Li Tana

 

Nh�n Từ Biển V�o:

C�c Phối Cảnh Của Bờ Biển

Bắc V� Trung Phần Việt Nam

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

 

Lời Người Dịch:

 

Đ�y l� b�i dịch thứ 4 trong loạt b�i nghi�n cứu về chủ đề S�ng Biển Trong Lich Sử Việt Nam lần lượt được đăng tải tr�n gio-o: 

 

1. Một Vai Tr� Hợp L� Của Biển Đối Với Lịch Sử Việt Nam? X� Hội Duy�n Hải Trong Thế Giới Mậu Dịch Của Hội An, thời khoảng 1550-1830, Charles Wheeler.

2. Sự Trổi Dậy Của Miền Duy�n Hải: Mậu Dịch, Quốc Gia v� Văn H�a Thời Ban Sơ Của Đại Việt, John K. Whitmore.

3. Việc Mua B�n Gạo V� Vận Tải Đường Biển Của Người Hoa Từ Hải Cảng Hải Ph�ng, Bắc Việt, Julia Martinez.

4. Một C�i Nh�n Từ Ngo�i Biển: Viễn Cảnh Về Bờ Biển Bắc V� Trung Phần Việt Nam Li Tana

5. Suy Nghĩ Lại Về Biển Trong Lịch Sử Việt Nam: X� Hội Duy�n Hải Trong Sự Thống Hợp Của Thuận-Quảng, Trong C�c Thế Kỷ 17 � 18, Charles Wheeler.

6. Người Ch�m Trong Hệ Thống H�ng Hải Đ�ng Nam �, Anthony Reid

7. �Đi Về Miền T�y� tại Nam Kỳ, C�c Hoạt Động Bất Hợp Ph�p Của Người Việt v� Người Hoa tại V�ng Transbassac (thời khoảng 1860-1920), Thomas Engelbert.

8. Đại Việt v� Mậu Dịch V�ng Biển Nam Hải từ Thế Kỷ Thư 10 đến Thế kỷ Thứ 15, Momoki Shiro.

9.  Ph� Nam, Ch�n Lạp, Ch�m v� C�c Đền Thờ Thi�n Hậu Trong Họat Động Mậu Dịch Đường Biển V� Sự Xuất Hiện C�c Th�nh Phố Duy�n Hải Tại Đ�ng Nam � (từ thế kỷ thứ 1 cho đến thế kỷ thứ 16, Johannes Widodo

10.  Một Sứ Bộ Đến Ph� Nam, Wang Gungwu.

11. C�c Suy Tưởng, Về � Niệm �Văn Minh S�ng Nước� V� Về Lịch Sử Ch�u Thổ S�ng Cửu Long,Nh�n Qua Một V�i Kh�a Cạnh Của Cuộc Định Cư tại X� S�c Sơn (1920-1945), Pascal Bourdeaux.

V�ng biển Đ�ng Hải với c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa l� một chuy�n đề đặc biệt sẽ được giới thiệu ri�ng biệt.

 

 

 

 

���� Một nhận x�t th� vị về sử k� Việt Nam l� mặc d� bờ biển bao gồm gần một phần ba l�nh thổ Việt Nam, c�c sử gia đ� nhất qu�n nh�n n� đứng sau cả một xứ L�o kh�ng bờ biển, như một thể chế đặt nền tảng tr�n đất liền vũng chắc trong số c�c xứ sở thuộc v�ng lục địa Đ�ng Nam �. 1 B�i viết n�y th�ch thức c�i nh�n chằm chằm đặt cơ sở tr�n đất liền hướng về phương bắc, thay v�o đ�, nh�n từ ngo�i biển v�o Việt Nam.� Như sẽ được tr�nh b�y b�n dưới, Vịnh Bắc Việt l� một phần nối d�i v� một phần li�n hợp của một khu vực được gọi l� Giao Chỉ Dương (Jiaozhi yang), một khu mậu dịch t�ch cực tọa lạc ngay ở trung t�m của Th�ng Lộ T�y Dương cổ xưa hơn (Xiyang Hanglu trong tiếng H�n) cho đến thế kỷ thứ mười lăm, v� thường được tới lui bởi c�c nh� mậu dịch Hồi Gi�o từ ph�a Nam, T�y v� Đ�ng Nam �.� Khu mậu dịch n�y bao gồm bờ biển Quảng T�y quay mặt xuống Vịnh Bắc Việt, bờ biển Đại Việt, miền bắc xứ Ch�m v� đảo Hải Nam.

 

���� C�c sự giao tiếp s�u rộng v� kh� thường xuy�n của c�c thực thể n�y như được ph�t hiện trong b�i viết n�y th�ch thức quan điểm đ� nhận thức rằng, bất kể tọa lạc gần cận nhau về mặt thi�n nhi�n, ch�ng c� �t điểm chung, d� l� về kinh tế hay văn h�a.� Sẽ kh�ng phải l� ngẫu nhi�n m� một cụm c�c trung t�m ch�nh trị, t�n gi�o v� mậu dịch xuất hiện tại khu n�y trong thế kỷ thứ mười ba, c�ng nhau tạo ra c�c điều kiện cần thiết theo đ� sự sản xuất đồ gốm � hoạt động xuất cảng h�ng đầu của Đại Việt ở thời điểm n�y � c� khả năng ph�t đạt được.� C�ng nghiệp n�y phần lớn hiện hữu đ�p ứng thị trường hải ngoại, được th�c đẩy v� m�i giới bởi c�c thương nh�n Hồi Gi�o.� Trong khi n� đ� nẩy nở trong sự phối hợp với c�c c�ng nghệ kh�c đ� ph�t triển trong khu vực, l�nh vực n�y đ�ng được khảo s�t nhiều hơn nữa, hơn l� bị b�c bỏ như l� kh�ng quan trọng khi chỉ lượng gi� về sự g�p phần của n� v�o nền kinh tế.� Một cuộc điều tra như thế về c�ng cuộc mậu dịch v� c�ng nghệ cũng sẽ thu h�t sự ch� � của ch�ng ta đến nhiều sắc d�n kh�c nhau hoạt động tại v�ng n�y trong thời điểm đ�, một c�i nh�n kế đ� c� vẻ ph�t hiện ra một bản đồ chủng tộc ho�n to�n kh�c hẳn với những g� được t�m thấy tại Việt Nam ng�y nay.

 

 

Giao Chỉ Dương v� Vai Tr� Then Chốt Của Miền Trung Phần Việt Nam Ng�y Nay

 

���� Tr�i với sự tin tưởng phổ qu�t rằng Giao Chỉ (miền bắc Việt Nam) được nối liền với Trung Hoa bởi c�c hải lộ chật hẹp của Vịnh Bắc Việt, cho tới thời nh� Đường, vịnh n�y vẫn được n� tr�nh khi du h�nh giữa Giao Chỉ v� Trung Hoa bởi c� đ� lớn nằm ngầm dọc bờ biển.� Đ�y l� l� do tại sao M� Viện (Ma Yuan), �Phục Ba Tướng Qu�n� thời nh� H�n, đ� phải �mở c�c l�i đi xuy�n qua n�i để �tr�nh biển� trong chiến dịch của �ng ta chống lại Giao Chỉ hồi thế kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n.� Trở ngại n�y chỉ được khuất phục v�o thế kỷ thứ ch�n, khi c�c khối đ� ngầm được th�o gỡ đi dưới thời quan th�i th� nh� Đường nổi tiếng, �ng Gao Pian (Cao Biền trong tiếng Việt). 2

����

C�c t�nh trạng kh� khăn tại Vịnh Bắc Việt đ� đem lại miền trung Việt Nam, đặc biệt ph�n khu Nghệ Tĩnh ng�y nay, một vai tr� lịch sử quan trọng trong sự hải h�nh trong v�ng.� Con đường biển đ� chạy từ ph�a đ�ng đảo Hải Nam cho đến Ph�c Kiến v� Quảng Đ�ng, trong khi tr�n đất liền một lối đi băng ngang dẫy Trường Sơn nối liền v�ng m� người Trung Hoa gọi l� �Lục Ch�n Lạp (Lu Chenla) (c� thể l� v�ng nam L�o v� / hay miền bắc Căm B�t v� sau đ� ra tới biển, tạo n�n nền m�ng của một con đường nổi tiếng từ thế kỷ thứ t�m. 3 Điều nổi bật, khi con đường n�y được vẽ tr�n một bản đồ, n� nối liền với Con Đường Ph�a T�y (T�y Lộ) lối th�ng h�nh đường trường cổ xưa nhất để đi lại giữa biển Ấn Độ v� Trung Hoa; Con Đường Ph�a Đ�ng (Đ�ng Lộ), được d�ng bởi c�c thuyền của Trung Hoa v� Đ�ng Nam �, đ� chỉ được ph�t triển sau n�y.� Ch�nh v� thế, kh�ng như con đường kể sau, T�y Lộ cổ xưa hơn được sử dụng bởi c�c thương nh�n từ biển Ấn Độ gần như chắc chắn l� một sự kết hợp c�c th�ng lộ tr�n biển với đất liền, với miền trung Việt Nam l� giao lộ của n�. 4 Ph�a bắc miền trung Việt Nam ng�y nay v� Vịnh Bắc Việt, với v�ng nội địa n�i đồi của ch�ng, trong thực tế cưỡi l�n tr�n T�y Lộ.�

 

���� Miền trung Việt Nam cũng phục vụ như điểm tiếp cận ch�nh yếu của Căm Bốt với biển Nam Hải, điều gi�p để giải th�ch tại sao c�c vua Khmer đ� gửi �cống phẩm� thường xuy�n đ�n Đại Việt (19 lần) hơn đ� ph�i đến nh� Tống Trung Hoa (5 lần).� C�c nh� mậu dịch sử dụng con đường n�y đặc biệt được đề cập đến như c� gốc g�c Việt Nam trong văn bia thời ban sơ của Khmer, chẳng hạn như một văn khắc năm 987 sau C�ng Nguy�n từ v�ng hạ lưu s�ng Cửu Long. 5 Bằng cớ rằng miền trung Việt Nam đ� phục vụ như con đường tiếp cận hải h�nh cho Giao Chỉ cũng c� thể được t�m thấy trong c�u chuyện về vua An Dương Vương hồi thế kỷ thứ nh� trước C�ng Nguy�n.� Bị truy đuổi bởi qu�n đội của Triệu Đ� (Zhao Tuo), �nh� vua chạy trốn ra bờ biển v� đ� kh�ng thể t�m thấy t�u thuyền n�o để vượt tho�t�, điều đ�ng kể, nơi nh� vua bị thất trận l� Diễn Ch�u, tỉnh Nghệ An. 6

 

���� Miền trung Việt Nam ch�nh v� thế gần như chắc chắn đ� l� cửa ng� cho sự hải h�nh địa phương � nơi m� phần lớn c�c thương nh�n, c�c kẻ h�nh hương v� c�c sứ giả đổ bộ đầu ti�n, trước khi ngược d�ng s�ng l�n tr�n để đến Giao Ch�u (Jiaozhou), kinh đ� của n�.� Sự vận tải tr�n con lộ n�y c� thể đ� nằm trong tay của c�c thương nh�n Nam � v� Trung Đ�ng, trong khi sự du h�nh giữa Giao Ch�u v� c�c khu vực ph�a nam sẽ được thực hiện bởi c�c t�u hay thuyền nhỏ hơn, một l�nh vực chuy�n m�n của c�c thủy thủ người Việt trong nghiệp vụ hải h�nh theo t�c giả Wang Gungwu. 7 Họ chuy�n chở h�ng h�a từ c�c con t�u lớn đến từ Nam � v� Trung Đ�ng, lực lượng chủ yếu tham gia v�o việc mậu dịch tại Biển Nam Hải cho đến thời nh� Đường.

 

���� C�c li�n hệ lịch sử n�y giữa miền bắc v� miền trung Việt Nam giải th�ch cho một từ ngữ Trung Hoa kh� rối rắm, một sử giải th�ch quan trọng cho sự hiểu biết của ch�ng ta về miền n�y.� Trong thế kỷ thứ mười ba c� xuất hiện từ ngữ Giao Chỉ Dưong (Jiaozhi Yang; biển Giao Chỉ), chắc hẳn ph�t sinh từ danh hiệu Giao chỉ (Jiaozhi), t�n gọi cổ xưa Trung Hoa để chỉ Đại Việt.� Tuy nhi�n, liệu từ ngữ n�y để chỉ Vịnh Bắc Việt hay để chỉ biển dọc bờ biiển miền trung Việt Nam chưa bao giờ được n�i r�; trong phần lớn c�c nguồn t�i liệu, c� vẻ để chỉ phần kể sau v� loại bỏ phần vịnh kể trước, trong khi ở c�c t�i liệu kh�c, từ ngữ bao gồm cả hai bộ phận. 8 Trong sự mơ hồ của từ ngữ n�y, giờ đ�y, xem ra một k� ức lịch sử� đ� được khắc s�u, nh�n nhận sự hợp nhất của hai khu vực, bờ biển miền bắc v� miền trung Việt Nam.� Mặc d� chưa hề được n�i ra một c�ch trọn vẹn, c� vẻ l� khu Vịnh Bắc Việt đ� phải được xem như một sự nối d�i của Giao Chỉ Dương, chạy dọc theo bờ biển miền trung Việt Nam v� trong h�ng ngh�n năm đ� l� trục then chốt của sự lưu h�nh giữa Đ�ng v� T�y.

 

���� C� v�i điểm đ�ng lưu � về từ ngừ Giao Chỉ Dương.� Trước ti�n, n� xuất hiện trong phần lớn c�c nhật k� du h�nh của Trung Hoa giữa thế kỷ thứ mười ba v� mười s�u, nhưng kh�ng hề xuất hiện trong bất kỳ t�i liệu hay ni�n sử ch�nh thức n�o.� Điều n�y l�m li�n tưởng đến c�c li�n hệ chặt chẽ của từ ngữ với c�c thương nh�n tư nh�n, c�c nh� mậu dịch v� c� thể c�c hải tặc gốc Trung Hoa, cũng như với bản chất của c�ng cuộc mậu dịch tại khi vực n�y.� Thứ nh�, từ ngữ chỉ xuất hiện trong thế kỷ thứ mười ba chứ kh�ng sớm hơn.� Trong khi n� phải phản ảnh sự tăng trưởng tống qu�t về kiến thức hải h�nh của Trung Hoa dưới thời nh� Tống, tại Vịnh Bắc Việt, c�c sự thay đổi n�y trở n�n thuận tiện hơn bởi c� c�c sự cải tiến thời cuối nh� Đường trong việc du h�nh duy�n hải.� Cả hai t�nh chất n�y đều quan trọng cho sự hiểu biết của ch�ng ta về khu vực, v� ch�nh trong bối cảnh n�y m� khu mậu dịch Giao Chỉ Dương đ� trở n�n hiện hữu. (*a)

 

���� C�c đoạn kế tiếp sẽ khảo s�t khu mậu dịch n�y qua việc đặt ti�u điểm v�o c�c kẻ mua b�n n� lệ, ngựa v� muối trong khu vực, k�o d�i từ V�n Nam v� Quảng T�y tại Trung Hoa đến xứ Ch�m tại miền trung Việt Nam ng�y nay, v� từ v�ng n�i đồi ra đến biển.� Sự truy l�ng n�y tất nhi�n dẫn ch�ng ta đến việc khảo s�t địa điểm mậu dịch h�ng hải v� c�c thương nh�n Hồi Gi�o trong việc tham dự v� định h�nh lịch sử của Đại Việt, trước khi quay trở về ti�u điểm của ch�ng ta nhắm đến lịch sử địa phương v� bản đồ d�n tộc học.� Bằng chứng khảo s�t dưới đ�y cho thấy mức độ kh� cao của sự lệ thuộc v�o h�ng hải, đặc trưng cho nền kinh tế của Đại Việt cho m�i đến thế kỷ thứ mười lăm.

 

 

Mậu Dịch Cấp Miền Tại Khu Giao Chỉ Dương

 

Sự Mua B�n N� Lệ

 

���� Trong khi mọi người biết r� rằng c�c thương nh�n Ch�m l� c�c kẻ mua b�n n� lệ t�ch cực, điều hiếm khi được n�i đến rằng v�ng đất Đai Việt c� thể l� một trạm ch�nh yếu trong c�ng cuộc mậu dịch sinh nhiều lợi lộc n�y.� Như được viết trong một quyển s�ch Trung Hoa hồi thế kỷ thứ mười ba về đời sống v� phong tục của tỉnh Quảng T�y (Guangxi) v� v�ng Vịnh Bắc Việt: �Kh�ng c� nhiều d�n địa phương trong nước n�y [Đại Việt], [bởi v�] một nửa d�n số l� từ Quảng Đ�ng v� Quảng T�y.� C�c thương nh�n đến miền nam th�ch mua người l�m gia nh�n cho m�nh, v� khi họ đến c�c v�ng n�i mọi rợ, c�c thương nh�n sẽ tr�i lại v� đem b�n họ cho c�c d�n ch�ng ở đ�.� Gi� l� hai lạng v�ng mỗi người.� D�n miền n�i sẽ b�n ch�ng lại cho Giao Chỉ, v� gi� l�n th�nh 3 lạng v�ng.

 

Hiếm c� năm n�o kh�ng c� h�ng trăm ng�n người bị đem b�n.� Gi� của những kẻ c� tay nghề th� gấp đ�i, v� cho những người biết đọc v� biết viết, gi� lại gấp đ�i một lần nữa. 9 Một t�i liệu c�ng thời kh�c, tập Lingwai daida của thế kỷ thứ mười ba, viết về c�c quan hệ giữa việc mua b�n v�ng v� n� lệ một c�ch r� r�ng hơn nữa: �D�n ch�ng tại Giao Chỉ nắm lợi thế c� v�ng v� v� thế c� khuynh hướng mua người của ch�ng ta [tại Quảng T�y] l�m n� lệ.�� Khi hai sự tường thuật n�y được nối v�o nhau c�ng với một văn bản trong nguồn tại liệu đương thời nổi tiếng, tập Zhuhanzhi, � nghĩa của sự tr�ch dẫn dưới đ�y đ� nổi bật l�n: �Lề hội quan trọng nhất c�a xứ sở [Đại Việt] diễn ra v�o ng�y 15 th�ng Bẩy �m lịch, khi mọi gia đ�nh tr�o đổi qu� tặng với nhau.� C�c quan chức hiến tặng c�c n� lệ (shengkou) l�n nh� vua, nh� vua sẽ ban yến tiệc cho c�c quan chức v�o ng�y 16 để đ�p tạ.� 10 C�c quan chức v�o l�c đ� hẳn phải xem c�c n� lệ như c�c qu� tặng rất qu� gi�, v� họ biết rằng họ sẽ được tưởng thưởng v� [cống hiến] c�c người n� lệ n�y.

 

Bi�n ni�n sử Việt Nam c� ghi th�m một mẩu bằng cớ kh�c về vai tr� quan trọng của c�c n� lệ n�y trong thời nh� L� (1009-1225), bổ t�c cho sử s�ch Trung Hoa đương đại đ� được tr�ch dẫn b�n tr�n.� Theo bộ Đại Việt Sử K� To�n Thư, c�c ma thuật của một n� lệ gốc nước Đại L� (V�n Nam) đ� được sử dụng trong một �m mưu tại triều đ�nh năm 1096 bởi chủ nh�n, kẻ c� � định giết hại Ho�ng Đế L� Nh�n T�ng. 11 Sự tường thuật n�y ph� hợp với bằng cớ của Trung Hoa rằng c�c người c� kỹ năng được đ�nh gi� cao v� rằng c�c n� lệ đến từ phương bắc.

 

Hiện tượng mua b�n n� lệ giải th�ch sự li�n lạc thường xuy�n giữa nh� Tống Trung Hoa v� nh� L� nước Đại Việt về việc đột k�ch v� giao ho�n d�n ch�ng.� Chắc chắn l� sự thiếu hụt nh�n lực tại Đại Việt đ� đ�ng một vai tr� trong sự vụ n�y � v� nhiều n� lệ Trung Hoa đ� trở th�nh binh sĩ trong qu�n đội Việt Nam � nhưng nhiều người kh�c hẳn đ� bị b�n lại cho c�c thương nh�n ngoại quốc hay lui tới Đại Việt, v� kết th�c tại những nơi chẳng hạn như xứ Ch�m. 12 C�c n� lệ đ� l� một trong c�c m�n h�ng quan trọng được chuyển vận bởi c�c t�u biển Nam Hải (Nanhai po) được sở hữu bởi c�c thương nh�n nước ngo�i, c�c kẻ đ�i khi đ� mang người da m�u sậm được biết l� c�c n� lệ v�ng C�n L�n [Kunlun nu: C�n L�n n�] v�o nước Trung Hoa như loại h�ng hiếm c�, nhưng cũng l� kẻ đ� xuất cảng c�c n� lệ từ đ�. 13

 

Một mẩu bằng cớ về sự bu�n người như thế l� vua Fan Wen (Phạm Văn) (trị v� từ 331-49) của nước L�m Ấp, một thể chế được được nh�n như tiền th�n của xứ m� sau n�y được gọi l� xứ Ch�m.� Theo một t�i liệu Trung Hoa cổ điển quan trọng, quyển Shujing zhu, Phạm Văn gốc g�c từ Dương Ch�u (Yangzhou), thuộc Ch�u Thổ s�ng Dương Tử v� đ� bị bắt c�c l�m n� lệ từ khi c�n nhỏ.� �ng bị đem b�n sang Giao Ch�u v� sau đ� được mua bởi một số thương nh�n người Ch�m mua b�n ở đ�, v� sau c�ng dừng ch�n tại L�m Ấp.� Với thời gian, �ng trở th�nh tể tướng, v� sau c�ng quốc vương của xứ sở đ�.� Phần lớn c�c s�ch vở trước đ�y c� đề cập đến gốc t�ch Trung Hoa của Phạm Văn nhưng bỏ s�t chi tiết n�i rằng �ng, ti�n khởi, bị đem b�n cho Giao Ch�u, trước khi được chở đến xứ Ch�m, nhiều phần đ� nh�n việc n�y c� t�nh chất ngẫu nhi�n. 14 Tuy nhi�n, khi đặt v�o bối cảnh lịch sử được ph�c họa ở tr�n, n� cho thấy rằng việc mua b�n n� lệ l� một tập tục xưa h�ng nhiều thế kỷ tại khu vực n�y, rằng n� c� li�n hệ đến cả c�c thương nh�n Trung Hoa lẫn nước ngo�i v� rằng Giao Ch�u �t nhất đ� l� một đoạn đường, nếu kh�ng phải l� một thị trường quan yếu trong sự mua b�n n�y.

 

Điều đ�ng x�t đo�n trong bối cảnh n�y l� sự gi�u c� hiển nhi�n của Đại Việt trong thế kỷ thứ mười hai đ� li�n hệ đến mức độ n�o với sự mua b�n n� lệ.� Th� dụ, theo đ�y l� danh s�ch cống phẩm của nước n�y d�ng cho triều đ�nh Nam Tống trong năm 1156: �Cống phẩm cực kỳ phong ph� v� tất cả mọi n�t chữ trong l� thư đều được viết bằng v�ng.� C�c phẩm vật bằng v�ng c�n nặng 1200 lạng, ph�n nửa ch�ng được t� điểm bằng tr�n ch�u hay ngọc qu�; 100 vi�n tr�n ch�u đựng trong c�c b�nh bằng v�ng, trong đ� c� 3 vi�n to như quả c�, s�u vi�n to như hột m�t, 24 vi�n to như hạt quả đ�o, 17 vi�n to như� mọng dừa, v� 50 vi�n to như hột ch� l�, tổng cộng l� 100; 1000 c�n M� Lai [catties = 600 gram, ch� của người dịch] gỗ trầm hương, 50 l�ng chim b�i c�; 850 cuộn gấm chỉ v�ng h�nh con rồng, s�u con ngựa d�nh cho ho�ng triều với đầy đủ y�n ngựa, ngo�i số cống thường lệ l� t�m con ngựa v� năm con voi.� C�c sứ giả ho�n to�n h�nh diện về việc c� thể d�ng c�c cống phẩm dồi d�o đến như thế.� 15 Cần n�i th�m �t lời về k�ch thước của c�c ngọc trai được n�u ở tr�n.� Mặc d� khu vực dọc theo bờ biển Quảng T�y (quận Hợp Phố: Hepu) v� Vịnh Bắc Việt nổi tiếng về việc sản xuất ra ngọc trai, tr�n ch�u nơi đ�y kh�ng được tin l� tốt hay to như tr�n ch�u từ Ấn Độ.� 50 vi�n tr�n ch�u lớn được liệt k� b�n tr�n ch�nh v� thế c� thể c� nguồn gốc từ sự mua b�n của Đại Việt với v�ng Nam �; nếu đ�ng như thế, việc n�y �m chỉ mức độ theo đ� sự gi�u c� đ� được trao đổi giữa hai miền. 16 Tổng qu�t, bằng c� rải r�c như bằng chứng n�y �m chỉ rằng mức gi�u c� của Đại Việt triều L� v� đầu nh� Trần c� lẽ kh� đ�ng kể.

 

 

Ngựa từ V�n Nam v� Muối Từ Biển

 

���� Một sản phẩm trao đổi kh�c tại Đại Việt thời nh� L� l� c�c con ngựa.�� Ngựa l� một trong những sản phẩm quan trọng nhất m� người Ch�m c� được từ Việt Nam.� Quyển Song huiyao ch�p rằng người Ch�m di chuyển �tr�n những con voi hay c�c v�ng kiệu l�m bằng vải b�ng, c�n c�c người kh�c [cỡi] ngựa được mua b�n từ Giao Ch�u�.� T�i liệu thời nh� Minh, Dongxi yangkao, cũng x�c nhận rằng �trong suốt thời nh� Tống, người Ch�m thường mua ngựa từ Giao Chỉ, v� thế, Giao Chỉ c� c�c đu�i ngựa như một thổ sản của n�. 17 Tuy nhi�n, ngựa kh�ng được nu�i dưỡng tại địa phương Giao Chỉ; ch�ng được mua từ c�c người M�n (một từ ngữ để chỉ �kẻ man rợ được d�ng bởi người Trung Hoa v� Việt Nam) tại khu vực bi�n giới V�n Nam v� Quảng T�y ng�y nay. 18 C�c nguồn t�i liệu Việt Nam chỉ r� c�c địa phương nơi ngựa c� thể mua b�n.� Th� dụ, trong năm 1012, khi c�c người M�n đến c�c khu vực Kim Hoa v� Vị Long để mua b�n, Ho�ng Đế L� Th�i Tổ đ� ra lệnh rằng �họ v� hơn 10,000 con ngựa của họ phải bị bắt giữ�.� Trong c�c cuộc đột k�ch như thế, đ�i khi được chỉ huy bởi ch�nh c�c nh� vua cầm quyền của nước Việt, c�c con ngựa l� một trong c�c sản phẩm được truy l�ng nhiều nhất.� Quyển Việt Sử Lược hồi thế kỷ thứ mười ba ghi ch�p rằng trong năm 1008, Ho�ng Đế L� Ngọa Triều �th�n chinh cầm đầu một cuộc đột k�ch v�o hai huyện Đ� Lang [Lương] v� Vị Long, bắt giữ người M�n v� v�i trăm con ngựa�. (*b) Trong cả hai trường hợp, khu vực Vị Long hiện ra từ sử s�ch như một nguồn trọng yếu [cung cấp] ngựa cho Đại việt. 19 Điều n�y xem ra để giải th�ch, �t nhất một phần, l� do tại sao trong nhiều thế kỷ triều đ�nh nh� L� đ� hướng mắt nh�n b�n nhậy đến khu vực v� đ� gả nhiều c�ng ch�a cho thổ t� địa phương, gia tộc họ H� (He, trong chữ H�n). 20

 

���� Sản phẩm th�ng thường nhất m� người Việt trao đổi lấy ngựa l� muối.� Quyển Lingwai daida ghi ch�p rằng �người Fan [Phan?] một từ ngữ kh�c để gọi c�c kẻ man rợ] b�n ngựa cho ch�nh quyền h�ng năm để đổi lấy c�c sản vật, muối v� tr�u b�; nếu kh�ng l�m được như thế, họ sẽ ngăn cản c�c đường ngựa đi qua�. 21 Một c�ch đ�ng lưu �, người Việt đ� kh�ng nhất thiết sản xuất ra mưối m� họ đ� trao đổi lấy ngựa.� Quển Việt Sử Lược cho thấy rằng m�i cho đến năm 1206, phần lớn khu duy�n hải bị cai trị bởi c�c h�ng trưởng địa phương; th� dụ, hai khu sản xuất muối quan trọng l� Đằng Ch�u v� Kho�i Ch�u (tại tỉnh Hưng Y�n ng�y nay) nằm dưới quyền của hai sứ qu�n hơn l� dưới quyền kiểm so�t của c�c ho�ng đế nh� L�.� Như t�c giả John Whitmore đ� vạch ra, bức r�o cản giữa miền hạ Đại Việt v� thượng Đại Việt chỉ được gỡ bỏ trong thập ni�n 1220 như l� kết quả của một nỗ lực chung giữa nh� L� v� c�c kẻ kế nhiệm họ tức triều đại nh� Trần (1225-1400), v� đ� ch�nh l� lần đầu ti�n trong lịch sử m� hai miền thực sự nối liền với nhau. 22

 

���� Từ quan điểm n�y, việc trao đổi ngựa tạo th�nh một trong c�c mối li�n kết then chốt trong sợi d�y chuyền mậu dịch v�ng n�i � v�ng biển của miền n�y v� đ� l� một th�nh tố quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.� Chỉ trong bối cảnh n�y người ta mới c� thể hiểu được, th� dụ, tại sao xứ Nam Chiếu, v� c�c con đường dẫn đến nơi đ�, l� mối bận t�m của c�c nh� cai trị Việt Nam đương thời cũng như của Trung Hoa; v� l�m sao m� một vương quốc c� vẻ qu� xa x�i với người Việt Nam hiện đại lại c� thể x�m lăng v�o kinh đ� Việt Nam bốn lần (trong c�c năm 846, 860, 862 v� 863) v� đ� chiếm giữ n� trong hai năm (863-5).� C�c con ngựa trong thực tế ch�nh l� l� do m� c�c h�ng trưởng địa phương l�i cuốn xứ Nam Chiếu h�ng mạnh sang x�m lăng l�nh địa của họ, sau khi Li Zhuo, vi�n th�i th� Trung Hoa tại v�ng khi đ� nh� Đường gọi l� An Nam Đ� Hộ Phủ, đ� cưỡng h�nh một gi� thấp phi l� trong tỷ số trao đổi giữa muối v� ngựa. 23 Xa hơn, cũng c� thể lập luận rằng ch�nh c�ng c�c cuộc x�m lăng của Nam Chiếu n�y đ� l�m suy yếu rất nhiều sự thống trị của nh� Đường tại v�ng đất bảo hộ v� ch�nh v� thế đ� mở đường cho sự độc lập của d�n Việt trong năm 939.� Ngay trong thế kỷ thứ mười hai, V�n Nam h�y c�n đ�ng giữ một vai tr� quan trọng trong ch�nh trị Việt Nam, khi ho�ng gia nước Đại L� c� thừa nhận một vị ho�ng tử hạ sinh bởi một n�ng phi của vua L� Nh�n T�ng, ban cho ho�ng tử n�y quốc t�nh (Zhao: Triệu?), v� trợ gi�p �ng c�c đội qu�n khi �ng ho�ng n�y mưu toan tuy�n nhận ngai v�ng sau khi c� sự từ trần của vua cha. 24

 

���� Tất cả c�c th� dụ tr�n đ�y ti�u biểu cho c�c t�nh chất ch�nh y�u của Giao Chỉ như một hải cảng quốc tế.� Như đ� ghi nận ở tr�n, Giao Ch�u v� Quảng Ch�u đều nổi tiếng như c�c trung t�m mậu dịch từ thời nh� Đường, nhưng hai nơi kh�c biệt ra sao th� chưa bao giờ được n�u r� ra, hay �t nhất, được n�i ra một c�ch r� rệt.� Giờ đ�y, c� vẻ l� trong khi Quảng Ch�u đ� tiếp nhận phần lớn khối lượng mậu dịch của n� bằng đường biển, Giao Ch�u tự x�c định nghi�ng về mậu dịch miền n�i v� tr�n đất liền nhiều hơn, xuy�n qua c�c sự li�n kết của n� với c�c miền Khmer, Ch�m, L�o v� V�n Nam.� C�c sự nối kết n�y đ� trở n�n dễ d�ng hơn bởi c�c mối tương th�ng s�ng � biển của n�, trong đ� miền trung Việt Nam đ� đ�ng một vai tr� quan trọng.� Kết quả, c�c sản vật nhờ đ� Giao Chỉ trở n�n nổi tiếng trong suốt nhiều thế kỷ phần lớn lại kh�ng phải l� c�c sản phẩm ch�nh địa phương m�nh, như được nhấn mạnh bởi nội dung của một danh s�ch �cống phẩm� từ Ngưu Hống [?] (chung quanh v�ng ng�y nay l� Y�n Ch�u, tỉnh Sơn La) v� Ai Lao (một địa điểm thuộc L�o ng�y nay) l�n Đại Việt trong năm 1067: �v�ng, bạc, hương liệu, sừng t� gi�c v� ng� voi�. 25

 

 

Giao Chỉ Dương trong phối cảnh quốc tế: vị thế trung gian của người theo Hồi Gi�o v� Đại Việt

 

���� C�c thương gia Hồi [hay Hổ?, ch� của người dịch [Hu), một danh xưng gộp chung chỉ c�c thương nh�n c� gốc miền Nam � � v� sau n�y v�ng Trung Đ�ng � cũng đ� c� c�c sự tiếp x�c quan trọng với Đại Việt.� Từ thời nh� H�n trở về sau, c�c thương nh�n gốc Hồi được kh�ch lệ đển thăm viếng Giao Ch�u, bởi �gi� trị ch�nh yếu của n� [đối với Trung Hoa] l� về thương mại�, như được vạch ra bởi t�c giả Wang Gungwu. 26 Th� dụ, dưới thời cai trị của Th�i Th� Sĩ Nhiếp (Shixie) trong thời khoảng giữa c�c năm 187-226, v�i chục người Hồi được ghi ch�p đ� hộ tống cỗ xe của �ng v� đốt c�c n�n hương dọc con đường bất kỳ khi n�o �ng đi ra ngo�i. 27 Giao Ch�u l� nơi m� c�c thương nh�n v� quan chức Trung Hoa c� thể gặp gỡ c�c thương nh�n ngoại quốc ở giữa đường.� Một truyền thống trung gian như thế xem ra vẫn c�n được giữ lại sau khi d�n Việt d�nh lại nền độc lập của họ trong thế kỷ thứ mười.� Khi c�c sứ giả M�ng Cổ đến thăm viếng Đại Việt năm 1266, họ nhận thấy một số kh� đ�ng c�c người Hồi [Huihu: Hồi Hột, c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] cư ngụ tại đ�.� Sự kh�m ph� n�y đưa đẩy đến một bức thư được viết bởi ho�ng đế M�ng Cổ Kublai gửi Đại Việt trong năm 1267, trong đ� �ng ta chỉ tr�ch triều đ�nh Việt về việc kh�ng cho ph�p nhiều người Hồi Hồi tiếp x�c với c�c sứ giả của �ng trong cuộc thăm viếng của họ.� Trong năm 1268, Kublai tiếp tục một nỗ lực kh�c để tiếp x�c với người Hồi Hột tại Đại Việt, đ�i hỏi rằng Ho�ng Đế Trần Th�nh T�ng phải gửi c�c thương nh�n người Hồi sang Trung Hoa để �ng ta c� thể hỏi thăm họ về t�nh h�nh tại Trung Đ�ng.� Vua [Trần] Th�nh T�ng trả lời một c�ch n� tr�nh, tuy�n bố rằng hỉ c� hai thương nh�n gốc Hồi trong xứ sở, nhưng cả hai đều đ� chết, n�n y�u cầu của Kublai kh�ng thể đ�p ứng được, điều m� ho�ng đế [M�ng Cổ] đ� tức giận tố c�o như một sự n�i dối. 28

 

���� Như c�c bi�n ni�n sử của ch�nh Việt Nam đ� chứng minh, Kublai đ� c� l� khi n�i c�c sự m�c nối đ� hiện hữu giữa Đại Việt, Trung Hoa v� v�ng Trung Đ�ng.� Bộ To�n Thư ch�p rằng trong năm 1274, kh�ng l�u sau khi c� biến cố n�u tr�n, một đo�n khoảng 30 chiếc thuyền đi biển đ� đến từ Trung Hoa.� Tr�n c�c con thuyền l� c�c di d�n mang theo t�i sản v� gia đ�nh của họ.� Họ tự gọi m�nh l� �Hồi K� [Hui Ji, c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], từ ngữ gần như chắc chắn l� một danh từ gọi sai của từ ngữ Hồi Hột [Huihu, c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch]. 29 (*c) �Hẳn phải c� một số lượng đ�ng kể người d�n c�ng gốc với họ đ� sống tại Đại Việt mới khiến họ l�m một cuộc di chuyển lớn lao như thế.� Sự hiện diện văn h�a v�ng Trung Đ�ng tại nước Đại Việt thời nh� Trần cũng được ghi r� trong c�ng nguồn t�i liệu n�y.� Trong thực tế, trong năm 1268, ch�nh năm m� vị ho�ng đế M�ng Cổ y�u cầu một cuộc thăm viếng của c�c thương nh�n gốc Hồi từ Đại Việt, nh� vua trị v� Trần Th�nh T�ng v� người em của �ng được n�i đ� nhảy m�a theo điệu Hồ [trog nguy�n bản, chứ kh�ng phải l� Hồi, ch� của người dịch] tại cung điện ho�ng gia để l�m tr� vui cho vua cha, Th�i Thượng Ho�ng Trần Th�i T�ng. (Phần lớn c�c nh� vua họ Trần đ� từ ng�i trước khi chết v� giữ danh hiệu Th�i Thượng Ho�ng (senior emperor), trong thời trị vị của vị vua kế nhiệm). Bộ To�n Thư đặc biệt ghi ch�p rằng th�i thượng ho�ng đ� thay đổi để mặc �o cho�ng bằng vải trắng trong dịp n�y.� Điều cần ghi nận rằng mặc quần �o vải trắng tại một buổi lễ kh�ng phải l� phong tục của Trung Hoa hay Việt Nam v�o thời điểm đ�; đ�ng hơn, n� c� vẻ ph� hợp với tập qu�n của v�ng Trung v� Nam � l� �mặc đồ trắng trong dịp mừng lễ v� đồ đen trong dịp để tang�. 30

 

���� Con của Th�nh T�ng, Ho�ng Đế Trần Nh�n T�ng, đ� nhiều lần đến thăm viếng xứ Ch�m trong tư c�ch c� nh�n như một Phật tử.� Nơi đ� �ng gặp gỡ nhiều người đến từ v�ng Trung Đ�ng, điều sẽ mở c�nh cửa cho c�c ảnh hưởng văn h�a của Hồi.� Ch� trong một bối cảnh như thế ch�ng ta mới c� thể hiểu được c�c sự ghi ch�p xem ra c� t�nh c�ch biệt lập hay ngẫu nhi�n trong bộ To�n Thư, chẳng hạn như sự đề cập trong năm 1304 về �c�c nh� sự thiền định đến từ xứ Ch�m, hỉ uống sữa kh�ng th�i�.� Trong năm 1311, c� một nh� sư gốc Hồi kh�c xưng m�nh đ� sống 300 tuổi, v� được n�i c� khả năng đi tr�n mặt nước v� thực hiện c�c h�nh vi si�u nhi�n kh�c chẳng hản như lộn ngược b�n trong ra ngo�i để phơi b�y nội tạng của m�nh.� Đ�y l� cuộc thăm viếng thứ nh� của �ng ta tại Đại Việt; lần n�y �ng mang theo c� con g�i v� đ� gả cho Ho�ng Đế Anh T�ng.� Cuộc h�n phối n�y nhiều phần được sắp xếp bởi vua Nh�n T�ng, người đ� tiếp nh� sư trong kỳ thăm viếng đầu ti�n của �ng ta.� Triều đ�nh Đại Việt c� c�c sự tiếp x�c thường xuy�n với xứ Ch�m v� xa hơn thế cũng đ� được chứg minh bởi c�c kỹ năng ng�n ngữ của giới qu� tộc nh� Trần, tiếp thụ được nhờ ở vị thế trung gian của Đại Việt trong sự hải h�nh: Tướng qu�n Trần Quang Khải, th� dụ, th�ng thạo nhiều ng�n ngữ, giống như người anh em của �ng, �ng ho�ng Trần Nhật Duật.� �ng Ho�ng kể sau đ� c� thể n�i chuyện với c�c sứ giả từ Temasek (Singapore ng�y nay) bằng ng�n ngữ của họ, theo To�n Thư; đ�y c� thể l� tiếng m� Lai, nhưng cũng c� thể l� tiếng Ba Tư hay Ả Rập. 31

 

���� D�n Việt chắc chắn đ� khai th�c vị tr� trung gian của họ giữa c�c nước hải ngoại với Trung Hoa.� Một trong những sản phẩm của Đại Việt trong thế kỷ thứ mười ba cl� c�c v�ng đeo tay c� m�i thơm.� Để chế tạo c�c v�ng đeo tay n�y, d�n Việt sẽ trộn c�c bột hương liệu với đất b�n, nặn đất s�t th�nh hạt v� x�u ch�ng bằng sợi lụa m�u, được nghĩ thu mua được từ c�c thương nh�n v�ng T�y hay Nam �.� C�c chuỗi hạt n�y sau đ� được mang sang Trung Hoa để b�n v� được n�i rất được ưa chuộng bởi phụ nữ ở đ�. 32 C�c v�ng đeo tay n�y cũng c� thể đ� được t�i xuất cảng từ Trung Hoa sang c�c nơi kh�c của Đ�ng Nam �; c�c đồ gốm của Việt Nam được t�m thấy trong một chiếc thuyền bị đắm tại miền nam Phi Luật T�n bao gồm c�c hạt bằng thủy tinh, như sẽ được thảo luận dưới đ�y.

 

 

Đảo Hải Nam v� C�c Li�n Hệ Hồi Gi�o

 

���� Li�n hệ tổng qu�t của Hồi Gi�o với v�ng n�y trở n�n r� r�ng hơn khi đảo Hải Nam được đặt trong khung cảnh n�y.� Giao Chỉ đ� c� c�c li�n hệ chặt chẽ vớu Hải Nam; vị nữ thần địa phương ch�nh yếu của Hải Nam l� L� Mẫu (Li Mu) (Mẹ của sắc d�n L�), th� dụ, đ� được m� tả như sau: �B� ăn tr�i c�y của v�ng n�i đồi v� sống tr�n c�c v�m c�y.� Rồi th� c� một người đ�n �ng từ Giao Chỉ vượt biển v� đến đảo Hải Nam để dể thu gom gỗ trầm [một hương liệu].� B� L� Mẫu đ� kết h�n với �ng ta v� họ c� sinh ra nhiều con ch�u.� Chỉ khi đ� họ mới khởi sự khai khẩn đất đai v� nu�i trồng thực phẩm�.� Đi�u đ�ng ch� �, khu vực của b� ta, L� Mẫu Sơn, l� địa điểm của gỗ trầm hương tốt nhất. 33 Thần thoại địa phương n�y kh�ng chỉ ra dấu về nguồn gốc của g� trầm hương của Giao Chỉ, m� c�n về c�c quan hệ đan kết v� th�n mật hơn giữa Giao Chỉ v� đảo Hải Nam.� C�c t�i liệu kh�c về thời nh� Tống cũng chứng thực rằng người Dan [?] từ Đại Việt c� đ�n thăm viếng Hải Nam để g�p nhặt gỗ trầm, mặc dầu mậu dịch với d�n Hải Nam l� một nguồn cung cấp đ�ng tin cậy hơn cho loại sản vật n�y.� Sắc d�n L� ở đ� �sống bằng nghề mua b�n gỗ trầm�, theo tập Zhufanzhi. 34 Bởi thế, một số �c�c kẻ thu nhặt� từ �Giao Chỉ c� thể l� những người Việt Nam đến đảo Hải Nam để mua b�n.

 

���� C�c loại gỗ trầm n�y, tạo th�nh bộ phận quan trọng trong h�ng h�a Việt Nam, sẽ t�i xuất hiện tại địa điểm mậu dịch ở Qinzhou trong tỉnh Quảng T�y, nơi ch�ng được trao đổi lấy lụa với c�c thương nh�n Trung Hoa đến từ những nơi xa x�i như tận Tứ Xuy�n: Mọi đồ nhật dụng của Giao Chỉ t�y thuộc v�o Qinzhou, ch�nh v� thế c�c con t�u thường xuy�n qua lại giữa hai nơi. B�i mua b�n nằm ph�a Đ�ng con s�ng, b�n ngo�i thị trấn.� Những người đến với hải sản để đổi lấy gạo v� vải b�ng trong số lượng nhỏ được gọi l� sắc d�n �Dan [?] của Giao Chỉ [tham chiếu với sắc d�n Dan [?] tại Quảng Đ�ng].� Những thương nh�n gi�u c� đến mua bản từ khu vực bi�n giới [của Đại Việt] thuộc huyện Vĩnh Y�n [?] đến Qinzhou, những người n�y được goi l� �mối h�ng nhỏ� (xiaogang).� �Mối h�ng lớn� (dagang) để chỉ c�c sứ giả được ph�i đi bởi triều đ�nh [Đại Việt] để mua b�n tại đ�y.� C�c sản phẩm m� họ mậu dịch l� v�ng, bạc, đồng tiền bằng đồng, gỗ trầm, nhiều loại gỗ c� m�i thơm kh�c nhau, ngọc trai, ng� voi v� sừng t� gi�c.� C�c nh� mậu dịch cỡ nhỏ b�n ph�a ch�ng ta đến để trao đổi giấy, b�t viết, gạo v� vải b�ng với d�n Giao Chỉ kh�ng đ�ng để � mấy; nhưng c� c�c thương nh�n gi�u c� m� h�ng gấm từ v�ng Shu (Tứ Xuy�n) đến Qinzhou để trao đổi lấy hương liệu mỗi năm một lần, thường li�n quan đến cả h�ng ngh�n đồng quan bằng ti�n mặt.� C�c thương nh�n n�y mặc cả về gi� cả trong nhiều tiếng đồng hồ trước khi đạt được một sự thỏa thuận.� Một khi đ� đồng �, kh�ng b�n n�o lại được ph�p thương thảo với c�c thương nh�n kh�c.� Khi cuộc n�i chuyện mới bắt đầu, khoảng c�ch giữa gi� đ�i v� gi� trả thường rộng lớn như tr�n trời với dưới đất.� C�c thương nh�n gi�u c� [người H�n gốc Trung Hoa] của ch�ng ta ph�i c�c gia nh�n của họ đi mua c�c vật dụng cho cuộc sinh sống h�ng ng�y của họ v� c�n cho x�y dựng c�c tr� sở tạm thời v� ở tại đ�, nhằm l�m nản l�ng c�c thương nh�n [Giao Chỉ].� C�c thương nh�n gi�u c� của họ giữ sự điềm tĩnh, v� cũng sử dụng sự ki�n tr� l�m vũ kh�.� Khi hai thương nh�n gặp nhau, họ c�ng uống với nhau; v� với thời gian tr�i qua, họ hợp � với nhau hơn.� Những cuộc n�i chuyện tr�i chảy n�y cắt bớt hay gia tăng �t quan tiền sao cho c�c gi� cả của hai b�n ng�y c�ng gần hơn. [Khi cuộc điều đ�nh đ� ho�n tất], c�c vi�n chức [tại c�c chợ] c�n hương liệu v� giao h�ng gấm cho đ�i b�n để kết th�c vụ mua b�n.� Tại địa điểm mậu dịch, c�c vi�n chức [nh� Tống] chỉ đ�nh thuế tr�n c�c thương nh�n về ph�a ch�ng ta�. 35 Như đoạn văn n�y cho thấy, Giao Chỉ l� b�n tham gia quan trọng nhất trong c�ng cuộc mậu dịch tr�n bờ biển Trung Hoa nằm trong Vịnh Bắc Việt v� c�c sự trao đổi thực hiện tại khu vực n�y đ� được ph�t triển v� ho�n chỉnh. �C�ng cuộc mậu dịch n�y c� thể được xem hoặc c� t�nh chất cấp miền hay địa phương, với sự di chuyển một khoảng c�ch ngắn bằng thuyền.� Mậu dịch chắc chắn l� một phần cốt yếu trong đời sống của� nhiều người d�n trong v�ng n�y.

 

���� Tuy nhi�n, li�n hệ sinh tử nhất của Hải Nam với thế giới b�n ngo�i l� người Ch�m; bắt đầu thừ tời Tống, c�c sứ giả Ch�m thường gh� ch�n đầu ti�n tại Hải Nam trước khi tiến v�o lục địa.� Điều được x�c định từ l�u rằng c�c thương nh�n t�ch cực nhất tại đảo Hải Nam đến từ hay xuy�n qua xứ Ch�m, nơi m� c�c nh� mậu dịch Hồi Gi�o c� thiết lập c�c trạm như một mắt nối kết trong sợi d�y x�ch mậu dịch chạy d�i của họ.� Tại Quảng Ch�u v� Ph�c Kiến, c�c thương nh�n Ch�m/Hồi Gi�o sinh sống như c�c thường tr� nh�n tại c�c khu vực ngoại kiều (fanfang), trong khi tại Hải Nam, họ sinh sống ch�nh yếu tại Yaizhou. 36 C�c nh�m ngoại kiều kh�c, c� thể phần lớn cũng đến từ xứ Ch�m, sinh sống tại Danxian khu t�y bắc của Hải Nam v� tại Baisha. 37 Nhiều người mang họ �Pu� (Abu).� Ch�nh v� thế c�c phả hệ họ Pu được d�ng như c�c dấu vết để truy t�m c�c mối nối kết giữa Hải Nam, Đ�ng Dương v� lục địa Trung Hoa.� C�c phả hệ n�y được t�m thấy tại Hải Nam (Yaizhou), Ph�c Kiến (Dehua), Quảng Đ�ng (Quảng Ch�u) v� khu Qinzhou thuộc tỉn Quảng T�y.� N�i c�ch kh�c, c�c gia đ�nh họ Pu tỏa rộng v� sinh sống nơi m� c�ng cuộc mậu dịch của họ diễn ra, v� khu vực chung quanh Vịnh Bắc Việt l� một trong c�c nơi chốn m� họ đ� tập trung.� Mặc d� trong những năm gần đ�y, c� một số sự nghi ngờ được ph�t biểu về nguồn gốc Hồi Gi�o của gia tộc họ Pu, như t�c giả Pierre-Yves Manguin đ� vạch ra, bằng cớ bằng tiếng Trung Hoa v� Ả Rập �x�c định vượt qu� sự c�i cọ nhỏ nhặt rằng v�o l�c khởi đầu thế kỷ thứ t�m, đ� c� c�c mối nối kết giữa Ch�m, c�c thuộc địa của c�c thương nh�n Hồi Gi�o tại miền Nam Trung Hoa, v� c�c gia đ�nh họ Pu�. 38 Trong một phương c�ch như thế c�c người Hồi Gi�o tại Hải nam v� c�c li�n hệ của họ với khu vực Quanzhou [Tuyền Ch�u?] thuộc tỉnh Ph�c Kiến đ� g�p phần một c�ch thiết yếu cho sự vươn l�n về thương mại của tỉnh kể t�n sau, như được lập luận bởi t�c giả Chang Pintsun.� C� vẻ hợp l� để giả định, như t�c giả Roderik Ptak đ� l�m, rằng c�c thương nh�n từ xứ Ch�m, hoạt động từ Hải Nam hay thường xuy�n gh� nơi đ�, đ� c� một số ảnh hưởng tại c�c hải cảng mậu dịch của lục địa Trung Hoa, v� rằng những nh�m n�y c� sự tiếp x�c gần gủi, cảnh trạnh hay hợp t�c với c�c cộng đồng Hồi Gi�o kh�c v� với d�n Ph�c Kiến. 39

 

���� Trong khung cảnh n�y, điều kh�ng tưởng tượng được l� c�c nh� mậu dịch Hồi Gi�o lại kh�ng để lại c�c dấu vết bao quanh khắp Vịnh Bắc Việt, tại Qinzhou, Hải Nam v� xứ Ch�m, nhưng c�ch n�o đ� bị tr�i tuột mất bởi Đại Việt trong h�ng ng�n năm mua b�n v� li�n lạc của họ tại khu vực n�y � xong đ�y l� c� vẻ l� điều m� văn liệu hiệu hữu cho ch�ng ta hay.� Như t�c giả Kenneth Hall đ� nhận x�t, mọi sự tham chiếu của người Việt về c�c trung t�m đ� thị phương bắc đ� bị pha m�u bởi c�c th�nh kiến của c�c sử gia Khổng học sau n�y, đặc biệt bởi tư tưởng ho�i nghi n�i chung của họ đối với c�ng cuộc mậu dịch.� Trong c�c t�nh huống như thế, c�c li�n hệ với Hồi Gi�o sẽ bị tẩy x�a với nhiệt t�nh gấp đ�i bởi c�c sử gia Khổng học bởi c�c mối li�n kết n�y sự mang lại sự hỗn loạn v� kh�ng mạch lạc trong sự x�y dựng của họ một lịch sử d�n tộc hợp l� cả về mặt � thức hệ lẫn chủng tộc. 40� Hậu quả, một phần quan yếu trong lịch sử Việt Nam bị đ�nh mất, như được chứng minh bằng ch�nh bộ To�n Thư: �t nhất trong hai trường hợp, danh xưng của sắc d�n v� xứ sở nước ngo�i đ� bị ghi ch�p sai lạc; một l� trường hợp Huihu (Hồi Hồ) n�u tr�n, v� trường hợp kia l� Temasek. 41 Bởi l� do n�y, hai đối t�c mậu dịch quan trọng của Đại Việt v�o l�c n�y đ� biến mất dạng v�o trong c�c danh xưng lạ l�ng v� kh�ng quen thuộc m� người ta đ� giả định l� kh�ng quan trọng v� c� t�nh c�ch địa phương.� Sự kiện n�y kế đ� củng cố hơn nữa cảm tưởng về Đại Việt như l� một nước t� t�ng về thương mại quốc tế v� l� một nơi �t c� c�c sự d�nh l�u đến phần c�n lại của thế giới.� Được viết �t nhất 150 năm sau c�c biến cố đ� được tr�nh b�y v� dưới thời m� � thức hệ Khổng Học ở địa vị kh�ng chế, c�c nh� bi�n tập bộ To�n Thư biểu lộ �t sự quan t�m đến c�c danh xưng của c�c d�n tộc m� c�c tổ ti�n ngừoi Việt của họ đ� thương thảo tr�n một căn bản kh� thường xuy�n.� Một bộ phận bằng chứng c� t�nh chất quyết đ�an cho thấy l�m sao c�c nền văn h�a v� truyền thống kh�c nhau đ� nu�i dưỡng v� định h�nh x� hội Đại Việt ch�nh v� thế đ� bị ph�n t�n v� v�i lấp dưới lớp bụi bặm.

 

���� Một l� do kh�c l� c�c sử gia Việt Nam c� khuynh hướng ph�c họa nước Đại Việt thời ban sơ c�ng giống Trung Hoa c�ng tốt c� thể l� v� vấn đề an ninh.� Sự quan ngại n�y được tr�nh b�y trong một b�i thơ được viết bởi vị vua tiếm quyền, Hồ Qu� Ly, kẻ m� sự trị v� đ� th�nh duy�n cớ cho cuộc x�m lăng của nh� minh v�o năm 1407.� Khi trả lời một c�u hỏi của một vị kh�ch thăm viếng người Trung Hoa, nh� vua c� n�i: �Nếu �ng hỏi t�i về phong tục của An Nam, t�i sẽ n�i với �ng rằng c�c phong tục c� t�nh c�ch thuần t�y An Nam.� Y phục ch�ng t�i may theo kiểu nh� Đường, v� c�c nghi lễ ch�ng t�i cử h�nh l� theo thể lệ của nh� H�n�. 42 Nh� vua viết ra điều n�y với sự hay biết rằng Trung Hoa một lần nữa nằm dưới sự kiểm so�t của sắc d�n H�n sau khi c� sự lật đổ �ch thống trị của M�ng Cổ.� C�c li�n hệ Hồi Gi�o v� ngoại lại kh�c tốt hơn n�n dấu đi khi m� xứ sở đang đối diện với một si�u cường t�i phục hiện.� Tại Đại Việt cũng như tại Trung Hoa, c�c vết t�ch Hồi Gi�o (v� M�ng Cổ) gần như chắc chắn bị x�a bỏ một c�ch mạnh mẽ trong thời nh� Minh.

 

���� Mối li�n hệ chặt chẽ giữa đảo Hải Nam v� xứ Ch�m đ� được ghi ch�p bởi một sử gia Trung Hoa trong thế kỷ mười bẩy nhưng cũng được l�nh hội bởi một sử gia Việt Nam thế kỷ thứ mừi t�m nổi tiếng, �ng L� Qu� Đ�n, người đ� tr�ch dẫn �ng [sử gia Trung Hoa].� Đoạn tr�ch dẫn sau đ�y phản ảnh sự quan t�m của L� Qu� Đ�n về kh�ng gian h�ng hải n�y: �T�c giả Qu Dajun c� n�i trong quyển Guangdong xinyu [� kiến Mới Về Quảng Đ�ng] rằng 600 dặm [l�] nam Yaizhou [Nhai Ch�u [?] thuộc Hải Nam] l� xứ Ch�m.� Khi gi� nam thổi đến [Yaizhou], người ta c� thể nghe thấy tiếng g� g�y tại xứ Ch�m r� như nghe tiếng chu�ng.� Điều n�y cho thấy hai nơi gần gủi nhau đến như thế n�o. {[Bởi thế], nếu Hải Nam l� bức b�nh phong của Quảng Đ�ng, Xứ Ch�m l� b�nh phong của Hải Nam�. 43 R� r�ng đối với �ng L� Qu� Đ�n, to�n v�ng được nối liền với nhau bằng biển v� bị ảnh hưởng bởi c�c luồng gi� m�a v� bi�n giới quốc gia kh�ng mấy quan trọng.� C� một điểm quan trọng kh�c trong bối cảnh n�y.� Thay� v� tưởng tượng rằng �Trung Hoa� như một loại khối văn h�a đặc cứng được ph�n vạch bởi c�c bi�n cương hiện đại của n�, chiếu tỏa văn minh của n� đến c�c nước chung quanh v� v� thế ảnh hưởng tr�n Việt Nam từ phương bắc xuống, ch�ng ta phải ghi nhớ trong đầu rằng cho m�i đến thời nh� Minh (v� m�i cho đến cuối thế kỷ tứ mười t�m đối với V�n Nam), phần lớn đất của Quảng Đ�ng, Quảng T�y, V�n Nam v� Hải Nam hầu như chắc chắn l� c�n k�m �ph�t triển� hơn khu vực Bắc Kỳ cả về mặt văn h�a lẫn kinh tế.� Trong kh�a cạnh n�y, sự sản xuất đồ sứ được d�ng như một sự chỉ dẫn hữu �ch.� Trong khi c� v�i khu vực sản xuất đồ sứ nổi tiếng tại v�ng ng�y nay l� Hải Dương v� Thanh H�a ngay từ thế kỷ thứ mười ba, chỉ c� một l� nung được biết đ� hiện hữu tại Quảng T�y v� kh�ng c� l� n�o tại V�n Nam. 44 Một cuộc khảo s�t c�c con số c�c người tr�ng tuyển c�c cuộc khảo th� từ miền Giao Chỉ so s�nh với số tr�ng tuyển từ Quảng T�y, V�n Nam v� Hải Nam dưới thời nh� Đường cho thấy Giao Chỉ vượt xa c�c miền l�n cận của n� trong mức độ Trung Hoa h�a v� tr�nh độ văn minh vật chất. Điều được biết r� l� Hải Nam phục vụ như một nguồn cung cấp ch�nh c�c con ngựa cho xứ Ch�m, ở thời điểm ki đ� l� �quyền lực mậu dịch c� sự giao dịch quốc tế s�u rộng với một hạ tầng canh n�ng cơ bản�. 45 C� vẻ rằng trong khi Đ�ng Nam � hoạt động như một nguồn cung cấp quan trọng c�c sản phẩm sơ chế cho Trung Hoa trong Kỷ Nguy�n Thương Mại (Age of Commerce), trong một thời gian d�i trước đ�, Hải Nam đ� phục vụ trong c�ng vai tr� như thế đối với Đại Việt v� xứ Ch�m; thay v� văn h�a nh� H�n ảnh hưởng Việt Nam từ phương bắc, khu vực Việt Nam đ� Trung Hoa h�a v� c� giao tiếp thế giới rộng r�i hơn đ� phục vụ như một cơ sở của văn h�a H�n để ảnh hưởng tr�n c�c miền V�n Nam v� Quảng T�y.

 

 

V�n Đồn v� Hải Dương

 

���� Sự việc c�ng trở n�n r� r�ng hơn từ sự thảo luận ở tr�n rằng V�n Đồn, hải cảng ch�nh của Đại Việt trong thời nh� Trần v� đầu nh� L� đ� kh�ng được lựa chọn một c�ch ngẫu nhi�n, v� rằng n� đ� kh�ng thể xuất hiện sớm hơn l�c th�i th� cuối nh� Đường, Cao Biền (Gao Pian) đ� gỡ bỏ c�c chướng ngại vật quan trọng cho sự du h�nh tr�n biển dọc theo duy�n hải Vịnh Bắc Việt.� (Cả hai t�c giả Whitmore v� Momoki đều vạch ra rằng hải cảng của Đại Việt thời sớm hơn tọa lạc tại v�ng Nghệ Tĩnh). 46 Sự kiện rằng V�n Đồn, địa điểm c� vẻ xa x�i v� bị c� lập, đ� được chọn l�m hải cảng ch�nh của xứ sở được nh�n như một sự x�c nhận quan điểm cho rằng c�c triều đại Việt Nam ưa th�ch rằng hoạt động ngoại thương n�n được thực hiện ở nơi c�ng xa c�ng tốt đối với kinh đ� v� về giả định rằng hoạt động như thế kh�ng l� c�i g� đ� mang t�nh c�ch trung t�m của nền kinh tế.� Tuy nhi�n, nếu ch�ng ta nhớ lại rằng cho đến thế kỷ thứ mười lăm, thủy lộ ch�nh nối liền kinh đ� của Đại Việt v� bờ biển Trung Hoa l� con s�ng Bạch Đằng (khi đ� l� phụ lưu ch�nh của s�ng Hồng, trong khi giờ đ�y phụ lưu ch�nh chảy giữa Nam Định v� Th�i B�nh), khi đ� ch�ng ta sẽ thấy V�n Đồn tọa lạc tr�n th�ng lộ ch�nh của thời đại.� N� đ� được ph�t triển trong �cuộc c�ch mạng thương mại� đầu ti�n của Trung Hoa dưới thời nh� Tống, v� tọa lạc ở trung t�m khu mậu dịch Vịnh Bắc Việt nằm giữa đảo Hải Nam v� Qinzhou, cả hai địa điểm được lui tới thường xuy�n bởi c�c thương nh�n Ph�c Kiến, Ch�m v� Hồi Gi�o. 47 Ch�nh s�ch của nh� Nguy�n ưu đ�i c�c quan chức, thương nh�n, phong tục Hồi Gi�o tại Ph�c Kiến chắc hẳn đ� g�p phần nhiều hơn v�o sự vươn cao của khu vực mậu dịch được th�c đẩy bởi Hồi Gi�o n�y.

 

���� Một khu như thế trở n�n r� n�t hơn khi ch�ng ta đem c�c khu vực sản xuất đồ gốm ch�nh yếu của Đại Việt v�o thời điểm n�y v�o trong bức tranh.� Đ� c� một sự tăng trưởng d�n số quan trọng trong thời khoảng giữa 1200 đến 1340 � con số được gia tăng gấp đ�i theo t�c giả Yumio Sakurai � hẳn đ� cổ vũ cho sự ph�n c�ng v� th�c đẩy ng�nh sản xuất thủ c�ng nghệ. 48 Đồ gốm được sản xuất tại nhiều địa điểm trong nước, chẳng hạn như Thanh H�a v� Thi�n Trường (xem b�n dưới).� Từ thập ni�n 1350 trở đi một số l� nung kh�ng ch�nh thức xuất hiện tại khu vực giờ đ�y l� Hải Dương, sản xuất c�c đồ gốm với sự tinh xảo cao cấp, đ�nh dấu một giai đoạn ti�n tiến của một sự sản xuất như thế bởi người Việt Nam.� Đa số trong t�m l� nung n�y thuộc v�ng Chu Đậu, chỉ c�ch V�n Đồn một đoạn đường s�ng ngắn.� Động cơ cho sự sản xuất đồ gốm n�y l� thị trường Ch�m/Hồi Gi�o v� điều đ�ng ghi nhận l� sự ph�t triển đồ gốm Việt Nam trong suốt thế kỷ thứ mười bốn tr�ng hợp với thời cực thịnh của xứ Ch�m, dưới vị vua được biết trong tiếng Việt l� Chế Bồng Nga.� C� bằng chứng rằng đồ gốm m�u thi�n thanh v� trắng của Đại Việt đ� được sản xuất để đ�p ứng với nhu cầu từ c�c thương nh�n phục vụ cho thị trường T�y �, với c�c sản phẩm ngọan mục nhất được xuất cảng đến tận c�c nơi xa x�i như Ba Tư, Ai Cập v� Thổ Nhĩ Kỳ.� C�c đồ gốm Việt Nam cũng đ� được t�m thấy tại c�c khu vực Hồi Gi�o l�n cận, chẳng hạn như v�ng Sulawesi v� miền trung v� nam Phi Luật T�n.� Đồ gốm của Ch�m tại G� Sanh cũng được t�m thấy tại c�ng c�c địa điểm n�y. 49

 

���� Đồ gốm Đại Việt đặc biệt được thiết kế cho việc b�n ở nước ngo�i l�m nổi bật sự h�a nhập của xứ sở v�o thi trường cấp miền.� Ch�ng ta biết rằng c�c vi�n gạch l�t men b�ng với h�nh dạng kh�c nhau đ� được chế tạo cho miền đ�ng Java, theo c�c kiểu mẫu được cung cấp bởi triều đ�nh Majapahit, v� c�c loại đất nung v� men b�ng khiến ta nghĩ rằng ch�ng được sản xuất tại v�ng Hải Dương. 50 Điều cũng đ�ng lưu � l� c�c tạo phẩm Việt Nam cũng được t�m thấy trong một chiếc t�u bị đắm (khoảng năm 1370-80) được trục vớt trong năm 1995 tại miền nam Phi Luật T�n bao gồm c�c hạt x�u chuỗi bằng thủy tinh v� c�c chiếc nẫn bằng đồng, ph�t lộ t�nh phức tạp trong c�c sản vật được trao đổi xuy�n khắp c�c hệ thống mậu dịch thứ yếu tại Đ�ng Nam �.� C�c li�n hệ r� r�ng giữa người Ch�m v� Phi Luật T�n trong giai đọan n�y, được ghi ch�p một c�ch cặn kẽ bởi t�c giả Geoff Wade, bổ t�c th�m một mảnh cho bức tranh gh�p về mậu dịch của người Ch�m/Hồi Gi�o trong v�ng n�y. 51

 

���� C�i nh�n từ biển v�o n�y cũng c�n chiếu rọi �nh s�ng mới về ng�nh thủ c�ng nghệ tại khu vực Hải Dương.� Nhiều nh� bu�n b�n h�ng thủ c�ng tại H� Nội tại 36 Phố Phường nổi tiếng (giờ được gọi l� Khu Phố Cổ) truy nguy�n nguồn gốc của họ ở Hải Dương � thợ nề, thợ mộc, thợ nhuộm, l�m giầy da, v� c�c người c� kỹ năng trong việc đục chạm gỗ hay trong ng�nh in, cũng như những người li�n hệ đến ng�nh l�m đồ kim loại tại phố H�ng Đồng v� H�ng Bạc.� Một gia đ�nh l�m đồ kim ho�n tại H� Nội gần đ�y cũng truy nguy�n nguồn gốc của m�nh về đến tận Hải Dương. 52 Tất cả c�c ng�nh nghề kh�c nhau n�y khiến cho ta suy tưởng rằng khu vực kể sau đ� c� một lịch sử l�u d�i về nghề v� ng�nh sản xuất thủ c�ng, c� lẽ c�n nhiều hơn cả H� Nội.� Trong thực tế, ngay từ thế kỷ thứ mười ba, khu vực n�y đ� sẵn nổi tiếng về việc chế tạo một loại n�n bằng tre (n�n Ma L�i), kh�ng kh�c g� n�n tre nổi tiếng của Huế trong thế kỷ thứ mười t�m. 53

 

���� Danh s�ch c�c nghề n�u tr�n kh�ng chỉ đơn thuần sử dụng c�c nghệ nh�n; mỗi ng�nh c�ng nghệ cũng sẽ đ�i hỏi đến h�ng ng�n thợ lao động.� Th� dụ, ng�nh đồ gốm, cần đến nhiều lao động: một sản phẩm duy nhất c� thể phải đi qua �t nhất 12 đ�i b�n tay trước khi ho�n tất.� L�m gạch, một c�ng nghệ li�n hệ nhưng �t phức tạp hơn, li�n hệ kh�ng chỉ đến c�c nghệ nh�n m� c�n đến cả c�c c�ng nh�n đ�n củi tr�n c�c n�i đồi hay sản xuất than đ�, cũng như đ�o v� biến chế đất s�t từ c�c v�ng l�n cận. 54 Tại đảo V�n Đồn kh�ng th�i, c� phế t�ch của bẩy ng�i ch�a thời Trần, khiến ch�ng ta nghĩ đến một khối lượng đ�ng kể c�c vật liệu x�y cất đ� được sử dụng v� chuy�n chở đến đ�.� Con số c�c người li�n hệ một c�ch gi�n tiếp đ�n ng�nh thủ c�ng nghiệp tại Hải Dương, trong c�c l�nh vực chẳng hạn như vận tải đường đất hay đường biển, x�y dựng v� biến chế thực phẩm hẳn phải l� đ�ng kể. 55

 

���� Đ�y l� căn bản cho �sự trổi dậy của c�c thị trường đại ch�ng�, đ� được vạch ra bởi t�c giả Momoki Shiro. 55 C�ng nghiệp đồ gốm tại Hải Dương, bởi thế, kh�ng phải l� hiện tượng ph�t sinh một c�ch ngẫu nhi�n như một loại nghề c� lập được thực hiện bởi một nh�m nhỏ c�c l�ng c�ch n�o đ� vần c�n c� t�nh c�ch n�ng th�n.� Giống như nhiều trung t�m thương mại tại Trung Hoa, n� l� một c�ng nghiệp chuy�n m�n h�a được ph�t triển nhịp nh�ng với c�c c�ng nghệ địa phương kh�c, chẳng hạn như c�c ng�nh nghề đ� liệt k� ở tr�n; điều n�y cũng đ�ng cho việc đ�ng t�u-thuy�n, dệt vải, v� sản xuất muối.� Hậu quả, c�ng nghệ xuất cảng của Đại Việt �kh�ng thể đơn thuần được lượng gi� về mặt phần đ�ng g�p tương đối của n� đối với to�n bộ c�c hoạt động kinh tế kh�ng th�i� như t�c giả Kishimoto Mio đ� vạch ra trong bối cảnh của Trung Hoa. 57

 

���� Trong khi sự tổ chức ch�nh x�c của ng�nh thủ c�ng nghiệp trong giai đoạn n�y c�n cần sự nghi�n cứu th�m nữa, c�c ng�i ch�a Phật Gi�o c� thể đ� đ�ng một vai tr� then chốt trong việc nối kết giới thượng lưu tinh hoa, sự sản xuất v� c�c thị trường.� Điều r� r�ng l� c�c ng�i ch�a đ� l� c�c kh�ch h�ng quan trọng nhất về đồ gốm v� c�c vật liệu x�y cất; con số đền ch�a kh�ng th�i c� nghĩa l� c�c nhu cầu của ch�ng được tỏa rộng v� thường xuy�n hơn số cầu của triều đ�nh.� Quan trọng kh�ng k�m, c�c ng�i ch�a cũng c� thể l� c�c chủ nh�n v� c�c nh� quảng c�o lớn nhất của ng�nh thủ c�ng nghiệp.� C�c li�n kết của ch�ng với c�ng cuộc mậu dịch hải ngoại c� t�nh c�ch cồ truyền v� được ghi ch�p một c�ch kỹ c�ng; trong nhiều thế kỷ, việc mua b�n c�c di vật t�n gi�o đ� l� một trong c�c động lực trọng t�m của c�ng cuộc mậu dịch giữa Trung Hoa v� Nam �, c�ng với nhu cầu về hương liệu để phục vụ c�c c�c sự tế lễ, một sản vật kế đ� l�m gia tăng tầm quan trọng của mậu dịch Đ�ng Nam �. 58 C�c học giả của c�c xứ sở kh�c trong v�ng lục địa Đ�ng Nam � trong suốt �thời kỳ đặc cấp� (charter period) n�y cũng đ� nhấn mạnh rằng sự b�nh trướng kinh tế được đặt trọng t�m tr�n sự c�ng tặng quỹ vốn cho c�c ng�i ch�a Phật Gi�o v� đ� khảo s�t vai tr� của ng�i ch�a như một trung t�m của c�c hoạt động kinh tế t�i ph�n phối địa phương.� �p dụng c�i nh�n thấu triệt sẽ g�p phần v�o việc cấu tr�c một m� thức để tạo dựng khung cảnh của c�c hoạt động kinh tế kh�c nhau v� c�c mối quan hệ của ch�ng vơi x� hội Đại Việt trong thế kỷ thứ mười bốn, v� trong việc thực hiện một sự ph�n t�ch định t�nh của c�c ảnh hưởng của ngoại thương tr�n cơ cấu của nền kinh tế. 59

 

���� Điều đ�ng lưu y khi ch�ng ta nhớ lại rằng n�i Y�n Tử, trung t�m Phật Gi�o ch�nh của Đại Việt hồi cuối thế kỷ thứ mười ba, tọa lạc trong miền n�y � tại U�ng B�, tức Quảng Ninh ng�y nay.� Đ�y l� nơi m� Ho�ng Đế [Trần] Nh�n T�ng đ� thiết lập một ph�i Phật Gi�o Việt Nam nổi tiếng, Ph�i Tr�c l�m � ngay tại trung t�m của khu mậu dịch.� Một ng�i c�a nổi tiếng kh�c, Quỳnh L�m, cũng đ� được x�y dựng tại khu vực n�y bởi nh� sư lừng danh, Ph�p Loa, kẻ được n�i đ� đ�c 1300 tượng Phật bằng đồng trong suốt cuộc đời của �ng. 60 Một c�ng việc như thế sẽ đ�i hỏi một số lượng tiền lớn lao v� một khối nh�n lực đ�ng kể, nhưng điều c�n nổi bật hơn nữa l� khối lượng đồng li�n hệ, khi xem x�t rằng Đại Việt đ� kh�ng sản xuất ra kim loại đ� trong thời kỳ n�y.� Người ta được nhắc nhở rằng xứ Ch�m, xuy�n qua c�c li�n kết của n� với c�c thương nh�n từ Trung Đ�ng, c� thể đ� h�nh động như một nguồn cung cấp quan trọng cho kim loại n�y.� Sự li�n kết của Ch�m với kim loại đồng được biểu thị trong danh s�ch cống phẩm năm 445 sau C�ng Nguy�n, khi L�m Ấp mang sang Trung Hoa 10,000 catties (c�n v�ngM� Lai, tương đương với 600 ram) v�ng, 100,0000 [c�n hay đồng tiền, nguy�n bản kh�ng n�i r�, ch� của người dịch] bạc, 300,000 [?] bằng đồng. 61 Ch�m cũng c� thể t�c động như một nguồn cảm hứng t�n gi�o cho Đại Việt trong thời kỳ n�y.� Điều quan trọng cần nhận thức rằng Đao Phật Ph�i Đại Thừa (Mahayana) th� đ�ng kể cả ở Ch�m lẫn Đại Việt (c�ng với Angkor ở v�o một số thời điểm n�o đ� trong thời đại n�y), đ� giải th�ch cho c�c cuộc thăm viếng của vua Trần Nh�n T�ng đến nước l�ng gi�ng phương nam của �ng. 62

 

���� Khu vực n�y cũng l� trung t�m ch�nh trị cụ thể của triều đ�nh nh� Trần trong hơn 150 năm.� Như c�c vua nh� Trần nhiều lần tuy�n bố, gia tộc họ �khởi l�n từ v�ng duy�n hải�.� Khởi đầu trong năm 1239, triều đ�nh nh� Trần đ� x�y dựng một nh�m c�c cung điện kh�c tại qu� hương của họ thuộc huyện Thi�n Trường, gần Nam Định ng�y nay, một địa điểm gần biển hơn nhiều so với H� Nội.� Giống như Ayudhya một thế kỷ sau n�y, trung t�m ch�nh trị n�y �được bao quanh bởi nước thủy triều, v� bờ biển đầy c�c loại c�y v� hoa thơm ng�t.� C�c chiếc thuyền giải tr� được sơn vẽ một c�ch vui tươi đi tới đi lui [cung điện] giống như một khu đất thần ti�n�.� C�c vua nh� Trần cư tr� tại c�c cung điện ở Thi�n Trường thường xuy�n hơn l� ở H� Nội, biến khu vực n�y th�nh kinh đ� trong thực tế.� Như t�c giả Whitmore đ� vạch ra, mặc d� kinh đ� đ� kh�ng được dời ra bờ biển như Pegu v� Ayudhya đ� l�m sau n�y, v�ng duy�n hải đ� nắm quyền kiểm so�t ngay ch�nh kinh đ� cũ. 63

 

���� Một quần thể tụ hội c�c trung t�m mậu dịch, t�n gi�o v� ch�nh trị như thế tọa lạc cạnh nhau � v� cạnh c�c trung t�m ch�nh của ng�nh sản xuất đồ gốm � c� vẻ x�c định một m� thức cho c�c thể chế cổ xưa tại v�ng l� miền trung Việt Nam ng�y nay m� c�c học giả người Nhật Bản v� Việt Nam đ� �p dụng trong thập ni�n qua.� Thể chế dọc d�ng s�ng l� một tổ chức quyền lực ba th�nh phần trong đ� một trung t�m t�n gi�o (thường ở tr�n n�i), một trung t�m ch�nh trị (trong đồng bằng đất ph� sa bồi đắp) v� một th�nh phố hải cảng được nối liền với nhau bằng c�c đường s�ng. 64 C�c th� dụ về c�c sự nối kết giữa c�c trung t�m t�n gi�o v� c�c hải cảng l� c�c sự li�n kết giữa Mỹ Sơn v� Hội An tại miền trung Việt Nam hay giữa C�t Ti�n (tại tỉnh L�m Đồng) với Cần Giờ (nay l� một huyện ngoại th�nh của S�ig�n).

 

���� Sự thảo luận b�n tr�n l�m ch�ng ta nghĩ đến một v�ng kết hợp nhiều hơn sơ với sự nhận thức trước đ�y.� C�c học giả đ� tr�nh b�y Đại Việt như một thực thể nằm dưới ảnh hưởng Trung Hoa, Ch�m như một xứ mang t�nh chất văn h�a Ấn Độ v� Hải Nam như một v�ng nước đọng t� t�ng xa x�i, nằm chơ vơ giữa trời.� Mặc d� về mặt địa dư nằm gần nhau, cả ba bị nh�n như c�c địa phương bị c� lập với �t hay kh�ng c� c�c điểm tương đồng về văn h�a v� kinh tế.� Tuy nhi�n, c�ng t�c khảo cổ học tại miền trung Việt Nam trong thập ni�n qua, đ� ph�t hiện nhiều vết t�ch s�u đậm của ảnh hưởng của Trung Hoa trong văn h�a Ch�m, c�ng với ảnh hưởng của Ấn Độ.� Điều n�y đặc biệt hiện r� tại miền bắc xứ Ch�m.� Trong khi một số ảnh hưởng của Trung Hoa chắc chắn đến trực tiếp từ lục địa Trung Hoa, một phần lớn ảnh hưởng c� thể đến xuy�n qua b�n tay thứ nh� hay thứ ba, từ Giao Chỉ v� Hải Nam, bằng ngả mậu dịch.� Ngược lại, ảnh hưởng của Ch�m tr�n Đại Việt xem ra cũng s�u xa hơn điều đ� được chấp nhận trước đ�y.� Sự kh�m ph� gần đ�y nhất c�c ho�ng cung của nh� L�, Trần, v� đầu nh� L� tại trung t�m H� Nội ph�t hiện c�c ảnh hưởng mạnh mẽ của nghệ thuật v� kiến tr�c Ch�m, l�m li�n tưởng đến c�c sự tương t�c thường xuy�n v� s�u rộng giữa hai b�n. 65

 

 

Một Bản Đồ Nh�n Chủng Kh�c Biệt

�� ����

���� Cuộc thảo luận b�n tr�n n�u l�n c�u hỏi về c�c d�n tộc sinh sống quanh Vịnh Bắc Việt trong giai đoạn n�y.� Ch�u thổ s�ng Hồng được xem l� đ�ng nhất chủng tộc Việt Nam trong suốt lịch sử Đại Việt, một điều g� đ� gần như độc nhất trong số mọi xứ sở ở Đ�ng Nam �.� Điều n�y nhiều phần l� trường hợp sau thế kỷ thứ mười lăm, nhưng quyển Việt Sử Lược, được bi�n soạn trong thế kỷ thứ mười ba, tiết lộ rằng cho m�i đến năm 1206, phần lớn khu duy�n hải nằm dưới quyền c�c thủ lĩnh địa phương.� Một số trong họ được ghi ch�p như người �Liao� trong tiếng Trung Hoa, c� thể để chỉ l� �L�o� hay nh�m chủng tộc kh�c.� Trong bất kỳ trường hợp n�o, họ kh�ng phải l� người Việt. 66 Tọa lạc trong số c�c d�n tộc kh�c nhau dọc c�c khu vực bi�n giới Trung Hoa-Việt Nam, người Việt hẳn phải trải qua sự hợp chủng vừa s�u vư� rộng khắp.� C�c sự quan hệ� v� tương t�c n�y kh�ng c� thể bị t�m lược v�o khu�n mẫu d�n tộc t�nh qu� đơn giản như �Việt� hay �H�n�, để đối diện với c�c d�n tộc miền n�i, nhưng phải nảy sinh từ một tiến tr�nh l�u d�i của sự tương li�n v� hấp thụ th�m s�u, sau đ� c�c c� t�nh bền bỉ v� rắn chắc hơn mới được th�nh h�nh trong thời kỳ hiện đại.

 

���� Một nửa d�n số tại Đại Việt trong thế kỷ thứ mười hai đến từ miền nam Trung Hoa, theo nguồn t�i liệu đương đại, Lingwai daida; chắc chắn c� sự ph�ng đại trong lời tuy�n bố n�y, nhưng n� c� chứa đựng một số th�nh phần ch�n l� n�o đ�.� Tương tự, một nguồn t�i liệu quan trọng kh�c về sắc d�n Dan [?] (rải r�c tại miền nam Trung Hoa) c� nguồn gốc Giao Chỉ, theo một văn bản được bi�n soạn thời nh� Thanh.� Họ chắc chắn được tường thuật trong c�c nguồn t�i liệu thế kỷ thứ mười hai l� sắc d�n �Giao Chi Dan: Jiaozhi Dan [?]�.� Một c�ch điển h�nh, sống tr�n mặt nước, họ đến Qinzhou với c� v� c�c hải sản để trao đổi lấy gạo v� vải v�c. 67 Điều kh�ng r� l� liệu họ c� phải l� c�ng sắc d�n được m� tả trong bộ địa phương ch� Việt Nam hồi thế kỷ thứ mười ch�n, bộ Đại Nam Nhất Thống Ch�, l� những người đ� di chuyển từ hải đảo v�o v�ng Ch�u Thổ s�ng Hồng v� sống bằng nghề đ�nh c� v� l�m muối.� Bởi những người n�y kh�ng n�i tiếng Việt Nam một c�ch r� r�ng, ng�n ngữ của họ được đề cập như �tiếng v�ng bể� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (ng�n ngữ v�ng biển). 68 Một số người trong họ xem ra đ� di chuyển đến v�ng duy�n hải miền nam Trung Hoa, trở th�nh hay gia nhập người Dan [?].� Ch�nh trong số c�c ngư phủ n�y, Mạc Đăng Dung, người s�ng lập triều đại nh� mạc tại Đại Việt hồi thế kỷ thứ mười s�u, đ� được nu�i dưỡng v� sau n�y vươn l�n nắm giữ quyền lực.� �ng đến từ Hải Dương, nhưng tổ ti�n của �ng l� d�n Dan [?] từ Quảng Đ�ng. 69

 

���� Sự hợp chủng s�u xa v� t�i diễn nhiều lần tạo th�m sinh kh� cho nh� L� v� nh� Trần.� Như tại phần lớn v�ng đất kh�c của Đ�ng Nam �, c� một sự khan hiếm nh�n lực đ�ng kể tại Giao Chỉ cho đến giữa thế kỷ thứ mười bốn.� Người Trung Hoa bị mua l�m n� lệ, như ghi nhận b�n tr�n.� Qu�n du thủ tại Quảng T�y cũng thường cướp b�c d�n ch�ng địa phương � c�c kẻ c� thể l� người N�ng (tức người Choang (Zhuang) tại Trung Hoa) hay nh�m chủng tộc kh�c trong v�ng � v� đem b�n họ cho Giao Chỉ. 70� H�n nh�n li�n chủng cũng xảy ra giữa người Việt v� người Hải Nam, như được cho thấy bởi thần thoại về nữ thần L� Mẫu kể ở tr�n.� Trước khi bước tới �Kỷ Nguy�n Thương Mại�. Giao Chỉ l� nơi đến được ưa chuộng nhất đối với c�c người tỵ nạn v� di d�n Trung Hoa.� Th� dụ khi qu�n M�ng Cổ x�m lăng Đại Việt, họ đ� bắt giữ hơn 400 người tỵ nạn l� c�c vi�n chức nh� Tống, v� thế chắc chắn c�n c� nhiều thường d�n Trung Hoa hơn nữa.� Người Ch�m v� L�o cũng c� thể c� một sự hiện diện đ�ng đảo tại Đại Việt, dẫn đến việc nh� Trần ban bố nhiều lần c�c sắc dụ ngăn cấm sự ph�t �m tiếng Ch�m v� tiếng L�o, c�ng với việc mặc quần �o theo kiểu Trung Hoa. 71

 

���� B�i mậu dịch ở Qinzhou cũng l� địa điểm từ đ� ho�ng tộc nh� Trần mở đường v�o Việt Nam, theo một thần thoại thời nh� Tống.� C�u chuyện n�i rằng vị vua đầu ti�n nh� Trần l� một người đến từ v�ng Changle, tỉnh Ph�c Ch�u, kẻ đ�nh bạc mất hết của cải của gia đ�nh v� đi lang thang đến khu vực Qinzhou.� Bởi c�c nh� qu� tộc của Việt Nam thường đến đ�y để mua b�n, anh ta đ� gặp c� ch�u g�i của vị ho�ng đế, kẻ đ� ngả l�ng y�u v� lấy anh ta.� Trong khi c�u chuyện n�y nghe giống như một truyện thần ti�n, n� x�c nhận sự tường thuật của c�c bi�n ni�n sử Việt Nam về nguồn gốc chủng tộc của gia tộc nh� Trần, theo đ� vị ho�ng đế đầu ti�n l� hậu duệ đời thứ tư của c�c người di d�n đến từ Ph�c Kiến. 72 N� cũng chứng thực bằng cớ từ quyển Lingwai daida rằng mậu dịch thực hiện tại khu vực Qinzhou li�n hệ đến khối lượng tiền của to lớn v� rằng giới thượng lưu Việt Nam c� tham dự v�o trong đ�.

 

���� Căn cơ Trung Hoa nguy�n thủy của nh� Trần l� điều được hay biết rộng r�i v� nh�n nhận một c�ch c�ng khai bởi c�c nh� ch�p sử người Việt trong bộ To�n Thư.�� C�u hỏi l�, gia tộc nh� Trần đ� vươn l�n một c�ch c� biệt v� ngẫu nhi�n, như được hiểu cho đến nay, hay họ đ� dựa tr�n ch�nh mạng lưới c�c đồng minh của ri�ng họ?� Nếu ở v�o trường hợp kể sau, đ� l� những loại đồng minh n�o?� C�c học giả đ� đồng � rằng sự linh động của c�c hệ thống ch�nh trị v� x� hội đ� phụ lực cho sự trổi dậy của nh� Trần.� Ch�ng ta cũng nh�n thấy rằng một nh� l�nh đạo th�nh c�ng ở Đ�ng Nam � l� kẻ đ� vươn cao từ một nh�m c�c thủ lĩnh cạnh tranh nhau hay c�c kẻ thuộc giới thượng lưu đặt căn bản tr�n đất đai, mỗi người đều c� một mạng lưới c�c đồng minh của ch�nh m�nh.� Trong bối cảnh n�y, điều đ�ng n�u c�u hỏi l� liệu v�ng mậu dịch Vịnh Bắc Việt c� cung cấp một đấu trường trong đ� nh� Trần c� thể nổi dậy một c�ch th�nh c�ng l�n tr�n c�c kẻ cạnh tranh hay kh�ng.� C� vẻ sự việc l� như thế. 73 C�c học giả người Việt Nam gần đ�y c� vạch ra rằng căn bản kinh tế của gia tộc� nh� Trần, bao g�m ngư v� n�ng nghiệp, đ� gi�p n� đoạt được ng�i vua. 74� Quan điểm n�y nh�n nhận rằng c�c l�nh vực kinh tế kh�c hơn c�ng nghiệp đ� tham dự v�o việc định h�nh lịch sử Việt Nam, cũng như nhấn mạnh đến vai tr� sinh tử của biển trong sự nổi dậy của nh� Trần.� Đặt triều đại của họ v�o lại căn bản lịch sử của n�, ch�ng ta t�m thấy một gia đ�nh con ch�u người Ph�c Kiến kiếm sống từ biển v� đ� kết h�n c�ng với ho�ng gia nh� L� nhờ ở sự gi�u c� của họ.� Đ�y l� khu�n mẫu th�ng thường trong lịch sử của c�c xứ sở kh�c ở Đ�ng Nam �.� Đặt nh� Trần v�o trong khung cảnh ch�nh trị của họ cũng nhắc nhở ch�ng ta về tổ ti�n Trung Hoa của Trần Quốc Tuấn, một anh h�ng d�n tộc h�ng đầu của Việt Nam, được đề cập như �người Cha� trong một bản d�n ca Việt Nam. 75 Tất cả điều n�y gi�p thu hồi được c�c cảm nghĩ bị c�m lặng về nơi chốn v� gốc g�c l�m phức tạp v� ph� hủy c�u chuyện trắng đen đơn giản của lịch sử mang nặng chủ nghĩa d�n tộc.

 

 

Kết Luận

 

���� Cuộc thảo luận tr�n n�u ra nhiều c�u hỏi hơn l� c�u trả lời ở một mức độ l�m thỏa m�n được c�c học giả sắc b�n.� Trong khi c�i nh�n của ch�ng t�i từ biển v�o ph�ng chiếu ra sự ngờ vực nghi�m trọng về m� thức n�ng nghiệp Trung Hoa tr�n nền kinh tế ch�nh trị v� t�nh trạng chủng tộc của Việt Nam thủa ban đầu, v� đ� đẩy Đại Việt lại gần hơn phần c�n lại của Đ�ng Nam �, điều m� ch�ng ta nh�n thấy kh�ng g� kh�c hơn c�c điểm chấm ph� đứt đoạn tr�n bờ biển, chứ kh�ng phải l� một cấu tr�c h�an chỉnh.� Ch�ng ta nh�n thấy c�c d�y li�n kết trải d�i từ bờ biển n�y đến bờ biển kia tại Vịnh Bắc Việt, cũng như giữa Vịnh v� quần đảo v� xa hơn nữa, song ch�ng ta hiểu biết một ch�t điều qu� b�u ở tr�nh độ trung gian � về việc l�m thế n�o m� sự sản xuất đồ gốm đ� được tổ chức, mối quan hệ của n� với sự vươn l�n của một thị trường đại ch�ng v� sự sụp đổ của khu mậu dịch c� thời thịnh đạt n�y.

 

���� Song c�i nh�n từ biển v�o hữu dụng trong việc ph� bỏ c�c bi�n cương.� Sự thiết lập c�c bi�n giới hiện đại v� nền học thuật mang nặng chủ nghĩa d�n tộc ch� t�m v�o c�c phần ri�ng biệt v� được x�c định r� rệt trong c�c lịch sử quốc gia (chẳng hạn như thời nh� Đường, nh� Tống, v� nh� Minh) hay về c�c thực thể c� biệt như Trung Hoa, Việt Nam, Ch�m v.v� đ� để lại cho ch�ng ta một Giao Chỉ Dương, n�i theo ph�p ẩn dụ, như một tảng băng ki�n cố dầy đặc.� Điều trở n�n kh� tưởng tượng rằng những thực thể mang vẻ ri�ng biệt n�y, trước khi tr�i giạt xa nhau, đ� ph�t sinh từ c�ng một giải băng h� hay một phiến đ�, v� v� thế đ� li�n kết với nhau từ l�c sinh ra.� Một c�i nh�n từ biển, như được ph�c họa nơi đ�y, ph�t hiện rằng l�m sao m� c�c lịch sử d�n tộc lại c� thể che dấu đi c�c động lực to�n v�ng tr�n đ� c�c quốc gia đ� được th�nh lập sau n�y./- ������

 

_____

 

 

CH� TH�CH:

 

1.      Để c� một c�i nh�n t�i x�t c� hệ thống về vị thế của Đại Việt thủa ban đầu ra sao trong c�c mạng lưới mậu dịch v�ng Biển Nam Hải, xem b�i của Momoki Shiro, �Đại Việt v� Mậu Dịch v�ng Biển Nam Hải từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 15�, Crossroads, 12, 1 (1998): 1-34; v� của Christopher Goscha, �The Borders of Vietnam�s Early Wartime Trade with Southern China; A Contemporay Perspective�, Asian Survey, 40, 6 (2000); 987-1018. Một lập luận h�ng biện về tầm quan trọng của biển được t�m thấy trong b�i của Charles Wheeler, trong c�ng số tạp ch� n�y.

 

2.      Dưới đ�y l� sự nguy hiểm của đường biển tại Vịnh Bắc Việt dưới mắt nh�n của Cao Biền (Gao Pian): ��ng phải vứt bỏ niềm hy vọng sống s�t trở về, ngay khi �ng vừa bước ch�n l�n thuyền [tại khu n�y]; �Gao Pian kai hailo�, của Sun Guangxian, Beimeng suoyan, được thu thập trong quyển Congshu jicheng chubian (Shanghai: Shangwu, 1936), quyển 2, trang 9.� Về M� Viện, xem �Tianwei jịngxinzao haipai pei�, của Phan Văn c�c v� Claudine Salmon, trong quyển Epigraphie en chinois du Viet nam: Văn khắc H�n N�m Việt Nam (Paris and Hanoi: �cole Francaise d�Extr�me orient and Viện Nghi�n Cứu H�n N�m, 1998), c�c trang 33-40.

 

3.      Ouyang Xiu v� c�c t�c giả kh�c, T�n Đường thư (Xin Tangshu) (Beijing: Zhonghua Shulu, 1975), quyển 43, c�c trang 1151-2.� Maspero nghĩ rằng đường tr�n đất liền đi ngang qua Đ�o Keo Nua [?] sang L�o, trong khi Đ�o Duy Anh tin rằng nhiều phần từ khu vực Quỳ Hợp; Quỳ Hợp l� điểm tiếp x�c quan trọng nhất giữa Việt Nam v� L�o qua nhiều thế kỷ.� Xem Đ�o Duy Anh, Đất Nước Việt Nam Qua C�c Đời (H� Nội: Khoa Học X� Hội, 1964), trang 198.� C�c li�n hệ với Trung Hoa của miền Trung Việt Nam th� s�u đậm đến nỗi t�c giả John Whitmore v� c�c học giả kh�c nghĩ rằng đ� khởi dậy một văn h�a mở rộng cửa cho thế giới Trung Hoa hơn l� v�ng kinh đ� (Whitmore, �The Rise of The Coast�, trong c�ng số tạp ch� n�y).

 

4.      Roderich Ptak, �Jottings on Chinese sailing routes to Southeast Asia, especially on Eastern Route in Ming times�, trong quyển China, The Portuguese, and The Nanyang (Aidershot, Hants: Ashgate, 2004), p. 109.� Một điều cần ghi nhớ về vị tr� của miền trung Việt Nam tr�n Con Đường ph�a T�y l� sự kiện rằng trong nỗ lực đầu ti�n của Đế Quốc La M� để thiết lập c�c sự tiếp x�c h�ng hải với Trung Hoa trong thế kỷ thứ nh� sau C�ng Nguy�n, c�c qu� tặng được gửi đến bởi c�c sứ giả của Ho�ng Đế Marcus Aurelius Antonious bao gồm �ng� voi, sừng t� gi�c v� mu r�a�, tất cả đều l� c�c sản vật ti�u biểu của miền trung Việt Nam v�o l�c đ�; Wang Gungwu, The Nanhai Trade: The Early History of Chinese Trade in the South China Sea (Singapore; Times Academic Press, 1998), trang 25.

 

5.      Kenneth Hall, Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia (Honolulu: University of Hawaii Press, 1985), trang 184; Hall ức đo�n rằng c�c nh� mậu dịch Việt Nam đ� d�ng con đường s�ng Cửu Long để đến Căm Bốt, từ Nghệ An xuy�n qua đ�o H� Trai [?] v� xu�i nam theo s�ng Cửu Long (trang 173).� Về việc triều cống, xem Momoki, �Đại việt�, trang 15.

 

6.      Đại Việt Sử K� To�n Thư (từ giờ trở đi viết tắt l� TT), do Trần K�nh H�a (Chen Chingho) bi�n tập (Tokyo: Keio University, 1984), Ngoại Kỷ, 1: 9b.� Tầm quan trọng của li�n hệ s�ng-biển của c�c miền bắc v� miền trung được hỗ trợ bởi c�c cuộc nghi�n cứu về lụch sử nh�n chủng Việt Nam.� Phần lớn c�c trung t�m mua b�n tr�u b� quan trọng đều tọa lạc tại Nghệ An, v� chợ lớn nhất v�ng nằm ở quận Nghi Lộc, gần Vinh, tỉnh lỵ.� Tr�u b� c� vẻ đ� được chở bằng thuyền buồm từ L�o tr�n con s�ng Cả đến chợ tr�n bờ biển trước khi được vận tải về Ch�u Thổ s�ng Hồng.� C�c thuyền buồm mang trở về c�c b�nh đất nung lớn, được sản xuất tại v�ng Ch�u Thổ; Nguyễn Đức Nghinh, �Markets and Villages�, trong quyển The Traditional Village in Vietnam [L�ng Truyền Thống tại Việt Nam?], bi�n tập bởi Phan Huy L� (H� Nội: thế Giới, 1993), c�c trang 324-5.

 

7.      Wang, Nanhai Trade, c�c trang 4-5, 12, 21.

 

8.      Một sự thảo luận chi tiết về c�c nguồn t�i liệu chữ H�n ch�nh yếu tr�n đề t�i n�y ở trong b�i của Li Tana, �The Rise and Fall of the Jiaozhi Ocean�, tham luận tại kỳ hội thảo quốc tế về Kh�ng Gian H�ng Hải Trong C�c Nguồn T�i Liệu Trung Hoa Cổ Xưa (Maritime Space in Traditional Chinese Sources, Munich, 25-26 February 2005.� Sự chỉ dẫn r� r�ng nhất về vị tr� của Giao Chỉ Dương được t�m thấy quyền Lingwai daida: �Con Đường [đến Trung Hoa] từ Srivijaya đi theo hướng Bắc-Bắc, chạy qua c�c đảo Thương v� Hạ Zhu v� Giao [chỉ] Dương.� Những người đến Quảng Ch�u sẽ tiến v�o qua ng� Tunmen, v� những kẻ đi dến Quanzhou (Tuyền Ch�u?) sẽ theo ng� Jiazimen�; Zou Qufei, Lingwai daida (Beijing: Zhonghua Shuju, 1998, trang 126.� Ngoại diện của ch�nh từ ngữ hậu thuẫn cho lập luận trung t�m của Whitmore trong b�i nghi�n cứu của �ng �Sự Trổi Dậy Của V�ng Duy�n Hải: The Rise of the Coast� rằng nước Đai Việt thời nh� L�, cũng như Angkor v� Pagan, đ� hướng đến v�ng thượng nguồn trong l�nh thổ của n� cho m�i đến thế kỷ thứ mười ba, khi c�ng cuộc mậu dịch của nh� Tống dẫn đến một sự di chuyển ra bờ biển v� sự thay đổi quan trọng tại quốc gia Việt Nam.

 

9.      Fan Chengda, Guihai yuheng zhi jiaobu, bi�n tập bởi Qi Zhiping (Nanning: Guangxi Minzu Chubanshe, 1984), trang 53.

 

10.  Zhou, Lingwai daida, trang 270; Zhao Rukua, Zhufanzhi (Hongkong: Hong Kong Univerdity Press, 2000), trang 3.

 

11.  TT, Bản Kỷ, 3: 13a; tất cả c�c sự tham chiếu kế tiếp từ quyển ni�n sử n�y đều thuộc phần Bản Kỷ, trừ khi được ghi nận một c�ch kh�c.

 

12.  Muốn c� c�c th� dụ về tương giao giữa Trung Hoa v� Đại Việt, xem Xu zzizhi tongjian changbien, trong Wenyuan ge siku quanshu, History 160, quyển 9 (Taipei: Shangwu press, 1982, s�ch in lại); v� Xu Song, Song huiyao jiyao (Beijing: Zhonghua Shuju, 1957, s�ch in lại), cho c�c năm 1059, 1070, 1084 v� 1086.� C�c người n� lệ Trung Hoa trong qu�n đội Việt Nam được đề cập trong Xu zizhi, quyển 349, năm 1089.

 

13.  James K. Chin, �Ports, Merchants, Chieftains and Eunuchs�, trong quyển Guangdong Archaeology and Early Texts, bi�n tập bởi Sging Muller v� c�c t�c giả kh�c (Wiesbaden: Harrassowitz, 2004), trang 228.

 

14.  Th� dụ xem George Co�des, The Indianized States of Southeast Asia, bi�n tập bởi Walter F. Vella v� phi�n dịch bởi Susan Brown Cowing (Honolulu: East-West Center Press, 1968), trang 44; v� D. G. E. Hall, A History of Southeast Asia, ấn bản lần thứ 3 (London: Macmillan, 1968), trang 30.� Một t�c phẩm ngoại lệ của George Maspero, Le Royaume de Champa (Paris and Brussels: G. Vanoest, 1928), trang 55.� C�u chuyện của Fan Wen (Phạm Văn) được ghi trong Shujing zhu (Shanghai: Shangwu, 1936), quyển 36.

 

15.  Zhou, Lingwai, quyển 2, trang 57.

 

16.  Wang Gungwu, Nanhai Trade, c�c trang 19-20, c� đề cập đến phẩm chất của ngọc trai.� Rằng c�c việc ngọc trai to lớn đến từ những nơi b�n ngo�i Vịnh Bắc Việt cũng được tr�nh b�y trong c�c bi�n ni�n sử của Việt Nam, trong đ� c� ghi rằng trong năm 1066 một thương nh�n người Java c� mang đến �một vi�n ngọc s�ng rực l�n trong đ�m tối� (dạ quang ch�u trong tiếng H�n) v� rằng triều đ�nh nh� L� đ� trả v�i x�u chu�i 10,000 đồng để mua vi�n tr�n ch�u n�y (TT, 3: 4a).� Sự kiện n�y hẳn đ� kh�ch lệ nhiều thương nh�n hơn nữa đến mua b�n trong khu vực. �

��

17.  Song huiyao jigao, quyển 8116, trang 1; Dongxi yangbao (Beijing: Zhonghua Shuju, 1981), trang 15.� Ngựa chắc hẳn phải c� nhiều tại Giao Chỉ nếu cả người d�n thường cũng d�ng ch�ng để di chuyển.� Trong năm 1128 triều đ�nh nh� L� c� ban dụ cấm d�n ch�ng cỡi ngựa, như một cử chỉ để quốc tang cho vị Ho�ng Đế vừa từ trần, L� Nh�n T�ng; Việt Sử Lược (Yue Shilue) (từ giờ trở đi viết tắt l� VSL), 3: 1a, trong Congshu Jicheng (Shanghai: Shangwu: Yinshuguan, 1936), trang 47.

 

18.  C�c con ngựa đ� l� một phương tiện để trả thuế tại c�c huyện dọc theo bi�n giới Hoa-Việt; Gu Zuyu, Dushi fangyu jiyao (Beijing: Zhonghua Shuju, 1955, in lại), quyển 111, c�c trang 4513, 4527.

 

19.  Kim Hoa Bộ [?] tức huyện Quảng Uy�n [?] ng�y nay tại tỉnh Cao Bằng, trong khi Vi Long Ch�u l� huyện Chi�m H�a ng�y nay tại tỉnh Tuy�n Quang; vị tr� của Do Lang [Đ� Lương?] kh�ng r� ở đ�u (Đ�o Duy Anh, Đất Nước Việt Nam, c�c trang 92 v� 189).� Biến cố năm 1012 ghi trong TT, 2: 6a; về cuộc đột k�ch năm 1008, xem VSL, 1: 22a.� Một sự tham chiếu kh�c c� ghi rằng trong năm 1006, ch�u Vị Long c� d�ng tặng một con lừa m�u trắng l�n vua L� Ngọa Triều (TT, 1: 28b).

 

20.  Một v�i trường hợp c�c c�ng ch�a nh� L� gả cho c�c thổ t� ch�u Vị Long được n�i tới: 1036 (TT, 2: 24b), 1082 (TT, 3: 11a) v� 1180 (VSL, 3: 10a).� Cũng xem, C�c and Salmon, �pigraphie en chinois, trang 93.

 

21.  Lingwai daida, quyển 10 (Man su), trang 416.

 

22.  Whitmore, �Rise of the Coast��; xem VSL, 3: 17b về Đại Ho�ng [?] (ph�a t�y Nam Định v� ph�a bắc Ninh B�nh) v� 3: 18b về Đằng ch�u v� Kho�i ch�u (Hưng Y�n).� Về vị tr� của c�c khu vực n�y, xem Đ�o Duy Anh, Đất Nước Việt Nam, c�c trang 91-3.

 

23.  Ch�nh s�ch của Li Zhou được đề cập tới trong TT, Ngoại Kỷ, 5: 8b-9a.� Cũng xem Keith Taylor. The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), c�c trang 240-1; Edward Schafer, The Vermillion Bird (Berkeley: University of California Press, 1967), trang 67; v� John K. Whitmore, �Colliding peoples: Tai/Viet Interactions in the 14th and 15th centuries�, tham luận tr�nh b�y tại Association of Asian Studies, San Diego, 2000.� C�c con đường v� khoảng c�ch chi tiết của mỗi nơi giữa An Nam v� V�n Nam được ghi trong Man Thư (s�ch về giống d�n man rợ ở phương nam).� Fan Chuo, t�c giả quyển s�ch, cũng l� một quan chức tại An Nam Đ� Hộ Phủ đ� mất to�n thể gia đ�nh trong cuộc tấn c�ng Nam Chiếu năm 863; Fan Chuo, Manshu (Beijing: Zhonghua Shuju, 1962), c�c trang 1-10.

 

24.  Song huiyao jigao, trang 7735.

 

25.  TT, 3: 4a.

 

26.  Wang, Nanhai Trade, trang 30.

 

27.  TT, Ngoại Kỷ, 3: 10a-b.

 

28.  Bức thư năm 1267 c� trong s�ch của L� Trắc, An Nam Ch� Lược [Lịch Sử T�m Luợc Của An Nam] (Huế: Viện Đại Học Huế, 1961), quyển 1, trang 33; sự trao đổi năm 1268 trong Nguy�n Sử (Yuanshi; Sử nh� Nguy�n] (Beijing: Zhonghua Shuju, 1976), quyển 209, c�c trang 4635-6.� Từ ngữ �Hồi Hồ hay Hồi Hột [?]� trong hầu hết c�c t�i liệu chữ H�n để chỉ vương quốc v� sắc d�n Uighur [Duy Ng� Nhĩ?] tại v�ng T�n Cương ng�y nay, nằm tr�n Con Đường Tơ Lụa.� Tuy thế, một cuộc truy tầm s�u rộng tuyển tập Siku Quanshu cho thấy nhiều nguồn t�i liệu từ thời nh� Nguy�n [M�ng Cổ], từ ngữ n�y đặc biệt để chỉ c�c thưong nh�n theo Hồi Gi�o đến từ v�ng Trung Đ�ng; đ�y ch�nh l� l�c m� từ ngừ �Huiho: Hồi Hồ� đ� xuất hiện nhiều lần trong c�c t�i liệu về Việt Nam. �Haihu [sic, phải l� Huihu?]� c� thể l� người Uighur, người Khorezm hay người Thổ theo Hồi Gi�o v� c�c d�n kh�c đến từ v�ng Trung Đ�ng; t�i xin c�m ơn Igor de Rachewiltz, một học giả c� thẩm quyền về lịch sử nh� Nguy�n, về sự gi�o đỡ của �ng về từ ngữ n�y.

 

29.  �(Trong năm 1274), người Tống sang Đại Việt.� Họ đến trong 30 chiếc thuyền chuy�n chở bảo vật v� gia đ�nh của họ v� được ph�p định cư tại Phố Tu�n Phương, Thăng Long.� Họ tự gọi m�nh l� �Hồi K�� (�m tiếng H�n l� �huji: Con G� Trở Về).� Sở dĩ c� điều n�y v� ch�ng ta gọi nước Tống l� �K� Quốc� [�Jiguo: nước c� con g�], bởi v� họ c� đồ th�u v� thuốc để b�n v� họp th�nh chở� (TT, 5: 34a).� C�c nh� bi�n tập ấn bản năm 1993 tập bi�n ni�n sử n�y n�u � kiến rằng �Huji: Hồi k� phải l� �Huihu: Hồi Hột�, v� t�i [t�c giả] ho�n to�n đồng � với giả thuyết n�y; Đại Việt Sử K� To�n Thư, quyển II, (H� Nội: Khoa Học X� Hội, 1993), trang 39. (*c)

 

30.  TT, 5: 32a. C�c nh� vua triều L� trong thế kỷ thứ mười hai được ghi ch�p mặc tr�n th�n �o m�u v�ng v� phần b�n dưới m�u t�m, với tr�m bằng v�ng c�i tr�n t�c.� C�c đ�n �ng c�n lại mặc đồ đen, với tr�m c�i t�c bằng bạc hay sắt, trong khi c�c phụ nữ ưa th�ch mặc �o m�u xanh lục v� v�y đen; Fan, Guihai yuheng zhi, trang 52.� �o cho�ng m�u trắng trong khung cảnh n�y c� thể trong thực tế l� một y phục ho�n to�n kh�c lạ để đ�nh dấu dịp n�y.

 

31.  TT, 6: 19b (1304), 6: 27b (1311), 6: 1b (Trần Quang Khải), 7: 2a-b (Trần Nhật Duật).

 

32.  Fan, Guihai yuheng zhi, trang 10.

33.  C�u huyện về Li Mu l� của Liu Yi, trong tập Ping Li ji (Ghi Nhận về việc b�nh định d�n L�), được tr�ch dẫn trong Zhufanzhi buzhu [C�c ch� giải mới cho Zhufanzhi), bi�n tập bởi Han Zhenhua (Hongkong: Hong Kong University Press, 2000), trang 459; cũng xem Wang Shixing, Guangzhi yi (Notes on the Guang) (Beijing: Zhonghua Shuju, 1981, s�ch in lại), trang 104.� Theo một t�i liệu thời cuối thế kỷ thứ mười bẩy, �gỗ trầm sinh ra tại xứ Ch�m kh�ng tốt bằng gỗ trầm ở Ch�n Lạp, v� gỗ trầm của Ch�n Lạp kh�ng tốt bằng gỗ trầm tại khu d�n L� tr�n đảo Hải Nam.� Trong khu vực d�n L�, gỗ trầm tại ph�a đ�ng n�i L� Mẫu (Li Mu) c� phẩm chất tốt nhất tr�n to�n thế giới�; Zhou Jiazhou, Xiangcheng (Về Hương Liệu), được thu thập trong quyển Qianlu (Về Tiền Tệ) (Shanghai: Shanghai Guji Chubanshe, 1991), trang 356.

 

34.  Bi�n tập bởi �ng Han, Zhufanzhi, quyển 2, trang 443.� Gồ trầm từ Hải Nam thường được đổi lấy tr�u b� trong thời nh� Tống với tỷ số một dan [?] (60 kg) lấy một con (Fan, Guihai yuheng zhi, trang 10).� C�c du kh�ch từ Đại Việt đến Hải Nam được đề cập trong Qu Dajun, Guangdong xinyu (B�nh luận mới về Quảng Đ�ng) (Guangzhou: Guangdong Renmin Chubanshe, 1991), quyển 8, trang 242.

 

35.  Zhou, Lingwai daida, c�c trang 196-7.

 

36.  Về c�c nh� mậu dịch Hồi Gi�o, xem Pierre-Yves Manguin, �The Introduction of Islam into Campa�, Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society, 58, 1 (1995): 1.� Điều kh�ng r� rệt l� c�c thương nh�n �Ch�m� được đề cập trong bối cảnh Trung Hoa kh�c biệt đến mức độ n�o so với c�c nh�m từ Ba Tư v� Ả Rập.� C� hai fanfang [? phường d�nh cho ngoại kiều cư tr�, ch� của người dịch] tại Yaizhou.� Trong Yaizhou zhi [Địa Phương Ch� về Nhai Ch�u) ch�ng ta thấy nhận x�t rằng �người d�n địa phương ở đ�y c� gốc g�c từ xứ Ch�m.� Họ đến dưới c�c thời nh� Tống v� nh� Nguy�n bằng thuyền v� đ� định cư dọc bờ biển, [c�c nơi định cư của họ được gọi l� �fancun� [?] v� �fanpu�[?]; Yaizhou zhi, quyển 8, trong Gugong zhenben congkan (Taipei: Palace Museum, 2001), quyển 194, trang 136.

 

37.  Roderich Ptak, �Hainan�s Position in Maritime Trade, c. 1000 to 1550�, tham luận tr�nh b�y tại hội nghị về Trung Hoa v� Đ�ng Nam �: The Changing Links Through History, Centre of Asian Studies, University of Hong Kong, 19-21 July 2001.

38.  Manguin, �Introduction of Islam�, trang 3; về phả hệ của Pu, xem Luo Xianglin, Pu Shougeng zhuan [A Biography of Pu Shougeng) (Taipei: Zhonghua Wenhua Chuban Shiye Weiyuanhui, 1965), c�c trang 2-3.

 

39.  Chang Pin-tsun, �The Formation of a Maritime Convention in Minnan (southern Fujian), c. 900-1200� trong tập �From Mediterraanean to the China Sea: Miscellaneous Notes,� bi�n tập bởi Claide Guillot, Denys Lombard v� Roderich Ptak (Wiesbaden: Harrassowitz, 1999), c�c trang 148-50, 153.� Nằm giừa xứ Ch�m v� bắc [?] Đại Việt, Nghệ An cũng c� thể c� c�c quan hệ mật thiết với cả Ch�m lẫn Hải Nam.� T�c giả Christopher Goscha b�o c�o rằng �cho đến ng�y nay, cộng đồng ngư phủ người Hải Nam sống tr�n đảo Bạch Long Vĩ (Bailongwei) tại vịnh Bắc Việt, giữa Hải Ph�ng v� Hải Nam, n�i tiếng Việt v� tiếp tục mua b�n với miền trung Việt Nam.� C�c nh� mậu dịch bằng thuyền buồm của Hải Nam từ lậu đặc biệt can dự v�o ng�nh bu�n b�n quế với miền trung Việt Nam�; xuy�n qua Nghệ An, mạng lưới của họ cũng mở rộng tới L�o.� Xem Christopher Goscha, �The Maritime Nature Of the Wars for Vietnam (1945-1075)�, tham luận tr�nh b�y tại The Fourth Triennial Vietnam Symposium, Texas Tech University, 11-13 April 2002.

 

40.  Hall, Maritime Trade, c�c trang 320-1.� Về Một sự ph� b�nh tuyệt hảo truyền thống sử k� theo Khổng học, xem Shawn McHale, �Texts and Bodies�: Refashioning the Disturbing Past of Tran Vietnam (1225-1400), Journal of Economic and Social History of the Orient, 42, 4 (1999): 495-516.

 

41.  C� k�m chữ H�n, được viết bởi (c� k�m chữ H�n) v� (c� k�m chữ H�n), Temasek (Tod�ys Singapore) được viết bởi (c� k�m chữ H�n).

 

42.  Thơ Văn L� Trần, quyển III (H� Nội: Khoa Học X� Hội, 1978), trang 245.

 

43.  L� Qu� Đ�n, V�n Đ�i Loại Ngữ (Classified alk from The Study) (S�ig�n: Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Tr�ch Văn H�a, 19720 1: 32a-b.� �ng Đ�n đang tr�ch dẫn Qu, Guangdong xinyu, trang 38.

 

44.  Feng Xianming, Zhongguo gutaoci wenxian jishi (Tuyển tập ch� giải c�c t�i liệu lịch sử về đồ gốm Trung Hoa cổ xưa), tập I (Taipei: Yishujia, 2000), trang 142, cho Guangxi.

 

45.  Ian Mabbett, �Buddhism in Champa�, trong quyển Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, bi�n tập bởi David marr v� Anthony C. Milner (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1986), trang 292.

 

46.  Whitmore, �Elephants can Actually Swim�, trong s�ch biện tập bởi David Marr and Milner, Southeast Asia �, tran 130; Momoki, �Đại Việt�, c�c trang 11-12.

 

47.  �Cuộc c�ch mạng thường mại� được thảo luận bởi Mrk Elvin trong quyển The Pattern of the Chinese Past (Stanford: Stanford University press, 1973); về s�ng Bạch Đằng, xem Đ�o Duy Anh, Đất Nước Việt Nam, trang 37.

 

48.  Victor Lieberman, Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830, quyển 1: Integration On the Mainland (Cambridge and new York: Cambridge University Press, 2003), trang 368, tr�ch dẫn một bản thảo chưa được ấn h�nh của Sakurai nhan đề �Vietnam after the Age of Commerce�.

 

49.  Roxanna Brown, The Ceramics of South-East Asia (Singapore: Oxford University Press, 1988), c�c trang 28-9; John Stevenson and John Guy, Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition (Chicago: Art Media Resources, 1997), trang 54.� C�c đồ gốm n�y được bảo tồn trong c�c sưu tập ho�ng gia c�ng với c�c đồ d�ng của Trung Hoa thời nh� Nguy�n v� đầu thời Minh, vốn tạo th�nh khối lượng lớn lao trong c�c sưu tập n�y.� Về G� Sanh, xem �Champa Ceramics Production and Trade � Excavation Report of the Go Sanh Kiln Sites in Central Vietnam, bi�n tập bởi Yogi Aoyagi v� Gakuji Hasebe (Tokyo: Study Group of Go Sanh in Central Vietnam, Tokyo University of Foreign Studies, 2002), c�c trang 8-9.� T�i xin c�m ơn t�c giả Momoki đ� lưu � t�i về nguồn t�i liệu n�y.

 

50.  Brown, Ceramics of South-East Asia, trang 23; Stevenson and Guy, Vietnamese Ceramics, trang 58.

 

51.  ACRO Update, bi�n tập bởi Hu Chuimei (Chicago, 1996), số 1, trang 3, được tr�ch dẫn trong s�ch n�u tr�n, trang 56; Geoff Wade, �On The Possible Cham Origin of the Philippine Scripts�, Journal of Southeast Asian Studies, 24, 1 (1993): 44-87.

 

52.  Nguyễn thừa Hỷ, Thăng Long � H� Nội, Thế Kỷ XVII � XVIII � XIX (Thăng Long - H� Nội from the 17th to 19th centuries) (H� Nộị: Hội Sử Học Việt Nam, 1993), c�c trang 230-48.� Cũng xem, văn khắc bia của c�c thương nh�n Hải Dương đặt trụ sở tại phố h�ng Đ�o, H� Nội, trong Tuyển tập văn Bia H� Nội (Collections of Inscriptions in Hanoi) (H� Nội: Khoa Học X� Hội, 1978), tập II, c�c trang 146-8.� Về phố h�ng Đồng v� h�ng Bạc, xem Nguyễn Vĩnh Ph�c v� Trần Huy B�, Đường Phố H� Nội (Hanoi Streets) (H� Nội: Nh� Xuất Bản H� Nội, 1979), c�c trang 135-9.� Gia đ�nh người thợ v�ng được đề cập trong một bản tường tr�nh tr�n băng tần truyền hinh Việt Nam số 3, ng�y 30 th�ng 4, năm 2004.

 

53.  Yuenan Lishi (Beijing: Renmin Chubanshe, 1977), trang 212.

 

54.  He Xiling v� c�c t�c giả kh�c, Daoguang Fuliang xianzhi (Địa phương Ch� huyện Fuliang, tỉnh Giang T�y), quyển 8, c�c trang 37-43, được tr�ch dẫn trong Zhongguo jindai shougongye ziliao (C�c nguồn t�i liệu ch�nh về lịch sử c�c ng�nh thủ c�ng nghệ tại Trung Quốc hiện đại), tập I (Shanghai: Sanlien Press, 1957), c�c trang 19-24.� Trong thời nh� Minh, Jingdezhen (Cảnh Đức Trấn), thủ đ� đồ gốm của Trung Hoa, được n�i l� c� cả gang trăm ng�n người l�m việc ng�y đ�m.� Hồi đầu thập ni�n 1990, tại Hải Dương, c�c học giả Việt Nam đ� khai quật một khu vực rộng 40,000 m�t vu�ng với chiều s�u xuống 2 m�t, nơi họ t�m thấy hơn 100 nền l� nung với h�ng chục ngh�n c�c chế tạo phẩm qu� gi�.� Tại một l�ng kh�c gần đ�, họ t�m thấy c�c mảnh đồ gốm c�n lại tr�n một khu vực d�i 1500 m�t v� s�u xuống 2 thước, nơi ph�t triển dưới thời nh� Trần v� đầu thời L� như một trung t�m đồ gốm; Vũ Ngọc Kh�nh, L�ng Cổ Truyền Việt Nam (Ancient Vietnamese Villages) (H� Nội; Thanh Ni�n, 2004), c�c trang 227-8.� Ng�i l�ng ng�y nay chỉ c�n sản xuất gạo v� kỹ thuật chế tạo đồ gốm đ� thất truyền trong nhiều thế kỷ (trang 232).

� �

55.  Về c�c đền ch�a, xem Đỗ Văn Ninh, Huyện Đảo V�n Đồn (Mysterious V�n Đồn Island) (V�n Đồn: Ủy Ban Nh�n D�n Huyện, 1997), c�c trang 177-99.� c�c đồ gốm t�m thấy trong một chiếc thuyền bị đắm ở Hội An ngo�i khơi C� lao Ch�m được tin l� từ Chu Đậu, được vận tải bởi c�c thuyền đi s�ng đến V�n Đồn hay một v�i hải cảng thuộc vịnh Bắc Việt, sau đ� được chuyển sang c�c thuyền buồm đi biển đang chờ đợi; A Sunken Ship at Hội An: Treasures from the Hội An Hoard (Butterfield, 2000), trang x.

 

56.  Momoki, �Đại Việt ��, c�c trang 2-3.

 

57.  Kishimoto Mio, �The Nanhai Trade and the Structure of the Qing Economy During The 18th Century�, Bi�n bản kỳ Hội Nghị Lần thứ 13 của Hiệp Hội Quốc Tế c�c Nh� Sử Học về � Ch�u, 1994, trang 2.

58.  Wang, Nanhai Trade, c�c trang 48-53.

 

59.  T�i cảm ơn t�c giả Victor Lieberman (th�ng tin c� nh�n) về việc l�m nổi bật điểm quan trọng n�y; về vai tr� kinh tế của c�c ng�i ch�a xem t�c phẩm của �ng, Strange Parallels, c�c trang 95-6; v� Richard O�Connor, �Sukhothai: Rule, Religion and Elite Rivalry�, trong tập The Ram Khamhaeng Controversy, bi�n tập bởi James Chamberlain (Bangkok: Siam Society, 1991), c�c trang 288-91.

 

60.  H� Văn Tấn, Nguyễn Văn Kư, v� Phạm Ngọc Long, Ch�a Việt Nam (Buddhist Temples) (H� Nội: Social Sciences Publishing House, 1993), c�c trang 206-19 (Tr�c L�m) v� 110 (Quỳnh L�m).� Trong năm 1329 kh�ng th�i, c�c danh gia nh� Trần đ� đ�c 1300 tượng Phật, v� trong năm 1324 họ c� đ�c 1000 tượng kh�c nữa; Khảo Cổ Học Việt Nam [Archaeology in Vietnam], bi�n tập bởi H� Văn Tấn, tập III (H� Nội: Khoa Học X� Hội, 2002), trang 150.

 

61.  Wang, Nanhai Trade, trang 48.

 

62.  Michael Vickery, �Cambodia and its neighbours in the 15th century�, Working Paper no. 27, Asia Research Institute, Singapore (2004), p. 6 (http://www.ari.nus.edu.sg/docs/wps/wps04_27.pdf); Mabbett, �Buddhism in Champa�, trang 304.

 

63.  Whitmore, �Rise of the coast�; sự m� tả về khu vực Thi�n Trường lấy từ L� Trắc, trong An Nam Ch� Lược, quyển 1, trang 19.� Về nguồn gốc duy�n hải nh� Trần, xem, th� dụ, TT, 6: 7a.

 

64.  Momoki Shiro, �A Short Introducion to Campa Studies�, trong tập The Dry Areas in Southeast Asia: Harsh or Benign Environment, bi�n tập bởi Fukui Hayao (Kyoto: Centre for Southeast Asian Studies, Kyoto University, 1999), trang 70.� Trong một khung cảnh Đ�ng Nam �, m� thức dọc theo s�ng nguy�n thủy đ� được �p dụng cho Srivijaya v� Champa; xem Hall, Maritime Trade, đặc biệt chương 4 v� c�c trang 190-3.

 

65.  Lieberman, Strange Parallels, trang 367, ghi nhận sự ch� � của triều đ�nh Việt đến c�c vị thần v� t�n ngưỡng kiểu Ấn Độ.� T�i c� được sự hiểu biết về khảo cổ học về Ch�m trong một cuộc thăm viếng hiện trường tại miền trung Việt Nam trong năm 1998 c�ng với một to�n nghi�n cứu được tổ chức bởi Gi�o Sư Fukui Hayao, người m� t�i tri �n nhất.� T�i cũng xin c�m ơn c�c �ng Momoki v� Nguyễn tiến Đ�ng [?] về sự soi s�ng của họ tr�n vấn đề n�y, v� Viện Khoa Học X� Hội Việt Nam về việc chấp thuận cho t�i thăm viếng một đia điểm khai quật tại H� Nội trong th�ng Năm năm 2004.

 

66.  C�c khu vực n�y nằm giữa c�c tỉnh Nam Định, Ninh B�nh v� Hưng Y�n ng�y nay; xem VSL, 3; 17b, 18b.

 

67.  Zhou, Lingwai daida, trang 196; Mao Qiling, Mansi hezhi [Một Tường Tr�nh Đầy Đủ Về C�c Sắc D�n Man Di v� C�c Định Chế của Họ], trong tập Siku quanshu cunnu congshu, History 227 (Taipei: Zhuangyan Wenhua Shiye, 1996), quyển 15, trang 698.

 

68.  Vũ Tư [?] Lập v� c�c t�c giả kh�c, Văn H�a v� Cư D�n Đồng Bằng S�ng Hồng [Culture and Inhabitants of the Red River Delta] (H� Nội; Khoa Học X� Hội, 1991), trang 160; Đại Nam Nhất Th�ng Ch� [Gazetteer of Đại Nam], tập III (Huế: Thuận H�a, 1992), trang 334.

 

69.  Yan Congjian, Shuyu zhouzi lu [Ghi Nhận Về C�c Nước Chung Quanh] (Beijing: Zhonghua Shuju, 1993, bản in lại), trang 223; tham chiếu sự ph�t biểu của Mạc Kinh Thư [?] gửi c�c vi�n chức nh� Thanh rằng �tổ ti�n t�i người l�ng Chaxiang, huyện Dongguan, tỉnh Quảng Đ�ng� (Beijing National Archives No. 1, tập 7775, số 25).

 

70.  Yaolu [Ghi Nhận Về Sắc D�n Yao], quyển 69, được tr�ch dẫn trong Gudai Zhong-Yue guanxishi ziliao xuanbian [C�c nguồn t�i liệu ch�nh về c�c quan hệ lịch sử Trung-Việt] (Beijing: Zhongguo Shehui Kexue Chubanshe, 1982), c�c trang 242-3.

 

71.  TT, 7: 41b; Lieberman, Strange Parallels, trang 362.� Cuộc x�m lăng của M�ng Cổ được ghi trong Yuanshi (Nguy�n Sử), �An Nam�, quyển 209.� Bức tranh đa chủng tộc n�y tương tự như h�nh ảnh ng�y nay tại Ch�u Thổ s�ng Cửu Long, nơi m� người d�n Việt Nam c�ng sinh sống với người Khmer, Cham, v� Trung Hoa, v� chia sẻ c�c vũ trụ quan văn h�a kh�c biệt nhau một c�ch đ�ng kể; Philip Taylor, �The Ethnicity of Efficacy: Vietnamese Goddess Worship and The Encoding of Popular Histories�, Asian Ethicity, 3, 2 (2002): 85 � 102.

 

72.  TT, 5: 1a; tha6`n thoại Trung Hoa được ghi trong tập Qidong yeyu, được tr�ch dẫn trong Gudai Zhong � Yue guanxishi, c�c trang 187 � 8.

 

73.  Whitmore (�Elephants Can Actually Swim�, trang 131) lập luận rằng �kh�ng c� g� ngạc nhi�n nếu nh� Trần đ� thu đoạt được từ c�ng cuộc mậu dịch trong miền v� li�n hệ của họ với Trung Hoa để vươn l�n nắm quyền. [Họ] đ� d�nh được lối nhập v�o kinh đ� xuy�n qua việc kết h�n với h�ang tộc.�

 

74.  Lịch Sử Việt Nam Thế Kỷ X � Đầu Thế Kỷ XV (H� Nội: Khoa Học X� Hội, 2002), c�c trang 212-13.

 

 

75.  C�u phong dao như sau: �Th�ng T�m giỗ cha, th�ng Ba giỗ me.� (tưởng nhớ đến Cha [Trần Hưng Đạo] trong th�ng T�m [�m lịch], v� Mẹ [b� Ch�a Liễu Hạnh] trong th�ng ba [�m lịch].

 

 

T�c giả Li Tana l�m việc nghi�n cứu tại School of Asian and Pacific Studies, Đại Học Quốc Gia Australian National University.

 

B�i viết n�y thu hoạch được từ hai cuộc hội thảo quốc tế: Southeast Asia in Maritime Perspective: The Sea as Centre (Đ�ng Nam � Trong C�ch Nh�n H�ng Hải; Biển Như l� Trung T�m), Center for Asian Studies, University of California, Irvine, 28-29 Feb. 2004; v� �Maritime Space in Traditional Chinese Sources� (Kh�ng Gian H�ng Hải trong C�c T�i liệu Trung Hoa Cổ Truyền), Institute of Sinology, Munich, 25-26 Feb. 2005.� T�i xin c�m ơn c�c t�c giả Charles Wheeler v� Roderich Ptak về việc cung cấp cho t�i cơ hội tr�nh b�y c�c � tưởng sơ lược của m�nh tại c�c cuộc hội thảo để c� phản hồi qu� b�u.� Một phần b�i viết n�y đ� được ấn h�nh bằng Nhật ngữ trong tạp ch� Toyoshi Kenkyu, 63, 3 (2004); t�i xin cảm ơn dịch gỉả Akinori Nakasuna về bản dịch của �ng v� sự kiểm tra kỹ lưỡng c�c nguồn t�i liệu nguy�n thủy.� T�i cũng xin cảm ơn c�c t�c giả Nola Cooke, Victor Lieberman, Bruce Lockhart v� David Marr về sự gi�p đỡ v� cho � kiến./-� �����������

 

_____

 

Nguồn: Li Tana, A View From The Sea: Perspectives On The Northern And Central Vietnamese Coast, Journal of Southeast Asian Studies, 37.1 (Feb. 2006), c�c trang 83-102 �

 

 

 

PHỤ CH� CỦA NGƯỜI DỊCH:

 

 

 

 

 

Ng� Bắc dịch

24/11/2008

 

                                                                                                                                              

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2008 gio-o