Thomas Engelbert

 

 

�VỀ MIỀN T�Y� TRONG NAM KỲ:

C�C HOẠT ĐỘNG BẤT HỢP PH�P

CỦA NGƯỜI HOA V� NGƯỜI VIỆT

TẠI V�NG TRANSBASSAC

(trong khoảng 1860 đến thập ni�n 1920)

 

 

Ng� Bắc dịch

 

Lời Người Dịch:

 

Đ�y l� b�i dịch thứ 7 trong loạt b�i nghi�n cứu về chủ đề S�ng Biển Trong Lich Sử Việt Nam lần lượt được đăng tải tr�n gio-o: 

 

1. Một Vai Tr� Hợp L� Của Biển Đối Với Lịch Sử Việt Nam? X� Hội Duy�n Hải Trong Thế Giới Mậu Dịch Của Hội An, thời khoảng 1550-1830, Charles Wheeler.

2. Sự Trổi Dậy Của Miền Duy�n Hải: Mậu Dịch, Quốc Gia v� Văn H�a Thời Ban Sơ Của Đại Việt, John K. Whitmore.

3. Việc Mua B�n Gạo V� Vận Tải Đường Biển Của Người Hoa Từ Hải Cảng Hải Ph�ng, Bắc Việt, Julia Martinez.

4. Một C�i Nh�n Từ Ngo�i Biển: Viễn Cảnh Về Bờ Biển Bắc V� Trung Phần Việt Nam Li Tana

5. Suy Nghĩ Lại Về Biển Trong Lịch Sử Việt Nam: X� Hội Duy�n Hải Trong Sự Thống Hợp Của Thuận-Quảng, Trong C�c Thế Kỷ 17 � 18, Charles Wheeler.

6. Người Ch�m Trong Hệ Thống H�ng Hải Đ�ng Nam �, Anthony Reid

7. �Đi Về Miền T�y� tại Nam Kỳ, C�c Hoạt Động Bất Hợp Ph�p Của Người Việt v� Người Hoa tại V�ng Transbassac (thời khoảng 1860-1920), Thomas Engelbert.

8. Đại Việt v� Mậu Dịch V�ng Biển Nam Hải từ Thế Kỷ Thư 10 đến Thế kỷ Thứ 15, Momoki Shiro.

9.  Ph� Nam, Ch�n Lạp, Ch�m v� C�c Đền Thờ Thi�n Hậu Trong Họat Động Mậu Dịch Đường Biển V� Sự Xuất Hiện C�c Th�nh Phố Duy�n Hải Tại Đ�ng Nam � (từ thế kỷ thứ 1 cho đến thế kỷ thứ 16, Johannes Widodo

10.  Một Sứ Bộ Đến Ph� Nam, Wang Gungwu.

11. C�c Suy Tưởng, Về � Niệm �Văn Minh S�ng Nước� V� Về Lịch Sử Ch�u Thổ S�ng Cửu Long,Nh�n Qua Một V�i Kh�a Cạnh Của Cuộc Định Cư tại X� S�c Sơn (1920-1945), Pascal Bourdeaux.

V�ng biển Đ�ng Hải với c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa l� một chuy�n đề đặc biệt sẽ được giới thiệu ri�ng biệt.

 

 

 

Đại �

 

Hoạt động bất họp ph�p c� t�nh chất bản địa tại một v�i khu vực duy�n hải của Việt Nam thời tiền hiện đại.� B�i viết n�y nhắm v�o một v�ng như thế, miền t�y hay khu vực Transbassac của Miền Nam Việt Nam hiện đại v� bờ biển k�o d�i của n� từ Ch�u Thổ song Cửu Long cho đ�n c�c v�ng Kampot v� Kompong Som của Căm Bốt v� Trat của Xi�m.� Người Trung Hoa định cư tại đ�y hoạt động trong cả nền kinh tế hợp ph�p v� bất hợp ph�p, như c�c n�ng d�n v� nh� mậu dịch cũng như l� c�c kẻ bu�n lậu, thổ phỉ v� hải tặc.� B�i viết n�y thảo luận về c�c yếu tố địa l� ch�nh trị đ� t�n trợ cho c�c hoạt động phi ph�p, v� ph�c họa c�c t�nh hưống lịch sử đ� uốn nắn người d�n địa phương v�o c�c tổ chức hay phong tr�o kinh tế, x� hội, t�n gi�o hay ch�nh trị kh�c nhau.� Bất kể sự x�m nhập h�nh ch�nh thực d�n gia tăng, nhiều yếu tố trong c�c yếu tố n�y đ� được thử� th�ch v� bảo đảm c�c hoạt động tương tự sẽ quay lại bất kỳ khi n�o c�c t�nh hưống thay đổi, giống như trong suốt thời Chiến Tranh Đ�ng Dương Lần Thứ Nhất.

 

 

DẪN NHẬP 1

 

Nạn hải tặc, thổ phỉ v� mua b�n phi ph�p lu�n lu�n hiện hữu trong suốt lịch sử l�u d�i của c�c sự tương t�c ch�nh trị v� kinh tế giữa Việt Nam v� Trung Hoa.� Bi�n giới n�i đồi của Việt Nam với Trung Hoa , v� đặc biệt bờ biển d�i hơn 2,000 c�y số của n� đ� l�i cuốn mọi loại người b�n lề x� hội của Trung Hoa, như c�c kẻ bu�n lậu, c�c người tỵ nạn n� tr�nh sự ngược đ�i, c�c di d�n bất hợp ph�p, c�c hải tặc v� qu�n thổ phỉ.� C�ng khu�n mẫu n�y đ� hiện diện dọc theo bờ biển d�i của Trung Hoa, nơi m� hoạt động mậu dịch, bu�n lậu, đ�nh c� v� hải tặc lu�n lu�n li�n hệ với nhau.� Điều n�y đặc biệt đ�ng cho c�c thời kỳ lịch sử khi hoặc Trung Hoa hay Việt Nam tự c� lập m�nh, �p đặt sự cấm đo�n một phần hay to�n diện tr�n mậu dịch quốc tế hay tr�n việc mua b�n c�c sản phẩm đặc biệt hay đ�nh c�c sắc thuế thật cao để ph�t huy hang h�a của m�nh hay để trục xuất c�c h�ng h�a ngoại quốc ra khỏi thị trường của ch�ng.� Trong c�c thời kỳ n�y, bu�n lậu tức thời lấp k�n khoảng trống, thường c�c tay bạt mạng [sui mano, tiếng La Tinh trong nguy�n bản, nguy�n được d�ng trong c�c sổ hộ tịch của gi�o d�n trong gi�o xứ, c� nghĩa tự tay m�nh, tức chỉ người tự tử, ch� của người dịch] n�y được bảo vệ bởi c�c vi�n chức địa phương l� c�c người ngăn trở sự truy tố đổi lấy sự dự phần v�o lợi lộc phi ph�p. 2

 

���� Khu�n mẫu của mậu dịch phi ph�p n�y tại Đ�ng Bắc v� Đ�ng Nam � Ch�u cổ thời c�n sống s�t một c�ch mạnh mẽ c� v�o thời kỳ thuộc địa, với một số sự biến đổi bởi c� sự canh t�n h�a phương tiện mua b�n v� sự kỉểm so�t n�.� Điều n�y cho thấy, một mặt, sự li�n kết chặt chẽ v� li�n thuộc của c�c v�ng vĩ m� kinh tế của Đ�ng Bắc v� Đ�ng Nam � ch�u.� Mặt kh�c, n� biểu lộ sự bất lực của c�c cơ cấu nh� nước trong việc đối ph� với th�nh tố căn bản n�y trong nền kinh tế của miền.� Tự do mậu dịch � như được đ�i hỏi bởi Samuel Baron [1632-1694 , sử gia v� luật gia người Đức, l� một trong c�c l� thuyết gia đầu ti�n về luật quốc tế, cho rằng luật c�c d�n tộc l� một chi nh�nh của luật tự nhi�n l� luật dựa tr�n kh�i niệm cho rằng con người l� con vật x� hội, v� mọi c� nh�n đều phải đượcc hưởng sự b�nh đẳng v� sự tự do, ch� của người dịch] trong thế kỷ thứ mười bẩy, Sir John Bowring [1792-1872, nh� ngoại giao, ngữ học v� văn gia Anh Quốc, th�ng thạo nhiều thứ tiếng, được ghi nhớ v� c�c tuyển tập v� bản dịch thi ca từ nhiều ng�n ngữ �u Ch�u v� � Ch�u, ch� của người dịch] hồi giữa thế kỷ thứ mười ch�n, v� bởi v�i thế hệ c�c nh� h�nh ch�nh Ph�p l�m việc tại Đ�ng Dương � vần chưa l� c�ch nghĩ thịnh h�nh.� Ngay cho d� quyền lực thực d�n Ph�p đ� mở cửa Đ�ng Dương cho c�c thị trường cấp miền v� thế giới hơn bất kỳ ch�nh quyền n�o trước n�, � thức hệ thực d�n, chủ trương rằng nhiệm vụ của thuộc địa l� cung cấp cho thị trường Mẫu Quốc nguy�n liệu v� bảo đảm cho việc b�n c�c chế tạo phẩm, đ� �p đặt c�c hạn chế tr�n mậu dịch tự do.� C�c thống đốc v� nh� h�nh ch�nh Ph�p l�m việc tại chỗ chỉ biết qu� r� đ�u l� c�c thị trường cổ truyền v� tương lai của thuộc địa, v� đ� đ� đ�i hỏi nhiều lần, nhưng kh�ng mấy th�nh c�ng, rằng Paris cần phải c� đủ sự cứu x�t đến c�c nhu cầu căn bản n�y. 3

 

���� C�c sự ngăn cấm, c�c sắc thuế qu� cao, v� c�c độc quyền nh� nước, th� dụ về thuốc phiện, rượu, muối v� di�m, đ� tạo ra c�c cơ hội bằng v�ng cho mậu dịch phi ph�p, ngay từ l�c khởi đầu sự cai trị của thực d�n cho đến hồi kết cuộc của n�.� Khi mậu dịch phi ph�p hiện hữu, nạn hải tặc v� thổ phỉ bao giờ cũng đứng gần kề.� Một nguồn gốc thứ nh� của nạn hải tặc, v� đặc biệt biến thể tr�n đất liền của n� tức nạn thổ phỉ, l� sự ph�t triển kinh tế của c�c v�ng đất trước đ�y c�n sơ nguy�n hay chưa ph�t triển, vốn l�i cuốn c�c người định cư, n�ng d�n v� c�c nh� mậu dịch lương thiện, nhưng cũng gồm cả mọi loại người b�n lề, như c�c kẻ trốn thuế, bu�n lậu, phi�u lưu, ngo�i v�ng ph�p luật, c�c kẻ bần c�ng v� những kẻ kh�c kh�ng b�n nhậy để g�nh chịu qu� nhiều sự cực khổ hầu kiếm sống.

 

���� Liệu c� thể xếp c�c người sống b�n lề n�y n�i chung như �c�c kẻ nổi lọan x� hội sơ khai� 4 hay kh�ng? C�u hỏi n�y dẫn trở về cuộc thảo luận ph�t sinh trong thập� ni�n 1950 v� được nung s�i bởi c�c c�ng tr�nh nghi�n cứu của Hobshawn v� Chesnaux.� Họ n�u c�u hỏi l� liệu c�c hội k�n của Trung Hoa c� phải l� c�c nh�m thời tiền hiện đại, về mặt kinh tế, c� nguồn gốc tiểu tư sản hay kh�ng, c�c lực lượng đối lập ch�nh trị đ� uốn nắn diễn tiến của lịch sử Trung Hoa cuối thời đế quốc nhưng lu�n lu�n ngăn cấm khuynh hướng cải c�ch ch�nh trị hơn l� sự thay đổi c�ch mạng.� Sự thảo luận của giới học thuật T�y Phương ph�t triển trong c�c thập ni�n sau đ� cho thấy, tuy thế, m� thức giải th�ch Marxist n�y th� qu� đơn giản v� l�ng mạng.� N� đ� kh�ng cứu x�t đến t�nh phức tạp của hiện tượng hay c�c sự biểu lộ kh�c nhau của n�, bởi t�nh anh em kết nghĩa thề nguyền nơi căn bản của c�c hội k�n n�y đ� l� một phần trong sinh hoạt Trung Hoa h�ng ng�y v� x� hội địa phương được chuy�n biệt h�a, kh�ng kh�c g� với c�c nh�m giang hồ chuy�n ăn cướp v� hoạt động t�i phạm.� C�c hội n�y c� thể, trong c�c t�nh huống n�o đ�, c� t�nh chất bảo thủ hay c�ch mạng, hướng về kinh tế hay ch�nh trị.� Với bằng chứng từ văn khố được c�ng khai h�a từ cuối thập ni�n 1980 v� trong thập ni�n 1990, điều trở n�n r� r�ng rằng c�c hội k�n Trung Hoa kh�ng phải l� những tổ chức tập trung h�a, m� l� c�c nh�m tự trị v� độc lập ở địa phương đ� chia sẻ c�c nghi thức tương tự v� thấm đậm c�c sắc th�i t�n gi�o mạnh mẽ trong sự tuyển mộ v� trong c�c tiến tr�nh khởi ph�t của ch�ng.� Với thời gian, c�c mục đ�ch ch�nh trị kh� hiểu c� thể đ� hiện hữu trong thời kỳ th�nh lập đ� nhường chỗ cho việc t�m kiếm lợi lộc kinh tế xuy�n qua c�c phương thức tội phạm hay phi ph�p. 5

 

���� C�u trả lời cho c�u hỏi n�y sẽ ra sao chiếu theo c�c nguồn t�i liệu từ Đ�ng Dương thuộc Ph�p?� C�u trả lời l� c�, nhưng chỉ ở trong � nghĩa rằng c�c người n�y nằm b�n lề x� hội đ� nổi loạn chống lại luật ph�p v� trật tự như thế.� Chắc chắn ch�ng ta cũng sẽ t�m thấy trong c�c người n�y một số c�c kẻ nổi loạn x� hội kiễu xưa theo định nghĩa của Hobsbawn, tức người c� gốc chủ yếu ở n�ng th�n c�ng khai k�u g�o sự trả th� chống lại sự b�c lột, nhưng ch�ng ta cũng sẽ t�m thấy c�c hội vi�n của c�c tố chức kiểu anh chị mafia đ� h�nh động như c�c c�ng cụ quyền lực của c�c con người c� nh�n, v� sau hết, c�c m�n đồ cứu thế [của c�c tổ chức h�a b�nh một ngh�n năm dưới sự trị v� của Thi�n Ch�a (milletarian trong nguy�n bản, ch� của người dịch] đ� đạt được sự th�nh c�ng nhất một khi sự l�nh đạo v� � thức hệ ph�t sinh từ b�n ngo�i khu vực n�ng th�n nguy�n thủy của họ. 6

 

���� Tuy nhi�n, hai lập luận cảnh gi�c ch�ng ta chống lại bất kỳ khảo hướng tất nhi�n (determinist) n�y sẽ vạch ra một lằn vạch đỏ giữa hoạt động thổ phỉ thời cuối thế kỷ thứ mười chin với cuộc c�ch mạng cộng sản của thế kỷ thứ hai mươi.� Trước ti�n, c�c hiện tượng bu�n lậu, hải tặc, v� thổ phỉ phải được nh�n trong một khung cảnh địa dư v� lịch sử rộng lớn hơn.� Một thời điểm đặc biệt, thời cuối thế kỷ thứ mười chin v� đầu thế kỷ thứ hai mươi, v� một địa điểm đặc biệt, miền nam của Việt Nam hay Nam Kỳ thuộc Ph�p, l� c�c đối tượng của b�i nghi�n cứu n�y, nhưng hiện tượng kh�ng bị hạn chế v�o thời kỳ lịch sử n�y hay v�o miền nam kh�ng th�i.� N� đ� bắt nguồn từ l�u trước khi người Ph�p đ�n v� l� một đường n�t cấu th�nh v� đặc trưng cho sự ph�t triển kinh tế - x� hội của v�ng Ch�u Thổ s�ng Cửu Long, như hai th� dụ dưới đ�y cho thấy.

 

���� Đo�n người Hoa định cư lớn lao đầu ti�n tại Ch�u Thổ s�ng Cửu Long hồi cuối thế kỷ thứ mười bẩy l� c�c nh� mậu dịch v� c�c hải tặc, trung th�nh với nh� Minh, những kẻ đ� chạy trốn từ bờ biển ph�a nam khi nh� Thanh thống nhất Trung Hoa trong thập ni�n 1680.� Họ đ� kh�ng bỏ ph� sự chiếm ngụ sinh lợi của m�nh tại v�ng đất mới n�y, được chỉ định cho họ bởi c�c v� ch�a nh� Nguyễn tại Huế, mặc d� về mặt ch�nh thức, n� h�y c�n thuộc vễ Vương Quốc Căm Bốt l�n cận v�o thời khoảng đ�.� Sau hết, hai chiếc t�u Anh Qu�c đ� được thu� bao bởi nh� vua Xi�m La để gi�p v�o việc trấn �p họ.� Trong cuộc đột k�ch n�y, William Dampier đ� tường thuật rằng c�c chiếc thuyền của Anh Quốc đ� x�m nhập s�u v�o �Con S�ng Lớn của Căm Bốt� nơi m� ch�ng gặp một thị trấn c� th�nh lũy ki�n cố tr�n một h�n đảo, c� thể l� tiền th�n của Mỹ Tho Đại Phố sau n�y, sẽ trở th�nh một trong những trung t�m thu h�t của cuộc thực d�n tương lai của người Trung Hoa v� Việt Nam tại v�ng Ch�u Thổ s�ng Cửu Long. 7 Th� dụ thứ nh� c� ni�n kỳ năm 1791, khi Nguyễn Phước �nh, tức Ho�ng Đế Gia Long sau n�y, sắc dụ rằng tại Long Xuy�n v� c�c nơi kh�c, c�c người Hoa, �cũ hay mới� đến, được khuyến c�o một c�ch mạnh mẽ h�y khai khẩn đất mới, v� họ sẽ đực miễn c�c sắc thu�, qu�n dịch, v� c�c nhiệm vụ kh�c.� Nếu những �ngừoi d�n nh� Đường, �cũ v� mới� kh�ng sẵn l�ng tự tổ chức th�nh c�c đồn điền (military plantations) để l�m việc n�y, họ bị đe dọa với h�ng loạt c�c sắc thuế v� sưu dịch, kể cả việc trưng binh, �hầu l�m nản l�ng c�c kẻ ham vui chơi v� lang thang bất định�. 8 C�c th� dụ tương tư từ c�c thời kỳ kh�c nhau c� thể được t�m thấy trong c�c nguồn t�i liệu về Việt Nam thời tiền thực d�n. 9

 

���� Thứ nh�, chủ trương chống thực d�n đ� đ�ng một vai tr� quan trọng hồi cuối thế kỷ thứ mười chin v� đầu thế kỷ thứ hai mưoi.� Sự cai trị của ngoại bang chưa bao giờ được ưa chuộng trong c�c tầng lớp hạ lưu v� c� học, trong số những người được gọi l� d�n bản xứ � Ch�u của Đ�ng Dương (Việt, L�o v� Khmer) hay trong số những người được gọi l� � Ch�u ngoại kiều (căn bản l� người Trung Hoa).� Nhiều cuộc khảo cứu về chủ nghĩa chống thực d�n của người Đ�ng Dương, v� đặc biệt của người Việt Nam, nh�n thấy �nh s�ng kể từ cuối thập ni�n 1920, đ� chứng minh nhiều lần điều n�y trong một cung c�ch thuyết phục. 10� Tuy nhi�n, giống y như c�c hội k�n Trung Hoa sử dụng chi�u b�i �phản Thanh, Phục Minh!�, c�c kẻ cướp hay c�c người kh�c m� mọi x� hội lo�i người đều sẽ sắp loại như một số loại tội phạm, cũng c� thể sử dụng c�c cảm t�nh chống thực d�n như thế l�m vỏ bọc hay duy�n cớ cho c�c hoạt động phi ph�p của họ, như cuộc thảo luận sau n�y về c�c h�nh vi của c�c hội k�n ở Nam Kỳ sẽ bộc lộ.� Loại c�c kẻ kết băng đảng n�y đ� được nh�n nhận như c�c kẻ nổi loạn chống thực d�n v� do đ� được l�ng giới b�nh d�n hay kh�ng?� C�c nguồn t�i liệu của Ph�p, n�i về �qu�n thổ phỉ� chung chung kh�ng c� sự ph�n biệt n�o, chỉ đưa ra c�c sự �m chỉ gi�n tiếp, v� thế ch�ng ta phải ph�n đo�n c�c hiện tượng n�y về mặt lịch sử theo từng trường hợp một, bằng việc lượng định một c�ch cẩn trọng t�nh chất x� hội của ch�ng v� c�c h�m � ch�nh trị khả hữu của ch�ng.� B�u kh�ng kh� của một x� hội bi�n cương thu h�t c�c n�ng d�n v� c�c nh� mậu dịch, qu�n thổ phỉ v� c�c l�nh đ�nh thu�, c�c kẻ nổi loạn v� c�c l�nh tụ cứu thế.� C�c t�nh huống lịch sử cụ thể đ� khu�n đ�c ra họ, v� c�c mục ti�u c�ng kh�t vọng của họ, th�nh c�c sự biểu hiện đặc biệt của c�c tổ chức hay phong tr�o kinh tế, x� hội, t�n gi�o hay ch�nh trị.� N�i c�ch kh�c: giới hải tặc, qu�n thổ phỉ, c�c hội k�n, c�c kẻ tin theo thuyết một ngh�n năm thịnh trị của Ch�a, v� c�c phong tr�o c�ch mạng đều l� c�c c�y đựoc ph�t triển l�n từ mảnh đất ph� nhi�u của Nam Kỳ thuộc Ph�p.� Ch�ng kh�ng kh�c nhau về kh�ng gian, chỉ kh�c nhau về thời gian v� t�nh chất.

 

���� Tuy nhi�n, như đ� n�i ở tr�n, nạn bu�n lậu, hải tặc v� thổ phỉ đ� hiện diện trong một khung cảnh to�n miền rộng lớn về mặt lịch sử v� địa dư nhiều hơn một m�nh Nam Kỳ, hay ngay cả Việt Nam ng�y nạy� C�c hoạt động tr�n biển ch�nh yếu ph�t sinh từ ba khu vực, mỗi nơi c� c�c đặc điểm ri�ng của n�.� Trước ti�n, v� cổ xưa nhất về mặt lịch sử, l� miền bắc Việt Nam, được gọi l� Bắc Kỳ (Tongking) trong thời thuộc địa.� Địa dư v� kh� hậu nơi đ� t�n trợ cho nạn hải tặc v� bu�n lậu tại nhiều h�n đảo rải r�c trong Vịnh Bắc Bộ m� sương đ� tạo ra c�c điều kiện l� tưởng để ẩn trốn hay n� tr�nh sự truy k�ch.� Trong hồi cuối thế kỷ thứ mười t�m, c�c hải tặc Trung Hoa c�n đ�ng một vai tr� ch�nh trị v� qu�n sự quan trọng qua việc gia nhập hải qu�n của qu�n nổi dậy T�y Sơn chiếm ng�i vua, giống y như một nh�m hải tặc kh�c sẽ l�m ở s�u ph�a nam hơn đ� hỗ trợ cho b�n chiến thắng sau c�ng l� ch�a Ngiuyễn trong một cuộc nội chiến k�o d�i ba thập ni�n. 11 Thứ nh� l� một khu hoạt động ph�t tỏa từ Đảo Hải Nam.� C�c hạm đội thuyền buồm của n� thường mua b�n với Macao, c�c bờ biển của Trung Hoa v� Việt Nam, v� c�c hải cảng tại v�ng Đ�ng Nam � hải đảo.� D�n ch�ng duy�n hải gốc H�n của h�n đảo ch�nh yếu l� c�c di d�n hay người tỵ nạn từ Quảng Đ�ng, với nh�m đặc biệt quan trọng l� d�n Hakka [người Kh�ch, hay người Hẹ, như người Việt hay gọi, ch� của người dịch].� C�c ngư phủ ở đ�y, giống như c�c nơi kh�c, c� thể tham gia v�o hoọat động hải tặc t�y thời, khi c� một cơ may th�ch hợp xuất hiện.� Nhưng điều l�m hoạt động mậu dịch n�i chung của Hải Nam trở n�n kh�c biệt, �t nhất l� v�o khoảng cuối thế kỷ thứ mười chin, ch�nh l� sự chế ngự của c�c tổ chức bất họp ph�p.� C�c mạng lưới của c�c hội k�n của n� trải d�i đến Hồng K�ng, Thượng Hải v� T�n Gia Ba. 12 trong khi hải vận của Hải Nam th� đặc biệt quan trọng trong việc mua b�n �cu-li: coolie� sang Vọng C�c hay T�n Gia Ba.� Người Triều Ch�u thống trị việc mua b�n gạo giữa S�ig�n v� Swatow, nơi m� c�c thuyền buồm Trung Hoa vẫn c�n nắm độc quyền thực sự trong thời thuộc đia. 13 Ngo�i t�nh trạng n�y, c�c thuyền bu�m nhỏ v� ch�o tay (manoeuvrable) của Hải Nam cũng tham gia v�o mọi hoạt động phi ph�p, kể cả việc bắt c�c c�c phụ nữ v� trẻ em Việt Nam đem b�n tại Lục Địa Trung Hoa. 14

 

���� Khu vực thứ ba của c�c hoạt động phi ph�p, l� ti�u điểm của b�i viết n�y, trải d�i từ c�c khu duy�n hải thưa d�n hay kh�ng c� người ở của miền đ�ng nam Căm Bốt (đặc biệt giữa Kampot v� Ream), bao gồm c�c h�n đảo trong Vịnh Xi�m La nằm ngo�i khơi bờ biển ph�a t�y nam của Việt Nam, xuy�n tới b�n đảo C� Mau.� Giải đất n�y của v�ng ven biển �bi�n cương� d�i hơn nhiều đ� vươn xa tới quanh vịnh Xi�m La 15 c� thể được gọi l� v�ng Transbassac mở rộng, khi n� bao gồm miền Nam Kỳ đựoc gọi l� Transbassac bởi người Ph�p, hay �miền Tấy (Western part� của Nam Việt Nam trong c�c nguồn t�i liệu Việt Nam đương thời, 16 với sự b�nh trướng kinh tế dọc theo bờ biển cho đến tỉnh Kampot v� Kongpong Som của Căm Bốt.

 

���� Cho đến đầu thế kỷ thứ hai mươi, v�ng Transbassac đ�ch thực l� một trong ba miền c�n lại c� thể được xếp l� c�c bi�n cương nằm trong Nam Kỳ thuộc Ph�p (French Cochinchina), như miền nam Việt Nam được gọi một c�ch ch�nh thức trong thời khoảng từ 1859 đến 1945.� C�ng với v�ung Transbassac, c�c khu vực bi�n cương n�y gồm bi�n giới giữa Nam Kỳ - Căm Bốt v� khu n�i rừng ph�a bắc v� đ�ng bắc S�ig�n, tại c�c tỉnh Bi�n H�a v� Thủ Dầu Một.� Tại c�c khu địa dư n�y, sự x�m nhập của con người, sự kiểm so�t ch�nh trị v� sự ph�t triển kinh tế đều thấp, hay c�n chỉ mới được bắt đầu xảy ra, v� người Việt Nam chỉ cấu th�nh một trong v�i nh�m chủng tộc cư tr�, trong đ� c� người Hoa v� người Khmer c�ng con ch�u của c�c cuộc kết h�n hợp chủng với người Hoa (hậu duệ ph�a con trai được gọi l� Minh Hương [?], nếu cha l� người Trung Hoa).� Bởi cả l� do ch�nh trị lẫn kinh tế, c�c thẩm quyền thực d�n đ� cố gắng th�c đẩy sự tiến bước của họ v�o c�c địa điểm n�y, nhưng, sau hết, tiến tr�nh đ�i hỏi c� đủ thời gian của ch�nh n� v� vẫn chưa ho�n tất khi người Ph�p bị buộc phải r�t lui khỏi Đ�ng Dương sau năm 1954.� C�c khu vực n�y từ l�u � hay n�i đ�ng hơn, m�i m�i vẫn l� � c�c v�ng đất nu�i dưỡng mọi loại hoạt động phi ph�p v� đ� cung cấp c�c nơi ẩn n�u l� tưởng cho c�c kẻ trốn thuế, c�c kẻ trốn nợ, c�c n�ng d�n kh�ng đất c�y, c�c l�nh tụ muốn cứu đời, c�c tội phạm, c�c kẻ chống đối ch�nh quyền, v� c�c người nổi lọan ch�nh trị c�ng khai.

 

���� C�c nguồn t�i liệu ch�nh yếu cho b�i viết n�y được r�t ra từ c�c văn khố thực d�n thời cuối thế kỷ thứ mười ch�n v� đầu thế kỷ thứ hai mươi. 17 Trong số c�c t�i lieu được in ra, c�c tập chuy�n khảo tỉnh hạt địa phương được ấn h�nh dưới danh nghĩa Hội Nghi�n Cứu Đ�ng Dương (SEI: Soci�t� des �tudes Indochinoises) tại S�ig�n hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi, cũng đặc biệt qu� gi�.� Một c�ch dễ hiểu, một b�i nghi�n cứu được viết về Đ�ng Dương thuộc địa chỉ dựa tr�n c�c nguồn t�i liệu Ph�p (văn khố v� b�n ngo�i) kh�ng th�i c� thể mang sự nguy hiểm của việc du nhập nh�n quan thi�n vị từ c�c nguồn t�i liệu n�y, v� từ đ� thiếu mất t�nh v� tư.� Sau hết, mọi sử gia đều c� khuynh hướng, đến một mức độ n�o đ�, bị bắt giữ v� trở th�nh t� nh�n của c�c nguồn tin của họ, vốn l� một trong c�c kh� cụ l�m việc của họ.� Bởi v� c�c kẻ ăn cướp v� qu�n thổ phỉ kh�ng viết t�i liệu về ch�nh họ, �t nhất đến mức độ m� ch�ng ta hay biết ng�y nay, ch�ng ta bị bắt buộc phải sử dụng c�c t�i liệu của c�c �đối phương� của ch�ng, trong thực tế c� thể tạo ra vấn đề trong nh�n quan v� t�nh thi�n vị.� Tuy nhi�n, nếu ch�ng ta lu�n lu�n nh�n v�o c�c nguồn t�i liệu n�y với cặp mắt chỉ tr�ch, đ�u l� kh� cụ ch�nh yếu kh�c cho việc nghi�n cứu của sử gia, khi đ� l�m giảm bớt được vấn đề thi�n kiến đ� được nhận thấy.

 

���� Hơn nữa, c�c nguồn t�i liệu kh�ng bao giờ th�ng minh hơn c�c người đ� viết ra ch�ng.� Giống y như việc ch�ng ta phải tr�nh việc tưởng tượng rằng mọi thứ m� c�c nh� h�nh ch�nh Ph�p thu thập v� ch� giải đều phải l� �sự thực�, ch�ng ta cũng phải n� tranh như thế mối nguy hiểm đối nghịch của việc nghĩ rằng đ� l� �sai�, đơn giản chỉ v� n� đ� được viết bởi �c�c kẻ thực d�n�.� Giống như bất kỳ ch�nh quyền n�o kh�c tr�n thế giới, kh�ng kh� khăn g� để x�c định đựoc c�c nh�n vi�n chuy�n nghiệp v� c�c vi�n chức thư lại xu thời tại Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� Tuy nhi�n, ch�ng ta cũng t�m thấy nhiều nh�n vật với c�c năng lực tr� thức v� c�c ti�u chuẩn đạo đức cao, với một sự gi�o dục kh� th�ng th�i, đ�i khi với cả sự huấn luyện chuy�n m�n về đ�ng phương học, trước khi họ sang Đ�ng Dương.� Họ l�m việc ở đ� trong nhiều năm d�i v� ở c�c khu vực kh�c nhau, th�ng thạo �t nhất một, hay đ�i khi nhiều hơn, c�c ng�n ngữ cổ xưa hay hiện đại của Đ�ng Dương, c� một sự hiểu biết s�u xa về miền n�y v� biểu lộ c�c t�nh cảm con người với người d�n m� họ cai quản, cho d� phục vụ cho một l� cớ m� ng�y nay bị nhất tr� l�n �n.� Trong bốn thập ni�n trước khi Trường Viễn Đ�ng B�c Cổ (�cole Francaise d�Extr�me-Orient) được th�nh lập như trung t�m nghi�n cứu kinh viện đầu ti�n tại Đ�ng Dương, c�c nh� quản trị h�nh ch�nh n�y, c�ng với c�c nh� gi�o sĩ truyền đạo C�ng Gi�o, đ� l� c�c kẻ ti�n phong v� mở đường cho ng�nh học về Việt Nam, Khmer v� L�o sau n�y.� Trong c�c thập ni�n sau đ�, nhiều c�ng tr�nh m� họ sản xuất ra vẫn c�n chứng thực được c�c năng lực tr� thức cao si�u của họ.� Điều n�y dĩ nhi�n kh�ng c� nghĩa rằng mọi điều họ đ� viết ra đều l� �đ�ng�, nhưng �t nhất ch�ng phải được xem trọng.� Nh�n từ một nh�n quan thực tế, một kh�a cạnh đ�ng qu�n t�m kh�c trong c�c c�ng tr�nh của họ l� t�m biết xem họ đ� phản ứng ra sao trước c�c thử th�ch l�u đời m� họ gặp phải trong c�c nhiệm vụ h�nh ch�nh của họ, chẳng hạn như bu�n lậu, hải tặc v� thổ phỉ.�

 

���� B�i viết n�y bắt đầu bằng việc ấn định c�c nền tảng kinh tế v� địa l� � ch�nh trị của v�ng Transbassac mở rộng.� Sau đ� ch�ng ta duyệt x�t những nguồn t�i liệu n�o ph�t hiện ra c�c hoạt động phi ph�p ở đ�.� Quay sang một c�i nh�n hơi kh�c biệt, ch�ng ta khi đ� khảo s�t Thi�n Địa Hội [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] Trung Hoa (Chinese Heaven and Earth Society) tại Nam Kỳ thời ban đầu thuộc đị, đặc biệt li�n quan đến vai tr� của n� trong việc phổ biến � tưởng v� m� thức tổ chức c�c hội k�n từ người Trung Hoa sang người Việt Nam.� B�i viết sau đ� kết th�c với một kết luận phản ảnh t�nh li�n tục v� sự thay đổi trong c�c hoạt động phi ph�p tại miền n�y trong suốt thời c�n lại của kỷ nguy�n thuộc địa.

 

C�c Điều Kiện Địa-Ch�nh Trị Của V�ng Transbassac

 

���� Di chuyển theo hướng đ�ng bắc xuống t�y nam, ba ph�n khu địa ch�nh trị thường được ph�n biệt tại Nam Kỳ thuộc Ph�p: v�ng đ�ng v� bắc S�ig�n; v�ng Cissbassac; v� v�ng Transbassac. 18� Tất cả ba ph�n khu n�y đều c� chung một khu�n mẫu định cư tương tự: c� c�c trung t�m đ�ng người ở hơn v� được kiểm so�t chặt chẽ hơn, được bao quanh bởi c�c khu vực ven bi�n thưa d�n hay k�m ph�t triển hơn l� nơi, từ rất l�u trước khi c� người Ph�p đến, m� c�c kẻ nổi loạn, c�c tội phạm, v� c�c người tỵ nạn t�m thấy chỗ ẩn n�u hay che dấu cho c�c hoạt động phi ph�p.

 

���� Hai trong ba khu vực rộng lớn được x�c định với sự tham chiếu đến s�ng Bassac, v�ng Cissbassac, v� v�ng đất xa hơn về ph�a t�y, băng qua con s�ng.� Ch�ng ta c� thể bắt đầu bằng việc n�u c�u hỏi rằng đ�u l� sự kh�c biệt giữa hai vủng? Về mặt địa l�, chỉ c� rất �t sự kh�c biệt: cả hai đều l� đồng bằng, được đ�ng khung v� chế ngự bởi d�ng chảy của nước � ch�nh yếu bởi hai con s�ng quan trọng, s�ng Bassac (trong tiếng Việt, l� s�ng Hậu Giang) v� s�ng Mekong (Tiền Giang) 19 c�ng c�c s�ng nh�nh v� c�c phụ lưu.� C�c s�ng nhỏ tu�n nước v�o c�c s�ng lớn hơn, tạo th�nh c�c nơi s�ng giao nhau, trong khi c�c gi�ng nước nhỏ, hoạt động như c�c mương dẫn nước tự nhi�n (rạch: tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], v� c�c mương dẫn nước nh�n tạo (k�nh hay kinh, tiếng Ph�p l� arroyo, nguy�n gốc l� một từ ngữ của tiếng T�y Ban Nha), ng�y c�ng được mở rộng ra mọi hướng.� Tất cả c�c thuỷ lộ lớn nhỏ n�y đ� tạo ra v� số mạng lưới c�c tuyến giao th�ng chằng chịt.� Đất bồi ph� sa của c�c con s�ng tạo th�nh nền đất, kh�ng g� ngo�i một �t c�c đụn ph� sa (giồng) l�m gi�n đọan bức tranh phẳng l� của s�ng nước v� c�c c�nh đồng l�a. 20 Ở khoảng giữa biển v� đất liền, nơi c�c m�i trường nước mặn v� nước ngọt gặp nhau, c�c rừng tr�m (mangrove) mọc l�n ở cửa c�c con s�ng. 21 Tại khu sinh th�i đa dạng nhất, ch�ng tọa lạc tại c�c đầm ngập nước thủy triều dọc theo bờ biển của ch�u thổ s�ng Cửu Long v� b�n đảo C� Mau, nơi m� ch�ng vẫn thường xuy�n bị ngập bởi nước biển hay nước lợ.� Với c�c luồng nước duy�n hải v� đại dương đến từ ph�a nam v� t�y nam, c�c đầm tr�m miền nam Việt Nam thường xuy�n tiếp nhận c�c chồi nh�nh của c�y tr�m từ c�c nơi xa x�i như m�i tận c�c bờ biển M� Lai v� Nam Dương. 22� ��

 

���� S�ng Bassac lu�n lu�n l� một mắt x�ch giao th�ng quan trọng giữa Nam Kỳ v� Căm Bốt, cũng như l� lối tiếp cận với biển quan trọng nhất của Phnom Penh trong thời tiền thuộc dịa v� thời thuộc địa.� V�o khoảng gần cuối thế kỷ thứ mười chin, c�c bờ c�t g�y trở ngại tại hai cửa ch�nh của s�ng Cửu Long, ở Cửa Đại v� Cửa Ba Lai, tạo ra một v�i sự kh� khăn cho việc l�i c�c con t�u v� thuyền buồm lớn hơn. 23 Mặt kh�c, s�ng Bassac đ� nối liền nhau chứ kh�ng ngăn c�ch: c�c đảo lớn hơn hay nhỏ hơn nằm trong l�ng con s�ng � một số đảo c� người ở, một số kh�ng � đ� kh�ng g�y trở ngại cho việc hải h�nh� v� tạo dễ d�ng cho việc băng ngang con s�ng rộng n�y.

 

���� Sử dụng c�c bờ b�n tr�i v� b�n phải s�ng Bassac như l� một bi�n giới l� tạo ra một tuyến để chỉ định miền đ�ng v� miền t�y của Ch�u Thổ s�ng Cửu Long.� Điểm kh�c biệt ch�nh yếu giữa hai miền nằm ở kh�a cạnh x�m nhập của con người, sự pha trộn chủng tộc v� kinh tế.� Phần lớn của v�ng Cissbassac vốn đ� sẵn được mở ra cho sự canh t�c bởi người Trung Hoa v� người Việt Nam trong thế kỷ thứ mười t�m, v� sau đ� ch�nh yếu bởi người Việt Nam trong thế kỷ thứ mười ch�n, từ l�u trước khi người Ph�p đến nơi v�o năm 1858.� V�o l�c đ� người Việt l� nh�m chủng tộc đ�ng đảo nhất.� Tuy nhi�n, tại v�ng Transbassac, sự ph�t triển n�ng nghiệp phần lớn đ� diễn ra dưới thời thuộc địa, bắt đầu trong thập ni�n 1880 sau khi c�c qu�n nổi dậy chống thực d�n sau c�ng đ� bị trấn �p.� Tuy nhi�n, cho đến đầu thế kỷ thứ hai mươi, d�n số ở đ�y đ� pha trộn rất nhiều so với miền đ�ng, với người Việt nam, Trung Hoa, Khmer v� người Minh Hương vẫn sinh sống gần cận nhau, như họ đ� từng l�m trong qu� khứ. 24 Do tiến tr�nh lịch sử n�y, một sự kh�c biệt quan trọng kh�c đ� ph�t sinh giữa hai miền trong thế kỷ thứ hai mươi: đất n�ng nghiệp định cư từ l�u tại miền Cissbassac thường được chia th�nh c�c mảnh nhỏ v� được canh t�c bởi c�c n�ng d�n điền chủ, trong khi việc đ�o c�c con kinh thời thuộc địa, đặc biệt l� tại miền Transbassac, đ� gi�p cho việc khai khẩn c�c giải đất lớn c� thể đem đấu gi� b�n cho kẻ trả gi� cao nhất, tạo c�c điều kiện cho sự ph�t triển c�c đại điền chủ v� c�c khu trồng l�a được cầy cấy bởi c�c n�ng d�n t� điền [thu� ruộng].

 

���� Tuy nhi�n, trong mục đ�ch tranh luận của t�i, t�i muốn nh�n v�o một v�ng Transbassac mở rộng, kh�ng chỉ phần đất ng�y nay thuộc v�o nam Việt Nam m� c�n cả giải duy�n hải nối d�i đến miền đ�ng nam Căm Bốt, với n� nhiều hải cảng nhỏ của b�n đảo C� Mau đ� c� qu� nhiều r�ng buộc về kinh tế.� Khu vực n�y v� thế được chia l�m hai: phần đầu khảo s�t về v�ng Transbassac ch�nh danh v� phần thứ nh� nh�n Transbassac như một v�ng duy�n hải k�o d�i từ c�c hải cảng của Rạch Gi� v� H� Ti�n, thuộc Việt Nam ng�y nay, đến Kampot, Ream, v� Kongpom Som thuộc Căm Bốt ng�y nay.

 

a. V�ng Transbassac Việt Nam

 

���� �Transbassac� l� danh xưng thời thuộc địa chỉ khu vực vượt qu� bờ s�ng b�n phải của s�ng Hậu Giang, được biết từ l�u đối với người �u Ch�u bằng t�n của n� trong tiếng Khmer, Bassac.� Ph�n v�ng n�y chiếm một diện t�ch gần 15,000 c�y số vu�ng nằm giữa Ch�u Đốc, tại bi�n giới Căm Bốt về ph�a bắc, Vịnh Xi�m La về ph�a t�y, v� biển Nam Hải (South China Sea) [tiếng Việt gọi l� biển Đ�ng Hải, ch� của người dịch] về ph�a đ�ng.� Trong thời khoảng cứu x�t n�y, khu vực được bao phủ bởi đầm lầy, rải r�c với c�c giồng đất ph� sa rộng lớn, một số giồng được d�ng cho việc canh t�c nhưng cũng thường bị che phủ với đồng cỏ v� rừng thưa.� C�c giồng đất n�y l� nơi cư ngụ của d�n gốc Khmer, trong khi người Việt Nam thương đi khai khẩn đất mới dọc theo c�c thủy lộ.� Người định cư gốc Hoa cũng thiết lập c�c chợ ở c�c cửa s�ng v� c�c giao điểm thường được d�ng l�m c�c trung t�m thu h�t m� quanh ch�ng l� người Việt Nam sinh sống tại c�c khu định cư chen ch�c hơn.� So s�nh với v�ng Cissbassac, to�n v�ng n�y h�y c�n rất thưa d�n v�o cuối thế kỷ thứ mười chin, ngoại trừ một v�i �t�i định cư� của người Khmer.� C�c cộng đồng l�ng x� Việt Nam hiện diện nơi đ�y thường trẻ hơn v� �t cố định hơn, 25 cơ cấu h�nh ch�nh yếu k�m hơn, v� sự kiểm so�t của người Ph�p �t hơn.� Tất cả c�c yếu tố n�y đ� gi�p biến v�ng Transbassac trở th�nh một mảnh đất vun bồi thực sự mọi loại hoạt động phi ph�p.

 

���� Tỉnh S�c Trăng l� một th� dụ th�ch đ�ng.� Trong năm 1904, n� bao gồm 2,300 c�y số vu�ng, nhưng chỉ c� 105,000 cư d�n, trong số đ� 57,000 người Việt Nam v� người Minh Hương (c�c kẻ kh�ng may đ� kh�ng được thống k� ri�ng rẽ), 38,000 người Căm Bốt v� Căm Bốt lai Trung Hoa, c�ng 10,000 người Hoa.� Trong số người Hoa, 7,000 người thuộc sắc d�n Triều Ch�u (Teochiu), v� c�c người kh�c l� d�n Quảng Đ�ng (Canton) �hay Ph�c Kiến (Hokkien).� Ch�ng ta biết rằng c� �t người n�i tiếng Hải Nam hay Hẹ (Hakka) tại S�c Trăng v�o l�c đ�, bởi ch�nh quyền Ph�p bắt buộc mọi người Trung Hoa tại thuộc địa phải ghi danh tại c�c tổ chức dựa tr�n thổ ngữ được gọi l� c�c bang hội (congr�gations) 26 v� kh�ng c� nh�m n�o như thế hiện hữu cho c�c người n�i tiếng Hẹ hay Hải Nam tại S�c Trăng hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi.� Mật độ d�n cư h�y c�n thấp, chỉ c� 2.2 người tr�n một c�y số vu�ng. 27 Hai v�ng kh�c nhau c� thể được ph�n biệt tại S�c Trăng.� Trước ti�n l� v�ng đất trọng t�m, giống như một h�nh lang ch�nh giữa chạy từ bờ ph�a bắc của s�ng Bassac đến bi�n giới của tỉnh Bạc Li�u kế cận về ph�a t�y nam, l� một �c�nh đồng l�a bao la�.� Ở đ�, bốn tổng (Định H�a, Nhi�u Kh�nh, Nhi�u H�a, v� Nhi�u Ph�) bao quanh trung t�m tỉnh lỵ.� Trong năm 1904, chỉ c� 50 người �u Ch�u, 771 người Việt Nam, 600 người Trung Hoa v� 30 người Ấn Độ sinh sống trong thị trấn S�c Trăng, được quy hoạch theo phong c�ch �u Ch�u, một loại kiểu th�nh phố �S�ig�n� ở cấp tỉnh.� Khu địa phương tương đương như �Chợ Lớn� l� một hải cảng của người Hoa tại B�i X�u, được x�y cất sau khi bến t�u người Hoa cũ (Chợ Cũ hay Mỹ Xuy�n) đ� bị phế bỏ bởi c� sự đọng b�n của con kinh gần đ�.� B�i X�u c�ch v�o khoảng mười c�y số đ�ng nam S�c Trăng, dọc theo kinh Ba Xuy�n.� Trong năm 1904, 930 người Việt Nam v� Minh Hương, 650 người Hoa v� �t người Ấn Độ sống ở đ�.� Nơi thả neo n�y l� một thị trấn sinh động v� thường được lai v�ng từ cuối th�ng Hai đến th�ng S�u, đặc biệt trong ba th�ng sau vụ gặt m�a xu�n, bởi c�c thuyền buồm lớn (ghe ch�i) [ tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] của c�c nh� mậu dịch ở Chợ Lớn.� Họ đến đ�y để kiếm mua gạo S�c Trăng, được xem l� ngon nhất Nam Kỳ.� Trong thời kỳ m� ch�ng ta lưu t�m đến, hơn 200 chiếc thuyền buồm thường h�nh nghề n�y v� đ� xuất cảng trung b�nh 180,000 giạ (piculs) gạo mỗi th�ng. 28

 

���� Tỉnh sống nhờ gạo v� chỉ tr�n gạo của n�.� Mỗi th�ng, khoảng 250 thuyền buồm đ� chuyển tr�i c�y, rau, v� c�c ti�u thụ phẩm đến c�c chợ ở S�c Trăng v� B�i X�u.� Từ cuối thế kỷ thứ mười chin, d�n số của B�i X�u gia tăng từng năm một.� C�c hoạt động kỹ nghệ v� thương mại, như cất rượu hay xưởng cưa bằng tay, bắt đầu mọc l�n, xưởng cưa sử dụng gỗ nhập cảng từ Căm Bốt, C� Mau v� Rạch Gi�.� Người Hoa, v� con c�i của họ sinh ra bởi c�c phụ nữ Việt Nam hay Khmer, sinh sống tại đ�y với một nh�n số đ�ng kể, kh�ng chỉ ở hai địa điểm n�u tr�n, m� c�n ở tất cả c�c chợ trong tỉnh. 29

 

���� Nếu khoảng gần hơn ph�n nửa diện t�ch của tỉnh (1,410 c�y số vu�ng) nằm dưới sự sản xuất n�ng nghiệp v�o khi đ�, 764 c�y số vu�ng, đặc biệt kể cả c�c khu vực rộng lớn của phần ph�a t�y v� t�y bắc, thuộc c�c quận Đ�nh Kh�nh (hay Kế S�ch) v� Nhi�u Mỹ, h�y c�n chờ được sự khai khẩn.� Khu rừng hoang n�y l� nơi sinh sống của hổ, voi, v� c� sấu.� Ch�u thổ s�ng Bassac, tại ph�a đ�ng bắc v� đ�ng nam S�c Trăng, c� đủ c�c tuyến giao th�ng đường s�ng v� biển thuận tiện với một số tỉnh l�n cận (Bạc Li�u, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tr� Vinh, v� Bến Tre); nhưng v�o l�c đ�, bờ biển của n� gần như kh�ng c� người cư ngụ, cũng như tại một v�i đảo nhỏ v� bờ c�t dọc gi�ng s�ng.� Gộp chung, v�o năm 1904 người Ph�p chấm định chỉ c� mười hai c�y số đường trong tỉnh l� th�ch hợp cho xe chạy.� Giống� như trong qu� khứ, c�c tuyến giao th�ng tốt nhất vẫn c�n l� đường nước, v� nhiều thuyền bản xứ cỡ nhỏ v� xuồng �u Ch�u lớn hơn đ� di chuyển tr�n nhiều thủy lộ n�ng, c�c d�ng nước, v� c�c kinh đ�o dẫn đến c�c cảng s�ng lớn hơn v� ng�i chợ, cũng như đến tỉnh lỵ. 30

 

���� Ch�nh quyền đương nhi�n mong muốn ph�t triển c�c khu vực n�y, nhưng lao động th� thiếu hụt, đặc biệt đối với c�c khu đặc nhượng khai khẩn bao la của người Ph�p.� Sự du nhập c�c c�ng nh�n từ miền trung Việt Nam đ�ng d�n hơn (thuộc địa An Nam) chỉ cho thấy c�c kết quả hỗn tạp.� C�c phu thợ (coolies) Việt Nam như thế thường cầm lấy tiền ứng trước v� rồi bỏ trốn khỏi �c�c cai thầu� của họ.� Trong khi c�c điều kiện l�m việc của c�c� n�ng d�n t� điền Việt Nam tr�n c�c thửa đất trồng l�a tại Ch�u Thổ s�ng Cửu Long kh�ng v� nh�n đạo như c�c t�nh trạng đ� được lập chứng tại c�c đồn điền cao su ở Bi�n H�a, 31 họ vẫn c�n bị đe dọa bởi c�c sự rủi ro từ thi�n nhi�n (như sự x�m nhập của nước mặn hay nước lợ v�o c�c khu vực đ� khai hoang) hay bởi số nợ chồng chất của họ với c�c điền chủ v� với c�c nh� mậu dịch chủ nợ Trung Hoa.� Của cải khổng lồ của c�c đại điền chủ cho ph�p họ, v�o khoảng thập ni�n 1930, sinh sống ở nơi kh�c, phần lớn ở Cần Thơ hay S�ig�n, v� c�n ở cả những nơi xa x�i như Paris; nhưng c�c cơ nghiệp n�y đ� được mua với gi� của sự bất ổn, bấp b�nh, sự khinh xuất, v�, dần d�, sự ngh�o đ�i v� thống khổ của hầu hết mọi n�ng d�n t� điền, như vi�n chủ tỉnh Bạc Li�u đ� cảnh c�o hồi năm 1937. 32

 

���� Một điểm đặc th� của khu�n mẫu định cư tại s�u tỉnh cũ của miền nam Việt Nam, giờ đ�y l� Nam Kỳ thuộc Ph�p, l� một d�n số lớn lao người d�n kh�ng định cư, những người sống tr�n thuyền hay tại c�c khu định cư tr�i nổi dọc bờ c�c con s�ng v� c�c kinh đ�o.� Thường họ kiếm sống như c�c c�ng nh�n ban ng�y, hay họ c� thể đi lượm củi, đ�nh c� hay tham gia v�o mọi loại hoạt động phi ph�p.� Những người c� thể gia nhập v�o số người �bất định� hay, n�i theo tiếng Việt, c�c lưu d�n tr�i nổi (floating) bởi v� ngh�o kh�, nợ nần, mất m�a hay c�c sự bất hạnh kh�c.� Vần thường xảy ra nhiều, h�ng ngũ của họ cũng bao gồm c�c kẻ l�ng b�ng, c�c kh�ch giang hồ, v� c�c kẻ phi�u lưu kh�ng th�ch sự kh� khăn v� nhọc nhằn gắn liền với n�ng nghiệp v� khai hoang đất mới.� 33 C�c l�ng nổi tr�i như thế đặc biệt quen thuộc đối với người Việt Nam tại v�ng hạ lưu s�ng Cửu Long.� Th� dụ, tại tỉnh Ch�u Đốc, c�c tập hợp n�y c� thể được t�m thấy dọc theo hầu hết c�c con s�ng v� kinh đ�o.� Một con thuyền, một t�p lều tranh khốn khổ tr�n đất liền (paillot, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch), v� một mảnh vườn v�i m�t vu�ng l� tất cả những g� m� c�c người n�y sỡ hữu.� Nhiều người Việt Nam lưu động từ c�c khu định cư như thế cũng lợi dụng bi�n giới Căm Bốt b�n cạnh để trốn thuế (v� sự kiểm so�t ch�nh thức chặt chẽ hơn), tạo ra nhiều điều l�m phiền l�ng vi�n chủ tỉnh người Ph�p hồi năm 1904. 34 L�m sao m� ch�nh quyền thuộc địa lại c� thể khiến cho c�c người d�n thờ ơ n�y khai khẩn c�nh đồng ph� nhi�u bao la đằng sau c�c t�p lều khốn khổ của họ được, �ng ta hậm hực một c�ch v� vọng. 35 C�c quyền sở hữu đất đai, thuế thấp, v� c�c t�n dụng trong giai đoạn khởi đầu c� thể gi�p trả lời c�u hỏi của �ng, nhưng c�c giới chức thẩm quyền Ph�p ưa th�ch điều, trong thực tế, một hệ thống c�c biện ph�p kh�ng kh�ch lệ, nghi�ng về c�c đặc nhượng được canh t�c bởi c�c n�ng d�n t� điền v� một chế độ đ�nh thuế nặng cưỡng b�ch phần lớn c�c t� điền l�m v�o sự lệ thuộc t�i ch�nh suốt đời. 36

 

���� C�c thợ Trung Hoa nhập cảnh, c�c kẻ n�i chung lao động tốt, c� thể l� một giải ph�p cho vấn đề.� Nhưng họ bị xem l� ki�u ngạo, c� đầu �c độc lập, v� kh�ng chắc l� sẽ che dấu sự th� nghịch của họ với người Ph�p. 37 Ngay từ năm 1882, khuynh hướng c�c phu, thợ Triều Ch�u hay gia nhập c�c hội k�n bị nh�n với sự ngờ vực bởi vi�n Thống Đốc Nam Kỳ, Le Myre de Vilers, người đ� đề nghị thay thế họ bằng những người Việt Nam. 38 Tuy nhi�n, bất kể mọi điều n�y, yếu tố quyết định l� kinh tế: c�c phu, thợ Trung Hoa th� đắt hơn nhiều. 39 N�i chung, v� trong c�i nh�n d�i hạn, người Trung Hoa kh�ng được cần tới như một lực lượng lao động cho n�ng nghiệp Nam Kỳ.� Cho đến đầu thế kỷ thứ hai mươi, người Việt Nam vẫn c�n biểu lộ một số sự miễn cưỡng để l�m việc như c�c c�ng nh�n v� thợ cu-li ăn lương, nhưng họ vẫn c� thề thực hiện tất cả c�c c�ng việc li�n quan đển việc trồng l�a dẫn nước tưới ti�u v� đồn điền với gi� rẻ hơn nhiều so với c�c c�ng nh�n ngừoi Hoa.

 

���� Điều thu h�t phần lớn c�c người Hoa đến v�ng Transbassac l� việc được ph�p l�m việc trong đất đai của ch�nh họ hay l�m cho ch�nh m�nh, theo một v�i c�ch thức n�o kh�c.� Người Trung Hoa đ� đến thăm viếng hay định cư tại v�ng Transbassac muộn lắm từ cuối thế kỷ thứ mười t�m.� Mặc d� khu vực nằm tr�n c�c lộ tr�nh của nhiều nh� mậu dịch bằng thuyền buồm Hải nNm l� c�c kẻ đ� đến đ� để mua c� v� t�m từ c�c nh� sản xuất địa phương, 40 trong số c�c người Hoa định cư tại chỗ, người n�i tiếng Triều Ch�u họp th�nh nh�m lớn nhất, giống như tại miền trung v� đ�ng Xi�m La v� Căm Bốt.� Họ đ� đ�ng g�p đ�ng kể v�o việc khai hoang c�c miền đất mới v� v�o sự ph�t huy việc tiếp thị n�ng nghiệp, đặc biệt xuy�n qua việc mậu dịch l�a gạo, nhưng cũng c� tham gia v�o việc trồng hạt ti�u, tr�i c�y, v� rau.� Từ cuối thế kỷ thứ mười chin, c�c c�ng nh�n gốc Hải Nam cũng l�m việc tại c�c đồn điền trồng hạt ti�u của Trung Hoa v� Ph�p trong v�ng Transbassac, cũng như tại miền đ�ng nam Căm Bốt, đặc biệt khoảng giữa Kampot v� Kompong Som.� V� c�c l� do ch�nh trị v� kinh tế, c�c giới chức thẩm quyền thuộc địa đ� nh�n sự canh t�c tại phần lớn l�nh thổ Đ�ng Dương bởi c�c n�ng d�n Trung Hoa như l� một � tưởng đ�ng gh� tởm, ngay d� điều đ� �t nhất được dung chấp một c�ch mặc nhi�n tại Căm Bốt v� tại c�c khu vực c� người Khmer cư ngụ ở Nam Kỳ, đặc biệt tại v�ng Transbassac. 41

 

���� N�i chung, c�c thống đốc v� quan đầu tỉnh người Ph�p � giống như c�c quan triều đ�nh Việt Nam v� c�c ch�nh quyền ho�ng gia Căm Bốt trước họ -- đ� nh�n việc khai hoang đất đai v� việc kết h�n với c�c người vợ �bản xứ� như một điều kiện ti�n quyết thuận lợi cho một sự đồng h�a l�u d�i mong muốn.� Trong mắt nh�n của quan chức thực d�n, c�c con lai [mestizos, tiếng T�y Ban Nha trong nguy�n bản, ch� của người dịch] n�y được ban cho t�nh cần c� si�u đẳng, t�nh tiết kiệm v� một tinh thần kinh doanh khi so s�nh với s� d�n �bản xứ thuần t�y�.� Quan điểm n�y đ� được tr�nh b�y trong một cuộc tranh luận giữa c�c kẻ b�nh v� người chống việc nhập cảnh người Hoa v�o l�c bắt đầu thế kỷ thứ hai mươi: h�n nh�n li�n chủng giữa người Trung Hoa v� �d�n bản xứ� sẽ �cải tiến d�ng m�u� của người bản xứ v� kh�ch lệ họ ph�t triển cảm thức của họ về s�ng kiến kinh tế v� sự cải thiện x� hội, phe b�nh vực đ� x�c định như thế. 42 D� thế, sự sở hữu của người Hoa tại v�ng th�n qu� phải được giới hạn v�o c�c mảnh đất cỡ nhỏ v� trung, như được tranh luận, bởi c�c khu đặc nhượng khai khẩn v� đồn điền rộng lớn tr�n nguy�n tắc được d�nh ri�ng cho c�c c�ng d�n Ph�p v� c�c tổ hợp tư bản. 43� C�c sự tin tưởng n�y chứng kiến thấy ch�nh quyền Ph�p duy tr� luật lệ về tư c�ch c�ng d�n cổ truyền, ph�t sinh từ thời nh� Nguyễn, c�ng l�u c�ng tốt: m�i đến nằm 1933 tại Nam Kỳ v� Trung Kỳ, v� năm 1934 tại Căm Bốt. 44 Theo c�c điều khoản cổ truyền n�y, c�c con trai của một người cha gốc Hoa với một người mẹ bản xứ (người Việt hay người Khmer) được gọi l� người Minh Hương v� thụ hưởng, về mặt thuế kh�a v� c�c quyền c�ng d�n, một quy chế ph�p l� đặc biệt nằm giữa c�c ngoại kiều � Ch�u [Kh�ch, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] với người bản xứ [d�n đinh, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Hậu duệ của c�c cuộc h�n phối giữa người cha Minh Hương v� người mẹ bản xứ, tuy thế, được đối xử như c�c người bản xứ đ� ho�n to�n đồng h�a về mặt thuế kh�a, qu�n dịch, sưu dịch (l�m x�u: corv�e v� quyền được rời khỏi xứ sở, điều được đương nhi�n chuẩn cấp ri�ng cho c�c ngoại kiều.� Theo quy định n�y, sự đồng h�a ho�n to�n c�c hậu duệ ph�i nam của c�c cuộc h�n phối hợp chủng được bảo đảm ở thế hệ thứ ba.

 

���� Nếu c�c n�ng gia Triều Ch�u được đ�n tiếp, ngừoi Quảng Đ�ng v� Ph�c Kiến lại bị nh�n với một mức độ nghi ngờ n�o đ� bởi khuynh hướng của họ l� quần tụ với nhau tại c�c �phố Trung Hoa� hay �khu người Hoa�, v� tham gia ch�nh y�u v�o mậu dịch, kinh doanh, thủ c�ng nghệ v� ng�n h�ng hơn l� n�ng nghiệp.� C�c biện ph�p để �trục xuất� họ ra khỏi c�c l�nh vực kinh tế quan trọng n�y, hay kềm chế sự nhập cảnh của họ, được y�u cầu nhiều lần bởi c�c nh�m quyền lợi ch�nh trị v� c�c giới kinh doanh Ph�p tại S�ig�n, H� Nội v� Paris.� Nhưng c�c h�nh động như thế kh�ng bao giờ được xem x�t một c�ch nghi�m chỉnh bởi c�c giới chức thẩm quyền thực d�n, c�c kẻ đ� hiểu r� rằng c�c ch�nh s�ch như thế sẽ hủy diệt nền kinh tế Đ�ng Dương, v� đặc biệt của Nam Kỳ. 45

 

b. Bờ Biển V�ng Transbassac Mở Rộng, Từ Rạch Gi� đến Kampot

 

���� Bờ biển n�y về mặt lịch sử l� một ổ của c�c hải tặc v� c�c kẻ bu�n l�u.� Giống như phần lớn Vịnh Xi�m La, nhiều h�n đảo hiểm trở v� c�c bờ biển hiếm c� người cư ngụ của n�, với c�c tru�ng đất xốp v� c�c đầm lầy, đ� mang lại c�c nơi ẩn n�u l� tưởng cho c�c kẻ n�i dậy v� c�c kẻ ngo�i v�ng ph�p luật gốc Hoa, M� Lai, Xi�m La, Căm Bốt hay Việt Nam, v� những kẻ đ� di động theo thời cơ giữa c�c hoạt động phi ph�p v� hợp ph�p.� T�nh trạng n�y k�o d�i từ cuộc di tản của c�c kẻ trung th�nh với nh� Minh từ Trung Hoa trong thế kỷ thứ mười bẩy v� mười t�m xuy�n qua thế kỷ thứ mười chin, cho m�i đến tận c�c cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Lần Thứ Nhất v� Lần Thứ Nh�.� Nếu c�c t�u trang vị vũ kh� của Ph�p ng�y c�ng c� khả năng kiểm so�t phần lớn bờ biển ch�nh của Đ�ng Dương sau năm 1865, c�c h�n đảo trong Vịnh [Xi�m La], v� đặc biệt đảo Ph� Quốc đố� diện với H� Ti�n, từ l�u đ� tạo th�nh ngoại lệ.� Ch�ng tiếp tục cung cấp c�c nơi �n trốn an to�n cho c�c kẻ gặp rắc rối với nh� cầm quyền, như c�c người Trung Hoa trốn tr�nh ph�p luật thực d�n hay sự dẫn độ từ Đ�ng Dương v� sống tr�n c�c thuyền của họ như một �cộng h�a độc lập�, 46 xa rời cặp mắt d� chừng của nh� chức tr�ch.� Những người n�y thường kết h�n hay lập c�c mối li�n hệ với c�c phụ nữ Việt Nam, nhưng mặt kh�c vẫn sống biệt lập.� Ngay con c�i họ cũng lập ra c�c khu định cư ri�ng của m�nh v� được biết kh�ng h�a nhập mấy với l�ng giềng của họ, ngoại trừ c�c dịp lễ tết địa phương.� Những người Trung Hoa n�y bị e d� như c�c kẻ g�y rối, đặc biệt trong số c�c đồn điền trồng hạt ti�u của người Hải Nam tại Kampot v� H� Ti�n. 47 D� sao, họ cũng rất kh� khăn cho người Ph�p kiểm so�t.� Nhiều thuyền buồm ngang qua tr�n đường đến Vọng C�c v� Singapore dễ d�ng gi�p cho c�c c� nh�n bị truy n� t�i xuất hiện hay biến mất dạng, khi cần thiết.

 

���� Bờ biển Căm Bốt v� phần đất nội địa của n� được sử dụng như một sự nối d�i địa h�nh tự nhi�n của l�nh thổ Xi�m La nơi phần t�y nam của n� v� của Nam Kỳ nơi phần đất ph�a nam.� Phần lớn bờ biển Căm Bốt ở đ�y được bao che bởi n�i cao, với rặng n�i Đ�u Khấu (Cardamon) ở hướng t�y nam v� răng Con Voi (Elephant) ở ph�a nam.� Rất l�u sau khi c� sự thiết lập thuộc địa, c�c dẫy n�i n�y chỉ được cư ngụ thưa thớt bởi một sắc d�n thiểu số gốc Mon-Khmer, người Pear, c�c kẻ đ� h�a lẫn với c�c người đ�o tẩu, kẻ nổi dậy, lưu vong Khmer, để tạo ra c�c người được gọi l� Pol (c�c n� lệ).� Họ ch�nh thức bị bắt buộc phải giao nạp hạt đậu khấu (cardamom), đằng ho�ng (gambodge) v� thiết mộc [ironwood, như g� lim, ch� của người dịch] cho c�c nh� chức tr�ch Ph�p-Căm Bốt để đổi lấy muối, gạo, v� đồ bằng sắt.� Nhưng c�c sự tiếp x�c mật thiết của họ với c�c đồng hưong b�n bi�n giới ph�a Xi�m La c� nghĩa người d�n Pear thường bu�n lậu phần lớn c�c sản vật gi� trị của họ cho c�c mạng lưới người Xi�m gốc Hoa đặt tại Trat. 48 Giống như nhiều đảo nhỏ trong Vịnh, v�ng nội địa n�i non của c�c tỉnh n�y chứa chấp đủ mọi loại người b�n lề b�n nhậy trong việc nhảy v�o hoạt động kinh tế của miền biển.� C�c thuyền buồm mậu dịch v� đ�nh c� từ ph�a đ�ng Xi�m La v� miền nam Việt Nam vẫn đều đặn gh� bến Kampot v� Kompong Som (ngo�i khơi c� đảo Koh Kong của Xi�m La).� Trong hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi, Kompong Som vẫn c� c�c quan hệ h�ng hải với Xi�m La nhiều hơn với c�c cảng Đ�ng Dương thuộc Ph�p chẳng hạn như Kampot, H� Ti�n v� Rạch Gi�.� Đồng tiền bath (ticul) của Th�i, chứ kh�ng phải tiền đồng (piaster) Đ�ng Dương l� tiền tệ của n�.� Hơn một phần ba thuyền buồm hay lui tới Kompong Som đ� kh�ng đ�ng thuế v� trốn tr�nh sự kiểm so�t của sở quan thuế, theo sự ước lượng của vi�n tr� sứ địa phương của Kampot v�o năm 1900. 49 C�c người Trung Hoa v� Việt Nam tại Kampot v� Kompong Som cũng duy tr� c�c quan hệ mậu dịch chặt chẽ với c�c hải cảng Nam Kỳ kế cận ở H� Ti�n v� Rạch Gi�, với đảo Ph� Quốc, v�, xuy�n qua đường bộ v� đường thủy, với Ch�u Đốc b�n gi�ng s�ng Bassac, v� từ đ� với S�ig�n-Chợ Lớn.� Ngừoi M� Lai cũng quan trọng ở đ�y.� V�i l�ng M� Lai c� ni�n kỳ [th�nh lập] trở l�i muộn lắm từ thế kỷ thứ mười t�m 50 nhưng, cho đến khi c� sự chiếm đ�ng của người Ph�p, c�c di d�n mới cũng đến từ B�n Đảo M� Lai để b�n vũ kh� v� c�c đồ gia vị như galangal [thuộc giống gừng, ch� của người dịch].� Họ dễ d�ng h�a nhập với c�c người gốc Ch�m c�ng t�n gi�o, l� c�c người m� họ c�ng lập th�nh c�c cộng đồng.

 

���� Kampot bao giờ cũng l� �biến thể kh�c� (alter ego) của H� Ti�n, v� n� l� cửa ng� quan trọng nhất của Căm Bốt để th�ng ra biển một khi Việt Nam chiếm đ�ng cửa s�ng Bassac.� Trong thời kỳ c� sự chiếm đ�ng trực tiếp của Việt Nam (cho đến năm 1847), Kampot đ� l� một đồn qu�n sự, trung t�m h�nh ch�nh v� một sở quan thuế của Việt Nam.� Ngay sau khi c�c đội qu�n triều đ�nh triệt tho�i khỏi Căm Bốt, một số lượng đ�ng kể người Việt Nam vẫn ở lại đ� trong c�c l�ng canh n�ng hay đ�nh c�.� Cho đến năm 1860, tỉnh được cai trị bởi một người lai Trung Hoa t�n l� Thong [?], kẻ đ� trồng m�a v� thiết lập một nh� m�y lọc đường k�o bằng lừa kh� th�nh c�ng.� Một người Trung Hoa nổi tiếng kh�c v�o thời đ� l� Mun Sui.� Trước đ�y bị xem l� một hải tặc đ�ng sợ tại khắp v�ng Vịnh Xi�m La, Mun Sui đ� về hưu tại Kampot sau khi bị đ�nh bại bởi một hải tặc kh�c.� Ở đ� �ng ta trở th�nh một kẻ điều giải c�c c�ng việc của người Hoa, được nể trọng cho đến khi từ trần v�o năm 1878.� Trong c�c thời tiền v� ban đầu của chế độ thuộc địa, tr�ch vụ thuế của Kampot th� thấp � một phần mười số thu hoạch � v� xứ sở đ� sản xuất hạt ti�u, m�a đường, thuốc l�, v� l�a gạo để xuất cảng.� C�c tr�i c�y th� đầy r�y v� được chuyển l�n Nam Vang cho ho�ng gia.� Khu vực đủ thịnh vượng để trả cho ba nh�m diễn tuồng phục vụ cho c�c nh�m kh�ch hang kh�c nhau của ch�ng: một cho Trung Hoa v� một cho Việt Nam, c�ng với một đo�n ca m�a Xi�m La-Căm Bốt. 51

 

���� Tỉnh l�n cận Kampot về ph�a đ�ng nam l� P�am hay Banteay Meas.� Trong năm 1887, n� chỉ bao gồm mười l�ng, nơi m� 2,400 người Khmer, 250 người Trung Hoa, 20 người Trung Hoa v� 7 người thọ thuế Ch�m-M� Lai sinh sống.� Sản phẩm ch�nh của n� l� hạt ti�u Trung Hoa.� C�c tuy�n giao th�ng đường bộ với Kampot tồi đến nỗi c�c người trồng trọt gốc Hoa đ� phải mua b�n hoa m�u của họ với ba chiếc thuyền b�n rong nhỏ đến Ch�u Đốc thuộc Nam Kỳ. 52

 

���� Trong năm 1865, sau một cuộc th�m s�t H� Ti�n v� Kampot, Thống Đốc Nam Kỳ, Đ� Đốc de la Grand�i�re, hạ lệnh cho c�c t�u trang bị vũ kh� của Ph�p tận diệt �nạn hải tặc� Việt Nam v� Trung Hoa (theo đ� �ng ta cũng nghĩ l� c�c hoạt động vũ trang chống Ph�p, nếu c� d�nh l�u đến người Việt Nam) tại v�ng Vịnh Xi�m La.� Bởi người Ph�p tin rằng c�c hoạt động như thế phần lớn ph�t sinh từ hai nơi n�y, 53 họ đ� thiết lập một đồn qu�n sự v� một trạm quan thuế tại Kampot.� C�c nh� mậu dịch b�n hạt ti�u địa phương cho S�ig�n � Chợ Lớn từ đ� trở đi phải trả thuế quan tại trạm quan thuế của Ph�p.� V�i năm sau đ�, vai tr� của Kampot trong cuộc nổi dậy chống Ph�p tr�n to�n quốc trong c�c năm 1885-1886 đ� l�m tho�i bộ ngắn ngủi c�c nỗ lực d�nh quyền kỉểm so�t nhiều hơn n�y, v� cũng t�n ph� c�c mảnh đất rộng lớn của c�c đồn điền trồng ti�u.� Khi h�a b�nh trở lại, v�o cuối thập ni�n 1880, thuế của ttriều đ�nh tr�n n�ng d�n đ� đ�nh một mức thuế qu� cao tr�n c�c nh� sản xuất hạt ti�u địa phương, từ 17.5 đến 23 đồng tr�n mỗi 400 c�y ti�u, k�ch động c�c sự chống đối bạo động từ c�c nh� trồng trọt Trung Hoa ở địa phương. 54 Từ đ�y trở đi, Kampot kh� d�nh lại được sự thịnh vượng trứoc đ�y của n�.� Dưới chế độ thuế kh�a h� khắc v� chế độ quan thuế hồi cuối thập ni�n 1880, d�n ch�ng địa phương đ� bắt đầu rời bỏ khu vực.� V�i ng�i l�ng c�ng tạo th�nh chinh v�ng Kampot trước đ�y đ� c� được 3,000 d�n trong năm 1860 v� đ� vươn tới từ 5-7,000 người thọ thuế v�o khoảng đầu thập ni�n 1870 (trong đ� c� 900 người Trung Hoa, 300 người M� Lai v� Ch�m, 40 người Việt Nam v� 30 người Xi�m La), nhưng sau cuộc nổi dậy, trong năm 1889, d�n số chỉ gồm 2,500 người, v� sau đ� tụt xuống chỉ c�n 1,500 người v�o đầu thập ni�n 1890.� Trong một thời khoảng ngắn, tr� cờ bạc của người Trung Hoa đ� trở th�nh một sự hấp dẫn mới nhưng điều n�y chỉ gia tốc sự sụp đổ kinh tế của nhiều người c�n trụ lại.� Một yếu tố kh�c đặc biệt chắc chắn đưa đến sự suy t�n kinh tế của Kampot: c�c h�ng xuất cảng ch�nh của Căm Bốt �gạo v� c� cũng được xuất cảng, đặc biệt từ sau năm 1907, từ Battambang), b�ng vải, ng� (bắp), gỗ v� c�c sản phẩm tự nhi�n kh�c � một lần nữa lại di h�nh xuy�n qua s�ng Bassac hay Cửu Long đến S�ig�n � Chợ Lớn, giờ đ�y đ� trở th�nh cửa ng� ch�nh của Căm Bốt để th�ng ra biển.� Kampot bị thu giảm xuống th�nh một trạm trung chuyển cấp v�ng. 55 Từ đ� về sau, phần lớn hạt ti�u của n� được chuyển vận bởi c�c thuyền buồm Trung Hoa đến S�ig�n � Chợ Lớn xuy�n qua H� Ti�n, mặc d� một số thuyền buồm của người Hải Nam vẫn c�n cất ti�u để đem b�n tại Hải Nam hay Singapore.� C�c thuyền buồm từ Xi�m La trước đ�y chế ngự ng�nh bu�n b�n n�y thấy m�nh bị gạt ra bởi thuế kh�a v� chế độ quan thuế mới.� Từ thập ni�n 1890, c�c quan hệ thương mại trực tiếp với c�c Bang Quốc M� Lai, Singapore, Vọng C�c v� Hải Nam trở n�n hiếm hoi, nhưng ch�ng vẫn c�n hiện diện, như sự mua b�n phi ph�p. 56

 

���� Để k�ch th�ch sự sản xuất hạt ti�u suy giảm tại v�ng Transbassac v� miền nam Căm Bốt, trong thập ni�n 1890, ch�nh quyền Ph�p đ� mở cửa thị trường Mẫu Quốc (Metropolitan) cho hạt ti�u Đ�ng Dương với biểu thuế ưu đ�i.� Trị gi� tổng cộng của �m�n qu� từ đất mẹ n�y d�nh cho thuộc địa� được ước lượng l� bẩy triệu Phật lăng mỗi năm.� C�c nh� trồng trọt tại Xi�m La nh�n thấy một cơ hội để kiếm tiền từ quan thuế biểu mới, do đ� c�c thuyền buồm Trung Hoa đ� bắt đầu bu�n lậu hạt ti�u đến khu vực duy�n hải Transbassac mở rộng n�y, trục lợi từ chế độ ưu đ�i thuế n�y.� Một khi việc n�y được kh�m ph� ra, c�c nh� chức tr�ch t�m c�ch trả đũa bằng c�ch thắt chặt sự kiểm so�t tr�n c�c đồn điền trồng ti�u v� sự mua b�n của ch�ng.� Để kiểm so�t bờ biển Căm Bốt, cần phải lập một v�i đồn mới, cắt cử c�c nh�n vi�n quan thuế �u Ch�u, nhưng, sau hết, c�c l� do t�i ch�nh v� �kh� hậu kh�ng tốt cho sức kh�e� khiến chỉ c� một đồn [được lập], trong năm 1897, được đảm nhận bởi một vi�n chức �u Ch�u duy nhất. 57 C�c kết quả của n� kh� khả quan.� Ngay d� thế, Nha Quan Thuế v� Thuế C�ng Quản (Direction des Douanes et R�gies) đặt tại H� Nội đ� b�c bỏ lập luận của tr� s� Kampot Lecl�re rằng sự mở ngỏ việc mua b�n hạt ti�u v� sự khai th�ng của n� đến Đ�ng Nam � l� c�c biển ph�p hữu hiệu duy nhất cho việc gia tăng sức sản xuất v� ngăn chặn sự giả mạo v� bu�n lậu. 58

 

���� Người Trung Hoa cũng định cư tại một số c�c đảo lớn nhỏ trong Vịnh Xi�m La.� Trong năm 1887, th� dụ, đ� c� một thuộc địa của c�c nh� trồng ti�u Trung Hoa, v�o khoảng ba mươi gia đ�nh, tr�n h�n đảo nhỏ Koh Kor, đối diện với Koh Rung.� C�c thuyền buồm nhỏ của họ ch�nh yếu th�ng thương với Kampot.� Một đảo kh�c gần b�n, Koh Padaon, c� mười lăm n�ng d�n v� ngư phủ Trung Hoa sinh sống, tất cả đều kết h�n với phụ nữ Căm Bốt.� Họ trồng l�a cho sự ti�u dung của ch�nh họ v� b�n sản phẩm của họ, một c�ch ch�nh thức l� gia cầm v� c�, tại H� Ti�n v� Rạch Gi�. 59

 

���� Với tất cả c�c t�nh huống n�u tr�n, kh�ng c� g� đ�ng ngạc nhi�n khi thấy người Ph�p chưa bao giờ t�m c�ch x�a bỏ sự bu�n b�n phi ph�p v� c�c mạng lưới nhập cảnh bất hợp ph�p đ� nối liền v�ng Transbassac v� bờ biển Căm Bốt với Singapore, Xi�m La v� B�n Đảo M� Lai.� C�c mạng lưới n�y đ� đan kết với c�c hoạt động phi ph�p c� tầm hệ trọng ch�nh trị, h�nh ch�nh v� kinh tế cụ thể đối với d�n ch�ng địa phương, như th� dụ sau n�y về việc bu�n lậu b�ng vải v� lụa sẽ cho thấy.� Trong năm 1931, khi m� Cuộc Đại Suy Tho�i [Kinh Tế} ập đến Đ�ng Dương, c�c h�ng dệt của Ph�p khiếu nại ch�nh thức về c�c sự nhập cảng tr�i ph�p bong va/I Ấn Độ v� lụa của Trung Hoa, được vận chuyển bởi c�c thuyền buồm Trung Hoa từ Singapore v� Vọng C�c đến c�c hải cảng nhỏ của v�ng Transbassac (đặc biệt đến H� Ti�n, Rạch Gi�, C� Mau, Bạc Li�u v� S�c Trăng), v� từ đ�, dọc theo h�ng ng�n thủy lộ đến phần c�n lại của Nam Kỳ.� Th�ng Đốc Nam Kỳ tức thời ra lệnh đ�ng cửa tạm thời c�c bến t�u n�y v� tổ chức c�c cuộc đột k�ch c�c thị trường của ch�ng, đưa đến sự sụt giảm số h�ng lậu tức thời đến 75 phần trăm.� Nhưng, như c�c vi�n chức điều khiển c�c tỉnh ph�n n�n, đ� c� c�c hậu quả kinh tế ti�u cực.� C�c sản phẩm địa phương từ c�c tỉnh của họ, chẳng hạn như c� kh�, than đ�, v� l�ng vịt, vốn b�nh thường được trao đổi để lấy h�ng lụa v� vải b�ng bu�n lậu, khiến sự trấn �p c�c hang n�y v� thế đ� t�c động một c�ch tệ hại tr�n c�c ng�nh thủ c�ng nghệ địa phương.� Tuy nhi�n, Nha Quan Thuế tại S�ig�n kh�ng động t�m.� N� đ� trả lời với sự quyết đ�an đ�ng ngờ về c�c hiệu quả trong trường kỳ của sự ngăn cấm: bờ biển Nam Kỳ, v� đặc biệt của Căm Bốt, rất kh� để kiểm so�t, Nha n�y đ� lập luận, đến nỗi mậu dịch phi ph�p sẽ dễ d�ng thẩm nhập xuy�n qua c�c ngả kh�c. 60 Bất kể l� liệu c�c c�ng nghiệp địa phương tại v�ng Transbassac c� thể sống s�t với sự t�i chuyển hướng hoạt động chợ đen n�y hay kh�ng kh�ng phải l� mối quan t�m của Nha.

 

���� Ch�ng ta giờ đ�y h�y rời khỏi c�c t�nh huống kinh tế v� địa-ch�nh trị của v�ng mở rộng để cứu x�t đến nạn thổ phỉ tại miền t�y Nam Kỳ.

 

Nạn Thổ Phỉ Trung Hoa v� Việt Nam tại v�ng Transbassac

 

���� Trong năm 1895, Thống Đốc Nam Kỳ c� b�o c�o c�c nh�m vũ trang đang cướp b�c c�c thuyền buồm mậu dịch sử dụng c�c thủy lộ của v�ng Transbassac để giao thương với c�c thị trường lớn hơn, đặc biệt với Chợ Lớn.� Theo �ng, một �trận lụt c�c di d�n mới� đ� đến từ Hồng K�ng sau khi người Ph�p gỡ bỏ một lệnh cấm tạm thời tr�n sự nhập cảnh của người Trung Hoa từ thuộc địa của Anh Quốc, đuợc th�c đẩy bởi một dịch bệnh b�ng nổ tại đ�.� C�c sự nhập cảnh ồ ạt như thế lu�n lu�n mang đến một khối lớn �c�c kẻ bất kham� trong số c�c di d�n mới. 61 D� sao, đ�y chỉ l� một trong nhiều b�o c�o về nạn hải tặc trong thập ni�n cuối của thế kỷ thứ mười chin v� trong thập ni�n đầu ti�n của thế kỷ thứ hai mu=ơi, ch�nh yếu tại v�ng Transbassac, nhưng cũng c� xảy ra, ở một mu=�c đs�, thấp mức, tại v�ng Cisbassac.� Nạn hải tặc n�y phần lớn li�n hệ đến chu kỳ thu gặt, với nhiều vụ cướp nhất được b�o c�o sau vụ m�a đầu ti�n (từ th�ng Hai đến th�ng S�u) khi c�c thuyền buồm v� t�u chuy�n chở gạo đ�[�n c�c chợ b�n s�ng v� từ đ� đến Chợ Lớn.� V� mua thứ nh�, trong th�ng Mười, cũng đ� l�i cuốn một sự t�i ph�t của hoạt động hải tặc. 62

 

���� C�c văn khố thuộc địa chứa nhiều th� dụ, theo đ� sự việc sau đ�y kể từ năm 1891 trở n�n điển h�nh.� Trong th�ng Hai năm đ�, th� dụ, một nh�m vũ trang gồm mườ`i t�n Triều Ch�u Trung Hoa đ� tấn c�ng chợ �� M�n (tỉnh Cần Thơ), nhưng đ� phải r�t lui tay kh�ng sau khi gặp phải sự kh�ng cự.� Sau đ� trong th�ng Na, vi�n ph� tổng (sous-chef, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch) của tổng Bảo Thuận (tỉnh Bến Tre) đ� trở th�nh nạn nh�n của một nh�m hai mươi người Hoa vũ trang, đ� lấy đi 3,500 đồng v� một khẩu sung nhỏ, m� kh�ng g�y ra tổn hại n�o kh�c.� Tại S�c Trăng, trong c�ng th�ng, một cuộc tấn c�ng tương tự đưa đến c�i chết của nạn nh�n, được ức đ�an bởi c�ng băng đảng đ�.� Trong khi đ�, cũng trong th�ng Ba, một nh�m kh�c gồm mười ba người Hoa từ S�ig�n đ� tấn c�ng v�o đ�nh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] của l�ng sản xuất ra đồ gấm kiểu Trung Hoa tại L�i Thi�u, lấy mất 583 đồng.� Trong trường hợp n�y, nh� chức tr�ch đ� t�m c�ch bắt được một nghi can kh�ng l�u sau đ�, nhưng kh�ng t�m thấy dấu vết của c�c t�n ch�nh phạm. 63

 

���� Trong năm 1893, vi�n tr� sứ của S�c Trăng c� b�o c�o một nhập lượng đ�ng đảo c�c di d�n Trung Hoa v�o tỉnh �ng: từ th�ng Ba đến th�ng Năm kh�ng th�i, 700 người Trung Hoa thuộc mọi nh�m thổ ngữ tượng trưng cho nhiều địa phương đ� nhập v�o tỉnh, nhưng đại đa số l� c�c người Triều Ch�u.� 64 Trong năm đ�, S�c Trăng v� tỉnh l�n cận Bạc Li�u, c�ng với tỉnh C�n Thơ ngược s�u hơn tr�n gi�ng Bassac, l� c�c khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi nạn hải tặc.� Diện t�ch tương đối lớnv� mật độ d�n cư thưa thớt của ch�ng, c�ng với sự giao thương theo bờ biển v� gi�ng s�ng đễ d�ng, bảo đảm rằng c�c kẻ bất lương c� thể biến mất từ l�u trước khi bất kỳ sự đ�p ứng ch�nh thức n�o c� thể diễn ra.� Ch�nh quyền đ� lập ra một to�n canh g�c ban đ�m, hy vọng đối ph� được lợi thế của c�c thổ phỉ, nhưng phần lớn kh�ng c� hiệu quả.� Sự v� hiệu năng, thiếu quan t�m v� n�i chung kh�ng th�ch hợp của họ ph�t sinh ch�nh y�u, như được nghĩ, v� c�c nh�n sĩ địa phương, c�c kẻ cai quản l�ng x� của m�nh, nằng nặc đ�i c�c kẻ canh chừng n�y cũng phải thi h�nh c�ng việc kh�c trong ban ng�y.� Dĩ nhi�n, � đồ n�y c� thể đ� thất bại bởi c�c n�ng d�n t� điền, c�c kẻ tạo th�nh c�c d�n qu�n n�y v� l� c�c kẻ lệ thuộc v�o lớp điền chủ gi�u c� hơn, đ� kh�ng c� quyền lợi kinh tế trong việc phục vụ c�c �ng chủ của m�nh v�o ban đ�m, cũng như trong ng�y, m� kh�ng c� sự bồi đ�p n�o.� Như c�c kẻ rất ngh�o, họ đ�u c� phải lo sợ nhiều qu�n cướp.� Bất kỳ l� do l� g�, sự thất bại của c�c to�n tuần tra đia phương sau n�y đ� khiến c�c nh� h�nh ch�nh Ph�p t�m kiếm ng�n khoản để lập ra c�c đội cảnh s�t lưu động, được cung cấp với t�u gắn động cơ v� c�c vũ kh� hiện đại. 55

 

���� Nạn hải tặc tại v�ng Transbassac vươn đến đỉnh cao từ năm 1901 đến 1903, với c�c b�o c�o từ mọi tỉnh miền t�y về c�c hoạt động li�n tục của c�c băng đảng đượ.c tổ chức ho�n bị v� vũ trang đầy đủ.� Th� dụ, một băng đảng được cầm đầu bởi một người mang t�n H�ynh Văn An n�o đ�, c�ng hai anh em thuộc gia đ�nh họ Trương, đ� kiểm so�t con kinh S�c Tr� v� đ�nh thuế xuy�n qu� tr�n c�c t�u chạy ngang qua.� C�c th�nh vi�n của nh�m cũng mua b�n gỗ lậu, v� phụ nữ bị bắt c�c, hoạt động kể sau cho thấy một sự bất c�n bằng nh�n số tại v�ng đất mới khai khẩn n�y.� Sau khi Huỳnh Văn An bị bắt v� tuy�n �n mười lăm năm t�, khu vực d�nh lại sự y�n tĩnh trong thời gian ngắn.� Tuy nhi�n, khi anh ta t�m c�ch trốn khỏi nh� lao tỉnh Cần Thơ, c�c hoạt động của băng đảng n�y lại t�i diễn. 56

 

���� Tất cả c�c tỉnh trong v�ng Transbassac n�u tr�n cho đến giờ đ� trở th�nh, kể từ thập ni�n cuối c�ng của thế kỷ thứ mừoi chin, c�c trung t�m của c�c hoạt động kinh tế d�ng cao.� Ch�nh quyền thực d�n gia tăng nhịp độ đ�o kinh, l�m đường, v� lập hải cảng, trong khi c�c chợ mới được th�nh lập v� c�c đặc nhương khai th�c đất đai được ph�n phối.� C�c đặc nhương khai th�c đất đai, tr�n nguy�n tắc, chỉ được d�nh cho người Ph�p v� c�c điền chủ Việt Nam đ� nhập tịch, những ngừoi Trung Hoa đ� t�m c�ch thụ đắc đất đai xuy�n qua c�c phương c�ch gi�n tiếp, đặc biệt xuy�n qua c�c người vợ v� con lai Việt của họ. 57 Thật s�i nổi nhịp độ ph�t triển v� thật qu� �t d�n số đ�n nỗi ngay người Trung Hoa, c� quy chế thuế kh�a đặc biệt miễn trừ cho họ c�c y�u cầu lao động cưỡng b�ch, giờ đ�y c� thể �được mời�. như c�c t�i liệu văn khố đ� viết ra, để tham gia �một c�ch tự nguyện� v�o c�c c�ng tr�nh c�ng ch�nh n�y bởi c� nạn thiếu hụt lao động tạm thời. 58

 

���� V�o năm 1909, mối nguy hiểm của nạn hải tặc đ� giảm bớt một c�ch đ�ng kể.� Sự ph�t triển kinh tế tại v�ng Transbassac đ� bảo đảm rằng c�c đơn vị cảnh s�t lưu động, được y�u cầu trở lại hồi năm 1902, đ� được đặt t�c trực tại địa phương.� Như vi�n thống đốc Nam Kỳ đ� b�o c�o một c�ch h�nh diện, c�c đồn cảnh s�t vũ trang mới (postes de gendarmerie) đ� được thiết lập tại một số yếu điểm, như ng� tư đường, c�c đoạn nối c�c con s�ng với c�c kinh đ�o, v� c�c h�n đảo biệt lập, hay tại c�c khu vực kh�c từng đặc biệt t�n trợ cho nạn hải tặc.� C�c đồn n�y cho ph�p c� lưu động t�nh nhiều hơn trong sự truy k�ch c�c băng nh�m tội phạm.� C�c t�u c� gắn động cơ cũng tuần tra c�c con s�ng v� c�c kinh đ�o, ng�y v� đ�m.� D�n số n�ng d�n địa phương, ng�y c�ng tin tưởng hơn rằng c�c nh� chức tr�ch c� thể bảo vệ cho họ, đ� bắt đầu từ chối kh�ng nộp tiền cho c�c băng đảng, v� trong một số trường hợp c�n trợ lực với nh� chức tr�ch, hoặc bởi việc kh�ng cự c�c cuộc tấn c�ng hay bằng việc tố c�o v� bắt giữ qu�n thổ phỉ. 59

 

���� Nhưng sự lạc quan của vị thống đốc đến qu� sớm.� Chỉ một th�ng sau đ�, c�c b�o c�o mới về nạn hải tặc lại xuất hiện.� Tuy nhi�n, lần n�y c�c khu vực duy nhất bị ảnh hưởng l� c�c nơi với nh�n số người Hoa Triều Ch�u đ�ng đảo, đặc biệt tại c�c tỉnh trong v�ng Transbassac như S�c Trăng, Cần Thơ v� Bạc lieu.� Một băng đảng người Hoa tại đ�, được b�o c�o l� đặc biệt nguy hiểm, gồm hai mươi người c� vũ trang, v� c� c�c nơi ẩn nấp tr�n v�i đảo nhỏ, kh�ng người ở tại cửa s�ng Bassac.� Họ tấn c�ng c�c thương thuyền Trung Hoa v� đ�i tiền bảo k� từ c�c l�ng trong khu vực.� Cần đến một chiến dịch cảnh s�t phối hợp của ba tỉnh lận cận (S�c Trăng, Cần Thơ v� Tr� Vinh) trước khi băng đảng n�y sau hết bị ti�u diệt, mặc d� nhiều th�nh vi�n vẫn c�n chạy tho�t được.� D� thế, vi�n h�nh ch�nh quản trị tỉnh S�c Trăng đ� lập luận, vẫn tuyệt đối cần thiết để cải tiến c�c sự giao th�ng tại khu vực xa x�i n�y, c�n được cư tr� nhiều phần bởi người Khmer.� Tuy nhi�n, chỉ ri�ng tại S�c Trăng, chỉ c� qu� �t c�ng nh�n cho c�c c�ng t�c c�ng ch�nh thiết yếu như thế, khi c�c chủ nh�n c�c khu đặc nhương khai khẩn từ chối kh�ng �cho mượn� c�c t� điền của họ đề l�m việc cho c�c c�ng tr�nh đ�.� (Chỉ c� c�c thương gia Trung Hoa tại cảng s�ng ở B�i X�u đ� tạo ra một ngoại lệ đ�ng t�n dương trước sự thiếu vắng của � thức c�ng d�n n�y, khi họ cung cấp cả ng�n khoản v� lao động cho việc x�y cất bến cảng, kinh đ�o v� đ� chắn s�ng mới).� Như vi�n tỉnh trưởng đ� th�c dục trong bản b�o c�o của �ng, chỉ sự gia tăng c�c đường bộ, sự kiểm tra ng�y v� đ�m c�c thủy lộ, sự tạo lập c�c quận hạt h�nh ch�nh mới, v� sự động cơ h�a đội tuần cảnh mới c� thể hy vọng giải quyết vấn đề hải tặc tại v�ng Transbassac. 70

 

���� Tỉnh duy�n hải Rạch Gi� kh�ng tho�t khỏi tai �ch chung của nạn thổ phỉ v�o thời điểm n�y.� Trong những năm đầu ti�n của thế kỷ thứ hai mươi, một băng đảng qu�n cướp, cầm đầu bởi một người Việt Nam t�n L� Văn Lợi, đ� g�y kinh ho�ng Rạch Gi�.� Ch�ng đặc biệt t�ch cực tại quận G� Quao, nơi m� nhiều nh�nh s�ng, kinh đ�o, đầm lầy, v� rừng đ� tạo ra v� số khả t�nh cho sự ẩn n�u v� trốn tho�t an to�n.� Như văn khố cho thấy, kh�ng chỉ v� nhu cầu kinh tế m� c�n do t�nh h�nh an ninh địa phương phức tạp đ� buộc ch�nh quyền phải gia tăng chương tr�nh đ�o c�c con kinh mới tại c�c khu vực bị ảnh hưởng ở đ�y, với vi�n ph� thống đốc Nam Kỳ tuy�n bố với vi�n To�n Quyền rằng Rạch Gi� đ� thực sự bị cắt l�a với phần c�n lại của thuộc địa bởi c� sự kh� khăn trong việc giao th�ng với n�. 71 Sau khi c�c kinh đ� được đ�o, giống như ở c�c miền kh�c của v�ng Transbassac, cơ cấu h�nh ch�nh của n�ng th�n Nam Kỳ thuộc địa đ� tức thời mở rộng c�c khu canh t�c mới.� Việc n�y bao gồm sự tạo lập c�c cộng đồng n�ng th�n, c�c hội đồng x� (conseils des notables: hội đồng c�c th�n h�o nh�n sĩ) v� sự x�y dựng c�c ng�i đ�nh (communal halls), được t�i trợ một phần bởi ch�nh quyền.� Đối với người Trung Hoa, điều n�y c� nghĩa sự du nhập hệ thống bang hội v�o đến tận c�c g�c cạnh hẻo l�nh nhất của Đ�ng Dương.

 

���� Ch�ng ta giờ đ�y h�y nh�n đến c�c hội k�n, như đối lập với giới thổ phỉ hay c�c kẻ nổi loạn bị thất bại biến th�nh tội phạm, trong thế giới ven bi�n phi ph�p của Nam Kỳ thủa ban sơ của chế độ Thực d�n.

 

C�c Hội K�n Trong D�n Trung Hoa v� Việt Nam

 

���� V�o khoảng thập ni�n 1880, c�c nh� chức tr�ch Ph�p đ� bắt đầu lo �u về c�c hoạt động bất hợp ph�p đ� c�, nếu c�, một �t mối li�n kết với sự đối lập ch�nh trị đối với sự cai trị của Ph�p. C�c băng đảng tội phạm xem ra đang l�n cao tại Nam Kỳ, như ch�ng ta sẽ sớm nh�n thấy dưới đ�y.� Nhưng hoạt động phi ph�p n�y kh�ng chỉ l� một yếu tố về thời cơ v� địa h�nh; n� cũng phải được nh�n trong khung cảnh một chuỗi c�c c�c tật xấu hợp ph�p hay trước đ�y hợp ph�p của thời đại, đặc biệt �tam đổ tường� của việc h�t thuốc phiện, cờ bạc, v� đĩ điếm c� tổ chức.� V�o khoảng cuối thập ni�n 1880 v� đầu thập ni�n 1890, ch�nh quyền địa phương quan t�m nghi�m trọng về một v�i hoạt động mờ �m.� C�c t�u đ�nh bạc do người Hoa điều h�nh đ� vươn tới mọi ng�c ng�ch của Nam Kỳ, trong khi c�c s�ng b�i tại Chợ Lớn , vốn hoạt động hợp ph�p trong một v�i thời khoảng dưới danh nghĩa c�c c�u lạc bộ người Hoa, hay c�c tổ chức tương trợ (cercles d�entraide mutulle chinois) � v� trong đ� tất cả c�c nh�m thổ ngữ Trung Hoa ch�nh thức đều c� dự phần � đ� từ chối kh�ng chịu tan biến sau khi c�c hội qu�n bị x�a bỏ.� Thay v�o đ�, c�c ổ cờ bạc b� mật đ� ph�t triển, v� thường gắn liền với c�c ổ điếm tại c�c ttrung t�m của tỉnh.� Tất cả c�c điều n�y đ� khiến cho nh� chức tr�ch Ph�p phải quan t�m lớn lao.� Phe chỉ tr�ch lo sợ sự ph�t triển th�nh một nền kinh tế ngầm v� ngay cả th�nh một quốc gia trong một quốc gia.� C�c ch�nh s�ch Ph�p đ� biến đổi từ những năm 1860 giữa sự dung chấp c�c hoạt động như thế v� mục đ�ch g�p phần cho ng�n s�ch thuộc địa với c�c mức độ cấm đo�n l�n xuống.� C�u trả l�i cuối c�ng cho sự đe dọa n�y đ� được đưa ra trong năm 1882 khi vi�n thống đốc d�n sự đầu ti�n, Le Myre de Vilers, xiết chặt c�c luật lệ li�n quan đến ba �tật xấu x� hội� n�y tr�n khắp c�i Nam Kỳ.� Ph�p chế của �ng sau n�y đưọc mở rộng tr�n to�n thể Đ�ng Dương, nhưng một m�nh ph�p chế kh�ng th�i kh� đủ để giải quyết c�c vấn đề n�y.

 

���� Le Myre de Vilers cũng xiết chặt c�c luật lệ li�n quan đến c�c di d�n Trung Hoa, c�c luật lệ c� lẽ nghi�m khắc nhất tr�n to�n v�ng Đ�ng Nam � l�c bấy giờ.� �C�c Ngoại Kiều � Ch�u� trong đ� người Trung Hoa lu�n lu�n chiếm đại đa số, c�c kẻ bị c�o buộc với c�c vi phạm tương đối nhỏ như hội vi�n c�c hội k�n giờ đ�y sẽ phải chịu sự trục xuất tức thời v� vĩnh viễn khỏi Đ�ng Dương, v� trong c�c trường hợp quan trọng, t�i sản của họ cũng c� thể bị tịch thu.� Ngo�i ra, c�c bang m� họ lệ thuộc c� thể bị phạt nặng nề.� Trong một cuộc trấn �p quan trọng c�c hội k�n tại Nam Kỳ, vi�n Thống Đốc đ� tuy�n ph�n c�c khoản phạt sau đ�y trong c�c năm 1881-82: c�c bang Triều Ch�u tại Chợ Lớn, Cần Thơ, Tr� Vinh v� Vĩnh Long ph�i đ�ng g�p 5,000 đồng v�o chương tr�nh trấn �p chung nạn hải tặc tại v�ng n�ng th�n; trong khi tại S�c Trăng, ph� tổn 3,000 đồng đi liền với sự thiết lập một lực lượng cảnh s�t bổ t�c 30 người được �p đặt tr�n c�c bang Triều Ch�u tại S�c Trăng, B�i X�u v� Bạc Li�u.� Một l�ng c� biệt, T�n Quới tại Cần Thơ, bị phạt 2,000 đồng v� bị chứng minh c� tham gia v�o c�c hoạt động của Thi�n Địa Hội (Heaven and Earth Society). 72

 

���� Một khi được chứng minh, c�c kẻ bị c�o buộc h�nh sự sẽ bị trừng phạt theo luật ph�p; nhưng ngay cả trong c�c trường hợp n�y, chừng n�o kh�ng c� c�c tội tử h�nh li�n lụy, c�c nh� chức tr�ch thường t�n th�nh sự trục xuất hơn l� sự giam giữ qu� d�i v� tốn k�m.� Chỉ c� c�c ch�nh phạm Trung Hoa v� c�c t�ng phạm Việt Nam l� bị tống v�o nh� giam, thường tr�n đảo Poulo Condore (C�n Sơn). 73 Ngo�i ra, Le Myre de Vilers c� đưa ra một sự cải c�ch tư ph�p trong năm 1882.� Tại Bi�n H�a, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Ch�u Đốc, c�c t�a �n tư ph�p được th�nh lập, chủ tr� bởi c�c vi�n chức người Ph�p được giả định n�i th�ng thạo tiếng Việt v� am hiểu văn h�a v� x� hội địa phương.� Mục đ�ch của ch�ng l� gi�m s�t một c�ch hữu hiệu bộ phận bản xứ trong ch�nh quyền, gồm c� c�c quan lại v� th�ng dịch vi�n, bị lo sợ, lại qu� thường cộng t�c với c�c kẻ phạm tội. 74

 

���� C�c nỗ lực ban đầu của Ph�p nhằm kiểm so�t kh� th�nh c�ng được.� Thi�n Đia Hội, được chia l�m hai nh�nh, Nghĩa H�a v� Nghĩa An, h�y c�n rất mạnh, đặc biệt trong người n�i tiếng Triều Ch�u v� Ph�c Kiến.� Bang Ph�c Kiến c� nh�n số �t, nhưng lại gồm c�c người Hoa gi�u c� nhất trong th�nh phần hội vi�n của n�.� Theo c�c t�i liệu văn khố m� t�i đọc được cho đến nay, họ kh�ng bị nh�n như một mối nguy hiểm đặc biệt đối với luật ph�p v� trật tự.� Sự b�i bỏ c�c hoạt động của c�c hội của họ đ�ng ra l� một t�nh to�n kinh tế kh�n ngoan hơn, với sự lo ngại li�n can đến sự điều h�nh c�c khu lĩnh canh v� nạp tiền thuế kh�an cho ng�n s�ch, đặc biệt l� thị trường độc quyền về thuốc phiện, v� ch�nh v� thế, l� một vấn đề về nguy�n tắc ch�nh trị hơn l� v� nhu cầu khẩn cấp. 75 Tuy nhi�n , người Triều Ch�u lại l� một trường hợp kh�c.� Họ hoạt động như c�c thương nh�n l�a gạo tại Chợ Lớn v� như c�c trung gian tại miền n�ng th�n Nam Kỳ, nhưng cũng được đại diện trong giới n�ng d�n tại v�ng Transbassac, v� tất cả đều sẵn lấy vợ Việt nam v� Khmer. �Dưới c�c t�nh huống n�y sự lan tr�n c�c tổ chức hội k�n của họ trong phạm vi Nam Kỳ v� Căm Bốt, v� sự b�nh trướng của ch�ng đến d�n �bản xứ�, kh�ng phải l� điều g�y ngạc nhi�n, v� đ� bị đ�n nhận với sự nghi ngờ v� lo sợ bởi c�c nh� chức tr�ch thực d�n l� c�c kẻ c�n dự đo�n đến một tổ chức �� Ch�u Quốc tế� trước khi truởng th�nh [avant la letter, th�nh ngữ Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� V� thế, trong năm 1882, sau c�c sự x�o trộn ở th�n qu� trong suốt m�a kh�, vi�n thống đốc đ� quyết định một m�n biểu dương sức mạnh để đối ph� với mối đe dọa vừa ph�t sinh n�y.� C�c tỉnh thuộc v�ng Transbassac như Rạch Gi�, Bạc Li�u v� S�c Trăng đ� l� c�c mục tỉ�u ch�nh của sự đ�n �p.� Le Myre de Vilers đ� đến thăm khu vực v� đ�ch th�n chỉ huy c�c biện ph�p chống lại tội phạm Trung Hoa (hay Triều Ch�u) c� li�n quan đến băng đảng.

 

���� Trong bản b�o c�o năm 1882 gửi về Paris của �ng, Le Myre de Vilers y�u cầu đặt c�c sắc thuế mới để đ�i thọ cho c�c c�ng t�c nhằm mang v�ng Transbassac, v� đặc biệt b�n đảo C� Mau, nằm dưới sự kiểm so�t trọn vẹn của ch�nh phủ.� Khu vực n�y cư tr� bởi người việt Nam, Trung Hoa, Khmer v� Minh Hương, v� n� thụ hưởng c�c nối kết đường biển dễ d�ng với Trung Hoa v� c�c nước kh�c trong miền.� Từ c�c thời xa xưa, n� đ� l� một nơi ấn n�u an to�n cho c�c phạm nh�n, c�c kẻ g�y x�o trộn, v� c�c kẻ giang h� Trung Hoa, v� cho c�c người tỵ nạn từ c�c tỉnh kh�c của Nam Kỳ.� D�n số bất kham n�y cho thấy khuynh hướng dễ tham gia v�o c�c hội k�n, vốn h�nh động thay cho c�c cơ cấu ch�nh quyền chưa hiện diện đầy đủ tại cv�c khu vực n�y, nơi c� sự lo ngại rằng người Ph�p kh�ng chịu đựng nổi kh� hậu kh�ng l�nh mạnh n�y.� Như vi�n thống đốc đ� lập luận, việc khởi sự c�c biện ph�p vệ sinh tại c�c trung t�m th�nh thị để tỉ�u diệt muồi, đ�o c�c kinh rạch phục vụ n�ng nghiệp v� mở rộng c�c cộng đồng l�ng x� v� c�c bang hội Hoa Kiều, tất cả đ�u cần thiết để đặt địa điểm bất trị n�y dưới sự kiểm so�t trọn vẹn. 77

 

���� Theo t�i, c�c h�nh động n�y kh�ng đặc biệt chống lại người Trung Hoa hay phản ảnh sự lo ngại về c�c ảnh hưởng của người Hoa tr�n văn h�a Việt Nam, như c�c t�c giả kh�c đ� kết luận. 78 Hai sự giải th�ch xem ra quan trọng.� Trước hết, ch�nh quyền Ph�p lo ngại một sự kết hợp của giới hải tặc truyền thống với qu�n thổ phỉ, nh�n c�c hội k�n như một h�nh thức mới của sự tổ chức chống ch�nh quyền v� v� thế chống thực d�n.� Đ�y l� trường hợp người Triều Ch�u v� c�c tổ chức li�n hệ của họ, c�c kẻ đ� h�nh động trong sự th�ng đồng với d�n ch�ng bản xứ.� Thứ nh�, c�c biện ph�p được nhắm chống lại một sự kiềm giữ của người Hoa, đặc biệt người Ph�c Kiến, tr�n nền kinh tế.� Le Myre de Vilers đ� thừa kế từ c�c thống đốc tiền nhiệm thuộc hải qu�n một hệ thống thuế kh�a được dựa tr�n c�c độc quyền nh� nước, được nhượng lại cho c�c sở hữu chủ c�c n�ng trại l�nh trưng nạp thuế người Hoa; khu n�ng trại l�nh trưng thuốc phiện kh�ng th�i đ� đ�ng g�p 20 phần trăm to�n thể ng�n s�ch của thuộc đia.� Nếu định mệnh của Ph�p l� phải ph�t triển c�c v�ng thuộc địa sỡ hữu của m�nh tại Viễn Đ�ng, việc cung cấp ng�n khỏan l� điều cần thiết.� Bởi v� Paris sẽ kh�ng cung cấp ng�n khỏan, vốn liếng đ� phải được t�m kiếm tại địa phương.� Điều n�y c� nghĩa gia tăng c�c sắc thuế tr�n �c�c con b� sữa của Nam Kỳ�, người Hoa, 79 một sự khai triển kh� được đ�n tiếp với sự vui mừng bởi c�c th�nh phần li�n can trong d�n số.� 80 Mở rộng khu vực trồng l�a, v� thay thế c�c n�ng trại l�nh trưng nạp thuế do người Trung Hoa điều h�nh bằng c�c thị trường độc quyền của nh� nước (c�ng ty c�ng quản) tr�n thuốc phiện v� rượu, l� c�c c�u trả lời của vi�n thống đốc cho c�c c�u hỏi n�ng bỏng của thời điểm đ�.� C�c độc quyền nh� nước vẫn c� thể được điều h�nh bởi c�c nh� thầu phụ, nhưng người Ph�p biết rằng người Trung Hoa đ� kh�ng cấu th�nh một khối độc nhất.� Ngừoi Triều Ch�u l� c�c kẻ th� kh�ng đội trời chung với người Ph�c Kiến, đặc biệt khi li�n quan đến sự kiểm so�t mậu dịch l�a gạo, trong một sự th� hận c� lẽ phải quay trờ l�i lại trước năm 1882, khi nh�m kể sau [Ph�c Kiến] đ� kiểm so�t được hoạt động thương mại trong n�ng nghiệp như một lợi lộc phụ thuộc ngo�i c�c thị trường lĩnh trưng thuốc phiện. 81 Sự trấn �p c�c hội k�n v� sự kiểm s�at nghi�m ngặt tr�n sự nhập cảnh cũng phải được nh�n trong khung cảnh mở rộng n�y.� Người Ph�p mong gia tăng số thu nhưng cũng biểu thị rằng họ l� c�c �ng chủ. 82

 

���� Khi c� li�n can đến bản th�n c�c hội k�n, c�c hoạt động t�i phạm như tống tiền v� cướp b�c c� thể đan kết với c�c động lực ch�nh trị, như trường hợp kể sau của Thi�n Địa Hội tại x� T�n Quới (tỉnh Cần Thơ) cho thấy.� C�c t�i liệu văn khố cung cấp một c�i nh�n thấu triệt hiếm hoi v�o cơ cấu v� c�c phương ph�p của tổ chức n�y tại đ�y.� X� � chợ n�y bao gồm ch�nh yếu c�c n�ng d�n v� nh� mậu dịch l�a gạo Triều Ch�u, cũng như c�c n�ng d�n Việt Nam.� Trong th�ng S�u 1882, một nh�n sĩ Việt Nam, Phạm Văn Vui, đ� từ chối gia nhập Thi�n Địa Hội v� kế đ� bị đe dọa giết chết.� Bản �n được treo c�ng khai tại ng�i ch�a l�ng, k� t�n bởi �đội vệ sĩ l�nh binh� [tiếng Việt trong nguy�n bản, được dịch sang tiếng Anh l� captain, commander of the troops, c� phần sai nghĩa, ch� của người dịch].� Phạm Văn Vui y�u cầu sự trợ gi�p của nh� chức tr�ch.� Một n�ng d�n v� nh� mậu dịch Triều Ch�u gi�u c�, Trần Ng�i, được giả định l� kẻ th�nh lập ra Thi�n Địa H�i trong tỉnh.� �ng ta sống tại thuộc đia đ� mười năm, v� đ� kết h�n với một phụ nữ Việt Nam v� c� năm đứa con.� Trần Ng�i sở hữu 100 mẫu t�y đất tại c�c tỉnh Cần Thơ v� S�c Trăng, ba ng�i nh�, v� hai thuyền chạy đường s�ng.� Một cuộc lục so�t cơ nghiệp của �ng kh�m ph� ra một ấn t�n hội k�n dấu trong đống gạo gần giường năm của một phu cu-li chuy�n chở gạo đến Chợ Lớn v� hay biết rằng người anh (em) của kẻ bị tố c�o, chủ nh�n trước đ�y c�c thuyền chạy đường s�ng, đ� đi về Trung Hoa.� Trần Ng�i từ chối kh�ng hợp t�c với c�c nh� chức tr�ch, v� thế sự trục xuất tức thời �ng đ� được ra lệnh c�ng sự tịch thu to�n bộ gia sản của �ng.� Chỉ c� vợ v� c�c con �ng được ph�p ở lại. 83 D� thế, c� vẻ nhiều nhất l� nh� chức tr�ch mới chỉ trục xuất một cai đội, chứ kh�ng phải một thủ lĩnh cao cấp của hội k�n.

 

���� Trong năm 1904, c�c t�i liệu cho thấy rằng c�nh K�o V�ng [Yellow Flag branch, sic] của hội, đặc biệt vững mạnh trong người Triều Ch�u, muốn kiểm so�t mậu dịch l�a gạo v�ng Transbassac v� thu nhận c�c h�i vi�n mới từ người Việt Nam.� Tại Tr� �n (tỉnh Cần Thơ), c�c nh� chức tr�ch kh�m ph� ra c�c ngừoi bu�n lẻ gạo gốc Triều Ch�u loan truyền c�c tin đồn sai lạc từ l�ng n�y sang l�ng kh�c, n�i rằng gi� gạo đ� sụt giảm mạnh mẽ bởi c� sự chiến thắng của Nhật tr�n nước Nga.� Hơn nữa, họ c�n n�i th�m, rằng người Nhật giờ đ�y tự do đến Nam Kỳ để đuổi thực d�n Ph�p đi.� Sau khi chiến thắng, c�c hội vi�n Thi�n Địa Hội sẽ được trao bằng khen, tước hiệu v� của cải, kể cả c�c đất đai sở hữu của người Ph�p đ� ra đi.� Người Việt Nam thuộc mọi tầng lớp đ� đổ x� v�o tổ chức � một số v� c�c l� do ch�nh trị hay kinh tế, số kh�c, đặc biệt c�c người gi�u c� hơn, v� sự sợ h�i.� Gạo được b�n với gi� thấp một c�ch lố bịch, buộc người d�n ngh�o hơn phải mua gạo cho sự tỉ�u d�ng của ch�nh họ sau khi đ� b�n số thu hoạch của m�nh.� Th�nh vi�n của c�c tầng lớp thấp nhất trong x� hội, c�c th�nh phần cặn b� v� c�c tội phạm, cũng sử dụng c�i d� che chở của hội để theo đuổi c�c hoạt động phi ph�p.� Như �c�c anh em kết nghĩa�, họ biết rằng c�c đồng ch� của họ sẽ kh�ng d�m b�o c�o họ cho nh� chức tr�ch, đặc biệt nếu c�c vi�n x� trưởng v� c�c n�ng d�n gi�u c� l� c�c hội vi�n đồng hội. 84 C�c nguồn t�i liệu Ph�p được tham khảo đến nay kh�ng n�i rằng tổ chức hay c�c thủ lĩnh của n� phải chịu tr�ch nhiệm về c�c hoạt động t�i phạm nghi�m trọng như cướp của v� thổ phỉ.� Đứng hơn, một bức tường im lặng trong tổ chức ngăn cản người Ph�p bắt giữ được c�c thủ lĩnh chủ chốt, những kẻ được giả định l� trong số c�c thương nh�n l�a gạo h�ng đầu gốc Triều Ch�u c� mạng lưới v� c�c sự quan hệ c� thể vươn tới tận Trung Hoa.� Tuy nhi�n, với sự tuyển mộ nhiều đến thế từ số người ngh�o v� c�c phần tử phản x� hội của n�ng th�n, khuynh hướng nghi�ng về tội phạm kh�ng c� g� đ�ng ngạc nhi�n.

 

���� Sự lan truyền c�c hội k�n trong d�n Việt Nam tiếp tục cho đến l�c bước sang thế kỷ mới, v� kh�ng chỉ ở c�c khu vực c� mức độ cao của x�m nhập của người Hoa giống như v�ng Transbassac.� Theo c�c t�i liệu văn khố, phần lớn n�i về c�c tỉnh miền đ�ng Nam Kỳ, 85 c�c tiến tr�nh cũng tương tự như t�nh trạng Transbassac được tr�nh b�y ở tr�n.� C�c hội k�n Việt Nam thường được th�nh lập bởi c�c c� nh�n xuất th�n từ h�ng ngũ n�ng d�n gi�u c�, t�m c�ch kiểm so�t kinh tế hay x� hội.� Họ ấn định mức đ�ng g�p tr�n c�c th�nh vi�n t�y theo t�nh trạng c� biệt của mỗi người (từ ba đến năm mươi đồng Đ�ng Dương mỗi năm), với c�c ng�n khỏan được d�ng để trang trải c�c ph� tổn ph�p l� hay nhu cầu của gia đ�nh c�c th�nh vi�n bị bắt giữ.� Những người kh�ng sẵn l�ng gia nhập bị đe dọa trả th�, trong khi sự lo sợ đ� k�ềm giữ nhiều n�ng d�n gi�u c� hay �lương thiện� kh�ng đảm nhận c�c c�ng việc h�nh ch�nh ch�nh thức, như x� trưởng hay hương h�o, để ngỏ ch�ng cho c�c hội vi�n.� Với giới l�nh đạo l�ng x� do thế ủng hộ họ, c�c băng đảng hội k�n mọc l�n c� thể hoạt động gần như kh�ng bị ngăn trở bởi c�c thẩm quyền địa phương, bởi kh�ng ai d�m b�o c�o ch�ng.� Ch�nh v� vậy, giữa ban ng�y s�ng tỏ, c�c băng đảng đ� xuất hiện tại c�c chợ ở Chợ Lớn trong năm 1905 để đ�i tiền bảo k� từ c�c nh� mậu dịch bị dọa nạt. 86

 

���� Tại tỉnh n�y, như tại tỉnh Bi�n H�a trong năm 1906, nơi m� một hội k�n Việt Nam đ� khủng bố c�c l�ng dọc theo đường xe hỏa đến Phan Thiết, c�c th�nh vi�n hội k�n Trung Hoa đ� h�nh động như c�c sư phụ của người Việt Nam.� C�c th�nh vi�n hội k�n c� địa vị x� hội xuất hiện trong l�ng, với bốn hay năm đồng đảng th�p t�ng, đến �mời� c�c n�ng d�n gi�u c� hơn th�nh lập một tổ, với sự đe dọa tử h�nh hay đốt ch�y ngồi nh� của họ để cổ vũ c�c kẻ c�n ngần ngại.� Khi v�o khoảng năm mươi người đ� được khuyến dụ gia nhập, l�c đ� họ được quy tụ cho buổi lễ gia nhập, thường được tổ chức v�o buổi tối tại một ng�i đền hay ch�a trong l�ng.� C�c kẻ gia nhập cắt m�u ăn thề [(th�ch huyết) [sic], tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], v� sau đ� một văn thức của hội đ� được đọc to tr�n x�c một con g� đen: {�Bất kỳ ai phản bội anh em m�nh sẽ bị chặt đầu như con vật n�y�. 87 Vị chủ tế c�c nghi lễ n�y thường l� người Hoa � tại Bi�n H�a l� người Hẹ -- c� kẻ rất thuộc l�ng c�c nghi lễ. 88

 

���� Tại chi hội Bi�n H�a của Thi�n Địa Hội, ba trong bốn thủ lĩnh, được gọi l� �Tứ Đại� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], l� người Hẹ, v� một l� người Việt Nam.� B�n dưới họ l� �B�ch Xin� hay �Ti�n�, một th�n h�o Việt Nam trong x�, v�i thầy l�m lễ, một ph�n quan h�a giải, v� một thủ quỹ.� Sau c�ng c� một nh�m đồng đảng v� chấp ph�p, được gọi l� Ngũ Hổ, c�c người chịu tr�ch nhiệm về việc tuyển mộ c�c hội vi�n mới.� C�c n�ng d�n gi�u c� thường chỉ c� thể được miễn trừ với khoản đ�ng bằng tiền mặt, trong khi c�c hội vi�n th�ng thường được tổ chức th�nh ba đội qu�n: cờ đen, cờ đỏ, v� cờ v�ng.� Mọi th�nh vi�n đều c� cấp bực của ri�ng m�nh, từ cấp đại t� v� đại �y xuống c�c trung sĩ v� t�n binh trơn.� V�o buổi tối, hội tổ chức c�c phi�n họp mặt trong c�c l�ng, nơi m� c�c hội vi�n được huấn luyện v� thuật.� Như kết quả của hoạt động hội k�n n�y, cả một phong tr�o phản kh�ng ho�n to�n mới mọc l�n một c�ch �m thầm v� lan tr�n như một ngọn lửa hoang.� Trong một v�i th�ng, c�c nh� chức tr�ch Ph�p đ� kh�ng thể bắt giữ c�c nghi can, bởi họ gặp phải một sự im lặng to�n diện tại c�c l�ng li�n hệ.� Nếu c�c nh� h�nh ch�nh c� thể tuy�n bố một c�ch h�nh diện trong một bản b�o c�o h�ng th�ng rằng c�c quản hạt thẩm quyền của họ tuyệt đối y�n tĩnh, một th�ng sau một tội phạm, một vụ cướp hay tấn c�ng mới kh�ng được giải quyết sẽ l�m hoen ố t�i liệu của họ.� Khi c�c đơn vị qu�n sự Ph�p v� Việt Nam quay về tay kh�ng sau cuộc trinh s�t của họ, điều n�y đ� l�m gia tăng một c�ch vĩ đại uy t�n của c�c hội k�n.� Kh�ng l�u, to�n thể c�c x� đều d�nh l�u v�o. 89

 

���� Sau c�ng, c�c bức thư nặc danh đ� đ�nh thức c�c sự nghi ngờ của nh� chức tr�ch tỉnh v� đ� phối hợp c�c sự bắt giữ v� lục so�t để kh�m ph� bằng chứng về c�c hoạt động của hội k�n.� Chỉ sau khi c� điều n�y, khi c�c cai tổng v� x� trưởng v� c�c n�ng d�n gi�u c� cảm thấy được bảo vệ đầy đủ bởi c�c nh� chức tranh, c�c l�ng x� đ� kh�ng cự lại c�c đ�i hỏi của c�c hội k�n v� ch�nh v� thế khiến ch�ng c� thể trở th�nh mục ti�u của sự độc �c c�ng cực.� Tại Bi�n H�a trong năm 1906, người Ph�p đ� bắt giữ hon một trăm th�nh vi�n băng đảng hội k�n , chin mươi t�m người trong họ bị tuy�n �n t� từ bốn ng�y đến bốn năm.� C�c ch�nh phạm tung ra sự kh�ng c�o, chỉ thấy rằng bản ăn của họ bị tăng �n gấp đ�i. 90

 

���� Vấn đề c�c hội k�n Trung Hoa v� Việt Nam v� sự đe dọa ch�nh trị tiềm ẩn , đặc biệt của người Việt Nam, vẫn c�n l�m bận t�m ca;�c nh� chức tr�ch cho đến l�c c�c năm khởi đầu của thập ni�n 1920. 91 Tuy nhi�n, c�c nơi ẩn trốn của họ tại Ch�u Thổ s�ng Cửu Long v� dọc theo bờ biển giờ đ�y phần lớn bị đặt dưới sự canh g�c, sao cho sự truy n� th�nh c�ng c�c kẻ ngo�i v�ng ph�p luật l� điều khả thi, �t nhất tr�n mặt l� thuyết.� Đối với nh� chức tr�ch, một khi đ� hay biết vấn đề, việc g�y bận t�m nhất l� tạo lập một hệ thống c�ng phu để kiểm so�t v� canh chừng b� mật nhằm bắt kịp c�c sự ph�t triển mới v� nhằm b�p chết c�c h�nh động phi ph�p từ trong trứng nước.� Hậu quả trong nhiều năm số lượng c�c b�o c�o về c�c hoạt động như thế bắt đầu gia tăng, từ số lương bắt đầu nhỏ l�c đầu thập ni�n 1880 v� sau n�y trong thập ni�n 1890 tại v�ng Transbassac.� V�o khoảng thập ni�n 1900, c�c b�o c�o về c�c hoạt động như thế xuất hiện cho Bi�n H�a v� sau đ�, v�o đầu thập ni�n 1910, dọc theo bi�n giới Nam Kỳ - Căm Bốt, cho thấy kh�ng c� nhiều dấu hiệu của t�nh trạng phạm ph�p gay gắt m� đ�ng hơn l� sự cảnh gi�c v� hoạt động cảnh s�t được n�ng cao.� Như thế, nếu hoạt động thổ phỉ vẫn tiếp tục nơi đ�y đ�, n� dần d� được đối ph� với nhiều sự hữu hiệu hơn, khi m� qu�n cướp v� c�c kẻ phạm ph�p bị bắt giữ v� mang ra x�t xử.� Cũng vậy, v�o l�c bước sang thế kỷ thứ hai mươi, c�c nh� chức tr�ch đ� xiết chặt sự kiềm chế của họ tại c�c khu vực d�n thiểu số ở cao nguy�n, bởi tr�n nguy�n tắc, kh�ng c� chỗ n�o nằm ngo�i sự kiểm so�t của ch�nh quyền.� Phụ lực v�o kết quả n�y, từ cuối thập ni�n 1910, nhiều phần của cao nguy�n cũng dần trở n�n h�a nhập hơn v�o nền kinh tế thuộc dịa.

 

���� Tuy nhi�n, khởi đầu với cuộc c�ch mạng Trung Hoa năm 1911, một đe dọa mới hiện ra nơi g�c nh� � chủ nghĩa d�n tộc hiện đại.� Được phổ biiến bởi một tầng lớp tr� thức hay �b�n tr� thức� (semi-intellectuals) [?] được huấn luy�n theo t�y phương v� trẻ trung, như c�c thẩm quyền Ph�p thường nh�n họ, họ đ� tuyển mộ c�c người ủng hộ từ thường d�n, đặc biệt trong giới c�ng nh�n th�nh phố v� người ngh�o ở n�ng th�n.� Trấn �p c�c đe dọa ch�nh trị mới n�y, v� kh�ng li�n đới g� đến nạn thổ phỉ hay nổi loạn cổ truyền, đ� trở th�nh mục ti�u ch�nh của c�ng t�c cảnh s�t của thực d�n trong c�c thập kỷ kế tiếp.� Một �phong tr�o � Ch�u Quốc Tế� c� thực giờ đ�y đang được cấu tạo từ khoảng 1920, nhưng vẫn c�n cần thời gian để th�nh h�nh.

 

���� Như đựoc n�u ra ở tr�n, c�c l� do của nạn thổ phỉ v� hải tặc tại v�ng Transbassac v� dọc theo bờ biển hải h�nh Việt Nam � Căm Bốt kh�ng li�n quan đến t�nh đặc th� về chủng tộc m� l� một sự đ�p ứng với nhiều lớp c�c yếu tố địa - chiến lược truyền thống đặc trưng cho khu vực n�y, v� đ� tạo ra c�c cơ sở �kh�ch quan� cho c�c hoạt động như thế.� C�c khu vực rộng lớn của v�ng Transbassac v� khu duy�n hải nối d�i của n� chưa được ph�t triển, nhưng dễ tiếp cận xuy�n qua một mạng lưới chằng chịt c�c thủy lộ kh� m� kiểm so�t v� l� nơi m� c�c chỗ ẩn trốn hay phục k�ch c� thể được tổ chức một c�ch dễ d�ng.� Hơn nữa, li�n quan đến hải tặc Trung Hoa, đ� c� sự gần cận của Căm Bốt, Xi�m La v� c�c h�n đảo hải tặc cổ xưa trong Vịnh Xi�m La.

 

���� Như c�c nguồn t�i liệu về một v�i tỉnh ở Nam Kỳ cho thấy, trong khi c�c th�nh vi�n của một băng đảng c� thể l� c�c n�ng d�n ngh�o, đ�i, v� thất học, c�c thủ lĩnh kh�ng phải như v�y.� Họ kh�ng nhất thiết thuộc v�o c�c tầng lớp cai trị truyền thống v� gi�u c� đ� đuợc thiết định của x� hội n�ng th�n, bởi c�c th�nh vi�n d�n ch�ng như thế sẽ c� khuynh hương tự xếp h�ng với quyền lực ch�nh thức v� chỉ gia nhập một đo�n thể phạm ph�p v� sợ h�i.� C�c thủ lĩnh của c�c băng đảng t�i phạm v� c�c hội k�n, như c�c th� dụ từ S�c Trăng v� Bi�n H�a cho thấy, nhiều phần l� c�c kẻ mới gia nhập mạng lưới x� hội đ� được thiết định v�o một tầng lớp x� hội mới sắp sửa xuất hiện tại một v�ng đất mới.� Họ tạo ra uy t�n ri�ng của m�nh v� một sự phục t�ng xuy�n qua sự k�nh trọng v� một sự chăm s�c c� t�nh c�ch gia trưởng d�nh cho c�c th�nh vi�n đệ tử.� Với sự trợ lực của c�c đệ tử, c�c thủ lĩnh n�y đ� sử dụng sự dọa nạt v� lo sợ hầu kiểm so�t c�c khu vực n�ng th�n về mặt kinh tế v� ch�nh trị.� C�c binh sĩ v� c�c thủy thủ giải ngũ trở về c�c l�ng x� sinh qu�n của họ đ� l� c�c kh� cụ l� tưởng, như c�c kẻ cầm đầu c�c băng đảng vũ trang, �l�nh-thổ phỉ�, v� như c�c luồng chuyển tải c�c ảnh hưởng ngoại lai.� Như c�c th� dụ từ c�c tỉnh S�c Trăng v� Bi�n H�a cho thấy, c�c kẻ cầm đầu băng đảng đặc biệt kh�ng được ngưỡng mộ hay y�u mến bởi d�n ch�ng, nhưng được nể trọng v� sợ h�i v� v� kh�ng c� sự lựa chọn n�o kh�c.� Nơi m� sự kiểm so�t thấp, yếu, hay kh�ng li�n tục, c�c nh� h�nh ch�nh bản xứ hay c�c nh� l�nh đạo cộng đồng địa phương c� khuynh hướng nhượng bộ, dung chứa hay cộng t�c với c�c tổ chức bất hợp ph�p n�y: k�u gọi sự can thiệp của nh� nước bị xem, tr�n hết, l� bằng chứng của sự bất lực của ch�nh họ, v� bị nh�n như g�y rắc rối v� kh�ng hữu hiệu bởi cộng đồng v� bởi ch�nh c�c nh� l�nh đạo cộng đồng ở đia phương.� Chỉ khi nh� nước vận dụng sự kiểm so�t hữu hiệu của n� tr�n l�nh thổ tạm thời bị mất (hay mới), khi đ� nạn thổ phỉ mới c� thể được giải quyết tận gốc rễ qua việc triệt hạ bức tường im lặng đ� bao quanh v� bảo vệ n�. 94

 

���� Nếu c�ch kh�a cạnh phong tục địa phương, lịch sử ch�nh trị, v� đia h�nh đều g�p phần v�o việc l�i k�o c�c c� nh�n bất m�n v�o c�c hoạt động b�n lề` x� hội hay bất hợp ph�p ho�n to�n hồi cuối thế kỷ thứ mười chin v� đầu thế kỷ thứ hai mươi, một yếu tố thu h�t kh�c cũng cần phải được nh�n nhận trong bất kỳ sự tường thuật n�o về sự gia tăng c�c hoạt động phi ph�p tại khu vực n�y.� Đ�y l� sự ph�t triển kinh tế gia tăng của miền, đặc biệt của v�ng Transbassac.� Số lượng v� tần số c�c sự vận tải l�a gạo xuy�n qua c�c kinh đ�o v� s�ng ng�i của n� tăng cao một c�ch li�n tục, trong khi một tầng lớp gi�u c� của c�c ph� n�ng Việt Nam v� Trung Hoa, c�c th�n h�o nh�n sĩ ở l�ng x�, c�c nh� mậu dịch, v� c�c thương nh�n xuất hiện, tất cả họ hoặc đ� chở gạo, tr�u b�, tiền v� vật qu� gi� tr�n thuyền của họ, hay cất giữ ch�ng tại nh� của hpọ.� Nếu sự di d�n của ngừoi Trung Hoa v� Việt Nam v�o v�ng Transbassac đ� tạo ra c�c khả t�nh cho c�c n�ng d�n kh�ng đất cầy tự cải thiện xuy�n qua việc khai khẩn đất mới � với ph� tổn của ch�nh họ hay, với nhiều x�c xuất hơn, như c�c n�ng d�n t� điền của một chủ nh�n khu đặc nhượng � c�c th�nh phần b�n lề �x� hội hay bị truất hữu v� c�c kẻ bị khai trừ khỏi c�c nh�m chủng tộc ch�nh sinh sống tại đ�, người Việt, Trung Hoa hay Khmer v� c�c người lai giống, cũng t�m kiếm nơi nương n�u v�, �t nhất trong một l�c n�o đ�, cơ hội để kiếm sống bằng c�c phương c�ch phi ph�p. 95

 

����

Lời Kết: Một V�i Suy Tưởng Về C�c Hoạt Động Phi Ph�p V�o L�c Chấm Dứt Thời Thuộc Địa

 

���� C�nh Đồng Sậy [Plain of Reeds:� Đ�ng Th�p Mười], cho đến biến giới Việt Nam � Căm Bốt v� từ đ� v�o miền đ�ng Căm Bốt, quận G� Quao trong v�ng Transbassac thuộc tỉnh Rạch Gi�, phần s�u b�n trong S�c Trăng, v�ng Thất Sơn tại Ch�u Đốc, c�c n�i đồi hướng đ�ng bắc S�ig�n hay bi�n giới Việt Nam � Căm Bốt � tất cả c�c địa danh n�y v� nhiều địa danh tương tự kh�c nghe rất quen thuộc với một người nghi�n cứu nạn thổ phỉ, hải tặc, c�c cuộc nổi dậy, v� c�c phong tr�o chống ch�nh trị trong suốt thế kỷ thứ mười ch�n v� đầu thế kỷ thứ hai mươi.� Trong những giai đoạn c� sự kiểm so�t của ch�nh quyền bị suy yếu, ch�ng gần như tức thời lại trở th�nh c�c điểm n�ng.� C�c nơi tr� ẩn của thổ phỉ v� c�c kẻ ngo�i v�ng ph�p luật n�y sau đ� cũng sẽ đ�ng c�c vai tr� tương tự như trong thời chiến tranh giải thực [decolonization) �c� vũ trang, bắt đầu v�o năm 1940 với cuộc nổi dậy tại Nam Kỳ bị thất bại của Đảng C�ng Sản Đ�ng Dương (ICP: Indochinese Commusnist Party).� Tuy nhi�n, đ� c� sự kh�c biệt quan trọng giữa thời kỳ tiền 1920 với giai đọan sau đ�.� Trong thời kỳ tiền 1920, kh� ph�n biệt được hoạt động thương mại phi ph�p ho�n to�n khỏi c�c hoạt động chống thực d�n hay ch�nh trị, bởi ch�ng đan kết v�o nhau.� Thổ phỉ hay hải tặc cổ truyền c� thể mang một � nghĩa ch�nh trị hay c�c hoạt động ch�nh trị tho�i h�a th�nh ra chỉ c� t�nh chất tội phạm, như phần tường thuật về hội k�n ở Bi�n H�a đ� cho thấy.

 

���� C�c phong tr�o mới sau năm 1920 � như Trung Hoa Quốc D�n Đảng, mạnh nhất ở miền nam Việt Nam, 96 Việt Nam Quốc D�n Đảng, hầu như chỉ tập trung trong số c�c di d�n từ mien bắc tại Nam Kỳ, nhiều gi�o ph�i t�n gi�o � ch�nh trị kh�c nhau của miền nam, v� đảng Cộng sản Đ�ng Dương, v� c�c nh�m kh�c � vẫn tuyển mộ c�c th�nh vi�n từ c�c th�nh phần cặn b� của x� hội hay đ� sử dụng c�c m�c nối mờ �m của c�c nh� mậu dịch, qu�n thổ phỉ hay c�c tội phạm kh�c.� C�c th�nh vi�n bị giải t�n của c�c băng đảng trước đ�y c� thể trở th�nh c�c đệ tử của c�c tổ chức ch�nh trị hay t�n gi�o cứu đời sau n�y, bởi sự hiểu biết về địa phương v� mạng lưới của họ l� một di sản qu� b�u.� C�c phương thức phạm tội như tống tiền hay bắt giữ người gi�u c� đ�i chuộc tiền� cũng đ� được �p dụng bởi c�c phong tr�o t�n gi�o hay ch�nh trị.� �Tuy nhi�n, nếu c�c phong tr�o hiện đại muốn th�nh c�ng ngo�i khu�n khổ nguy�n thủy được x�c định r� r�ng v� d�nh được sự hấp dẫn t�an quốc, ch�ng phải giữ vững c�c mục ti�u t�ch cực v� l� tưởng hơn l� về thương mại.� Trong kh�a cạnh n�y, đang Cộng Sản Đ�ng Dương được chứng tỏ l� tinh ranh hơn c�c đối thủ t�n gi�o v� ch�nh trị của n�.� C�c tội phạm đ� phải bị kỷ luật v� từ bỏ c�c c�ch thức cũ, đặc biệt đối với thường d�n, m�i trường �nước� giả định nu�i sống �c� du k�ch.

 

���� Sau khi Thế Chiến II bắt đầu tại �u Ch�u, c�c sự x�o trộn nổ ra tại Nam Kỳ.� Sự thất trận của Ph�p ở �u Ch�u c� nghĩa l� ch�nh quyền thực d�n địa phương �bị mất mặt�. C�c tin đồn lan rộng ở th�n qu� về một phong tr�o nổi dậy mới, tương tự như phong tr�o nổi dậy cứu đời của Phan X�ch Long năm 1913, trong khi nạn hải tặc v� thổ phỉ lại nổi l�n tại khắp c�c s�o huyệt cũ trong v�ng Transbassac, như Tri T�n (Ch�u Đốc), Long Xuy�n, Rạch Gi�, C� Mau, Bạc Li�u v� S�c Trăng trong v�ng Transbassac, v� cũng tại Sa Đ�c, Vĩnh Long, Tr� Vinh v� Bến Tre tại v�ng Cisbassac kề b�n.� Trong một số trường hợp, n� c�n vươn tới c�c khu vực bao quanh S�ig�n, chẳng hạn như G� Vấp.� C�c băng đảng tội phạm, như nh�m đ� quấy ph� Ch�u Đốc v� Prey Veng, lan tr�n ở cả hai b�n của bi�n giới Việt Nam � Căm Bốt.� Như trong c�c thời kỳ trước đ�y, c�c c� nh�n ngừi Ph�p kh�ng bị tấn c�ng.� C�c mục ti�u được ưa th�ch �l� nh� của c�c n�ng d�n Việt Nam gi�u c� v� c�c thuyền của c�c nh� mậu dịch Trung Hoa.� Như trước đ�y, mọi nh�m chủng tộc ch�nh đều c� mặt trong c�c băng đảng n�y: Việt Nam, Trung Hoa, Khmer v� Minh Hương.� C�c băng đảng vũ trang từ năm đến mười người di chuyển thoải m�i tr�n c�c chiếc thuyền v� xuồng của họ, v� giống như trong qu� khứ, cảnh s�t v� c�c nh� h�nh cvh�nh Ph�p đối diện với c�c kh� khăn trong việc bắt giữ c�c kẻ phạm tội bởi v� c�c người canh chừng ở dịa phương, c�c th�n h�o nh�n sĩ trong l�ng, v� c�c người cầm đầu bang hội kh�ng d�m b�o c�o ch�ng, 97 lo sợ sự trả th� của ch�ng khi ng�i sao thực d�n c� vẻ t�n lụi.

 

���� Trong c�c thập ni�n đầu ti�n của chế độ thực d�n Ph�p v�o cuối thế kỷ thứ mười chin, qu�n nổi dậy chống Ph�p đ� tụ tập tại Đồng Th�p Mừoi.� Trong cuộc đ�n �p tiếp sau vuộc nổi đậy bị thất bại của cộng sản Nam Kỳ năm 1940, v�i nh�m qu�n nổi lọan đ� chạy trốn v�o c�c đầm lầy của Đồng Th�p Mười, cũng như hơi hướng l�n ph�a bắc đến Svay Rieng tại miền đ�ng Căm Bốt. Tại Đồng Th�p Mười, qu�n nổi dậy đ� tr� ẩn c�ng với băng đảng của Phan Văn K�, tự Mười K�.� Băng đảng thổ ph� n�y đ� khống chế khu vực từ năm 1925 đến 1937.� Bất kể t�n cầm đầu đ� bị bắt giữ về tội trộm trong bẩy lần, anh ta lu�n lu�n được tha bổng v� thiếu bằng cớ.� Qu�n nổi loạn cộng sản cũng hưởng lợi điểm nhờ kh� hậu: mưa nặng c� nghĩa c�c cuộc lục so�t của Ph�p v� đ�nh ho�n trong v�i th�ng, 98 gi�p họ n� tr�nh được c�c kẻ truy k�ch.

 

���� Ngay sau khi xảy ra cuộc C�ch mạng Th�ng t�m 1945, c�c thủ lĩnh cộng sản miền nam, chưa c� một lực lượng qu�n sự của ri�ng m�nh, đ� phải dựa, trong nhiều nh�m, v�o nh�m B�nh Xuy�n, một băng đảng ch�nh trị v� tội phạm, l� c�c kẻ, nhờ ở c�c hoạt động l�u d�i tại đ�, hiểu biết khu vực S�ig�n � Chợ Lớn v� khu vực ngoại bi�n của n� rất r�. 99 M� thức n�y đ� được lập lại trong giai đoạn giữa năm 1956 v� cuộc tổng nổi dậy năm 1959. 100

 

���� Từ cuối năm 1946 đến cuối năm 1948, bộ chỉ huy của Việt Minh miền nam được đặt tại giữa Đồng Th�p Mư�i (Long An ng�y nay).� Sau hết, v�o cuối năm 1948 sự cập bến của c�c xe bọc th�p thủy bộ của Ph�p, c� thể x�m nhập c�nh Đồng trong m�a kh�, đ� đuổi giới l�nh đạo Việt Minh đến một nơi ẩn n�u mới trong rừng tr�m tại Rạch Gi� � C� Mau.� N� tr�nh c�c thủy lộ ch�nh, được canh g�c cẩn thận bởi người Ph�p, họ đ� đi bộ qua miền đ�ng nam Căm Bốt nơi m� c�c khu vực rộng lớn đ� sẵn nằm dưới sự kiểm so�t của c�c lực lượng Khmer Issarak vốn được th�nh lập bởi Việt Minh.� Từ Căm Bốt, c�c thủ lĩnh [cộng sản] miền nam đ� băng ngang tới khu Thất Sơn thuộc Tri T�n (Ch�u Đốc). 101

 

���� Trong Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Lần Thứ Nhất (1945-1954), phần nội địa của v�i tỉnh v�ng Transbassac một lần nữa được d�ng l�m c�c nơi ẩn tr� an to�n cho qu�n cộng sản, v� cũng cho c�c lực lượng chống chế độ kh�c trước ti�n đ� chiến đấu b�n cạnh Việt Minh, như gi�o ph�i Cao Đ�i tại T�y Ninh hay d�n qu�n H�a Hảo tại Long Xuy�n, nhưng sau n�y quay lại chống lại cộng sản.� Giống như thời trước đ�y, một hoạt động mậu dịch thuyền buồm ph�t triển đ� lợi dụng c�c thủy lộ nhiều lỗ hổng của v�ng Transbassac để bu�n lậu vũ kh�, thuốc men, v� c�c vật dụng qu�n sự kh�c từ miền nam Trung Hoa xuy�n qua Phi Luật T�n, hay từ Xi�m La v� M� Lai.� �Được chuyển vận đến �C�c Khu Giải Ph�ng� Việt Minh , đặc biệt tại miền t�y Nam Kỳ, c�c h�ng h�a thiết yếu n�y đ� được đổi lấy gạo, hạt ti�u, l�ng vịt, da d�, v� sản vật n�ng nghiệp.� C�ng với một v�i thuyền trưởng thuyền buồm Th�i-Việt Nam, c�c chủ nh�n thuyền buồm Triều Ch�u v� c�c thủy thủ n�i tiếng Hải Nam đ� phục vụ như c�c kẻ trung gian giữa b�n cung cấp v� kh�ch h�ng ti�u thụ.� Tại c�c khu vực do Việt Minh kiểm so�t, người Hoa địa phương, hay con ch�u lai Hoa-Việt hay Hoa-Khmer của họ, đ� g�p sức th�nh lập c�c chợ v� c�c tổ hợp mậu dịch để tạo sự thuận lợi cho hoạt động thương mại.� Cũng giống như trong qu� khứ, Bangkok v� Chantaburi tại Th�i Lan, v� c�c đảo Koh Kong ngo�i khơi Căm Bốt v� đảo Ph� Quốc đối diện với Rạch Gi�, đ� được d�ng l�m c�c trạm th�ng qu� v� c�c kho h�ng tạm thời cho hoạt động mậu dịch phi ph�p n�y của doanh nh�n v� phụ nữ Trung Hoa, Hoa-Th�i, v� Hoa-Khmer.� Hạt ti�u của Kampot được t�m mua bởi cả người Ph�p lẫn Việt Minh.� C�c tướng l�nh v� ch�nh trị gia Th�i Lan v� Phi Luật T�n, hay gia đ�nh của họ, hoạt động như c�c đại l� v� c�c kẻ bảo vệ của mạng lưới mậu dịch Việt Minh tại Căm Bốt, Bangkok v� Manila.� C�c m�c nối của Trung Hoa v� Việt Minh tại Đ�ng N�m �, về phần họ, cũng đ� c� thể khai th�c c�c quan hệ gần gũi của họ với th�n nh�n tại S�ig�n � Chợ Lớn l� c�c kẻ, kế đ�, gi�p v�o việc tổ chức c�c mạng lưới mậu dịch của Việt Minh x�m nhập s�u v�o trong c�c khu vực do Ph�p kiểm so�t tại Đ�ng Dương. 102

 

���� Mậu dịch phi ph�p v� gi�n tiếp n�y đ� ph�t triển đến nỗi n� đ� buộc cả hai đối thủ ch�nh yếu trong cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Lần Thứ Nhất phải thay đổi c�c ch�nh s�ch kinh tế của m�nh.� Việt Minh đ� phải chấp nhận c�c thực thể kinh tế v� giữ tiền đồng Đ�ng Dương thuộc Ph�p, cho c�c sự giao dịch với thế giới b�n ngo�i, kể cả c�c khu vực do Ph�p kiểm so�t, v� ngay cả c�c phần thuộc c�c khu đ� giải ph�ng của ch�nh họ.� C�c thực thể địa phương đ� buộc cộng sản phải sửa đổi hay ngay cả việc t�i duyệt phần lớn c�c ch�nh s�ch của họ vốn được bắt nguồn từ l�u tại c�c Khu Giải Ph�ng Trung Hoa v� sau đ� được �p dụng cho c�c khu vực họ kiểm so�t tại miền bắc v� trung Việt Nam.� C�c ch�nh s�ch n�y ph�t huy ch�nmh s�ch tự t�c, tự cấp, sự khắc khổ, v� một sự biến thể kinh tế của cộng sản.� Tuy nhi�n, tại miền nam, doanh nghiệp v� mậu dịch tư nh�n tr�n đ� sự sống c�n của Việt Minh phần n�o dựa v�o phải được chấp nhận như một thực tế.� Về phần m�nh, trong năm 1952 c�c thẩm quyền Ph�p, đối diện với thực tế kh�ng ch�t lọt m�, trước ti�n, kh�ng hoạt động khi n� mở rộng cửa cho việc bu�n lậu, v� thứ nh�, n� đ� t�c động qu� mạnh mẽ tr�n c�c kẻ ủng hộ của ch�nh họ v� tr�n c�c khu vực do Ph�p kiểm so�t thuộc v�ng Transbassac. 103

 

���� Trong thời cuối thập ni�n 1940 v� đầu thập ni�n 1950 sau đ�, v� bất kể thời tiết h�nh ch�nh v� ch�nh trị đ� thay đổi, bờ biển mở cửa v� m�ng lưới chằng chịt của c�c thủy lộ Nam Kỳ tiếp tục cung ứng một kh�ng gian quyến rũ trong đ� việc bu�n lậu, chống chế độ, v� c�c hoạt động phi ph�p kh�c c� thể nẩy nở, giống y như c�c thời điểm kh�c trong thế kỷ trước.� V� giống như trong qu� khứ, người Trung Hoa, v� c�c hậu duệ Hoa-Việt v� Hoa-Khmer địa phương của họ, đ� c� thể khai th�c c�c sự tiếp x�c của họ khắp biển Nam Hải để duy tr� một nền kinh tế chợ đen ph�t t�i./- ���������� �������������������� ��������������������������

_____

 

 

CH� TH�CH:

 

1. Đ�y l� bản đ� tu chỉnh của một tham luận được tr�nh b�y tại kỳ hội thảo về Ranh Giới Tr�n S�ng Biển Lần Thứ Nh�, tại Phuket, Th�i Lan, 18-19 Th�ng Hai, 2006.� T�c giả đ� thu lượm được rất nhiều từ c�c nhận x�t ph� b�nh từ Nola Cooke v� hai vị duyệt x�t ẩn danh.� C�c � kiến v� tư tưởng tr�nh b�y trong b�i viết n�y l� của ch�nh t�c giả.

 

2. Một th� dụ soi s�ng l� sự phức tạp to�n diện trong mậu dịch phi ph�p v� nạn hải tặc của Nhật Bản v� Trung Hoa dưới triều đại nh� Minh.� Xem Kwan-wai So, Japanese Piracy in Ming China during the 16th century, Ann Arbor: Michigan State University Press, 1975.� Đặc biệt về Hải Nam, xem, Feray M., �Les Japonais � Hai-nan sous la dynastie des Ming (1368-1628)�, T�ung Pao, S�rie II, Vol. VII, 1906, c�c trang 369-379.

 

3.� Đề t�i n�y đ� được thảo luận s�u v� rộng bởi Giacometti, Jean-Dominique trong tập �La question de l�autonomie de l�Indochine et les milieu coloniaux francais 1915-1928�, Aix/Marseille: Universit� de Provence.� Luận �n tiến sĩ Đệ tam cấp, 1996.� Về vấn đề tiền tệ, xem Giacometti, Jean-Dominique, La Bataille de la Piastre.� R�alit�s �conomiques et perceptions politiques dans l�Empire colonial Francais.� Berlin: Humboldt-Universitat zu Berlin, SUDOSTASIEN Working Paper Nr. 9, 1998.

 

4. Xem định nghĩa, xem Hobsbawn, E. J. Primitive Rebels.� Studies in Archaic Forms of Social Movement in the nineteenth and twentieth Centuries.� Manchester: Manchester University Press, 1971 (in lại với lời tựa mới v� c�c sự tu chỉnh nhỏ), trang 5-6.

 

5. Sự thảo luận từ thập ni�n 1950 cho đến thập ni�n 1990 đ� được theo d�i cặn kẽ bởi Dian Murray trong quyển The Origins of the Tiandihu.� Stanford, California: Stanford University Press: 1994, c�c trang 103-15.

 

6. C�ng nơi dẫn tr�n.

 

7. Voyage au Tonkin en 1688 (suite et fin)�, Revue Indochinoise 13 (1910) 14, c�c trang 323-334.

 

8. Xem Đại Nam Thực Lục Ch�nh Bi�n (Dynastic veritable records, Gia Long reign), Tập II, H� N�i: NXB Sử học, 1963, trang 133.� Phần in nghi�ng l� của t�c giả.

 

9. T�c giả đ� thảo luận đề t�i n�y một c�ch s�u rộng trong chương đầu ti�n trong quyể s�ch của m�nh: Die chinesische Mindeheit im Suden Vietnams (Hoa) als Paradigma der kolonialenund nationalistischen Nationalitatenpolitik.� [The Chinese Minority in Southern Vietnam (Hoa) as a paradigm of colonial and nationalist ethnic politics].� Frankfurt am Main/Bern: Peter Lang, 2002, c�c trang 31-136.

 

10. Muốn c� một sự tr�nh b�y ban sơ về sự h�nh th�nh của chủ nghĩa d�n tộc Việt Nam tại Nam Kỳ hồi cuối thập ni�n 1920, v� về việc nh�n Trung Hoa như một mẫu mực bởi lớp người Việt Nam c� học v� giới b�nh d�n, xem Werth, L�on, La Cochinchine (voyage), Pr�sentation de Jean Lacouture.� Paris: Vivian Hamy, 1997.� C�c cuộc nghi�n cấu th�m s�u về đề t�i n�y th� qu� nhiều để liệt k� ra hết, nhưng bao gồm ba t�c phẩm ch�nh của David Marr c�ng c�c t�c phẩm của Georges Boudarel, Pierre Berocheux, Philippe Devillers, William Duiker, Charles Fourniau, Daniel H�mery, Huệ t�m Ho6` T�i, Huỳnh Kim Kh�nh, v� Paul Mus.

 

11.Về vấn đề nạn hải tặc tại Trung Hoa v� Việt nam trong khoảng cuối thế kỷ thứ mười t�m v� đầu thế kỷ thứ mười chin, xem Murray, Pirates of the South China Coast, rải r�c.

 

12. Seagrave, Sterling, The Soong Dynasty.� New York: Harper and Row, 1985, c�c trang 18-20.

 

13. Labrusse, Serge.� Politique du cabotage en Indochine.� Saigon: Imprimerie Francaise d�Outre-Mer 1950, p. 63.

 

14. M. P�rigand, R�ceveur des Douanes et R�gies at C�t B� to the R�sident at Quảng Y�n, 16 juin 1912.� Trong National Archives of Vietnam No. I (từ giờ trở đi, gọi tắt l�: QG I), RST (R�sidence Sup�rieure du Tonkin) 01376.

 

15. Li Tana gọi miền n�y l� �bi�n giới tr�n nư�c: water frontier� của Trung Hoa tại Đ�ng Nam �.� Xem ��The Water Frontier, An Introduction�, trong quyển Water Frontier: Commerce and the Chinese in the Lower Mekong Region, 1750 � 1880, bi�n tập bởi Nola Cooke v� Li tana, Boulder, Col.: Rowman and Littlefield, 2004, c�c trang 1-17.

 

16. Về c�c danh xưng kh�c nhau v� � nghĩa của ch�ng trong lịch sử, xem Brocheux, Pierre.� The Mekong Delta Economy, Ecology and Revolution.� Madison: University of Wisconsin � Madison, Center for Southeast Asian Studies, 1995, c�c trang 1-17.

 

17. C�c nguồn t�i liệu văn khố ch�nh l� từ Archives d�Outre Mer ở Aix-en-Provence (từ giờ trở đi gọi tắt l� AOM), Văn Khố Quốc Gia I v� II (QG I hay QG II) v� Văn Khố Quốc Gia Căm Bốt (ANC)

 

18. Người Ph�p bắt chước lối d�ng chữ n�y theo Đế Quốc la M�, theo đ� c�c bộ tộc Gallic được chia th�nh c�c khu vực địa l� gọi l� v�ng �Trước Khi Đến Rặng N�i Alps� (Cisalpine) v� �Vượt Qu� Rặng N�i Alps� (Transalpine).� T�i xin c�m ơn t�c giả Nola Cooke về sự giải th�ch n�y.� Mặc d� c� nguồn gốc thực d�n, thuật ngữ n�y kh�ng được t�n trọng cứng ngắc trong tất cả văn học thực d�n.

 

19. Bassac l� danh xưng bằng tiếng Khmer.� Ngừoi Ph�p cũng gọi n� l� Fleuve post�rieur (Con s�ng đằng sau).� Danh xưng cho một nh�nh kh�c của S�ng Cửu Long l� Grand Fleuve [S�ng Lớn] (từ tiếng Khmer Tonl� Thom) hay Fleuve ant�rieur (Con S�ng Đằng Trước) (từ tiếng Việt l� Tiền Giang).

 

20. Bouault, J.� G�ographie de l�Indochine, P. III: La Cochinchine.� Hanoi/Haiphong: Imprimerie d�Extr�me-Orient, 1927, c�c trang 2-5.

 

21. Danh từ gọi chung, Tr�m (mangrove), kh�ng chỉ một nh�m ph�n loại thảo mộc nhưng l� một nh�m tổng hợp bởi sinh th�i chung v� sự th�ch ứng để tăng trương tại c�c m�i trường nước mặn.� Muốn biết th�m chi tiết, xem Sterling, Eleanor Jane / Hurley, Martha Maud/ L� Đức Minh.� Vietnam: A Natural History.� New Haven and London: Yale University Press, 2006: 91-95.

 

22. C�ng nơi dẫn tr�n.� Về một sự m� tả hồi thế kỷ thứ mười chin về khu vực n�y, xem Bri�re, �Rapport sur la circonscription de Ca-mau�, Excursions et Reconnaissances. Vol. 1, 1879, c�c trang 5-25.

 

23. Monographie de la province de My Tho.� Saigon: Imprimerie L. Menard, 1924, trang 7.

 

24. Nola Cooke trưng dẫn một v�i th� dụ từ cuối thế kỷ thứ mười t�m v� đầu thế kỷ thứ mười ch�n trong b�i �Water World, Chinese and Vietnamese on the Riverine Water Frontier, from Ca Mau to Tonle Sap (c. 1850-1884)�, ở quyển Water Frontier, 2004, c�c trang 139-43.

 

25. Muốn c� v�i th� dụ về sự b�t ổn n�y, xem c�ng nơi dẫn tr�n.

 

26. Congr�gations (tiếng Việt-H�n: Bang), từ thời triều Nguyễn của Việt Nam, l� c�c thực thể ph�p l� cho mọi Hoa Kiều, c�c kẻ kh�ng li�n quan c� nh�n đến c�c thẩm quyền m� chỉ l� c�c th�nh vi�n của c�c nh�m n�y, dưới tr�ch nhiệm c� nh�n của �bang trưởng� (chefs de congregation).� Sau một sự th� nghiệm ngắn nhưng kh�ng th�nh c�ng với sự quản trị c� nh�n v� trực tiếp của ngư�i Trung Hoa, người Ph�p đ� t�i lập hệ thống truyền thống n�y v�o năm 1863 tại Nam Kỳ.� Tại S�ig�n v� Chợ Lớn, c� năm bang theo nguy�n qu�n địa phương: Ph�c Kiến (Fujian), Quảng Đ�ng (Canton), Triều Ch�u (Teochiu), Hải Nam (Hainan) v� Hẹ (Hakka).� Tại c�c tỉnh thuộc Nam Kỳ, v� sau n�y ở c�c nơi phần kh�c trong Đ�ng Dương thuộc Ph�p, số lượng c�c bang t�y thuộc c� đủ t�c số hội vi�n ở địa phương hay kh�ng, bởi c�c cơ quan n�y phải tự t�c v� n�ng cao số thu ph� để điều h�nh.� Nếu c�c bang chấp nhận người mới khi đến nơi, c�c bang sẽ phải chịu tr�ch nhiệm, c� nh�n c�c bang trưởng, về c�c h�nh vi của hội vi�n mới trong suốt thời kỳ cư ngụ của họ, v� phải trả c�c số thuế c�n thiếu hay khoản phạt cho mọi việc bất hợp thức. �C�c người mới tới kh�ng được chấp nhận bởi một bang sẽ phải rời thuộc địa tức khắc, với ph� tổn của bang đ� cự tuyệt họ.� Ch�nh v� thế, ch�nh quyền Ph�p đ� d�nh một phần quan trọng của việc canh g�c nh�m thiểu số n�y cho c�c thủ l�nh của ch�nh họ.� Sự hợp t�c của c�c bang c� t�nh c�ch sinh tử v� hữu hiệu trong việc ngăn chặn c�c hoạt động của c�c hội k�n trong thế kỷ thứ mười ch�n v� c�c hoạt động ch�nh trị kh�ng mong muốn trong thế kỷ thứ hai mươi.� Sau khi người Ph�p mở rộng ch�nh s�ch bang hội đến mọi phần của Đ�ng Dương, họ đ� canh t�n h�a (với sự trợ lực của Sở Nhập cảnh (Service de l�Immigration) v� cơ quan lưu trữ dấu tay trung ương của Sở) v� đ� biện hộ n� một c�ch cứng rắn trước mọi sự chỉ tr�ch từ nhiều ch�nh quyền Trung Hoa li�n tiếp cho đến tận ng�y cuối của sự thống trị của họ (1954).� Xem Engelbert, 2002, c�c trang 118-130, 185-192, 300-324, 505-514.

 

27. Xem Monographie de la province de S�c Trăng.� Saigon: Imprimerie Commercial M�nard et Rey 1904, trang 73.� C�c con số n�y cần phải được so s�nh với Căm Bốt, nơi m� c�c băng đảng tội phạm, thổ phỉ v� hải tặc vẫn c�n lan tr�n trong suốt thời thuộc địa.� Điều đ�ng lưu t�m hơn cả c�c con số tổng qu�t l� sự ph�n chia kh�ng đồng đều d�n số tại c�c tỉnh kh�c nhau, thường bao gồm c�c khu vực to rộng� hơn, v� c� một mức độ định cư thấp tại những nơi c�ch xa c�c trung t�m tỉnh v� c�c thủy lộ lớn.� Xem Annuaire G�n�ral de l�Indochine, Hanoi/Haiphong 1925, trang 13; Annuaire statistique de l�Indochine 1947-1948, Saigon 1949, trang 19.

 

28. Hay v�o khoảng 10,800 tấn.� Xem Monographie de la province de Soc Trang.� Saigon: Imprimerie Commercial M�nard et Rey 1904, trang 45.

 

29. C�ng nơi dẫn tr�n.

 

30. C�ng nơi dẫn tr�n.

 

31. Về c�c đồn điền cao su, xem, th� dụ, Trần Tu B�nh [?].� The Red Earth: A Vietnamese Memoir of Life on a Colonial Rubber Plantation.� Bản dịch bởi John Spragens Jr., bi�n tập bởi David G. Marr.� Athens, Ohio: Ohio University Monographs on International Studies, 1985.� Về quan điểm ch�nh thức, xem Delamarre, E. �L��migration et l�immigration ouvri�re en Indochine.� Hanoi: Imprimerie d�Extr�me-Orient, 1931.� Cũng xem, bản b�o c�o ph� b�nh của Delamarre l�n ch�nh quyền Ph�p được trưng dẫn ntrong Ngo Van [?], 1986, Annex 1.

 

32. Xem Notice sur la province de Baclieu.� Tourn�e de M. le Gouverneur G�n�ral, 25 aout 1937.� AOM, Indo., RST 01377.� Cũng xem một c�ch s�u rộng về chủ đề n�y, Brocheux n1995, c�c trang 173-208.

 

33. Milles-Lacroix, Administrateur d�Hatien, to Gouverneur de la Cochinchine.� Hatien, 6 novembre 1935.� Trong: QG II, Goucoch 1,211.

 

34. Monographie de la province de Ch�u Đốc.� Saigon: Imprimerie L. M�nard 1902, trang 47.

 

35. C�ng nơi dẫn tr�n.

 

36. C�c ngoại lệ đ� được thực hiện với c�c khu đặc nhượng của C�ng Gi�o, cư tr� bởi c�c người định cư từ Bắc Kỳ.� C�c n�ng d�n khai khẩn đất mới sẽ được miễn thuế trong s�u năm, v� sau đ� trả đủ số thuế trong ba năm.� Khi đ� đất trở th�nh t�i sản của họ.� Trong Cr�ation des villages de colonization indigene.� QG II, Goucoch 1,211.

 

37. C�ng nơi dẫn tr�n.

 

38. Xem Gouvernement de la Cochinchine.� Cabinet du Gouverneur.� Saigon, 19 Juin 1882.� Au sujet de la Sie. secrete du Ciel et de la Terre (sign�: le Myre de Vilers).� AOM, Indo., Nouveaux Fonds [NF] 31,449.� T�i xin c�m ơn Nola Cooke về việc nhắc t�i để � đến t�i liệu n�y.

 

39. Trong năm 1909, một phu thợ,� cu-li Trung Hoa tại Đ�ng Dương kiếm được từ 60 xu đến 1 đo9^ng` một ng�y.� Xem, Lafargue, Jean-Andr�.� L�immigration chinoise en Indochine.� Sa r�glementation, ses consequences �conomiques et politiques.� Paris: Henri Jouve, �diteur, 1909, trang 275.

 

40. Bri�re, �Ca Mau�: 18, 24; v� Benoist, �Note de M. Benoist, ancient inspecteur de Rach-gia, au sujet de l�exploitation d�une p�cherie de crevettes � Ca-mau�, Excursions et Reconnaissances, Vol. 1, (1879), trang 29.

 

41. Muốn c� một cuộc thảo luận s�u rộng về đề t�i n�y, xem Engelbert, 2002, c�c trang 204-08.

 

42. Schreiner, A.� ��tude sur la constitution de la propri�t� fonci�re en Cochinchine�, Bulletin de la Soci�t� des �tudes Indochinoises (BSEI), Vol. 1, (1902), c�c trang 9-303, tr�ch, trang 28.

 

43. Đ�y l� tinh thần hướng dẫn.� Trong thực h�nh, ph�p chế thay đổi t�y theo c�c t�nh huống kh�c nhau, ch�nh yếu được quyết đ�an bởi số cung v� cầu.� Về chủ điểm n�y, xem Brocheux, 1995, c�c trang 17-51.

 

44. Sau nhật kỳ n�y, c�c người Minh Hương được xem l� d�n bản xứ chỉ ở An Nam [Trung Kỳ].� Tại Căm Bốt, họ bị xem l� c�c ngoại kiều nhưng c� thể xin trở th�nh c�ng d�n Căm Bốt, v� thường được chấp thuận.� Tại Nam Kỳ (Vochinchina), họ c� quyền xin nhập quốc tịch ngoại quốc, nếu sinh trong khoảng từ 1883 đến 1933 v� sẵn c� n�.� Việc n�y ph�t sinh từ sự thỏa hiệp trong Điều Ước tại Nam Kinh (Convention of Nanjing) năm 1930 giữa Trung Hoa v� Ph�p: Trung Hoa muốn nhận tất cả c�c người Minh Hương sẽ trở th�nh người Trung Hoa, trong khi Ph�p muốn xem họ l� người bản xứ.� Sau c�ng hết, việc kh�ng đạt được thỏa thuận n�y đ� tạo ra một căn bản cho đạo luật cưỡng b�ch nhập tịch năm 1956 của ch�nh quyền Ng� Đ�nh Diệm.� Xem Engelbert, 2002, c�c trang 505-56.

 

45.� Muốn c� sự thảo luận chi tiết hơn, xem c�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 204-08.

 

46. Monographie de l�Isle de Ph� Quốc, province d�Ha-Ti�n.� Saigon: Imprimerie Saigonaise, 1906, trang 44.

 

47. C�ng nơi dẫn tr�n, trang 11.

 

48. �Les �Pols� de la R�gion de Pursat�, Revue Indo-Chinoise, 1903, c�c trang 1,025-1,028.

 

49. R�sident de France � kampot � Monsieur de R�sident Sup�rieur � Phnom Penh (Rapport de M. Lecl�re sur la province de Kompong Som), 25 avril 1900.� ANC, RSC 1700.

 

50. Xem Yumio Sakurai, �Eighteenth-Century Chinese Pioneers on the Water Frontier of Indochina�, trong Water Frontier, 2004, c�c trang 43-45 về ngừi m� lại dọc theo bờ biển n�y.

 

51. Monographie de l�Isle de Ph� Quốc, trang 9.

 

52. Lecl�re, Rapport sur mon voyage � Romang Chol, 17 mai 1887, ANC, RSC 5,955.

 

53. Monographie de la province d�Ha Ti�n� Saigon: Imprimerie L. M�nard 1901, trang 60.

 

54. Lecl�re, Kampot, 19 septembre 1889, ANC, RSC 5,938.

 

55. C�ng nơi dẫn tr�n.

 

56. Lecl�re, Histoire de Kampot et de la rebellion de cette province de 1885-1887.� ANC, RSC 5,181.� Cũng xem bản t�m lược, �L�insurrection de Kampot en 1885�, �tudes Cambodgiennes 9 (1967), c�c trang 23-38.

 

57. Rapport au Gouverneur G�n�ral de l�Indochine, 27 janvier 1887 au sujet de la creation de nouveau bureau de Douane et R�gies dans la Colfe de Siam.� ANC, RSC 2,595.

 

58. Administration des Douanes et R�gies de l�Indochine.� Nọ 271/h.� M. A. Frezouls, Directeur des Douanes et R�gies de l�Indo-Chine � M. le Gouverneur G�n�ral � Hanoi.� Hanoi, 18 mars 1900.� ANC, RSC 4,785.

 

59. R�sidence de Kampot.� Objet: Rapport sur une voyage � Kompong Trach, 24 mars 1887.� ANC, RSC 5,956.

 

60. Fermeture du port de Camau avec importations au long cours, 1931.� Trong QG II, Goucoch 2,862.

 

61. Lieutenant-Gouverneur de la Cochinchine, M. Duros, � M. le Gouverneur G�n�ral, Rapport du mois d�octobre, 1895.� AOM, Indo., Gouvernement G�n�rale (từ giờ trở đi, gọi tắt l� Gougal) 64,321.

 

62. Lieutenant-Gouverneur � M. le Gouverneur G�n�ral, Saigon 23 mars 1891.� AOM, Indo., Gougal. 64,317.

 

63. C�ng nơi dẫn tr�n.

 

64. Xem Rapport mensuels de la Cochinchine, 1893.� AOM, Indo., Gougal. 64,319.

 

65. Xem Rapport mensuels de la Cochinchine, 1902, AOM, Indo., Gougal. 64,324.

 

66. Xem, c�ng nơi dẫn tr�n.� Quốc tịch của c�c th�nh vi�n băng đảng kh�ng được b�o c�o. Bởi người Ph�p đ� dung c�c dấu trong tiếng Việt khi viết c�c danh t�nh Trung Hoa, c�c thủ l�nh c� thể l� người Trung Hoa hay Việt Nam.

 

67. Như một quy lệ chung, c�c đặc nhượng khai th�c lớn nhất thuộc v�o c�c c�ng ty Ph�p hay c�c c� nh�n (hoặc Ph�p hay ngừoi bản xứ) c� quốc tịch Ph�p, l� c�c kẻ đ� sở hữu một số lượng hạn chế c�c t�i sản rất lớn, lớn v� cỡ trung b�nh.� C�c sở hữu chủ bản xứ hay ngoại kiều � Ch�u (ch�nh yếu l� Trung Hoa) sở hữu một số rất �t t�i sản rất lớn, nhưng nhiều đồn điền cỡ trung v� nhỏ.� V�o năm 1938, th� dụ, đ� c� 52 điền chủ cỡ nhỏ c� gốc ngoại kiều � Ch�u tại S�c Trăng, với t�i sản kh�ng qu� hai mươi mẫu t�y (hectares), trong số đ� c� 48 ngừoi Trung Hoa v� bốn người Ấn Độ, đối với 196 tiểu điền chủ bản xứ.� Tuy nhi�n, theo họ của gia đ�nh, nhiều sở hữu chủ �bản xứ�c� thể c� tổ ti�n người Trung Hoa (Diệp, Giang, Ki�m, L�m, Li�u, �ng, Q�ch, T�o, Th�m, Vưu, v.v�) Indochine.� Aresses 1938-1939.� Saigon: Imprimerie Albert Portail 1938, c�c trang 1005-013.� C�c ch�nh s�ch đất đai thay đổi theo thời gian, nhưng b�nh thường, c�c Ngoại Kiều � Ch�u (Trung Hoa, Ấn Độ v.v�) kh�ng được ph�p sở hữu c�c đặc nhượng khai khẩn rộng lớn, v� đ� phải đăng k� họ dưới t�n c�c b� vợ Việt Nam hay hay c�c đứa con trai lai (mestizo).� Xem, th� dụ, Rachgia, Chef de province � M. le Gouverneur de la Cochinchine, 22 juillet 1937.� QG II, 1,211.

 

68. Xem Rapport mensuels de la Cochinchine, 1902.� AOM, Indo., Gougal. 64,324.

 

69. Xem Rapport mensuels de la Cochinchine, 1909.� AOM, Indo., Gougal. 64,330.

 

70. C�ng nơi dẫn tr�n. �����������

 

71. Văn thư của Ph� Thống Đốc Ducos gửi To�n Quyền, AOM, Indo., Gougal, 64,322.

 

72. Xem Le Myre de Vilers, 19 Juin 1882, AOM, Indo, N.F, 31,449.

 

73. Về đề t�i n�y, xem Sngelbert, 2002, c�c trang 192-204.

 

74. Ministre de la Marine et des Colonies, Rapport au Pr�sident de la R�publique Francaise, 25 Mai 1881, AOM, Indo., NF, carton 31,449.

 

75. Về ch�nh s�ch đối với thuốc phiện, xem Descours-Gatin, Quand l�opium financait la colonization en Indochine.� Paris: L�Harmattan, 1992; Guermeur, Henri, Le r�gime fiscal de l�Indochine.� Paris: L�Harmattan 1999 (ấn h�nh lần đầu năm 1909).

 

7t6. Xem Affairs des congregations chinoise de Triều Ch�u, 1882.� QG II, Cochinchine, IA 15/155 (17).� T�i cảm ơn Tracy Barrett về việc chia sẻ t�i liệu n�y với t�i.

 

77. Le Myre de Vilers � M. le Minidstre de la Marine et des Colonies, 12 juin 1882.� AOM, Indo., NF 31,449.

 

78. Xem, th� dụ, Descours-Galin, 1992, trang 90.

 

79. Chỉ ri�ngtừ 1876 đến 1885 kh�ng th�i, đ� c� 18 th�ng tư loan b�o c�c sự thay đổi về thuế kh�a đ�nh v�o người Hoa (thuế th�n, giấy ph�p (patentes), giấy tờ đăng k�, v� c�c sắc thuế đặc biệt, th� dụ cho Chợ Lớn).� Xem Lasfasrgue, 1909, trang 67.� Đ�y l� một sự thử nghiệm tế nhị, để xem họ c� thể đi xa tới đ�u m� kh�ng g�y phương hại đến nền kinh tế lẫn sự nhập cảnh của người Hoa.�

 

80. Sự gia tăng trong việc kiểm so�t h�nh ch�nh, thuế kh�a v� l�m x�u cũng l� nguy�n do ch�nh cho c�c hoạt động nhiều hơn của c�c hội k�n v� c�c cuộc nổi dậy của người Trung Hoa tại v�ng Born�o thuộc H�a Lan, nơi m� ngay cả c�c thổ d�n Dayaks cũng gia nhập c�c kẻ nổi loạn.� Xem, Somers-Heidhues, Marỵ� Golđiggers, Farmers and Traders in the �Chinese districts� of West Kalimantan, Indonesia.� Ithaca, NY: Cornell University SEAP Papers 2003, c�c trang 108-112, 181-82.

 

81. Gouvernement de la Cochinchine, Cochinchine Francaise.� Rapport au Conseil Colonial.� Ann�e 1880.� Saigon: Imprimerie Colonial 1880, trang 21.

 

82. Xem Engelbert, 2002, c�c trang 185-204.� Điều cần ghi nhận rằng, trong c�c thập ni�n 1870 v� 1880, ba quyền lực thực d�n ch�nh tại Đ�ng Nam � (Anh, Ph�p, v� H�a Lan) đ� c� c�c biện ph�p để xiết chặt sự kiểm so�t sự nhập cảnh của người Trung Hoa, để gia tăng số thu từ người Trung Hoa, v� kiềm chế c�c hội k�n.� Sự nhập cảnh tăng cao gắn liền với sự ph�t triển thuộc địa đ� tạo ra c�c thử th�ch mới cần phải được đ�p ứng.� Về ch�nh s�ch của người Anh tại Singapore, xem Jackson R. N., Pickering: Protector of Chinese.� Kuala Lumpur: Oxford University Press, 1965.

 

83. B�liard au Gouverneur en Conseil Priv�.� Saigon, 17 juin 1882.� AOM, Indo., NF. 31,449.

 

84. Xem AOM, Indo., NF. 21,536.� T�i xin cảm ơn Nola Cooke về việc đ� chia sẻ t�i liệu n�o với t�i.

 

85. C�c b�o c�o tương tự �xuất hiện từ Long Xuy�n v� Rạch Gi� (Transbassac).� Xem Engelbert, 2002, c�c trang 192-203.

 

86. Bi�n H�a.� Rapport politique de la province pour les mois de Mai et Juin 1906.� QG II, II A 45/295 (1)

 

87. Nghi thức cắt m�u ăn thề v� căn bản Đạo (L�o) Gi�o của n� được giải th�ch bởi Ter Haar, Bared.� Ritual and Mythology of the Chinese Triads.� Leiden/Boston/K�lin: Brill, 1998, c�c trang 151-79.

 

88. Người ta c� thể thắc mắc tại sao người Hakka (Kh�ch, hay Hẹ) lại đ� cố gắng th�nh lập một hội k�n c�ng với người Việt Nam thay v� gia nhập c�c hội Trung Hoa đang c� sẵn hay th�nh lập một hội ri�ng của họ.� D�n số nhỏ v� vị thế x� hội v� kinh tế thấp k�m c� thể l� nguy�n do.

 

89. Hồ Sơn Đ�i: �Về một th�ng mở đầu cuộc kh�ng chiến chống Ph�p� (On the fiurst month of the anti-French struggle), trong quyển M�a thu rồi, ng�y hăm ba [Words in autumn], T. 2, H� Nội: NXB Ch�nh trị quốc gia, 1996, c�c trang 192-198.

 

90. C�ng nơi dẫn tr�n.

 

91. Sử gia của đanbg Trần Huy Liệu tuy�n bố rằng Thi�n Địa Hội Việt Nam c� �v�i ngh�n� hội vi�n được tổ chức th�nh c�c đội h�nh (k�o) gồm 50 th�nh vi�n, mặc d� kh�ng cho hay l� c�c đội n�y đ� hoạt động một c�ch tự trị hay như c�c chi hội của một tổ chức trung ương tập quyền.� Người Ph�p sau hết chỉ việc dập tắt n� trong c�c năm 1924-1926.� C�ch mạng Cận Đại Việt Nam, T. 3.� H� Nội: Ban nghi�n cứu văn sử địa, 1956, c�c trang 118-22.

 

92. Xem Li Tana, �Introduction�, trong Water Frontier, 2004, c�c trang 7-8.

 

93. R�publique Francaise.� Province de Bien Hoa.� Rapport politique de la province pour les mois de Mai et Juin 1906.� QG II, II A 45/295 (1)

 

94. Về hiện tượng tương tự tại n�ng th�n Trung Hoa, xem Billingsley, Philip Richard.� Banditry in China, 1911 to 1928, with particular reference to Honan Provine.� Leeds: University de Leeds, PhD thesis, 1974, c�c trang 3-5.

 

95. Cũng xem Brocheux, 1995, c�c trang 22-29.

 

96. Xem Engelbert, 2002, c�c trang 217-246, 352-357.

 

97. Xem Notes mensuelles sur les activit�s subversives en Cochinchine.� AOM, GG I, 65490.

 

98. Notice sur l�activit� des intrigues politiques de tendances subversives dans les milieu indig�nesde la Ciochinchine pendant le mois de juin 1940.� AOM, Indo., GG I, 65490.

 

99. B�nh Xuy�n nguy�n thủy l� một băng đảng tội phạm, đặt căn cứ ch�nh yếu trong Chợ Lớn v� v�ng bao quanh.� Trong những ng�y khởi đầu của cvuộc đấu tranh vũ trang chống Ph�p, n� đ� th�nh một một qu�n đội v� chiến đấu với danh nghĩa một đồng minh của Việt Minh tại c�c khu vực đầm lầy ph�a nam v� tại c�c khu ổ chuột (bidonvilles) đ�ng bắc S�ig�n.� Hồ Sơn Đ�i, �Về một th�ng mở đầu cuộc kh�ng chiến�, 1996, c�c trang 196-198.� Về một sự tr�nh b�y của Ph�p, xem L�Administrateur-d�l�g�e de T�n B�nh � M. l�Administrateur, Chef de Province de Gia Định, T�n B�nh, 19 juillet 1947.� AOM, Indo., CP 272.� Từ 1948, một số th�nh vi�n B�nh Xuy�n dưới quyền của L� Văn Viễn (Bẩy Viễn) đ� xoay chiều v� trợ gi�p người Ph�p giữ Chợ Lớn được tự do, ngo�i sự kiểm so�t của cộng sản.� Xem �Selected Biographies of Vietnamese Army Personnel� trong Hồ sơ Bộ Ngoại Giao, Department of State: Indochina 1945 � 1954 Files, Reel 16/44; USMINISTER SAIGON VIETNAM FROM SANA SGD HEATH; JOINT WEEKA 48, 4 DEC, 1951, c�ng nơi dẫn tr�n, Reel 17/44.� Cũng xem Devillers, Philippe.� Histoire du Vietnam de 1940 � 1952.� Paris: �ditions du Seuil 1952, c�c trang 156-66, 247; v� Ngo Van.� Vietnam: 1920-1945.� R�volution et contre-r�volution sous la domination colonial.� Paris: L�insomniaque 1986, trang 348.

 

100 Sau khi Tổng Thống Ng� Đ�nh Diệm cưỡng b�ch giải t�n c�c d�n qu�n của c�c gi�o ph�i hồi năm 1956, một số th�nh vi�n cấp thấp của B�nh Xuy�n gia nhập h�ng ngũ Việt Cộng,� Trong năm 1957, giới l�nh đạo VC (Việt Cộng) tại miền nam đ� sử dụng họ để bảo vệ c�c nơi ẩn n�u của m�nh tại Bi�n H�a v� tại Đồng Th�p Mười (Plain of Reeds).� Xem Hồ Sơn Đ�i, �Qu� tr�nh chuyển h�a một bộ phận vũ trang B�nh Xuy�n th�nh lực lưo=.ng c�ch mạng sau năm 1954� [Transforming the B�nh Xuy�n militia into a revolutionary force after 1954], trong Nghi�n Cứu Lịch Sử, II-IV (1995), c�c trang 31-36.

 

101. Xem Huỳnh Minh Hiền, �Nhớ Đồng Th�p Mười, �thủ phủ� của Nam Bộ. Trong những năm đầu kh�ng chiến� [Commemorating Đồng Th�p Mười, the �capital� of the South in the early years of the First Indochina War] trong quyển M�a thu rồi, ng�y hăm ba, 1996, c�c trang 366-375.� Giống như c�c ấn phẩm tương tự về lịch sử c�ch mạng Việt Nam, chắc chắn n� l� một loại dật sử đề cao nh�n vật tha6`n th�nh [hagiographic] v� c� thực [apodictic] nhằm kỷ niệm cuộc c�ch mạng th�ng T�m, sau đ� cuộc kh�ng chiến của cộng sản.� Tuy nhi�n, từ c�c hồi ức c� nh�n của c�c kẻ tham dự ch�ng ta thu lượm được nhiều chi tiết qu� b�u c� thể được d�ng để kiểm chứng v� c�n bằng sự hiểu biết ph�t sinh từ c�c nguồn t�i liệu văn khố Ph�p.

 

102. Muốn c� một cuộc thảo luận s�u rộng về đề t�i n�y, xem Engelbert, 2002, c�c trang 281-497..

 

103. C�ng nơi dẫn tr�n./- �

 

 

_____

 

Nguồn: Thomas Engelbert, �Go West� in Cochinchina, Chinese and Vietnamese Illicit Activities in the Transbassac (c. 1860-1920s), Chinese Southern Diaspora Studies, Volume 1, 2007, c�c trang 56-82.

 

 

Muốn xem bản đồ lớn, click v�o đ�y

 

 

Ng� Bắc dịch

2/4/2009

 

                                                                                                                                              

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2009 gio-o

 

 

����