thương nghiệp tư bản tư doanh� (�One must rely thoroughly upon workers and labour in order to carry out well the enterprise of socialist reconstruction with regard to capitalist and privately managed industry and commerce�), Tạp Ch� Cộng Sản, 3 (1978), c�c trang 89-92.

 

35. B�i viết của Nguyễn Lữ [?] trong Tạp Ch� Cộng Sản, 8 (1978), c�c trang 91-2, b�o c�o của L� Đức Tho tr�n tờ Nh�n D�n, 20 Th�ng Mười Hai, 1976, trang 2.

 

36. B�i viết của Đỗ Mười, Tạp Ch� Cộng Sản, 5 (1978), c�c trang 52-61; Vũ Lộ, �Tiếp tục đẩy mạnh�, trang 60.

 

37. B�i viết của L� Đức Thịnh, về lịch sử của Hải Ph�ng, 1955-75, trong tờ Học Tập, 10 (1975), trang 31.

 

38. Nh�n D�n, 23 Th�ng T�m, 1977, trang 4; cũng tr�n Nh�n D�n, 25 Th�ng T�m, 1977, trang 4, v� Nh�n D�n, 26 Th�ng Một, 1978, trang 5, trong số nhiều b�i viết.

 

39. Ti�n L�m [?], �Tư sản gốc Hoa với sự ưu �i của nh� đương cục Trung Quốc� (�Capitalists of Chinese origin with the affection of the authorities of China�), Tạp Ch� Cộng Sản, 8 (1978), c�c trang 21-6.

 

40. Nguyễn Văn Hảo [?], Đ�ng g�p 1: l�nh vực kinh tế 1965-1972 (One contribution: the economic sector, 1965-1972) (S�ig�n, 1972), trang 177.

 

41. T. K., �Tinh thần đo�n thể của kh�ch tr� tại Nam Kỳ� (�The spirit of community of the Chinese residents in Cochinchina�), Thanh Nghị (Clear Counsel) (H� Nội), Th�ng Bảy 1941, trang 17 v� c�c trang tiếp sau.

 

42. Guangming ribao, 17 Th�ng T�m, 1977, trang 1.

 

43. Renmin ribao, 4 Th�ng Một, 1978, trang 3.

 

44. Guangming ribao, 24 Th�ng Mười, 1978, trang 2.

 

45. John Fraser, �Tragedy of the Ethnic Chinese�, The Globe and Mail (Toronto), 29 Th�ng Mười Một, 1978, trang 10.

 

46. Th� dụ, Mai Văn Nghệ [?], �Mấy n�t về t�nh h�nh cơ giới h�a n�ng nghiệp ở Trung Quốc� (�Some points about the agricultural mechanization situation in China�), Tạp Ch� Hoạt Động Khoa Học (H� Nội), 12 (1976), c�c trang 52-9.

 

47. Nghi�n Cứu Lịch Sử, 105 (Th�ng Mười 1978), c�c trang 42-3)./-

 

_____

 

Nguồn: Alexander Woodside, Nationalism and poverty in the Breakdown of Sino-Vie6namese Relations, Pacific Affairs, Fall 1979, c�c trang 381-409.

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

18.06.2012    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2012