Julia Martinez

 

 

VIỆC MUA B�N GẠO

V� VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN

CỦA NGƯỜI HOA

TỪ HẢI CẢNG HẢI PH�NG, BẮC VIỆT

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời Người Dịch:

 

Đ�y l� b�i dịch thứ 3 trong loạt b�i nghi�n cứu về chủ đề S�ng Biển Trong Lich Sử Việt Nam lần lượt được đăng tải tr�n gio-o: 

 

1. Một Vai Tr� Hợp L� Của Biển Đối Với Lịch Sử Việt Nam? X� Hội Duy�n Hải Trong Thế Giới Mậu Dịch Của Hội An, thời khoảng 1550-1830, Charles Wheeler.

2. Sự Trổi Dậy Của Miền Duy�n Hải: Mậu Dịch, Quốc Gia v� Văn H�a Thời Ban Sơ Của Đại Việt, John K. Whitmore.

3. Việc Mua B�n Gạo V� Vận Tải Đường Biển Của Người Hoa Từ Hải Cảng Hải Ph�ng, Bắc Việt, Julia Martinez.

4. Một C�i Nh�n Từ Ngo�i Biển: Viễn Cảnh Về Bờ Biển Bắc V� Trung Phần Việt Nam Li Tana

5. Suy Nghĩ Lại Về Biển Trong Lịch Sử Việt Nam: X� Hội Duy�n Hải Trong Sự Thống Hợp Của Thuận-Quảng, Trong C�c Thế Kỷ 17 � 18, Charles Wheeler.

6. Người Ch�m Trong Hệ Thống H�ng Hải Đ�ng Nam �, Anthony Reid

7. �Đi Về Miền T�y� tại Nam Kỳ, C�c Hoạt Động Bất Hợp Ph�p Của Người Việt v� Người Hoa tại V�ng Transbassac (thời khoảng 1860-1920), Thomas Engelbert.

8. Đại Việt v� Mậu Dịch V�ng Biển Nam Hải từ Thế Kỷ Thư 10 đến Thế kỷ Thứ 15, Momoki Shiro.

9.  Ph� Nam, Ch�n Lạp, Ch�m v� C�c Đền Thờ Thi�n Hậu Trong Họat Động Mậu Dịch Đường Biển V� Sự Xuất Hiện C�c Th�nh Phố Duy�n Hải Tại Đ�ng Nam � (từ thế kỷ thứ 1 cho đến thế kỷ thứ 16, Johannes Widodo

10.  Một Sứ Bộ Đến Ph� Nam, Wang Gungwu.

11. C�c Suy Tưởng, Về � Niệm �Văn Minh S�ng Nước� V� Về Lịch Sử Ch�u Thổ S�ng Cửu Long,Nh�n Qua Một V�i Kh�a Cạnh Của Cuộc Định Cư tại X� S�c Sơn (1920-1945), Pascal Bourdeaux.

V�ng biển Đ�ng Hải với c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa l� một chuy�n đề đặc biệt sẽ được giới thiệu ri�ng biệt.

 

 

 


http://directrooms.com/vietnam/

 

 

 

���� B�i nghi�n cứu tổng qu�t n�y về c�ng việc mua b�n của người Trung Hoa tại miền Bắc Việt Nam nhằm khảo s�t vai tr� c�c nh� mậu dịch Trung Hoa tại đ�, đặc biệt tại Hải Ph�ng, v� c�c quan hệ của họ với Hồng K�ng v� miền nam Trung Hoa, trong suốt thế kỷ thứ mười ch�n v� đầu thế kỷ thứ hai mươi.� Sự nghi�n cứu cho thấy họ kh�ng bao giờ chỉ l� c�c trung gian mại bản ở thuộc địa m� l� c�c t�c nh�n kinh tế c� c�c mối r�ng buộc với c�c quyền lợi kinh doanh của Đức Quốc v� Anh Quốc, cũng như với Ph�p.� B�i viết n�y truy t�m những g� m� nhiều nguồn t�i liệu kh�c nhau c� thể cho ch�ng ta hay biết về lịch sử kinh doanh v� cộng đồng của họ, cũng như ph�t hiện c�c sự r�ng buộc kinh doanh phức tạp của c�c nh� xuất cảng gạo Trung Hoa với c�c c�ng ty chuyển vận đường biển của Đức Quốc, cho m�i đến tận Thế Chiến I.

 

 

Dẫn Nhập

 

���� C�c thương nh�n Trung Hoa khống chế ng�nh mua b�n gạo từ Đ�ng Kinh (Tonkin) (hay bắc Việt Nam ng�y nay) cả trước lẫn trong suốt thời thuộc địa Ph�p.� B�i viết n�y truy t�m vận mệnh của c�c thương nh�n l�a gạo người Trung Hoa tại hải cảng Hải Ph�ng ở miền bắc v� c�c quan hệ vận tải đường biển với Trung Hoa v� Hồng K�ng đ� hỗ trợ cho việc mua b�n gạo.� B�i viết tr�nh b�y một c�i nh�n tổng quan. dĩ nhi�n chỉ c� t�nh c�ch kh�i qu�t, với t�nh trạng thiếu s�t về cả c�c nguồn t�i liệu ch�nh y�u v� thứ yếu tr�n đề t�i n�y, nhưng nhắm v�o việc bổ t�c th�m một mảnh gh�p mới v�o việc chạm khảm hầu tạo th�nh bức tranh lịch sử của ch�ng ta về c�c mạng lưới phức tạp của c�ng cuộc mậu dịch của người Trung Hoa.� Trong c�c sự giải th�ch cổ điển về vai tr� của doanh nghiệp Trung Hoa tại Đ�ng Nam �, c�c học giả đ� n�i lớp người Trung Hoa trung gian hay �đứng giữa l�m m�i giới� phục vụ cho lớp thực d�n �u Ch�u, v� đ� lập luận rằng mối quan hệ dần dần bị ph� vỡ khi người �u Ch�u d�nh được đầu cầu vững chắc hơn tại c�c thuộc địa v� c�c � thức hệ b�i-Trung Hoa trở n�n r� rệt hơn.� Trong trường hợp Đ�ng Dương thuộc Ph�p, người Ph�p chắc chắn đ� dựa v�o người Trung Hoa trung gian, nhưng mối quan hệ kh�ng bao giờ chỉ c� một chiều như thế trong thực tế: một số người Ph�p tại Nam Kỳ (Cochinchina) hồi giữa thế kỷ thứ mười ch�n, th� dụ, đ� hoạt đ�ng vừa như một người hợp tư v� vừa như c�c kẻ trung gian hay c�c khu�n mặt c�ng khai cho c�c doanh nghiệp do Trung Hoa t�i trợ, 1 trong khi trong ng�nh bu�n b�n gạo ở Bắc Kỳ (Tonkin), bằng cớ của t�i cho thấy rằng người Trung Hoa mua b�n như c�c ngoại kiều với tư c�ch của ch�nh họ, �t c� sự li�n quan với người Ph�p.� Điều đ� kh�ng c� nghĩa rằng đ� kh�ng c� c�c m�c nối quan trọng với c�c doanh nghiệp thực d�n �u Ch�u, m� đ�ng hơn, bởi c�c sự xuất cảng của Bắc Kỳ ch�nh yếu l� xuất sang Hồng K�ng v� Trung Hoa, c�c sự cộng t�c kinh doanh như thế của Trung Hoa với c�c c�ng ty Ph�p nhiều phần giống y như l� đối với c�c c�ng ty của Anh Quốc hay Đức Quốc.

 

C�c Sự Khảo Cứu Lịch Sử Bắc Kỳ

 

���� C�c sự khảo cứu lịch sử về vai tr� của c�c nh� mậu dịch Trung Hoa tại bắc phần Việt Nam trong suốt thời kỳ thuộc Ph�p đ� bị che khuất bởi sự kiện rằng c�c quyền lợi thương mại v� sự di d�n Trung Hoa đ� được nhắm ch�nh yều đến Nam Kỳ v� Căm Bốt tại phia Nam v� �t nhắm hơn đến Trung Kỳ (An Nam) v� Bắc Kỳ ở ph�a bắc. 2 Trong sự khảo s�t tổng qu�t của �ng về người Trung Hoa tại Đ�ng Nam �, t�c giả Victor Purcell đ� xem nhẹ � nghĩa kinh tế của người Hoa tại bắc Việt Nam.� �ng c� tr�ch dẫn sử gia người Ph�p, Charles Robequain, người đ� lập luận rằng �d�n Bắc Kỳ� (Tonkinese) c� một �năng lực th�nh thạo thực sự về bu�n b�n v� c�ng nghiệp� v� rằng sự kiện n�y dần đến c�c cơ hội hạn chế cho di d�n người Hoa ở đ�.� Hơn nữa, t�c giả Purcell đ� lập luận đ�ng rằng miền bắc đ�ng d�n, chỉ một số thặng dư nhỏ về n�ng nghiệp v� do đ� một nền ngoại thương hạn hẹp, vốn l� �một trong c�c mối quan t�m lớn nhất của nguời Hoa�. 3 �Sự lượng định của Robequain dựa tr�n sự so s�nh của �ng giữa c�c miền bắc v� nam trong năm 1937, ghi nhận rằng đ� c� 171,000 người Trung Hoa tại Nam Kỳ v� v� chỉ c� 35,000 người tại Bắc Kỳ. 4 �ng so s�nh c�c th�nh phố miền nam gồm Chợ Lớn, S�ig�n v� Nam Vang (Phnom Penh) với số d�n Trung Hoa tổng gộp l� 106.000, với c�c th�nh phố miền bắc gồm Hải Ph�ng, H� Nội v� Nam Định chỉ c� 20,000 người.� Về mặt c�c cơ hội mậu dich bị hạn chế, r� r�ng l� khối lượng mua b�n tại miền nam th� lớn hơn.� C�c sự xuất cảng gạo từ hải cảng Hải Ph�ng, vốn l� hải cảng chinh của Bắc Kỳ trong giai đoạn n�y, hiếm khi n�o vượt qu� 200,000 tấn; c�c số xuất cảng từ S�ig�n, tuy gồm cả gạo từ Căm Bốt, c� khối lượng gấp năm đến s�u lần. 5 Ngay d� thế, t�i vẫn sẽ lập luận rằng c�c sự so s�nh giữa c�c miền nam v� bắc n�y đ� được d�ng l�m nản l�ng c�c sử gia trong việc theo đuổi cuộc điều tra lịch sử s�u xa hơn về người Trung Hoa tại Bắc Kỳ v�, một khi việc n�y kh�ng xảy ra, ch�ng ta tiếp tục dựa qu� nhiều v�o c�c kết luận của Robequain.� Xuy�n qua sự sưu tầm văn khố s�u rộng về c�ng cuộc mậu dịch của c� nh�n c�c thương gia Trung Hoa tại miền bắc, b�i viết n�y dứt bỏ khỏi h�nh ảnh thời thuộc địa đ� lỗi thời về người Trung Hoa như �c�c trung gian� để nhấn mạnh, thay v�o đ�, sự độc lập của doanh nghiệp Trung Hoa.

 

���� Trong khi c�c quyền lợi thương mại của Ph�p thống trị c�c thị trường xuất cảng như đối với ng� (bắp) v� than đ�, trước thập ni�n 1930, c�c quan s�t vi�n người Ph�p đương thời đ� sẵn thừa nhận rằng người Trung Hoa khống chế c�ng cuộc mua b�n l�a gạo tại Bắc Kỳ.� Sự kiện n�y đ� khơi dẫn sự quan t�m đ�ng kể về quyền lực kinh tế v� ch�nh trị của họ. 6 Vơi sự gần cận về mặt địa dư của Hải Ph�ng với Trung Hoa v� Hồng K�ng, điều kh�ng mấy g�y ngạc nhi�n rằng Trung Hoa phải đ�ng vai tr� nổi bật trong cuộc tranh luận c�ng khai về Bắc Kỳ.� Bất kể điều n�y, đ� kh�ng c� sự nghi�n cứu to�n diện về c�c hoạt động kinh tế của Trung Hoa tại miền bắc trong suốt thời kỳ thuộc Ph�p.� T�c giả Chris Goscha đ� khảo s�t c�c năm ban đầu của Việt Nam D�n Chủ Cộng H�a, v� đ� ghi nhận tầm quan trọng của c�c Hoa Kiều (Huaqiao) tại Hải Ph�ng trong c�c thập ni�n 1940 v� 1950 trước đ�y. 7 Tuy nhi�n, đối với phần lớn, ch�nh giai đoạn tiền thuộc địa mới nhận được sự ch� � gần đ�y nhất của c�c học giả.

 

 

Người Trung Hoa tại Hải Ph�ng trong thế kỷ thứ mười ch�n

 

���� Vị tr� của Hải Ph�ng tr�n s�ng Cửa Cấm, với sự tiếp cận cả với đại dương v� c�c th�ng lộ với H� Nội v� c�c cảng kh�c của s�ng Hồng, khiến n�, về mặt đia dư, th�ch hợp với c�c nhu cầu vận tải đường biển quốc tế trong suốt thời cuối của thế kỷ thứ mười ch�n, khi n� được tuy�n bố l� một nhượng địa của Ph�p.� V�o khoảng thập ni�n 1920, với việc nh�n nhận rằng c�c kh�c đường nối với s�ng chỉ c� thể được duy tr� bởi c�c c�ng t�c nạo v�t thường trực để bốc lớp b�n đọng, t�nh chất th�ch nghi của Hải Ph�ng như hải cảng ch�nh đ� bị đặt dưới sự thẩm s�t.� Vịnh Hạ Long đ� được đề nghị như một địa điểm thay thế th�ch hợp hơn.� Trước khi c� sự cập bến của người Ph�p, c�c trung t�m mậu dịch tại v�ng ch�u thổ s�ng Hồng c� t�nh c�ch khuếch t�n hơn nhiều.� Trong cuộc nghi�n cứu gần đ�y của t�c giả Li Tana về c�c con đường mậu dịch của Việt Nam, t�c giả c� nhắc nhở ch�ng ta rằng trước thế kỷ thứ mười lăm, thủy lộ ch�nh nối liền kinh đ� Đại Việt với Vịnh Bắc Việt, v� do đ� với bờ biển Trung Hoa, ch�nh l� s�ng Bạch Đằng. 8 Tuy nhi�n, v�o khoảng thế kỷ thứ mười bẩy, sự mua b�n tr�n s�ng đ� được chuyển sang phụ lưu b�n ph�i t�y của s�ng Hồng v� hải cảng quốc tế ch�nh yếu l� Phố Hiến.� V�o năm 1831, khi thị trấn được đổi t�n l� Hưng Y�n, hải cảng n�y kh�ng c�n l� một trung t�m thương mại đ�ng kể nữa.� Trong năm 1825, c�c t�i liệu cho thấy c� bốn mươi thuyền buồm của Trung Hoa đ� đến mua b�n tại Nam Định v� H� Nội, hai hải cảng n�y l� c�c trung t�m xuất cảng ch�nh cho v�ng đồng bằng s�ng Hồng. 9 Hải Ph�ng cũng l� một hải cảng quan trọng hồi giữa thế kỷ thứ mười ch�n.� Trong giai đoạn từ 1844 đến 1846, một nh� truyền gi�o d�ng Dominicain (Đa Minh), Manuel de Rivas, đ� b�o c�o về số c�c thuyền buồm Trung Hoa cập bến Bắc Kỳ để chở gạo.� �ng m� tả rằng tại hải cảng Hoa-phaong [viết sai trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (Hải Ph�ng) kh�ng th�i, �ng đ� nh�n thấy hơn ba trăm chiếc thuyền.� �ng đ� t�nh to�n rằng mỗi chiếc thuyền buồm sẽ chuy�n chở một trọng tải gạo trung b�nh l� năm trăm quintals 10.� �ng cũng ghi nhận rằng tại H� Nội số lượng gạo xuất khẩu c�n lớn hơn nữa. 11

 

���� C�c chi tiết ban đầu về sự can dự của người Trung Hoa v�o ng�nh mua b�n gạo Bắc Kỳ c� thể được t�m thấy nơi c�c thư từ của �ng Pierre-Andr� Retord, Đại Diện T�a Th�nh địa phận miền T�y Bắc Kỳ.� �ng đ� viết hồi thập ni�n 1850 về sự lo ngại thường xuy�n của �ng về nạn đ�i tại Bắc Kỳ.� �ng đ� quy tr�ch sự việc đ� cho vua nh� Nguyễn. 12

 

Hệ thống của �ng vua xem ra sẽ l�m phần đất n�y trong vương quốc của �ng ta ng�y một ngh�o hơn, [khi] �ng đối xử với n� như một xứ sở bị chinh phục v� c�c đại thần của �ng khai th�c [n�] để l�m lợi cho l�ng tham lam của họ �[Nơi đ�y] c�c quan lại của ch�ng t�i � nghi�m cấm sự xuất cảng gạo từ tỉnh n�y sang tỉnh kia.� Sự chuy�n chở bị cấm đ�an khi đ� đ� được thực hiện bằng c�c chiếc thuyền nhỏ, nhưng c�c quan chức, nương theo tội phạm n�y để l�m gi�u cho ch�nh họ, đi l�ng kiếm c�c kẻ bu�n lậu, truy đuổi ch�ng r�o riết, tịch thu h�ng h�a của ch�ng v� �p đặt c�c khoản phạt nặng nề tr�n ch�ng hầu l�m lợi cho ch�nh m�nh.

 

���� �ng Retord đ� đối chiếu sự đối xử với d�n ch�ng địa phương với c�c ưu đ�i d�nh cho người Trung Hoa, c� viết rằng: 13

 

Điều m� họ kh�ng cho ph�p d�n ch�ng địa phương l�m, họ ch�nh thức chấp thuận cho người Trung Hoa l� c�c kẻ, kể từ khi c� cuộc nội chiến tại qu� nh�, đến đ�y h�ng năm để thu mua một khối lượng khổng lồ c�c đồ tiếp liệu.� C�c quan lại đặt ra một lệ ph� chặn đầu sự thiếu thốn nhằm xua đuổi họ rời đi, nhưng c�c người ngoại quốc n�y đ� b� mật biếu c�c quan v�i m�n tiền lớn, v� nhờ đ� họ được ho�n to�n tự do để ho�n tất c�ng việc của họ.� Năm ngo�i [1856], đặc biệt c�c người Trung Hoa đ� đến Bắc Kỳ với một số lượng đ�ng đảo, kh�ng mang h�ng h�a sang để b�n ở đ� m� chỉ đơn thuần để mua gạo, bởi mọi hoạt động thương mại xem ra đ� bị đ�nh chỉ tại Trung Hoa: c�c sự t�n ph� của cuộc nổi dậy v� chiến tranh với Anh Quốc đ� triệt hủy n�.

 

���� �ng Retord đ� kết luận bằng việc n�i rằng năm 1857 sắp trở th�nh một năm đ�i kh�t nữa v� rằng gạo đ� đắt gấp hơn bốn lần so với bất kỳ thời điểm n�o kh�c kể từ khi �ng cập bến Bắc kỳ năm 1832. 14 Giống như mọi nh� truyền gi�o người Ph�p v�o l�c đ�, �ng Retord đ� sống gần với mức sinh hoạt cầm hơi ở địa phương v� lời lẽ của �ng chắc chắn phản ảnh c�c quan điểm phổ th�ng về c�c hoạt động mua b�n gạo của người Trung Hoa tại Bắc Kỳ trong thập ni�n 1850. 15

 

���� Cuộc nghi�n cứu của t�c giả Li Tana về số thu thuế của nh� Nguyễn tr�n thương mại quốc tế từ năm 1865 đến 1868 cung cấp bằng cớ về c�c lợi nhuận thu họach được tr�n sự xuất cảng gạo, cũng như xuy�n c�c sắc thuế về thuốc phiện, thiếc v� gỗ cứng.� Trong năm 1865 v� 1866 thuế tr�n mỗi thuyền buồm tham gia v�o sự mua b�n tr�n s�ng tại Bắc Kỳ l� 50 lạng bạc.� Trong năm 1865 tổng số 157 thuyền buồm đ� đ�ng 7850 lạng bạc v� trong năm 1866 số thuế thu được l� 5450 lạng.� Thuế đ� được tăng l�n 75 lạng tr�n mỗi chiếc thuyền trong năm sau đ�.

 

���� Trong năm 1865, sau khi khoảng 8000 người đ� chết v� đ�i tại tỉnh Hải Dương ở miền bắc, ch�nh quyền Việt Nam đ� đưa ra c�c sắc thuế tr�n việc xuất cảng gạo trong một nỗ lực để bảo vệ số cung về gạo.� D� thế, trong năm 1866 c�c nh� mậu dịch Trung Hoa đ� y�u cầu rằng họ được ph�p để xuất cảng gạo miễn thuế trong 5 năm từ Hải Ph�ng (c�c t�i liệu đề cập đến hải cảng tr�n s�ng Cấm, v� thế điều n�y c� thể để chỉ Hải Dương [sic?, phải l� Hải Ph�ng, ch� của người dịch]).� Đổi lại, người Trung Hoa sẽ cung cấp s�u mươi ch�n thuyền buồm để trợ gi�p ch�nh quyền Việt Nam trấn �p hải tặc tại v�ng vịnh Hạ Long, nơi cửa con s�ng Cấm.� Đề nghị n�y được thỏa thuận, v� s�u mươi ch�n thuyền n�y đ� được miễn sắc thuế mới tr�n gạo.� Ngo�i số thuyền n�y, hai mươi s�u chiếc thuyền buồm kh�c đ� được ph�i xuống Nam Định v� bốn chiếc đến Hải Dương.� Ba mươi s�u chiếc thuyền buồm n�y đ� mua 1,364,260 c�n [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] gạo, 16 hay 818.5 tấn.� Với sắc thuế định l� 3 lạng bạc cho mỗi 1000 c�n, ch�nh quyền đ� nhận được 4091 lạng bạc từ việc mua b�n n�y. 17

 

���� Trong năm 1867, hải cảng Hải Dương đ� chỉ thu được 310 lạng bạc từ ba chiếc thuyền buồm, chưa đến 10 phần trăm số th�u tại cảng Tr� Ly, tỉnh Nam Định, nơi m� hai mươi lăm [sic? s�u] chiếc thuyền buồm đ� đ�ng 5,563 lạng.� Khi được hải tại sao c� việc n�y, c�c thương nh�n từ Trung Hoa n�i rằng họ chỉ được ph�p c� t�m hay ch�n ng�y để mua gạo, v� rằng nếu họ k�o d�i họ sẽ bị xem l� c�c thương gia xảo quyệt [gian thương, c� k�m tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] v� bị trừng phạt.� Ho�ng Đế Tự Đức c� hỏi c�c quan chức tại Hải Dương về việc n�y v� c�c quan chức đ� b�o c�o rằng c�c thuyền buồm nh� Thanh th� nhỏ v� vốn liếng th� khi�m nhường, v� thế ch�ng đ� miễn cưỡng đến mua b�n.� C�c quan chức xin ho�ng đế giảm bớt số thuế mới, n�i rằng thuế qu� nặng. 18

 

���� Tương tự, c�c nỗ lực sơ khởi của người Ph�p để mua b�n tại Bắc Kỳ bị giới hạn bởi triều đ�nh Việt Nam.� Trong năm 1872, đại l� tự do Jean Dupuis đ� cộng t�c với c�c người Trung Hoa Peng Liji [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] v� Guan Zuoting [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] để bu�n gạo v� muối về b�n tại V�n Nam.� Bởi v� triều đ�nh Việt Nam đ� ngăn cấm việc b�n muối cho V�n Nam, cả hai �ng Peng v� Guan đều bị bắt giữ.� Dupuis, kế đ�, đ� bắt giữ c�c quan chức Việt Nam tại H� Nội v� huyện Thọ Xương.� Triều đ�nh Huế đ� ph�i c�c quan chức đến n�i chuyện với Dupuis, với c�c cuộc thương thảo để th�o gỡ t�nh trạng tế nhị n�y đ� được tổ chức tại hội qu�n (huiguan) Quảng Đ�ng tại H� Nội. 20

 

���� C�c sự ngăn cấm xuất cảng từ Hải Ph�ng dẫn đến việc hải cảng ho�n to�n bị bỏ rơi bởi người Trung Hoa, v� v�o năm 1872 chỉ c�n một sự hiện diện mậu dịch nhỏ b� của Trung Hoa trụ lại đ�. 21 Hiệp ước năm 1874 với Ph�p đ� thay đổi to�n diện sự việc n�y qua việc tuy�n bố Hải Ph�ng được mở rộng cho c�ng cuộc thương mại của �u Ch�u v� c�c nước kh�c v� bởi việc cho ph�p sự bổ nhiệm một l�nh sự Ph�p v� một sở quan thuế Ph�p-Việt hỗn hợp. 22 C�c c�ng ty xuất cảng đ� đến đặt cơ sở tại Hải Ph�ng gồm c� c�ng ty Ph�p Roque Fr�res, l�m đại diện tương ứng địa phương cho c�ng ty Denis Fr�res; c�ng ty vận tải đường biển Ph�p, A. R. Marty, c� trụ sở đặt tại Hồng K�ng; v� nhiều t�u mang cờ Anh Quốc được thu� bao bởi c�c nh� mại bản Trung Hoa tại Hồng K�ng. 23� �����������

 

Việc Cấm Xuất Cảng Gạo Của Việt Nam

 

���� Khi ch�nh quyền Việt Nam thiết lập một loạt c�c sự ngăn cấm hơn nữa tr�n sự xuất cảng gạo trong suốt c�c năm 1876 đ�n 1880, c�c thương nh�n l�a gạo người Trung Hoa đ� gửi c�c thư từ khiếu nại l�n l�nh sự Ph�p tại Hải Ph�ng, �ng de Champeaux. 24 Trong năm 1878, l�nh sự de Champeaux đ� ghi nhận rằng c�c thương nghiệp Hồng K�ng đ� mất mọi hy vọng l� sự ngăn cấm sẽ được gỡ bỏ.� Ngoại lệ duy nhất l� c�c quan chức cho ph�p gạo ở Bắc Kỳ sẽ được chuy�n chở xu�i nam đến Đ� Nẵng. 25 Trong suốt thời kỳ n�y d�n số người Trung Hoa tại Hải Ph�ng được ước lượng chỉ c� 850 người. 26

 

���� Trong năm 1879 v� một lần nữa trong năm 1880, c�c thương nh�n gốc Trung Hoa tại Hải Ph�ng đ� gửi một thỉnh nguyện thư đến l�nh sự Ph�p, cho biết rằng nếu c�c y�u cầu của họ kh�ng được đ�p ứng họ sẽ bị bắt buộc phải bỏ xứ ra đi.� Họ y�u cầu rằng gạo được ph�p xuất khẩu đến mọi nơi tr�n thế giới; rằng sự hải h�nh tr�n mọi d�ng s�ng được tự do ho�n to�n; v� rằng thuế quan nội địa phải bị b�i bỏ.� Khoảng hai mươi thương nh�n Trung Hoa đ� k� t�n v�o thỉnh nguyện thư. 27 Một trong những người thỉnh nguyện l� Wang Tai [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], một nh� bu�n gốc Quảng Đ�ng nổi tiếng, đặt trụ sở tại S�ig�n. 29 Một kẻ thỉnh nguyện kh�c l� Ng Guan-Sing [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], một nh� bu�n gạo gốc Hokkien [thường d�ng để chi người n�i thổ ngữ v�ng M�n Nam, ph�a nam tỉnh Ph�c Kiến, ch� cua người dịch] cũng đặt cơ sở ở S�ig�n.� V�o thời điểm n�y, c� dấu hiệu cho thấy mục đ�ch chung giữa c�c nh� mậu dịch Trung Hoa v� �u Ch�u, như được biểu thị bởi sự kiện rằng người Trung Hoa đ� liệt k�, trong số c�c y�u cầu của họ, sự mở cửa Nam Định cho mậu dịch �u Ch�u.� Sự cấm đo�n xuất khẩu gạo chỉ �p dụng cho khu đặc nhượng người Ph�p tại Hải Ph�ng, v� kh�ng �p dụng đối với c�c thương nh�n Trung Hoa tại Nam Định.� C�c nh� mậu dịch Trung Hoa c� quan hệ với Hồng K�ng lo ngại rằng c�c chiếc t�u của họ sẽ kh�ng được ph�p mua b�n ngo�i Nam Định.� Th� dụ, C�ng Ty Hải H�nh T�u Hơi Nước Của Thương Nh�n Trung Hoa [The Chinese Merchants (Steam) Navigation Company: Chi�u Thương Cuộc, c� c�c cổ đ�ng l� c�c cấp l�nh đạo Trung Hoa trong ng�nh ngoại giao li�n hệ đến Đ�ng Dương v� tại c�c tỉnh phia nam Trung Hoa, ch� của người dịch]�� chạy dưới cờ nước Anh với c�c thuyền trưởng �u Ch�u. 29

 

���� Tr�nh l�n Thống Đốc Nam Kỳ năm 1880, l�nh sự Ph�p tại Hải Ph�ng giải th�ch rằng đ� c� một số kh� đ�ng c�c thương nh�n rời bỏ thị trấn.� Người Trung Hoa, �ng tuy�n bố, đ� th�c đẩy sự chiếm đ�ng của Ph�p tại Bắc Kỳ nhằm mang lại c�c đặc nhượng lớn hơn cho c�ng cuộc mậu dịch quốc tế.� Dĩ nhi�n, �ng giải th�ch, người Trung Hoa n�i r� rằng họ kh�ng thể c� th�i độ th� nghịch c�ng khai với ch�nh quyền Việt Nam bởi v� bản chất của c�c quan hệ l�u d�i h�ng thế kỷ của họ.� Ưu ti�n d�nh cho việc duy tr� sự ưu đ�i của c�c quan lại, họ lập luận, c�n cần thiết hơn mọi thứ kh�c, với sự giả định rằng người Ph�p c� thể vẫn quyết định sẽ bỏ rơi Bắc Kỳ. 30

 

���� Sự cấm đo�n xuất cảng gạo trong thời kỳ n�y kh�ng phải l� to�n diện.� C�c số liệu xuất khẩu cho năm 1880 cho thấy 25,630 tấn gạo đ� được xuất cảng, trị gi� hơn 5 triệu Phật lăng (francs). 31 Lệnh cấm đ� được th�o bỏ trong năm 1881, nhưng điều đ� sẵn hiển hiện l� khu đặc nhượng cho Ph�p ở Hải Ph�ng chưa bao giờ đạt được sự th�nh c�ng về kinh tế khi m� ch�nh quyền Việt Nam tiếp tục d�nh ưu ti�n cho hải cảng ở Nam Định. 32 Tuy nhi�n, trong v�ng một năm, người Ph�p đ� đến bằng vũ lực v� khởi sự chinh phục Bắc Kỳ.� Vi�n đại t� chỉ huy Henri Rivi�re đ� đến Hải Ph�ng h�m 2 th�ng Tư năm 1882 với 450 thuộc hạ.� �ng ta chiếm đ�ng H� Nội h�m 25 th�ng Tư.� C�c thương nh�n Trung Hoa trốn chạy khỏi H� Nội đ� tạm tr� tại Hải Ph�ng nơi họ c� thể dễ d�ng vượt ra biển, v� từ đ� về Trung Hoa.� Trong năm 1883, người Ph�p chiếm đ�ng hải cảng Nam Định v� tức thời quyết định rằng c�c sắc thuế quan nội địa sẽ được b�i bỏ tr�n d�ng s�ng Hồng. 34 Trong th�ng Tư năm 1883, qu�n đội Ph�p tịch thu v� chiếm đ�ng c�c nh� kho ở Hải Ph�ng được sở hữu bởi C�ng Ty Hải H�nh T�u Hơi Nước Của Thương Nh�n Trung Hoa. 35

 

���� T�c giả Robequain đ� viết rằng hệ thống mua b�n gạo tại v�ng ch�u thổ s�ng Hồng kh�c biệt với miền nam.� Tại miền bắc, nơi m� c�c c�nh đồng l�a th� nhỏ hẹp v� đ�ng đ�c, c�c thương nh�n Trung Hoa đ� kh�ng thương thảo trực tiếp với người trồng l�a.� Đ�ng hơn họ đ� mua sỉ gạo tại c�c thị trường gạo ở Nam Định hay tại c�c trạm cuối tr�n s�ng v� rồi chở gạo đến Hải Ph�ng, nơi họ chuyển sang c�c t�u đi biển. 36 �ng đ� kh�ng đề cập đến sự việc rằng ch�nh sự chiếm đ�ng của Ph�p tại Bắc Kỳ đ� biến đổi sự ph�n phối địa dư của ng�nh bu�n b�n l�a gạo.� Nh� cầm quyền qu�n sự Ph�p bắt buộc mọi c�ng cuộc mậu dịch phải chuyển hướng đi xuy�n qua Hải Ph�ng bằng việc ngăn cấm c�c t�u được sử dụng bất kỳ giang lộ n�o kh�c để ra khơi, ngo�i s�ng Cửa Cấm.� Nam Định, giờ đ�y bị b�c bỏ sự tiếp cận trực tiếp với biển, th�i kh�ng c�n la hải cảng xuất khẩu ch�nh yếu, bất kể lịch sử của n� như một trung t�m thu gom l�a gạo.� Để kiểm so�t sự vận tải của Trung Hoa, người Ph�p loan b�o một hệ thống giấy ph�p cho mọi chiếc t�u. 37 Ba nh� kho quan thuế của Ph�p đ� được thiết lập tại Hải Ph�ng, H� Nội v� Nam Định v� sản phẩm đầu ti�n sẽ bị đ�nh thuế l� gạo.� Sau đ�, trong th�ng Mười Một năm 1884, người Ph�p th�ng qua một luật lệ kh�c, giới hạn c�c sự xuất cảng v�o Hải Ph�ng, v� do đ� đ� ho�n tất sự biến cải Hải Ph�ng từ một cảng mậu dịch nhỏ th�nh cảng quan trọng của Bắc Kỳ. 38

 

���� Với việc nước Ph�p đ� được thiết lập một c�ch vững chắc tại Hải Ph�ng, họ khởi sự việc tạo lập hạ tầng cơ sở để hỗ trợ cho c�ng cuộc mậu dịch với quy m� lớn.� Giữa c�c năm 1885 v� 1887, một con kinh d�i ba c�y số đ� được đ�o cắt ngang thị trấn.� Tại Hải Ph�ng mới được cải tạo, một hải cảng thương mại ch�nh, được d�nh hầu như độc quyền cho người �u Ch�u, tọa lạc tr�n s�ng Cửa Cấm, trong khi con s�ng nhỏ hơn, Tam Bạc [?], dần được xem l� hải cảng của Trung Hoa. 39 S�ng Tam Bạc l� giang lộ dẫn đến H� Nội v� Nam Định.� Trong năm 1884, h�nh tr�nh đến H� Nội từ Hải Ph�ng mất hai mươi tiếng đồng hồ bằng đường s�ng, chạy qua Lạch Tray, Lạch Văn �c, Th�i B�nh v� Cửa Doc [? Đốc] trước khi sau rốt đến s�ng Hồng. 40 Trong những năm sau n�y, người Ph�p đ� ho�n tất đường xe hỏa V�n Nam � Hải Ph�ng, cung cấp một th�ng lộ kh�c cho h�ng h�a, đặc biệt h�ng h�a qu� cảnh để chở đến H�ng` K�ng.� Nhưng về mặt mua b�n gạo, c�c thuyền đi s�ng chất đống tr�n c�c con kinh v� s�ng� v�ng ch�u thổ đ� l� phương tiện vận tải ch�nh yếu đi đến Hải Ph�ng.

 

 

C�c Thương Nh�n Trung Hoa Sau Khi C� Sự Chiếm Đ�ng Của Ph�p�

 

���� Hiệp ước Ph�p-Trung Hoa tại Thi�n T�n, được k� năm 1885, cho ph�p người Trung Hoa được nhập cảnh v� hoạt động thương mại tại Việt Nam. Trong khi sự chiếm đ�ng của Ph�p tại Bắc Kỳ l�c ban đầu c� g�y x�o trộn trong d�n số Trung Hoa, n� cũng tạo ra ảnh hưởng để tập trung người Hoa tại Hải Ph�ng.� Số người Trung Hoa �t hơn 1500 người trong năm 1883, nhưng con số n�y đ� tăng l�n 4,700 người v�o năm 1886.� Số người Trung Hoa tại H� Nội ngược lại bị giảm xuống c�n 850 người.� Bắc Ninh, c� thời l� một thị trấn mậu dịch thịnh đạt với s� người Hoa l� 1600 người v�o l�c c� cuộc x�m lăng của Ph�p, chỉ c�n c� 70 người trong năm 1887.� Nam Định, một thời l� hải cảng ch�nh cho c�c nh� mậu dịch Trung Hoa, giờ đ�y chỉ c� một d�n số 600 người Hoa m� th�i. 42 Sự gia tăng li�n tục d�n số người Hoa tại Hải Ph�ng c� thể được nhận thấy nơi bảng dưới đ�y:

 

 

Bảng D�n Số Trung Hoa tại Hải Ph�ng 43

 

Năm��������������������� Người Việt ������ Người Hoa������� ����������� �u Ch�u���������� Sắc d�n kh�c��� Tổng số

 

1890��������������������� 8,700�������������� 5,600�������������������������� �� 600��������������� ���� 200������������� 15,100�

1902��������������������� 12,000�������������� 5,300�������������������������� ��950��������������� ������ 75������������� 18,325

1913��������������������� 45,385�������������� 8,532�������������������������� 1,822��������������� ������ 72������������� 55,811

1923��������������������� 63,578�������������� 13,538 ������������������������� 1,766��������������� ���� 208������������� 78,090

1929��������������������� 74,599�������������� 20,186�������������������������� 2,130��������������� ���� 705������������� 97,620

 

 

���� Kh�ng giống như Nam Kỳ, khởi đầu chỉ c� một hiệp hội cho to�n thể c�c người Trung Hoa tại Bắc Kỳ.� M�i đến năm 1899 người Ph�c Kiến (n�i tiếng Hokkien) mới được ph�p t�ch rời khỏi tổng hội do người Quảng Đ�ng �p đảo nguy�n thủy. để lập tổ chức ri�ng của họ.� Mặc d� thưong gia Guan-Sing l� người Ph�c Kiến, phần lớn c�c thương nh�n l�a gạo l� người Quảng Đ�ng, như Hang Wo [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], người đứng đầu bang hội Quảng Đ�ng năm 1899.� Như một dấu hiệu chỉ dẫn sức mạnh về số lượng tương đối của c�c thương nh�n đến từ c�c nh�m c� thổ ngữ kh�c nhau n�y, C�u Lạc Bộ Kah Oh của người Quảng Đ�ng tại Hải Ph�ng, mở ra trong năm 1894, c� số hội vi�n l� bốn mươi thương nh�n v� c�c nh�n vi�n của họ, trong khi C�u Lạc Bộ Phoc On, mở năm 1896, chỉ c� một số hội vi�n gồm 18 thương nh�n n�i tiếng Hokkien (Ph�c Kiến). 44

 

���� Trong năm 1889, Ph�ng Thương Mại Hải Ph�ng đ� được thiết lập với 8 hội vi�n người �u Ch�u, 1 hội vi�n người Việt Nam v� 1 hội vi�n người Ph�c Kiến, chủ tầu v� thương gia Guan Sing [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch (hay, ghi t�n bằng 3 chữ H�n, [kh�ng c� phi�n �m, ch� của người dịch] đ� n�i ở tr�n). 45 Guan Sing đ� từng l� một trong người đưa thỉnh nguyện v�o năm 1880; v� sự hiện diện của �ng tại Ph�ng Thương Mại cho thấy đ� c� một sự li�n tục giữa những người Trung Hoa y�u cầu sự chiếm đ�ng của Ph�p tại Hải Ph�ng năm 1880 với những kẻ đ� d�nh được chức vụ nổi bật tại Hải Ph�ng trong� những năm sau n�y.� Từ năm 1892 đến 1896, Yuen Tai Ling thay thế ghế của Guan Sing tại Ph�ng Thưong Mại v� �ng n�y cũng l� một trong c�c kẻ thỉnh c�u nguy�n thủy từ năm 1880.� Tuy nhi�n, kh�ng r� l� chức vụ n�y c� g� kh�c hơn l� một tước h�m danh dự.� C�c bi�n bản của Ph�ng Thưong Mại cho năm 1892 cho thấy Yuen Tai Ling [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] chỉ đến dự c� một phi�n họp v� rồi xin ph�p được vắng mặt trong kỳ họp kế tiếp.� Trong th�ng Mười Một năm 1892 �ng c� viết để b�o cho Ph�ng Thương Mại rằng �ng quay trở về Trung Hoa v� sẽ kh�ng c� thể tham dự bất kỳ cuộc họp n�o kh�c nữa.� Bất kể sự kiện n�y, t�n của �ng v�n c�n tr�n giấy tờ như một hội vi�n v� c�c lời c�o lỗi của �ng đ� được ghi ch�p một c�ch hợp thức trong c�c bi�n bản.� Trong năm 1899, Ph�ng Thương Mại đ� chỉ c� to�n c�c hội vi�n l� người �u Ch�u.� D� thế, Ph�ng Thương Mại Hải Ph�ng vẫn tiếp tục ủng hộ cho sự mua b�n l�a gạo, l�n tiếng phản đối trong năm 1899 về thuế xuất khẩu tr�n gạo được n�ng tại Bắc Kỳ cao hơn tại Nam Kỳ. 46

 

���� Ngo�i ghế của họ tại Ph�ng Thưong Mại, một chức vụ kh�c được nắm giữ bởi c�c thương nh�n Trung Hoa l� c�c nghị vi�n trong Hội Đồng Th�nh Phố Hải Ph�ng.� Hội Đồng sơ bộ trong năm 1887 bao gồm hai người Trung Hoa, Guan Sing v� Tack-Long, hội trưởng hội người Trung Hoa.� Guan Sing vẫn c�n l� hội vi�n trong năm 1892, c�ng với Wing Sui Tai, khi đ� l� hội chủ tổng h�i người Hoa.� Trong năm 1893, Guan Sing từ chức như l� một nghị vi�n người Trung Hoa sau khi �ng nhập tịch th�nh c�ng d�n Ph�p. 47 Hai nghị vi�n Trung Hoa mới được bổ nhiệm trong năm 1895, Yuen Tai Linh v� Nam Sing [c� k�m chữ H�n (Nam Thanh), ch� của người dịch] v� hai người kh�c nữa trong năm 1899, Tack Hinh Luc v� Charles Chong.� Trong năm 1904, Kwong Sang Yuen [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] v� Kwong Yu Long đ� được b�u. 48

 

 

Sự B�nh Trướng Của C�ng Cuộc Mua B�n L�a Gạo

 

���� Trong năm 1889, c� khoảng 65,000 tấn gạo được xuất cảng từ Hải Ph�ng, hầu như to�n thể khối lượng đ� được chở đến Hồng K�ng. 49 Trong c�ng năm đ�, 237 t�u hơi nước v� 207 chiếc thuyền buồm đ� tiến v�o hải cảng Hải Ph�ng, kh�ng kể c�c chiến thuyền v� thuyền đi s�ng. 50 Số thương nh�n bu�n gạo tại Hải Ph�ng v�o l�c đ� c�n kh� nhỏ.� Trong năm 1891 c� ba thương gia l�a gạo Trung Hoa được liệt k� trong số s�ch ch�nh thức của Hải Ph�ng.� 51 Tổng số d�n Trung Hoa năm 1891 đ� sụt giảm từ 5600 người trong năm trước xuống chỉ c�n 2000 người.� V�o năm 1894 c� mười ch�n thương nh�n l�a gạo gốc Trung Hoa, được sắp loại theo giấy ph�p kinh doanh từ hạng nhất đến hạng tư.� C� ba c�ng ty mua b�n thuộc loại hạng nhất (Khien Yune [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], Shun Tai [c� k�m chữ H�n, Thuận Th�i, ch� của người dịch], v� Wing Tương Cat [c� k�m chũ H�n, ch� của người dịch], s�u thuộc loại hạng ba v� mười thuộc loại hạng tư. 52 C�ng ty Shun Tai xuất hiện lần đầu trong danh s�ch c�ng ty mua b�n l�a gạo hạng nhất trong năm 1892, 53 v� �ng Tam Sec Sam [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] của c�ng ty Shun Tai vẫn c�n xuất hiện trong danh s�ch năm 1911 như nh� xuất cảng v� chủ t�u.� V�o năm 1934, c�ng ty Shun Tai đ� l� một trong những c�ng ty lớn nhất ở Hải Ph�ng.� C�c chi tiết hơn nữa về c�ng ty n�y sẽ được thảo luận về sau, trong b�i viết n�y.

 

���� V�o năm 1901, con số c�c doanh nghiệp mua b�n gạo k�n tới hai mươi ba, tất cả, trừ một c�ng ty, đều tọa lạc tr�n con đường Chinoise, gần hải cảng Trung Hoa.� Theo một th�ng t�n vi�n viết cho tờ Hong Kong Telegraph, việc xuất cảng gạo từ Bắc Kỳ ho�n to�n nằm trong tay người Hoa v� tổ chức của n� l� �một trong c�c tổ chức ho�n hảo nhất tại v�ng Viễn Đ�ng.�� Tuy nhi�n, người viết đ� chỉ tr�ch nặng nề sự đối xử của ch�nh quyền Ph�p đối với người Trung Hoa tại Hải Ph�ng, ph�n n�n về lệ ph� giấy ph�p cao, c�c sắc thuế cao, v� điều kiện để mua v� mang thẻ căn cước.� Th�ng t�n vi�n cũng chỉ tr�ch c�c b�o ch� Ph�p, ph�n n�n rằng ch�ng thường xuy�n đả k�ch c�c c�ng ty người Hoa, tố c�o họ th�ng đồng với qu�n Cờ Đen. 54

 

���� Bản chất mang t�nh c�ch đầu cơ của ng�nh mua b�n l�a gạo đ� cổ vũ cho sự ho�n chuyển hoạt động của c�c thương nh�n.� Bởi thế, sổ s�ch ghi c�c danh hiệu Trung Hoa được liệt k� như c�c nh� mậu dịch gạo trong mười hai năm kế đ� đ� thay đổi thường xuy�n, trong khung cảnh tăng trưởng tổng qu�t của sự tham dự của Trung Hoa v� đặc biệt một sự gia tăng trong số c�c chủ t�u cũng l� c�c doanh nh�n l�a gạo.� T�i liệu năm 1911 bao gồm năm thương nh�n l�a gạo cũng l� c�c chủ t�u: Po-Yuen của Tchong-vai-Tchine [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], Kuong-Tac-Hing [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], Luen Tai [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] của Tam-Nang-Siou, Kong-Heng-Long [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], On Fat [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch], v� Hang Vo [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch].� Cũng c� s�u người Trung Hoa được liệt k� chỉ l� chủ t�u, Kwong-Sang-Yuen [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] tức [chủ t�u] Luong-Meng [c� k�m 2 chữ H�n, rồi 3 chữ �n kh�c kh�ng c� phi�n �m, ch� của người dịch], Tze-Soy-Cheong tức [chủ t�u Wah-On [c� k�m chữ H�n, Hoa An, ch� của người dịch], Loy-Sing [c� k�m cữ H�n, ch� của người dịch], Tam Sec-Sam [c� k�m chữ H�n ch� của người dịch], tức [chủ t�u] Shuan-tai [c� k�m chữ H�n, Thuận Th�i, ch� của người dịch], Sine-One et Cie, Ly Minh et Cie.� Đ�ng tiếc, trong năm 1917, c�c th�ng tin chi tiết n�y bị loại ra khỏi c�c quyển Ni�n Gi�m v� v�o khoảng thập ni�n 1920, hầu như mọi t�i liệu về c�c c�ng ty Trung Hoa cũng đều biến mất trong c�c quyển Ni�n Gi�m, ngay cả t�n đường �rue Chinoise� cũng kh�ng c�n xuất hiện trong danh mục chỉ dẫn t�n đường.

 

 

C�c Li�n Hệ Vận Tải Đường Biển Đức Quốc � Trung Hoa

� �������

���� V�o cuối thế kỷ thứ mười ch�n, c�c tham vọng mậu dịch thực d�n trong miền đ� được phản ảnh trong sự b�nh trướng l�nh thổ, với c�c hải cảng ở vị tr� chiến lược bi chiếm giữ, hoặc như thuộc địa hay khu đặc nhượng.� Người Nhật tuy�n bố chủ quyền tr�n Đ�i Loan trong năm 1894; người Đức sang nhượng đất từ Trung Hoa, kể cả hải cảng ở tỉnh Sơn Đ�ng (Shantung) trong năm 1898 v� mua c�c h�n đảo Marshall v� Caroline trong năm 1899; Hoa Kỳ, đ� sẵn c� c�c quyền lợi thương mại tại Trung Hoa, chiếm giữ Phi Luật T�n trong năm 1898.� V�o l�c bước sang thế kỷ mới, Bộ Tư Lệnh Hải Qu�n Đức Quốc đ� suy t�nh rằng sự cạnh tranh ch�nh trị v� thương mại sau rốt c� thể dẫn đến cuộc chiến tranh chống lại Hoa Kỳ v� Đại Anh C�t Lợi. 55 Trong bối cảnh n�y, sự cạnh tranh thương mại của Ph�p với c�c tuyến vận tải đường biển của Đức Quốc tại v�ng biển Trung Hoa cũng hiển hiện hơn.

 

���� Trong năm 1903, c�ng ty vận tải đường biển của Ph�p A. R. Marty đ� khiếu nại l�n to�n quyền Đ�ng Dương rằng n� bị đối diện với sự cạnh tranh dữ dội từ một li�n hiệp Trung Hoa đ� mở rộng khu vực mậu dịch của n� để bao gồm cả Hải Ph�ng. 56 Theo Marty, li�n hiệp Trung Hoa được th�nh lập hồi th�ng Mười năm 1895 để cạnh tranh chống lại tuyến vận tải đường biển Ph�p của họ, vốn đ� sẵn hoạt động mua b�n giữa Hồng K�ng, Haikou v� Beihai.� Li�n hiệp n�y được x�i dục bởi hội k�n Tsap Yet.� C�ng ty Trung Hoa Hop Sing [Hợp Hưng], c� hai chiếc t�u chạy dưới cờ của Đan Mạch, trong khi hội Tsap Yet c� bảy chiếc t�u chạy dưới cờ Đức Quốc, được thu� bao từ c�c c�ng ty Đức Quốc l� Sander, Wieler and Co. v� Jebsen and Co. 57 Sự li�n hệ về hoạt động vận tải đường biển giữa Trung Hoa v� Đức Quốc đ� c� trước năm 1895.� Trong năm 1891, th� dụ, chiếc t�u Triumph của Đức đ� được ủy th�c bởi doanh nghiệp Trung Hoa Wang-tai trong năm 1891 chạy tr�n thủy lộ Hải Ph�ng � Beihai (Bắc Hải). 58 Trong thực tế, c�ng ty Đức Quốc, Jebsen & Co. đ� tham dự v�o c�ng cuộc mậu dịch duy�n hải Trung Hoa sớm hơn nhiều.� Người s�ng lập c�ng ty, Michael Jebsen, đ� mở c�ng ty vận tải đường biển của �ng tạ Apenrade, Đức Quốc, trong năm 1882 v� đ� bước v�o c�ng cuộc bu�n b�n duy�n hải Trung Hoa với sự gi�p đỡ của một trung gian thu� t�u ở Hamburg v� c�c sự trợ cấp của ch�nh phủ Đức. Trong năm 1895, �ng đ� mở một đại l� tại Hồng K�ng. 59 Theo t�i liệu của Ph�ng Thương Mại Hồng K�ng, c�ng ty Jebsen & Co. c� trụ sở tại Hồng K�ng đ� được thiết lập trong năm 1895 bởi Jacob Jebsen v� Heinrich Jebsen. 60

 

���� C�c li�n hệ kinh doanh ch�nh x�c giữa c�ng ty vận tải đường biển Đức Quốc Jebsen and Co. với thương nghiệp Đức đặt cơ sở tại Đ�ng Dương, Speidel and Co. kh�ng được biết r�, nhưng suốt l�c khởi đầu thế kỷ thứ hai mươi, Speidel and Co. đ� được liệt k� l� chủ nh�n c�c chiếc t�u của c�ng ty Jebsen.� Mối quan hệ giữa C�ng Ty Speidel v� c�c doanh nh�n Trung Hoa đi đến một v�i sự căng thẳng trong năm 1908, do hậu quả của sự can dự gia tăng của Đức v�o c�ng cuộc mậu dịch với Nhật Bản.� Trong năm đ�, c�c thương nh�n l�a gạo Trung Hoa tại Hải Ph�ng đ� tẩy chay h�ng nhập cảng từ Nhật bản, đ�ng theo đường lối của một ch�nh s�ch được đưa ra từ Trung Hoa.� Trong th�ng Năm 1908, t�u của c�ng ty Speidel, chiếc Karl Đieerichsen, thường được thu� bao bởi ph�a Trung Hoa, đ� cập bến Hải Ph�ng với một khối sản phẩm của Nhật.� Hội c�c thưong nh�n l�a gạo Trung Hoa đ� gửi một điện t�n đến c�ng ty Speidel, khuyến cao rằng nếu c�ng ty chuyển vận c�c h�ng h�a Nhật bản, c�c thương nh�n Trung Hoa sẽ kh�ng chất h�ng của họ l�n c�c t�u của Đức nữa.� Hậu quả, c�c chủ t�u đ� bị buộc phải ho�n trả h�ng h�a của Nhật Bản.� Khi họ t�m c�ch bốc bốn th�ng đ�n của Nhật Bản xuống bến, c�c phu bốc dỡ Trung Hoa l�m việc tại bến t�u Hải Ph�ng đ� từ chối kh�ng khu�n v�c m�n h�ng, v� c�c chủ t�u đ� bắt buộc phải mang c�c c�ng nh�n Việt Nam đến để ph� vỡ cuộc đ�nh c�ng. 61

 

���� V�o thời điểm đ� c�ng ty Speidel đ� c� bốn chiếc t�u mua b�n tại Hải Ph�ng, t�u Karl Diederichsen, Holstein, Koenigsberg, v� Triumph. 62 Một dấu hiệu chỉ dẫn về c�c li�n kết mậu dịch chặt chẽ giữa Speidel v� c�c thương nh�n Trung Hoa l� sự kiện rằng trong khi mọi t�u đi biển kh�c đều đến cập bến hải cảng thương mại của Ph�p tr�n s�ng Cửa Cấm, chiếc t�u Karl Diederichsen v� Triumph lại được liệt k� trong b�o ch� địa phương l� đ� thả neo tại hải cảng Trung Hoa b�n bờ s�ng.� C�ng ty Speidel, c� c�c chi nh�nh tại H� Nội, Hải Ph�ng, Phnom Penh v� S�ig�n, đ� từng được th�nh lập năm 1868 bởi thương nh�n Theodore Speidel tại S�ig�n.� Điều c� lẽ quan trọng l� c�ng ty n�y c� mặt trước khi c� sự chiếm đ�ng Bắc Kỳ v� c� thể c�c li�n hệ mậu dịch sớm hơn của n� c�n được lưu giữ tại Văn Khố Quốc tại S�ig�n.� Speidel r� r�ng c� li�n hệ mật thi�t với c�c thương nh�n l�a gạo ở S�ig�n, với sự kiện rằng �ng ta đ� th�nh lập nh� m�y xay l�a Orient and Union tại Chợ Lớn.� Bất kể l� một c�ng ty đặt trụ sở tại S�ig�n, Speidel hẳn phải c� một số li�n hệ với Đức Quốc xuy�n qua vai tr� của �ng như một vi�n l�nh sự Đức Quốc.� �ng mất đi tại Paris hồi th�ng ba năm 1909 v� doanh nghiệp được nắm giữ bởi F. W. Speidel. 63

 

���� Trong năm 1909, tất cả c�c nh� mậu dịch �u Ch�u tại Hải Ph�ng đ� ra mặt cạnh tranh c�ng khai trong c�ng cuộc mua b�n của họ với c�c thương nh�n Trung Hoa.� Một chất x�c t�c khả hữu cho sự việc n�y l� sự thay đổi trong ch�nh quyền.� Trong th�ng Ch�n năm 1908, một to�n quyền mới, �ng Antony Klobukowski, đ� được bổ nhiệm.� Klobukowski, một nh� ngoại giao chuy�n nghiệp, đ� từng l� ch�nh văn ph�ng [chef du cabinet, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] của Paul Bert hai mươi năm trước đ� v� đ� được bổ nhiệm l�m l�nh sự Ph�p tại Yokohama (Ho�nh T�n, Nhật Bản] ở một v�i thời điểm sau n�y trong chức nghiệp của �ng, sau khi c� sự từ trần khi tại chức của Paul Bert trong năm 1886. 64 Sự quay trở lại của �ng đ� được đ�nh dấu bởi sự quan t�m kh�c thường trong c�c thủ tục vận tải đường biển.� Trong th�ng Gi�ng năm 1909, ủy vi�n h�ng hải tại Hải Ph�ng c� th�ng b�o cho c�ng ty vận tải đường biển Ph�p l� c�ng ty Roque rằng một điệp văn đ� được gửi đi từ vi�n to�n quyền mới, vạch ra rằng c�ng ty Roque đ� vi phạm Đạo Luật H�ng Hải năm 1902 bắt buộc c�c t�u phải c� một thuyền trưởng người Ph�p.� Chiếc t�u Bến Thủy sắp sửa trương buồm với một thuyền trưởng Trung Hoa v� hậu quả bị từ chối giấy ph�p rời cảng. 65 C�ng ty Roque kh�ng đếm xỉa đến lệnh cấm v� con t�u đ� trương buồm ra đị, bất kể bị từ chối c�c dịch vụ dẫn đường.� Biến cố nhỏ n�y khiến ta nghĩ rằng vi�n to�n quyền mới c� thể c� c�c � kiến mạnh mẽ về người Trung Hoa v� r� r�ng ho�n to�n quyết t�m trong việc theo d�i để c�c quyền lợi của Ph�p phải được bảo v�.� Tầm mức theo đ� lập trường chống Trung Hoa của Klobukowski c� thể phản ảnh một lập trường th�n Nhật Bản tương ứng l� điểm đ�ng điều tra hơn nữa.

 

���� Trong th�ng Tư năm 1909, c�c thương nh�n Trung Hoa tại Hải Ph�ng đ� khởi sự một cuộc tẩy chay tất cả c�c c�ng ty vận tải đường biển �u Ch�u, tiếp theo sau sự loan b�o của c�c c�ng ty vận tải Đức, Anh v� Ph�p rằng họ n�ng gi� chuyển vận từ Hải Ph�ng đến Hồng K�ng l�n 30%.� Với t�nh trạng hầu như to�n thể số gạo của Hải Ph�ng đều được xuất cảng sang Hồng K�ng, sự kiện n�y c� nghĩa mang lại một ảnh hưởng đ�nh gục ng�nh bu�n b�n l�a gạo. 66 Một thương nh�n Trung Hoa được phỏng vấn bởi tờ b�o Avenir du Tonkin ph�t biểu rằng với gi� gạo qu� thấp, họ kh�ng thể n�o c� khả năng chịu đựng được c�c ph� tổn chuy�n chở cao hơn.� Hậu quả c�c thương nh�n l�a gạo đ� th�nh lập một hiệp hội để trở th�nh c�c chủ t�u sao cho họ c� thể xuất cảng gạo của ch�nh họ một c�ch trực tiếp sang Hồng K�ng. 67

 

���� Sự cạnh tranh của Trung Hoa với c�c nh� mậu dịch Nhật Bản đ� trở n�n r� r�ng khi một thương nh�n Nhật Bản, nh�n thấy một sự khai th�ng c� tiềm năng tr�n thị trường, b�y tỏ sự quan t�m trong việc mở rộng mậu dịch giữa Nhật Bản v� Hải Ph�ng.� �ng đề nghị rằng trước ti�n, cần phải cải thiện phẩm chất l�a gạo địa phương bằng c�ch mang c�c n�ng d�n Nhật Bản sang huấn luyện cho c�c nh� sản xuất Việt Nam. 68� Tuy nhi�n kh�ng việc g� �đ� xảy ra tr�n � kiến n�y, v� c�c con số vận tải cho thấy mậu dịch với Nhật Bản kh�ng trở th�nh đ�ng kể cho m�i đến sau năm 1913. 69

 

���� C�c thương nh�n l�a gạo Trung Hoa đ� th�nh c�ng trong việc ph�ng ra t�u ri�ng của ch�nh họ v� v� thế đ� c� thể duy tr� sự tẩy chay của họ với c�c tuyến vận tải đường biển của �u Ch�u.� V�o ng�y 25 th�ng Tư năm 1909, chiếc t�u hơi nước Tri, thuộc �Hội L�a Gạo của người Hoa� , đ� rời bến đi H�ng k�ng với 18,000 bao gạo. 70 Kh�ng hạt gạo n�o được chuy�n chở bởi c�c t�u của �u Ch�u.� H�nh động n�y bởi người Trung Hoa đ� đe dọa ph� hỏng c�ng cuộc mậu dịch của �u Ch�u tại Hải Ph�ng v� điều kh�ng lấy l�m ngạc nhi�n khi thấy người Ph�p đ� t�m c�ch tự bảo vệ.� Trong th�ng Ch�n năm 1909, Ph�ng Thương Mại Hải Ph�ng đ� y�u cầu ch�nh phủ ngăn cấm việc xuất cảng gạo từ Bắc Kỳ. 71 C�c sự tường thuật b�o ch� cho thấy vi�n to�n quyền đ� �p đặt sự cấm đ�an với chủ � c�ng khai nhằm ph� vỡ cuộc tẩy chay của Trung Hoa. 72

 

���� Mậu dịch Trung Hoa đ� quay trở lại sử dụng c�c t�u �u Ch�u sau năm 1909.� Th� dụ, trong th�ng Năm năm 1912, hai chiếc t�u của h�ng Speidel, chiếc Carl Diederichsen v� chiếc Michael Jebsen, rời bến đi Hồng K�ng lần lượt với 15,334 v� 19,353 bao gạo, trong khi hai chiếc t�u của h�ng Denis Fr�res, Singpan v� Sungkiang, l�i đến Hồng K�ng với lần lượt 18,257 v� 17124 bao gạo. 73 Trong suốt năm n�y, chiếc t�u Carl Diederichsen đ� nhận được sự tường tr�nh b�o ch� kh� tồi tệ từ tờ Courrier d�Haiphong tiếp theo sau một loạt c�c cuộc lục so�t của cảnh s�t kh�m ph� ra c�c kiện h�ng ẩn lậu chứa phụ nữ v� trẻ em Việt Nam bị bắt c�c.� Vi�n cảnh s�t trưởng hải cảng, Gentil, b�y tỏ sự hy vọng của �ng rằng c�c chủ t�u sẽ đưa ra sự đ�nh chỉ nạn bu�n người n�y, m� �ng tuy�n bố đ� xảy ra tr�n c�c chiếc thuyền của Đức trong hai mươi lăm năm qua.� C�c b�i tường thuật b�o ch� vạch ra rằng c�c thương nh�n trong Bang Hội Quảng Đ�ng phải chịu tr�ch nhiệm về việc bu�n lậu người, nhưng kh�ng c� một thương nh�n n�o lại bị truy tố bao giờ. 74

 

���� Sự xuất hiện của chiến tranh năm 1914 đưa đến một sự đ�nh chỉ tức thời việc vận tải biển của Đức v�o Bắc Kỳ.� Trong năm đ�, h�ng Standard Oil [của Hoa kỳ, ch� của người dịch] xuy�n qua văn ph�ng của n� ở Hải ph�ng, đ� đề nghị đảm nhận ho�n tất c�ng việc của Speildel tại V�n Nam Phủ, Mengzi [M�ng Tự?] v� Hekou (H� Khẩu) dưới danh nghĩa của h�ng Standard Oil.� V�o năm 1915, c�c đại diện của Standard Oil lo ngại về sự �bối rối� c� thể c� v� c�c li�n hệ như thế.� Trong th�ng Tư năm 1916, to�n quyền Đ�ng Dương được th�ng b�o về vai tr� của c�ng ty Standard Oil v� được xuất tr�nh văn thư kinh doanh giữa hai c�ng tỵ.� �ng cũng được y�u cầu h�y trục xuất vi�n quản l� của Standard Oil tại Hải Ph�ng, �ng Acton Poulet.� V�o thời gian n�y, F. W. Speidel được cho biết đang sống tại Sukabumi, miền t�y đảo Java. 75� Một danh s�ch c�c t�u Đức Quốc bị tịch thu tại c�c hải cảng Hoa Kỳ trong năm 1917 gồm cả c�c chiếc Carl Diederichsen v� Clara Jebsen của h�ng Speidel. 76 Tại bến số 70 cảng San Francisco trong c�ng năm đ�, chiếc t�u chở dầu mới được đ�ng, chiếc Wilhelm Jebsen, được liệt k� như được sở hữu bởi c�ng ty Standard Oil tại New Jersey. 77 Trong năm 1918, như để b� đắp cho sự mất m�t c�c chiếc t�u của Đức, số t�u mang cờ Trung Hoa tiến v�o Bắc Kỳ đ� gia tăng từ t�m đến s�u mươi tư chiếc v� tiếp tục ở c�c mức độ cao hơn n�y.

 

���� Trong suốt cuộc chiến tranh, c�c li�n hệ giữa c�c c�ng ty Trung Hoa v� Đức Quốc vẫn chưa trở n�n l� do kh�c khiến cho Ph�p phải chỉ tr�ch c�c phương thức l�m ăn của Trung Hoa.� Trong năm 1916, một chủ t�u người Ph�p, Paul Roque, c� b�o c�o rằng chiếc t�u Ping On, được nghĩ l� sở hữu bởi Po Yune, l� t�i sản của Pou Hing Tai, qua sự trung gian của c�ng ty Charles & Co., đại diện mại bản của Ng�n H�ng Đ�ng Dương tại Hải Ph�ng.� �ng tố c�o C�ng ty Charles & Co. về việc cộng t�c với c�c người Đức, Speidel v� Jebsen. 78 Nếu đ�ng thế, lời tuy�n bố n�y mang lại một v�i dấu hiệu chỉ dẫn về c�c li�n hệ phức tạp của c�c thương nh�n Trung Hoa v� c�c sự kh� khăn tiềm ẩn li�n hệ trong việc cố gắng ước lượng sức mạnh của c�ng việc mậu dịch Trung Hoa, chỉ từ c�c danh s�ch vận tải đường biển kh�ng th�i.

 

 

C�c Sự Đ�p Ứng Của Ph�p Đối Với C�c Nh� Mậu Dịch Trung Hoa, 1925-1934

 

���� C�c cảm nghĩ d�n tộc t�nh của giới cức thẩm quyền Ph�p tại địa phương c� thể được nhận thấy trong một văn thư khiếu nại gửi cho C�ng Ty Shun Tai trong năm 1925 từ thị trưởng Hải Ph�ng.� Bức thư tố c�o c�ng ty kh�ng t�n trọng c�c truyền thống của Ph�p bởi việc kh�ng treo cờ để t�n vinh ng�y quốc kh�nh.� Người trẻ tuổi Tam Seng Sec, tự k� t�n đại diện cho Shun Tai, trả lời bằng một văn thư nh� nhặn v� tỏ � xin lỗi, n�i rằng đối với hai chiếc t�u của �ng, chiếc New Mathilde v� Borneo, �ng giả thiết rằng c�c thuyền trưởng phải hay biết về c�c y�u cầu đ� m� kh�ng cần được nhắc nhở v�o mỗi dịp lễ bởi �ng, v� rằng �ng lấy l�m tiếc đ� qu�n kh�ng đến v� kiểm tra c�c chiếc t�u tr�n bến.� Mặc d� �ng tự hạ b�t k� t�n xưng l� một c�ng bộc khi�m tốn của �ng thị trưởng, giọng điệu của �ng khiến người ta nghĩ rằng �ng đ� xem lời ph�n n�n như thế l� chuyện tầm ph�o. 79 Trong thực tế, đoạn đường từ của hiệu của Shun Tai (số 149-151, rue Chinoise) đến bến chỉ l� một cuộc rảo bước rất ngắn. 80 Ch�ng ta kh�ng biết l� liệu c�c c�ng ty vận tải đường biển của Đức Quốc c� c�n duy tr� một sự quan t�m n�o tại Đ�ng Dương trong thời kỳ n�y hay kh�ng, nhưng t�n của hai chiếc t�u n�y, Borneo v� Malthide, đ� từng thuộc c�c chiếc t�u Đức c� li�n hệ với c�c thương nh�n Trung Hoa trước khi c� cuộc chiến tranh, v� thế, khiến người ta li�n tưởng đến một v�i sự li�n tục n�o đ�.

 

���� Như trong c�c năm ban đầu, vấn đề c�c sự ngăn cấm tr�n sự xuất cảng gạo tiếp tục c�n l� một đề t�i c� sức mạnh tương đối trong hoạt động mậu dịch l�a gạo.� Trong năm 1925, sự xuất cảng gạo từ Hải Ph�ng lại bị cấm chỉ một lần nữa v� c�c nh� mậu dịch l�a gạo bị buộc phải l�m đơn l�n thống sứ Bắc Kỳ để xin ph�p xuất cảng gạo.� May mắn thay, thủ tục n�y cung cấp cho c�c sử gia một số bằng chứng về sức mạnh của c�ng cuộc mậu dịch của Trung Hoa, với sự ghi nhớ rằng v�o thời gian n�y phần lớn c�c t�i liệu chi tiết của c�c doanh nghiệp Trung Hoa kh�ng c�n được gi ch�p trong c�c quyển Ni�n Gi�m nữa.� Nhiều đơn thỉnh cầu cho việc xuất cảng 1,000 tấn, nhưng c�c lời y�u cầu lớn nhất trong năm 1927 đến từ Kwang Man Yuen tại Hồng K�ng, xin xuất cảng 10,000 tấn, v� từ Shun Tai, để xuất cảng 10,000 tấn sang Hồng K�ng.� Một đơn thỉnh cầu thứ nh� được đệ tr�nh từ Tam Seng Sec [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] gi�m đốc c�ng ty Shun Tai (Thuận Th�i), nhưng được viết dưới danh nghĩa gi�m đốc nh� m�y xay l�a Rizerie Tchoune Yeck tại H� L�, ngoại � th�nh phố Hải Ph�ng. 81

 

���� C�c quan hệ giữa c�c quan chức Ph�p v� thương nh�n Trung Hoa tại Hải Ph�ng đ� vươn đến t�nh trạng một cuộc khủng hoảng v�o th�ng T�m năm 1927 khi c�c cuộc bạo động chống lại Trung Hoa b�ng nổ tại Hải Ph�ng, k�o d�i trong v�i ng�y.� Một l� thư m� tả sự khốn khổ của họ, từ c�c cư d�n gốc Trung Hoa tại Hải Ph�ng đ� được đăng tải tr�n một tờ b�o tại Quảng D�ng, tờ Lingdong Minguo ribao. 82

 

C�c người gi� 70 tuổi hay c�c trẻ con mới v�i tuổi bị giết, bất kể đến tuổi t�c của họ.� Đ�i khi, c�c binh sĩ An Nam đ� cộng t�c với đ�m đ�ng để t�n s�t c�c người Trung Hoa.� Trong to�n thể cuộc x�o trộn, khoảng 200 người Trung Hoa đ� bị giết hay mất t�ch, kh�ng kể số người bị thương.� Tại sao c�c người Trung Hoa lại phải chịu sự độc �c như thế? Qu�n thổ phỉ đang h�ng ng�y rao b�n c�c chiến lợi phẩm tước đoạt được v� dạo bước một c�ch h�nh diện tr�n c�c đường phố m� kh�ng c� sự can thiệp n�o từ c�c binh sĩ người Ph�p vốn được kinh sợ �Nhiều gia đ�nh bị hủy diệt ho�n to�n.� Nhiều người kh�ng nh� ở v� tạm tr� tại c�c bang hội hay phường x�m Trung Hoa.

 

���� Chi Bộ Hải Ph�ng của Quốc D�n Đảng đ� k�u gọi l�n ch�nh phủ Trung Hoa D�n Quốc, y�u cầu họ ph�i một t�u chiến sang để bảo vệ cho c�c c�ng d�n của họ.� Điều n�y đ� kh�ng được thực hiện v�o l�c đ�, nhưng trong năm 1928, Chu Chao Hsin, Thứ Trưởng Ngoại Giao của ch�nh phủ D�n Quốc tại Trung Hoa, c� gửi một ph�i đo�n đến Hải Ph�ng để điều tra về c�c sự tổn thất t�i ch�nh phải chịu đựng bởi c�c thương nh�n Trung Hoa v� để đ�i hỏi ch�nh quyền Đ�ng Dương bồi thường c�c khoản thiệt hại.

 

���� C�c giới chức thẩm quyền Ph�p đ� đọc l�n v� phi�n dịch c�c l� thư, thường được gửi đi từ Nam Định, cảng ven s�ng gần nhất với Hải Ph�ng v� nơi m� người Trung Hoa trốn về đ�y để được an to�n.� Một bức thư được gửi cho cha mẹ ở Macao, một bức thư kh�c gửi về S�ig�n, v� bức thư thứ ba gửi về th�nh phố Quảng Ch�u.� Tầm mức của c�c mạng lưới Trung Hoa trong thời kỳ n�y s�u rộng đến nỗi Ủy Ban Trung Ương của Quốc D�n Đảng tại Nam Kinh khi đ� đ� gửi thư cho mọi khu bộ của Quốc D�n Đảng, kể cả những nơi như Nam Vang (Phnom Penh), m� tả sự khốn khổ của �c�c anh em di d�n� của họ tại Hải Ph�ng.

 

���� Giới chức thẩm quyền Ph�p đ� bi�n sọan một danh s�ch s�u mươi ch�n cửa h�ng, x� nghiệp, c�ng ty, t�u v� thuyền buồm Trung Hoa bị cướp ph�, ghi r� chi tiết về c�c chủ nh�n v� tầm mức thiệt hại, kể từ c�c cửa sổ bị ph� vỡ cho đến sự triệt hủy to�n diện; một doanh nghịep ước lượng sự thiệt hại của n� khoảng 6000 đồng.� Luong-Cheong-Hoi v� Kwong Vo Hinh, c�c chủ nh�n nh� m�y xay l�a, c� c�c bao gạo bị lấy trộm; hai thuyền buồm tại cảng Trung Hoa tr�n s�ng Tam Bạc bị cướp ph� v� một chiếc thuyền buồm từ Quảng Y�n tr�n kinh đ�o Bonnal bị đốt ch�y ho�n to�n; nh� m�y xay l�a Fong Ly Seng bị mất trộm 600 bao gạo v� 3000 đồng tiền mặt.

 

���� C�c cuộc tấn c�ng đ� được nhắm v�o to�n thể người Trung Hoa, chứ kh�ng chỉ ri�ng v�o c�c doanh nghiệp lớn.� C�c nạn nh�n bao gồm nh� h�ng thịt, c�c hiệu thuốc bắc, v� c�c kẻ b�n thuốc phiện.� Alexander Woodside, trong khi m� tả �cuộc t�n s�t h�m 17 th�ng t�m�, đ� tr�nh b�y Hải Ph�ng như một th�nh phố �nơi m� c�c sự ph�n biệt chủng tộc �t bị tăng cường hay ph�ng đại nhất bởi c�c khoảng c�ch kinh tế hay bởi một sự li�n kết về chủng tộc v� giai cấp.� Người Trung Hoa ở Hải Ph�ng c� khuynh hướng gồm c�c c�ng nh�n, thủy thủ, v� nh�n vi�n cửa h�ng, kh�ng giống như c�c chủ nh� m�y xay l�a hay c�c nh� kinh doanh Trung Hoa gi�u c� hơn tại quần thể th�nh thị miền nam h�a b�nh hơn, v�ng S�ig�n-Chợ Lớn�. 83� Esta Ungar ghi nhận tương tự rằng ch�nh quyền Ph�p đ� nhập cảnh 2000 c�ng nh�n Trung Hoa v�o Hải Ph�ng trong năm 1926 v� rằng tầm mức nghi�m trọng của c�c cuộc bạo động đ� được quy kết v�o sự kiện rằng c�c c�ng nh�n Trung Hoa đ� được trả mức lương cao hơn c�c c�ng nh�n Việt Nam.� C�c b�o c�o của Ph�p cũng cho thấy rằng Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế (Comintern) đ� quyết định k�ch th�ch hoạt động c�ch mạng cộng sản tại Đ�ng Dương từ giữa c�c ng�y 15 đến 20 th�ng T�m năm 1927, đưa đến một số thắc mắc l� liệu họ c� li�n hệ đến c�c cuộc bạo động hay kh�ng. 84

 

���� Ngay d� thế, t�c giả Woodside đ� ước lượng thấp sự gi�u c� của c�c thương nh�n l�a gạo tại Hải Ph�ng v� tầm mức theo đ� tư bản Trung Hoa bị nhắm tới trong suốt c�c cuộc bạo động.� Theo t�c giả Ungar: 85

 

Trong số 13 người bị chết, mười hai người l� Trung Hoa v� một người l� Việt Nam.� Con số người bị thương vượt qu� một trăm người.� Hai mươi người Trung Hoa bị bắt giữ so với 145 người Việt Nam t�nh đến ng�y 29 th�ng T�m.� Theo một b�o c�o bởi người Trung Hoa tại Hải Ph�ng đ� được gửi cho Văn Ph�ng Hải Ngoại Vụ tại th�nh phố Quảng Ch�u, 320 người cũng bị ph� sản về mặt t�i ch�nh v� c�c thiệt hại được t�nh to�n l�n hơn 307,000 đồng �� Nhiều cư d�n Trung Hoa bị x�c động bởi kinh nghiệm đến nỗi họ đ� quyết định quay trở về Trung Hoa.

 

���� C�c b�o c�o ch�nh thức của Ph�p tiết lộ rằng Trung Hoa đ� quyết định v�o h�m 8 th�ng T�m năm 1927 nhằm kh�ch động một cuộc tẩy chay h�ng h�a Nhật Bản.� Một số người Trung Hoa nghi ngờ rằng người Nhật, một c�ch n�o đ�, c� đứng đằng sau c�c cuộc bạo động n�y. 86 Chắc chắn c�c cuộc bạo động được nhắm ho�n to�n đặc biệt v�o doanh nghiệp Trung Hoa, với khu doanh nghiệp Ph�p tuyệt đối kh�ng bị đụng tới.� Trong số hai mươi hai x� nghiệp do người �u Ch�u l�m chủ, chỉ c� nh� m�y xay l�a Rizerie Indochinoise đ� đ�ng cửa trong mười hai ng�y.� Trong số 20 x� nghiệp do người Trung Hoa l�m chủ, tất cả đều đ�ng của h�m 20 th�ng T�m v� phần lớn c�n đ�ng cửa cho đến ng�y 28 th�ng T�m.� C�c x� nghiệp n�y bao gồm năm nh� m�y xay l�a sở hữu bởi c�c c�ng ty Shun Tai, Hop Long, Shun-Fat-Yune, Fong-Ly Seng, v� Luong Cheong Hoi. 87

 

���� Kh�ng l�u sau biến cố n�y, Ch�nh Quyền D�n Quốc Trung Hoa đ� h�nh động để bảo đảm vị thế của cộng đồng người Hoa sống ở nước ngo�i bằng c�ch k� kết định ước Nam Kinh năm 1930 d�nh cho c�c cư d�n Trung Hoa tại Việt Nam quy chế ngoại kiều với c�c ưu đặc quyền. 88 Tuy nhi�n, c�c ưu đặc quyền n�y �t c� sự hữu dụng, trong việc bảo vệ c�c thương nh�n Trung Hoa khỏi sự tấn c�ng của cuộc suy tho�i thế giới.� Trong suốt cuộc suy tho�i, c�c thương nh�n Trung Hoa phải g�nh chịu c�c tổn thất t�i ch�nh nặng nề, v� bị buộc phải b�n gạo với c�c gi� thấp để thanh thỏa c�c m�n nợ với c�c ng�n h�ng thực d�n.� T�c giả Martin Murray ghi nhận rằng trong thời khỏang giữa c�c năm 1929 v� 1932 đ� c� 236 vụ ph� sản v� hai mươi bốn vụ thanh l� ph�p định tại S�ig�n-Chợ Lớn. 89

 

���� Tương tự, Thống Sứ Tholance của Bắc Kỳ, c� viết cho to�n quyền rằng c�c kẻ bị thiệt hại nặng nề nhất bởi cuộc khủng hoảng kinh tế tại miền bắc thuộc địa li�n can đến hoạt động mậu dịch xuất cảng tại Hải Ph�ng, vốn gần như ho�n to�n nằm trong tay người Trung Hoa.� Nhưng trong số tất cả c�c c�ng ty bị dồn đến chỗ ph� sản, sự thất bại chực chờ b�ng nổ của h�ng Shun Tai sẽ thực sự l� thảm họa cho ng�nh mậu dịch tại Hải Ph�ng, �ng cảnh c�o như thế.� C�ng ty đ� phải g�nh chịu c�c sự kh� khăn trong năm 1921, khi Tam Tsec Sam, chủ c�ng ty, mất đi, v� Shun Tai được kiểm so�t bởi b� vợ g�a v� người con trai trưởng của �ng ta, Tam Seng Sec.� Nhưng m�n nợ hiện thời của n� với Ng�n H�ng Đ�ng � (Bank of East Asia) l� $120,000 v�, bởi ng�n h�ng đ� đ�ng cửa ch� nh�nh tại Hải Ph�ng, ng�n h�ng kh�ng muốn cứu x�t bất kỳ đề nghị n�o của Tam Seng Sec.� Vi�n to�n quyền đ� viết thư trong v�ng �t ng�y cho l�nh sự Ph�p tại Hồng K�ng, y�u cầu �ng ta tiếp x�c với Ng�n H�ng Đ�ng � để xin họ h�y gỡ bỏ sự phủ quyết, v� lắng nghe những g� m� Tam Seng Sec đ� phải đề nghị.� Vi�n to�n quyền n�i th�m rằng nếu ng�n h�ng hiểu được thị trường tại Bắc Kỳ nhiều hơn, n� c� thể c� một lập trường thuận lợi hơn cho hoạt động thương mại của người Trung Hoa. 90 Đ� c� một v�i sự mỉa mai khi m� ch�nh quyền thuộc đia Ph�p bị bắt buộc phải thỉnh cầu c�c điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động thương mại của người Trung Hoa, v� cho c�c sự thương thảo giữa một ng�n h�ng Quảng Đ�ng với một thương nh�n Quảng Đ�ng.� Kh�a cạnh n�y trong sự hợp t�c Trung Hoa � Ph�p r� r�ng l� hậu quả của cuộc khủng hoảng t�i ch�nh chưa từng thấy bị g�y ra bởi sự suy tho�i tr�n thế giới.

 

���� Trong cuộc nghi�n cứu của họ về doanh nghiệp Trung Hoa tại xứ M� Lai thời thuộc địa, c�c t�c giả Lian Kwen Fee v� Koh Keng We m� tả giai doạn giữa c�c năm 1900 v� 1940 như một thời kỳ đ� �chứng kiến một sự chuyển đổi quan trọng ra khỏi sự hợp t�c giữa c�c doanh nh�n Trung Hoa v� c�c nh� cai trị Anh Quốc�. 91 C� vẻ như đ� c� một sự chuyển biến tương tự tại Đ�ng Dương thuộc Ph�p, với chủ nghĩa bảo vệ mậu dịch của Ph�p tự biểu lộ dưới h�nh thức của sự quy định nghi�m ngặt hơn đối với sự kinh doanh của người Trung Hoa.� Mặt kh�c, tại cảng Hải Ph�ng, nơi m� người Trung Hoa nắm giữ một thị trường độc quyền r� rệt tr�n ng�nh mậu dịch xuất cảng, c�c th�i độ của c�c quan chức Ph�p nhất thiết ph�i được điều h�a bởi c�c sự cứu x�t thực tiễn v� rộng r�i hơn như khi so s�nh với c�c sự cứu x�t d�nh cho doanh nghiệp Ph�p.

 

 

Kết Luận

 

���� Cuộc khảo s�t tổng qu�t n�y về mậu dịch của Trung Hoa tại miền bắc Việt Nam gi�p ch�ng ta nhận thấy một số cảm nghĩ về t�nh li�n tục trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp Trung Hoa với c�c vi�n chức thuộc đia người Ph�p.� Trong năm 1880, c�c thương nh�n l�a gạo Trung Hoa ở Hải Ph�ng đ� y�u cầu c�c giới chức thẩm quyền Ph�p h�y can thiệp nh�n danh họ chống lại sự cấm đo�n tr�n cuộc mậu dịch l�a gạo, trong trường hợp n�y, y�u cầu Ph�p h�y thuộc địa h�a Bắc Kỳ nhằm tạo c�c điều kiện thuận lợi hơn cho việc mua b�n của người Trung Hoa.� Trong thập ni�n 1930, đối diện với sự suy tho�i to�n cầu v� c�ng với một mối đe dọa kh�c cho c�ng cuộc mậu dịch của Trung Hoa, c�c thương nh�n Trung Hoa một lần nữa t�m kiếm sự can thiệp của người Ph�p.� Chắc chắn người Ph�p bị th�c đẩy để trợ gi�p bởi v� họ nhận thức được rằng, kh�ng c� việc mua b�n của người Trung Hoa, hải cảng Hải Ph�ng sẽ chỉ mang lại �t lợi nhuận cho đế quốc Ph�p.

 

���� Tuy nhi�n, t�ch biệt ho�n to�n ra khỏi c�c sự qua t�m của người Ph�p, điều r� r�ng l� c� một mức độ đ�ng kể trong sự quan t�m mua b�n quốc tế tại Đ�ng Dương, bao gồm cả c�c quyền lợi của Nhật Bản, Đức Quốc v� Hoa Kỳ.� Trong trường hợp Đức Quốc, c� bằng cớ cho thấy rằng họ đ� cộng t�c chặt chẽ với c�c thương nh�n Trung Hoa ở địa phương, kh�ng chỉ ở Hải Ph�ng m� c�n ở Hồng K�ng v� Trung Hoa Lục Địa.� Người Nhật, mặt kh�c, l� c�c kẻ tranh d�nh mậu dịch với Trung Hoa.� Cuộc khảo cứu sa6u xa hơn nữa về sức mạnh tương đối của sự hợp t�c của �u Ch�u với người Nhật Bản, để đối trọng với người Trung Hoa, th� cần thiết để gi�p ch�ng ta hiểu được tầm quan trọng của người Nhật trong c�ng cuộc mậu dịch tại miền bắc Việt Nam v�o thời điểm n�y.

 

���� Trong khi c�c thưong nh�n l�a gạo Trung Hoa nhất thiết bị bắt buộc phải l�m việc trong khu�n khổ c�c sự hạn chế của hệ thống thuộc địa của Ph�p, xem ra c�c c�ng ty quan trọng chẳng hạn như c�ng ty Shun Tai c�n l�u mới phục t�ng trước c�c quyền lợi của Ph�p.� Đ�ng hơn, c�c sự giao tiếp giữa c�c c�ng ty Đức v� Trung Hoa, đặc biệt trong bối cảnh của c�c sự tẩy chay c�c h�ng h�a của Nhật Bản, khiến ch�ng ta nghĩ rằng người Trung Hoa tự nhận ra rằng họ ở v�o vị thế c� một số sức mạnh.� Họ cung cấp h�ng h�a cho ph�p c�c tuyến vận tải đường biển �u Ch�u kiếm được một lợi nhuận v� khi c�c quan hệ đ� trở n�n căng thẳng, họ c�n sẵn s�ng cung cấp cả c�c chiếc t�u chuy�n chở nữa./-� �������������

���� � �����

_____

 

CH� TH�CH:

 

1.       Về c�c t�nh trạng phức tạp của sự kinh doanh thủa ban đầu ở thuộc địa Nam Kỳ, xem �tienne Denis, Bordeaux et la Cochinchine, sous la restauration et le second empire, S-I, Impr. Delmas, 1966.

 

2.       Victor Purcell, The Chinese in Southeast Asia, Second Edition, Oxford University Press, Kuala Lumpur, 1965, trang 6.

 

3.       Robequain, được tr�ch trong s�ch dẫn tr�n, trang 173.

 

4.       Charles Robequain, The Economic Development of French Indo-China, Oxford University Press, London, 1944, trang 34.

 

5.       Gilles Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions et Modalit�s du D�veloppement jusqu�� 1921�, Luận �n Tiến Sĩ, Universit� de Provence, France, 1994, trang 334.

6.       Revue Indo-Chinoise, 15 August 1908, no. 87, c�c trang 153-4.

 

7.       Christopher E. Goscha, �The Borders of Vietnam�s Early Wartime Trade with Southern China: A Contemporary Perspective�, Asian Survey, vol. 40, no. 6, 2000, trang 108.

 

8.       Li Tana, �A View from the Sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnam Coast�, Journal of Southeast Asian Studies, 37 (1), 2006, trang 95.

 

9.       Li Tana, �The late 18th century Mekong delta and the world of the Water Frontier�, trong quyển �Vietnam Beyond Borders�, do Nhung Tuyết Trần v� Anthony Reid chủ bi�n, University Press of Wisconsin, 2006, trang 154.

 

10.   Một tạ (quintal) T�y Ban Nha bằng 40 k� l�, như thế trọng tải trung b�nh l� 23 tấn.

 

11.   E. Toda, �Annam and its Minor Currency�, Journal of the North-China Branch of the Royal Asiatic Society, 17, 1, 1882, trang 72.

 

12.   Annales de la Propagation de la Foi, Vol. 30 (1858): 210-77, thư đề ng�y 24 June 1857, từ Đức �ng Mgr Pierre-Andr� Retord, gửi Linh Mục Laurens (Ph�p), tr�ch dẫn trang 224.

 

13.   S�ch dẫn tr�n, trang 224-5.

 

14.   S�ch dẫn tr�n, trang 275.

 

15.   Cảm tạ t�c giả Nola Cooke về th�ng tin n�y.� Muốn biết về� cuộc thảo luận s�u hơn nguồn t�i liệu n�y, xem Nola Cooke, �Early Nineteenth-Century Vietnamese Catholics and Others in the Pages of the Annales de la Propagation de la Foi�, Journal of Southeast Asian Studies, 35, 2 (2004), c�c trang 261-285.

 

16.   1 c�n = 600 grams.

 

17.   Đại Nam Thực Lục Ch�nh Bi�n, Đệ Tứ Kỷ (Primary Compilation of the Veritable Records of the fourth reign of Imperial Vietnam), Keio University, Tokyo, Quhyển 32, trang 6373; Quyển 35, trang 6437.� Xin c�m ơn t�c giả Li Tana về việc pi�n dịch c�c dữ kiện từ tiếng H�n.

 

18.   Đại Nam Thực Lục Ch�nh Bi�n, Đệ Tứ Kỷ, quyển 36, trang 6463

 

19.   Đại Nam Thực Lục Ch�nh Bi�n, Đệ Tứ Kỷ, quyển 40, trang 6556 cung cấp th�ng tin về người Trung Hoa mang t�n Peng Tingxiu [c� kem chữ H�n, ch� của người dịch] c� đ�ng 50,000 quan [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] tiền mặt trong năm 1869 v�o số thu n�ng nghiệp cho việc vận tải tại hai hải cảng Nam Định v� Tr� L�.� Peng Liji [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] c� thể l� t�n của c�ng ty của Peng Tingxiu.� Xin cảm ơn t�c giả Li Tana về việc cung cấp th�ng tin n�y.

 

20.   Yuenan huaqiao nianjian / Annuaire du commerce chinois du Vietnam [Việt Nam Hoa Kiều Ni�n Gi�m], (Cholon: Nanyue Zhong hua zong shang hui, 1953), trang 34.

 

21.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, c�c trang 41-49.

 

22.   Robequain, Economic Development of French Indo-China, trang 117.

 

23.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, c�c trang 113-114.

 

24.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, c�c trang 84-85.

 

25.   Le centre des archives d�outre-mer (CAOM), Indochine, Fonds amiraux 13177, Consulat de France � Haiphong � l�Amiral Gouverneur et Commandant en chef, 13 August 1878.

 

26.   N. B. Dennys, Report on the Newly-Opened Ports of K�iung-Chow (Hoi How in Hainan and of Hai Phong in Tonquin, Hongkong, Noronha & Sons, 1876, trang 41.

 

27.   CAOM, Fond ministerials, S�rie g�ographique, Indochine, Ancien Fonds, AOO (16).� C�c cữ k� bao gồm Guan-Sing v� Yuen tai Sing.

 

28.   Li Tana, ghi ch� từ tập Wang Qing Hai wai bi ji xuan (Overseas Travelers� account in the late Qing period), Beijing: Hai yang chu ban she: 1983, trang 34.

 

29.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, trang 130.

 

30.   Champeaux, Consulat de France � Haiphong to Monsieur le Gouverneur, 1 may 1880.� Indochine, FM SG.� Ancien fonds, Carton 1, Dossier A00 (16), CAOM.

 

31.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions� trang 122.

 

32.   CAOM, Indochine, GGI Amiraux 13229, Consulat de France � Haiphong au � Gouverneur, 26 July 1881.

 

33.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, c�c trang 148-149.

 

34.   C�ng nơi dẫn tr�n, trang 150.

 

35.   C�ng nơi dẫn tr�n, trang 158.

 

36.   Robequain, The Economic Development of French Indochina, trang 310.

 

37.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, c�c trang 170-171.

 

38.   C�ng nơi dẫn tr�n, trang 173.

 

39.   L�Annuaire de l�Annam et du Tonkin pour l�ann�e 1887, trang 259.

 

40.   Paul Bourde, 1885, trang 113.

 

41.   Alain G. Marsot, The Chinese Community in Vietnam Under the French, Edwin Mellen Press, San Francisco, 1993, trang 114.

 

42.   L�Annuaire de l�Annam et du Tonkin pour l�ann�e 1887, c�c trang 257-264.

 

43.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, trang 338.

 

44.   CAOM, GGI 1896, Le R�sident Maire, Hanoi � Monsieur le Secr�taire G�n�rale de l�Indochine, 20 July 1896.

45.   C�ng nơi dẫn tr�n, trang 201.

 

46.   �Rapport de la commission, Chambre de Commerce de haiphong�, Revue Indo-Chinoise, no. 25, 1899, trang 133.

 

47.   CAOM, RS Tonkin, 3819.� D�mission [resignation] du Chinois Guan-sing, conseilleur municipal de Haiphong du fait de sa naturalization francaise, 1893.

 

48.   L�Annuaire, 1887, trang 267; 1892, trang 126; 1895, trang 223; 1899-1906; 1907, trang 267.

 

49.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, trang 216.

 

50.   L�Annuaire, 1890, trang 974.

 

51.   L�Annuaire, 1891, trang 76.

 

52.   L�Annuaire, 1894, c�c trang 126-27.

 

53.   L�Annuaire, 1892, trang 129.

 

54.   �Les Chinois au Tonkin�, Revue Indo-Chinoise, Nọ. 226, 1902, trang 143.

 

55.   Peter Overlack, �German war plans in the pacific, 1900-1914�, The Historian, vol. 60, no. 3, Spring 1998, trang 578.

 

56.   CAOM, GGI 6153, A. R. Marty to GGI, 2 June 1903.

 

57.  C�c t�u mang cờ Đan Mạch l� Alwine v� Activ, v� c�c t�u Đức Quốc l� Cosmopolit, Triumph, Mathilde, Apenrade, C. Diederichsen, J. Diederichsen, Michael Jebsen.

 

58.   �Chronique Locale�, Le Courrier d�Haiphong, 11 January 1891, trang 2.

 

59.   Nghi�n cứu về Jebsen, của Ernest Hieke, được tr�ch dẫn bởi P. J. Meier trong b�i �The Work of the Hamburg Research Center in Entrepreneurial History�, The Journal of Economic History, vol. 21, no. 3, Sep. 1961, trang 368.

 

60.   C�ng ty vẫn c�n hiện hữu đến ng�y nay, bất kể l� c�c t�ch sản của n� đ� bị thanh l� trong Thế chiến I, khi Jacob Jebsen bị giam giữ tại Australia.� Trong năm 1919, bi�n giới giữa Đức v� Đan Mạch đ� được vẽ lại v� hải cảng nơi qu� qu�n của họ ở Apenrade đ� trở th�nh một phần của Đan Mạch.� Trong năm 1921, Jebsen & Co. được thừa nhận như một thương nghiệp của Đan Mạch.� Trong năm 1931, Heinrich Jebsen bị chết v� người con trai, Heinz, đ� nắm sự kiểm so�t c�ng ty hợp tư n�y.� Trong năm 1941, Jacob Jebsen mất đi, con trai �ng l� Michael Jebsen nắm quyền kiểm so�t v� k� th�nh lập một tổ hợp mới tại Thượng Hải trong năm 1944.� Hongkong General Chamber of Commerce, �Member Profile�, http://www.chamber.org.hk/info, tiếp� cận ng�y 16 Decemeber 2006.

 

61.   �Le boycottage des produits japonais�, Avenir du Tonkin, 10 May 1908, trang 2.

 

62.   Avenir du Tonkin, Edition du Soir, 9 January 1909.

 

63.   Weekly Press, 29 March 1909.� Carl Smith Collection, Hong Kong Public Record Office, Image for 1015/00143481.GIF

 

64.   �Chronique de Haiphong�, Avenir du Tonkin, Edition du Matin, 30 January 1909, trang 2.

 

65.   Edition du matin, 28 January 1909, trang 2; �L�Inscription Maritime, �Chronique de Haiphong�, Avenir du Tonkin, Edition du Matin, 19 March 1909, trang 2.

 

66.   AT du Matin, �Boycottage des Chinois�, Chronique de Haiphong, 11 April 1909, trang 2.

 

67.   �Boycottage des Chinois�, Chronique de Haiphong, Avenir du Tonkin, Edition du Matin, 14 April 1909, p. 2.

 

68.   �Le commerce du riz�, Chronique de haiphong, Avenir du Tonkin, Edition du Matin, 15 April 1909.

 

69.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, trang 602.

 

70.   �Le Boycottage des Chinois�, Chronique de Haiphong, Avenir du Tonkin, Edition du Matin, 25 April 1909, trang 2.

 

71.   �Chronique de Haiphong�, Avenir du Tonkin, Edition du Matin, 9 September 1909.

 

72.   �Chronique de Haiphong�, Avenir du Tonkin, Edition du Matin, 16 September 1909, trang 2.

 

73.   �Le Commerce�, Le Courrier d�Haiphong, 7 May 1912.

 

74.   �Rapt d�enfants, Chronique Locale�, Le Courrier d�Haiphong, 30 January 1912.

 

75.   CAOM, GGI, 2009. Report from the Resident Superior of Tonkin to the Governor General of Indochina, 5 April 1918.

 

76.   �Executive Order taking over German vessels in American Ports, Joint Resolution adopted by Congress, June 30, 1917�, The American Journal of International Law, vol. 11, no. 4, Supplement: Official Documents, c�c trang 199-201.

 

77.   http://pier70sf.org/history/shipsBuilt/ShipsBuiltAll.html.� Tiếp cận ng�y 15 December 2006.

 

78.   Raffi, �Haiphong, Origines, Conditions�, trang 375.

 

79.   Archives diplomatiques de Nantes, RSTAF, 36457, Shun Tai to Momsieur l�Administrateur maire de la ville de Haiphong, 16 November 1925.

 

80.   L�Annuaire, 1905.� Liste G�n�rale de fonctionnaires, commercants, industries, etc. de la Ville de Haiphong.

 

81.   Hanoi National Archives no. 1, RS Tonkin, 33677, 40864, 40880.

 

82.   Archives diplomatiques de Nantes, Pekin Ambassade, Serie A, 288, 6 September 1927.

 

83.   Alexander Woodside, Community and Revolution in Modern Vietnam, Houghton Mifflin Company, Boston, 1976, trang 66.

 

84.   Esta S. Ungar, �The Nationalists and an Overseas Chinese Community: Vietnam, 1927�, trong tập s�ch do John Fitzgerald chủ bi�n, nhan đề The Nationalists and Chinese Society 1923-1937: A Symposium, Parkville, History Department, University of Melbourne, 1989, c�c trang 95-99.

 

85.   Ungar, �The Nationalists and an Overseas Chinese Community�, trang 102.

 

86.   C�ng nơi dẫn tr�n, trang 99.

 

87.   Ghi nhận rằng trong năm 1899 danh xưng �Luong-Cheong-Hoi dit Shun Ly� xuất hiện tr�n danh s�ch của Ni�n Gi�m như một thương nh�n l�a gạo, c�c trang 246-47.� Trong Ni�n Gi�m năm 1901, Shune Ky [sic] dit Luong-cheong-hai [sic] được liệt k� như một thương nh�n l�a gạo tại địa chỉ số 156, rue Chinoise.

 

88.   Marsot, The Chinese Community, trang 53.

 

89.   Martin J. Murray, The Development of capitalism in Colonial Indochina (1870-1940), University of California press, Berkeley, 1980, trang 459.

 

90.   Archives diplomatiques de Nantes, Hong Kong Consulate, 64 liasses (27), Resident Superior of Tonkin to Governor General of Indochina 11 Ju;y 1934; General Governor of Indochina to French Consul, Hong Kong, 17 July 1934.

 

91.   Lian Kwen Fee v� Koh Keng We, �Chinese Enterprise in Colonial Malaya: the case of Eu Tong Sen�, Journal of Southeast Asian Studies, 35 (30, trang 417. �

 

 

_____

 

 

Nguồn: Julia Martinez, Chinese Rice Trade and Shipping from the North Vietnamese Port of Hải Ph�ng, Chinese Southern Diaspora Studies, Volume 1, 2007, c�c trang 82-96.

 

 

 

 

Ng� Bắc dịch

17/11/2008

 

                                                                                                                                              

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2008 gio-o