Anthony Reid

 

 

NGƯỜI CH�M TRONG

HỆ THỐNG H�NG HẢI

��NG NAM �

 

 

Ng� Bắc dịch

 

Lời Người Dịch:

 

Đ�y l� b�i dịch thứ 6 trong loạt b�i nghi�n cứu về chủ đề S�ng Biển Trong Lich Sử Việt Nam lần lượt được đăng tải tr�n gio-o: 

 

1. Một Vai Tr� Hợp L� Của Biển Đối Với Lịch Sử Việt Nam? X� Hội Duy�n Hải Trong Thế Giới Mậu Dịch Của Hội An, thời khoảng 1550-1830, Charles Wheeler.

2. Sự Trổi Dậy Của Miền Duy�n Hải: Mậu Dịch, Quốc Gia v� Văn H�a Thời Ban Sơ Của Đại Việt, John K. Whitmore.

3. Việc Mua B�n Gạo V� Vận Tải Đường Biển Của Người Hoa Từ Hải Cảng Hải Ph�ng, Bắc Việt, Julia Martinez.

4. Một C�i Nh�n Từ Ngo�i Biển: Viễn Cảnh Về Bờ Biển Bắc V� Trung Phần Việt Nam Li Tana

5. Suy Nghĩ Lại Về Biển Trong Lịch Sử Việt Nam: X� Hội Duy�n Hải Trong Sự Thống Hợp Của Thuận-Quảng, Trong C�c Thế Kỷ 17 � 18, Charles Wheeler.

6. Người Ch�m Trong Hệ Thống H�ng Hải Đ�ng Nam �, Anthony Reid

7. �Đi Về Miền T�y� tại Nam Kỳ, C�c Hoạt Động Bất Hợp Ph�p Của Người Việt v� Người Hoa tại V�ng Transbassac (thời khoảng 1860-1920), Thomas Engelbert.

8. Đại Việt v� Mậu Dịch V�ng Biển Nam Hải từ Thế Kỷ Thư 10 đến Thế kỷ Thứ 15, Momoki Shiro.

9.  Ph� Nam, Ch�n Lạp, Ch�m v� C�c Đền Thờ Thi�n Hậu Trong Họat Động Mậu Dịch Đường Biển V� Sự Xuất Hiện C�c Th�nh Phố Duy�n Hải Tại Đ�ng Nam � (từ thế kỷ thứ 1 cho đến thế kỷ thứ 16, Johannes Widodo

10.  Một Sứ Bộ Đến Ph� Nam, Wang Gungwu.

11. C�c Suy Tưởng, Về � Niệm �Văn Minh S�ng Nước� V� Về Lịch Sử Ch�u Thổ S�ng Cửu Long,Nh�n Qua Một V�i Kh�a Cạnh Của Cuộc Định Cư tại X� S�c Sơn (1920-1945), Pascal Bourdeaux.

V�ng biển Đ�ng Hải với c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa l� một chuy�n đề đặc biệt sẽ được giới thiệu ri�ng biệt.

 

 

 

���� Ng� Bắc bổ t�c k�m theo b�i dịch l� hai Phụ Lục:

 

���� 1. Phụ Lục 1: Chứng Liệu Ngữ Học, bổ chứng cho sự truyền b� nh�m ngữ tộc Nam � Đa Đảo (Austronesian), trong đ� c� tiếng Ch�m, v� x�c định chiều hướng phổ biến từ đất liền, như từ bờ biển trung phần Việt Nam ng�y nay, ra c�c hải đảo.

 

���� 2. Phụ Lục 2: Chứng Liệu Khảo Cổ: chứng minh rằng người Ch�m l� d�n từ hải đảo đ� x�m nhập v� định cư tại c�c phần đất ch�nh yếu ở miền trung Việt Nam ng�y nay.

 

���� Cả hai loại chứng liệu đều cho rằng người Ch�m đ� t�ch cực trong hoạt động thương mại đường biển kh�ng chỉ giới hạn ở Đ�ng Nam � m� c�n trải d�i một ph�n ba địa cầu, như một th�nh vi�n của nh�m n�i tiếng Nam � Đa Đảo, m� t�c giả Reid đ� n�u ra trong b�i viết ch�nh.

 

 

 

C�C KHUYNH HƯỚNG VIẾT SỬ

 

���� Thập ni�n qua chứng kiến một sự phục hồi nổi bật của mối quan t�m đến chiếu k�ch h�ng hải trong lịch sử � Ch�u, đặc biệt l� của Đ�ng Nam �.� Bởi trong phần lớn thế kỷ trước đ�y, sự nhấn mạnh trong việc viết sử� đều được hướng theo một đường lối kh�c. ��Tinh đa dạng phong ph� của cuộc sống Đ�ng Nam � đ� bị cắt nhỏ bởi chế độ thực d�n �u Ch�u th�nh một t� c�c nước thuộc địa với c�c bi�n giới cố định.� Chủ nghĩa thực d�n v� chủ nghĩa d�n tộc kết b� với nhau trong việc thiết lập c�c định chế v� c� t�nh đồng nhất trong phạm vi c�c bi�n giới n�y.� C�c lịch sử mới đ� được tạo lập để nối kết c�c quốc gia vất vả để h�nh th�nh từ con s�u k�n của ch� độ thực d�n với c�c vương quốc cổ xưa hơn thuộc c�c thời đại ho�ng kim tưởng tượng, bất kể đến c�c hậu quả của việc l�m như thế đối với c�c sắc d�n thiểu số bị mắc kẹt trong c�c bi�n cương mới.� Hơn nữa, đ� c� một sự l�ng mạng h�a giới n�ng d�n (tự n� l� một ph�t kiến hồi cuối thế kỷ thứ mười ch�n) như l� quả tim huyền thoại của c�c quốc gia mới n�y, kẻ biểu trưng tuyệt diệu nhất cho (par excellence) đối tượng m� quốc gia-d�n tộc được hiểu l� sẽ phục vụ.� Tất cả c�c điều n�y chỉ d�nh �một khoảnh kh�ng gian nhỏ b� cho t�nh đa tầng (multicity) v� t�nh lưu động (mobility) của c�c c� tinh x�c định� m� thế giới h�ng hải Đ�ng Nam � lu�n lu�n bao h�m.� Đối với c�c sắc d�n mang c�c c� t�nh kh�ng c�ch n�o ph� hợp với c�c bi�n giới mới, người Ch�m l� một th� dụ nổi bật trong c�c nh�m d�n đ�, chiều hướng viết sử đ� đặc biệt kh�ng hữu �ch g�.

 

���� Tuy nhi�n, học thuật gần đ�y đ� kh�i phục biển như một nguy�n l� thống hợp trong lịch sử Đ�ng Nam �, v� l� một nguy�n l� �t đếm xỉa đến c�c bi�n giới m� chủ nghĩa d�n tộc thời thuộc địa �u Ch�u đ� khăng khăng đ�i vẽ ra tr�n đất liền.� Tiếp theo c�ng tr�nh nghi�n cứu của Braudel về v�ng Địa Trung Hải, một khối lượng lớn c�c cuộc khảo s�t xuất hiện đ� xem Ấn Độ Dương, Biển Nam Hải (South China Sea) v� biển Java � c�ng c�c miền nhỏ hơn chẳng hạn biển Sula � như c�c l�nh vực thống hợp ở đ� c�c x� hội tương t�c với nhau (Chaudhuri 1985; Das Gupta, Ashin v� Pearson 1987; Chandra 1987; Reid 1988, 1993a; Lombard and Aubin 1988; Kathirithamby-Wels and Villiers 1990; Ptak and Rothermund 1991; Houben v� c�c t�c giả kh�c 1992; Warren 1981).� Hai b�i thuyết tr�nh khai m�o gần đ�y bởi c�c sử gia Đ�ng Nam �, Gi�o Sư Adri Lapian tại Jakarta v� Gi�o Sư Kathirithamby-Wells tại Kuala Lumpur, đ� nhấn mạnh một c�ch ch�nh x�c đến chủ điểm h�ng hải n�y.� Trong một khu�n khổ như thế, ch�ng ta c� thể hiểu được v� t�n dương c�c nh�m người đ� trợ lực v�o việc tạo lập ra thế giới hiện đại, qua việc l�m trung gian điều giải giữa c�c sắc d�n v� địa điểm kh�c nhau, với tư c�ch như c�c nh� mậu dịch, c�c người đi thuyền, c�c người h�nh hương, c�c học giả, c�c kẻ phi�u lưu v� c�c chiến sĩ.� C�c nh� mậu dịch m� gốc g�c c� thể từ Quảng Ch�u, Ph�c Kiến, V�n Nam, Hadhramaut, V�ng Duy�n Hải Coromandel, Patani hay Minangkabau, c�c học giả du h�nh mang truyền thống Hồi Gi�o, Phật Gi�o, Khổng học hay Thi�n Ch�a Gi�o, đ� hoạt động tại Đ�ng Nam � như c�c trung gian m�i giới sản phẩm v� tư tưởng, đ� l� những kẻ gi�p cho người d�n li�n hệ được với nhau.� Trong lịch sử mang t�nh c�ch d�n tộc chủ nghĩa của c�c thập ni�n qua, họ đ� chỉ xuất hiện b�n lề hay một c�ch qu�i dị, nhưng trong c�c văn bản mới hơn m� ch�ng ta nh�n thấy ng�y nay, họ bắt đầu hiện ra như l� c�c kẻ tiền phong cho chủ nghĩa li�n d�n tộc [quốc tế] (internationalism) hiện đại.

 

���� Sự phục hồi mối quan t�m đến người Ch�m l� một phản ảnh của sự thẩm định mới về t�nh đa dạng v� bất định (ambivalence) trong v�ng.� Người Ch�m đ� l� mối bối rối cho chủ nghĩa d�n tộc của cả Việt Nam lẫn Căm Bốt, một sự nhắc nhở rằng c�c bi�n giới kh�ng phải l�c n�o cũng ở nơi m� ch�ng được ấn định trong thời kỳ thuộc địa, v� rằng c�c c� t�nh của nh�m d�n kh�ng c� c�ch n�o cố định hay bất biến.� Họ l� một sắc d�n hải h�nh v� di động c� tầm ảnh hưởng được cảm nhận thấy ở m�i tận c�c nơi xa x�i như Java, Sulawesi v� Phi Luật T�n, nhưng cũng l� c�c kẻ đ� th�ch đố c�c nỗ lực để vạch ra c�c bi�n giới tr�n bản đồ chỉ định nơi m� họ �t�y thuộc� v�o.� Trong � nghĩa n�y, họ mang c�c đặc t�nh của nh�m người n�i tiếng Austronesian (Nam � Đa Đảo), những người đi biển v� phi�u bạt giang hồ tuyệt hảo của thế giới tiền hiện đại.

 

 

C�C C� T�NH KẺ BIỂN NAM � ĐA ĐẢO

 

���� Nam � Đa Đảo (Austronesian) l� một từ ngữ được ưa chuộng bởi c�c nh� ngữ học để chỉ một ngữ� xem ra đ� được ph�t triển tại Đ�i Loan (Taiwan) trong khoảng năm đến bẩy ngh�n năm trước. �Du nhập c�c kỹ thuật canh n�ng đến đảo đ� từ miền nam Trung Hoa, th�ch nghi với cuộc sống hải đảo, v� học c�ch hải h�nh tại v�ng Eo Biển Đ�i Loan, từ khoảng thi�n ni�n kỷ thứ ba trước C�ng Nguy�n, c�c kẻ n�i tiếng Nam � Đa Đảo hẳn đ� phải mang c�c kỹ thuật lu�n canh, đ�ng t�u v� chế tạo đồ gốm xuống ph�a nam để ph�t triển chi nh�nh Malayo-Polynesian trong c�c ng�n ngữ tại v� chung quanh nước Phi Luật T�n ng�y nay.� V�o khoảng thi�n ni�n kỷ thứ nhất trước C�ng Nguy�n, miền t�y của khu vực n�i tiếng Malayo-Polynesian hẳn phải vươn tới khu vực Ch�m ng�y nay, cũng như đến c�c miền Born�o, Java, Sumatra v� Sulawesi (Bellwood 1992).� Trong một thời kỳ c� lẽ trong thi�n ni�n kỷ đầu ti�n sau C�ng Nguy�n, nh�m người n�i tiếng Nam � n�y đ� du h�nh đến m�i tận đảo Madagascar, kh�ng phải chỉ một lần m� tr�n một căn bản thường kỳ, để thiết lập một nền văn h�a miền t�y Malayo-Polynesian (Malagasy) sau đ� đ� ph�t triển một c�ch độc lập.� Trong khi đ� nh�m c�c ng�n ngữ miền đ�ng Malayo-Polynesian đ� được ph�t triển tại c�c duy�n hải của miền ng�y nay thuộc ph�a đ�ng Nam Dương (Halmahera v� Irian), từ đ� n� đ� được truyền đi khắp v�ng Th�i B�nh Dương, đến Tonga, Samoa, Hawaii v� T�n T�y Lan.

 

���� C�c cuộc du h�nh đ�ng kinh ngạc n�y đ� biến tiếng Nam � Đa Đảo trở th�nh ngữ tộc được d�n trải s�u rộng nhất trong thế giới tiền hiện đại.� C�c kẻ tiền phong mang ng�n ngữ của họ băng ngang một phần ba địa cầu l� những kẻ trội bật nhất của v�ng biển v� duy�n hải, những kẻ am hiểu được gi� v� thủy triều, đ�ng thuyền với m�c ch�o ( outriggers), v� những kẻ sống theo một chế độ ăn uống c�c loại củ trồng v� hạt k�, sản phẩm của c�y dừa nước v� c�y cọ, v� bằng c� từ biển.� Họ đ� kết buộc h�ng ngh�n c�c h�n đảo, v� c�c phần v�ng đất �u � � bao la kề cận với họ, v�o một mạng lưới c�c quan hệ mậu dịch li�n thuộc nhau.� Họ l� c�c kẻ ti�n phong, c�c kẻ m� ngay từ một ngh�n năm trăm năm trước, đ� đan kết v�ng Đ�ng Nam � hải đảo v�o một hệ thống mậu dịch to�n cầu trải d�i từ ph�a đ�ng Nam Dương đến Trung Hoa v� Nhật Bản ở ph�a bắc v� đến Bồ Đ�o Nha (Portugal) v� �i Nhĩ Lan (Ireland) ở ph�a t�y.

 

���� Trong khi sự t�n nhẫn của khoảng c�ch xa x�i v� sự thiếu thốn bất kỳ sản phẩm mậu dịch c� gi� trị đặc biệt n�o c� khuynh h�ynh c� lập h�a c�c h�n đảo v�ng Polynesian, nhu cầu của thế giới về c�c đồ gia vị miền đ�ng Nam Dương đ� bảo đảm rằng người d�n n�i tiếng Nam � Đa Đảo thuộc Đ�ng Nam � vẫn c�n tiếp x�c với nhau v� với thế giới.� Đinh hương (c�nh hồi), hạt nhục đậu khấu v� gỗ đ�n hương đ� được gửi tới phương bắc v� phương t�y với số lượng nhỏ ngay từ thời La M� v� thời nh� H�n.� C�c t�i liệu về c�c sự chuyển vận đến �u Ch�u mới chỉ được cung cấp một c�ch li�n tục từ thế kỷ thứ mười, v� ch�ng cho thấy số lượng nhỏ giọt về hạt nhục đậu khấu v� đinh hương đ� gia tăng th�nh một nguồn cung cấp đều đặn v�o cuối thế kỷ thứ mười bốn.� Nh�m người n�i tiếng Nam � Đa Đảo, với sự k�ch th�ch từng hồi của người Trung Hoa, đ� l� c�c kẻ chuy�n chở c�c đồ gia vị n�y quanh Quần Đảo, đến c�c trạm trung gian như Sri Vijaya, Melaka, Pattani, v� Banten.� Trong một � nghĩa, họ đ� thực d�n h�a c�c v�ng xa m�i tận Maluku v� Timor, v� đ� lưu giữ ch�ng tr�n bản đồ phổ biến về thương mại thế giới.� C�c người �u Ch�u v� người Trung Hoa cũng ti�u thụ đinh hương, hạt nhục đậu khấu, v� gỗ đ�n hương của c�c đảo ph�a đ�ng Nam Dương m� kh�ng biết ch�ng ph�t sinh từ đ�u, cho đến khi tự họ bắt đầu thực hiện c�c cuộc du h�nh đến thế giới hải đảo.� Dĩ nhi�n, người Bồ Đ�o Nha đ� l� những người �u Ch�u đầu ti�n th�nh c�ng trong cuộc truy t�m l�u d�i để kh�m ph� ra nguồn gốc của c�c đồ gia vị, v� một người trong họ đ� tư�ng thuật ngay khi đến tới Melaka:

 

C�c thương nh�n M� Lai n�i rằng Thương Đế đ� tạo ra v�ng Timor để sinh ra gỗ đ�n hương, v� v�ng Banda cho [hạt nhục đậu khấu v�] gia vị từ vỏ phơi kh� của hạt nhục đậu khấu (mace) v� v�ng Maluku cho đinh hương, v� rằng loại h�ng h�a n�y được biết kh�ng nơi n�o tr�n thế giới c� được, ngoại trừ tại c�c địa điểm n�y (Pir�s 1515, 204).

 

���� Trong c�i nh�n của c�c nh� mậu dịch � Ch�u, ch�nh c�c h�n đảo n�y tượng trưng cho �v�nh ngoại vi của thế giới� (Pinto 1578, 393; cũng xem Wolters 1970, 23-4), c� nghĩa thế giới của c�c sự trao đổi thương mại thường trực.� Dĩ nhi�n, một số sự trao đổi xuy�n qua c�c biển Arafura v� Timor, với một �t c�c n� lệ v� c�c con chim thi�n đường [birds of paradise, loại chim thuộc chủng Paradisea, c� m�u sắc tươi đẹp, c� nguồn gốc tại v�ng New Guinea v� phương Đ�ng.� Một loại nổi tiếng của chủng n�y c� đầu v� g�y m�u xanh chanh, cổ m�u xanh ngọc thạch, ngực m�u đen v� c�nh m�u n�u, ch� của người dịch] từ v�ng New Guinea v� c�c đảo chung quanh, được mua b�n trao đổi ở m�i tận Java.� Tuy nhi�n, khi so s�nh với hoạt động thương mại đường biển s�i nổi khắp v�ng n�i tiếng Nam � Đa Đảo thuộc Đ�ng Nam �, mức độ thấp của sự tương t�c b�n ngo�i c�c bi�n cương của n� lại nổi bật l�n.

 

���� Trong khi c�c nh� ngữ học ghi nhận sự ph�n h�a trong một ngh�n năm qua của c�c chi tộc tiếng Đ�i Loan, tiếng Ch�m, Phi Luật t�n, tiếng miền t�y Nam Dương v� tiếng Madagascar trong ngử tộc Nam � Đa Đảo, c�c quan s�t vi�n b�n ngo�i lại lấy l�m kinh ngạc về căn bản chung giống nhau rất nhiều giữa c�c chi, nh�nh ng�n ngữ n�y trong thời đại tương đối gần đ�y.� Trong c�i nh�n của người Trung Hoa, theo kh�ch du h�nh người H�a Lan t�n Wusthoff hồi thế kỷ thứ mười bẩy, �c�c cư d�n Ch�m giống như c�c thổ d�n của Đ�i Loan� (Wusthoff 1642).� Khi ghi nhận c�c kỹ năng của c�c thủy thủ đảo Java, sử gia Couto người Bồ Đ�o Nha đ� viết:

 

Chắc chắn l� trước đ�y họ c� l�i thuyền đến Mũi Hảo Vọng (Cape de Good Hope), v� đ� c� giao tiếp với bờ biển ph�a đ�ng của đảo San Lorenzo [Madagascar], nơi hiện c� nhiều người da n�u v� c�c thổ d�n bị Java h�a (Javanised) n�i rằng họ l� hậu duệ của� những người [Java đi biển] n�y. (Couto 1645, IV, iii: 169).

 

���� V� quanh v�ng duy�n hải của c�c đảo của Nam Dương, một kh�ch du h�nh Ph�p đ� giải th�ch, �mọi người d�n của c�c phần đất b�n ngo�i Melaka, v� được gọi trong tiếng Bồ Đ�o Nha l� v�ng La Sonde [C�c Đảo Sunda], kh�ng c� g� kh�c biệt về đường n�t, m�u da, y phục, ng�n ngữ hay phong tục � trong thực tế, họ thuộc c�ng sắc d�n� (Pyrard 1619, II, i: 167).� �ng tiếp tục giải th�ch l� thuyết của m�nh rằng điều n�y đ� xảy ra xuy�n qua sự tương t�c h�ng hải thường xuy�n của họ:

 

���� C�c h�n đảo th� phong ph� về c�c loại hoa quả v� h�ng h�a đặc th�, chẳng hạn như c�c đồ gia vị v� c�c dược liệu kh�c kh�ng được t�m thấy ở nơi n�o kh�c; ngoại trừ Sumatra v� Java l� nơi đất đai tốt cho mọi sản phẩm, c�c phần đất c�n lại chỉ m�u mỡ với một đặc sản duy nhất v� kh� cằn với mọi sản phẩm kh�c.� V� điều n�y đặc sản m� c�c đảo n�y tr�n ngập phải cung ứng cho ch�nh n� mọi sản phẩm kh�c: đ�y l� l� do tại sao mọi loại thực phẩm th� rất đắt tiền, ngoại trừ sản phẩm của ch�nh m�nh l� rẻ tiền, v� l� do tại sao c�c người d�n n�y bị kiềm chế trong việc duy tr� sự giao tiếp li�n tục với người d�n nơi kh�c, [bởi] người n�y cung cấp những g� m� người kia thiếu thốn (Pyrard 1619, II: i: 169).

 

���� Dĩ nhi�n, cần phải n�i rằng Pyrard đ� kh�ng hay biết g� về những người d�n nội địa của mọi h�n đảo to lớn hơn, với t�nh đa trạng kh�c thường của họ.� Tuy thế, sự đ�ng g�p của �ng l� một sự chứng nhận đ�ng ghi nhớ cho sự tương li�n của c�c trung t�m mậu dịch khắp thế giới hải đảo thuộc ngữ tộc Nam � Đa Đảo.

 

���� Sự can dự trong thương mại đường biển chắc chắn l� một trong những chủ điểm đ� duy tr� một cảm thức về đặc t�nh chung giữa c�c người n�i tiếng Nam � Đa Đảo nhưng c� một nền văn h�a kh� đa trạng.� Cũng như việc chuy�n chở sản phẩm ri�ng của ch�nh m�nh đến c�c thị trường thế giới, nh�m người n�i tiếng Nam � Đa Đảo đ� l�m chủ mọi đường biển nằm giữa miền đ�ng � Ch�u v� phần c�n lại của v�ng �u-� (Eurasia).� Bất luận việc chuyến h�ng chạy xuy�n qua v�ng Melaka hay c�c Eo Biển Sunda, hay Lombok v� Makasar; bất luận l� sự khu�n v�c được thực hi�n băng ngang qua b�n đảo M� Lai từ Melaka, từ Kedah hay từ Tenasserim; bất luận l� sự luu th�ng đi v� đến Trung Hoa đ� tiếp nhận nước v� đồ tiếp liệu dọc theo bờ biển của Ch�m thuộc Đ�ng Dương v� bờ biển ph�a đ�ng của B�n Đảo M� Lai, hay tại Phi Luật T�n v� ph�a đ�ng đảo Borneo, hay dọc theo bờ biển ph�a t�y của Borneo v� Java, người thuộc ngữ tộc Nam � Đa Đảo đều c� can dự một c�ch trực tiếp.� Trong c�c mối quan hệ ngoại giao v� thương mại trường kỳ v� thường s�i động giữa Đ�ng Nam � v� Trung Hoa, người d�n ngữ tộc Nam � Đa Đảo đ� l� c�c kẻ nắm thế chủ động nhiều nhất, �t ra cho đến thời Nam Tống (1127-1279) l� triều đại đ� kh�ch lệ sự tạo lập một hạm đội thuyền đi biển của Trung Hoa (Wolters 1970, 19-42).� Vị anh h�ng trong văn h�a M� Lai, Hang Tuah, đ� được m� tả một c�ch th�ch đ�ng về việc l�i thuyền, mua b�n, v� chiến đấu cho nh� vua của m�nh �tại Trung Hoa, Ấn Độ, v� Trung Đ�ng, cũng như tại Java v� Xi�m La.

 

���� Trong khi truyền thống đi biển của người M� Lai v� Java nổi tiếng, điều đ�ng nhắc nhở về sự t�n tụng của Dampier d�nh cho một số người Ch�m chịu ảnh hưởng Ấn Độ (Hindu Cham), những kẻ c� �c�c chiếc thuyền rất đẹp, ngăn nắp� m� �ng ta đ� gặp tại Vịnh Xi�m la, chuy�n chở thủy thủ đo�n bốn mươi người v� một chuyến h�ng gồm gạo v� đồ sơn m�i đến v�ng Melaka thuộc H�a Lan trong năm 1687:

 

Họ l� c�c kẻ thờ c�c thần tượng [idolators, tức đa thần, từ ngữ thời đ� để ph�n biệt với c�c người �u Ch�u chỉ thờ một Ch�a, ch� của người dịch], C�c Thổ D�n xứ Ch�m, v� một số trong họ l� c�c kẻ nhanh nhẹn nhất, x� giao nhất, kh�ng hề c� sự Sợ Sệt hay E Thẹn, v� l� những kẻ gọn ghẽ v� kh�o tay nhất trong nghề l�i thuyền của họ, so với bất kỳ nh�m người n�o tương tự m� t�i đ� c� dịp gặp trong tất cả mọi chuyến du h�nh của t�i. (Dampier 1697, 272).

 

 

C�C LI�N HỆ CỦA NGƯỜI CH�M VỚI V�NG Đ�NG NAM � HẢI ĐẢO

 

���� Sự giao kết chung n�y với thương mại đường biển gi�p v�o việc giải th�ch l� do tại sao nhiều người n�i tiếng Nam � Đa Đảo ở Đ�ng Nam � đ� giữ lại được nhiều điểm tương đồng trong văn h�a hơn mức ước định bởi sự ph�n t�n rộng r�i của họ.� C�c sự tiếp x�c tương đối gần gụi ở nhiều giai đoan kh�c nhau suốt một ngh�n năm qua gi�p cho một số sự vay mượn văn h�a c� vẻ tr�ng đồ sộ hơn di sản ngữ học c�ng chia sẻ của thời qu� khứ xa x�i trong sự x�y dựng c� t�nh đương thời.� C�c hải cảng của Ch�m đ� c� một số sự li�n hệ đặc biệt mạnh mẽ c� thể gủai th�ch được qua hệ hống mậu dịch tại v�ng Biển Nam Hải.

 

���� Điểm đầu ti�n cần nhấn mạnh rằng Trung Hoa đ� l� trung t�m lớn nhất về mặt d�n số v� sản xuất, tr�n thế giới trong suốt thời kỳ thịnh đạt của Ch�m (v�o khoảng 300-1500 sau C�ng Nguy�n).� Đối với c�c quốc gia miền biển Đ�ng Nam �, sự trao đổi c�c sản phẩm l�m nghiệp v� hải sản của họ để lấy kim loại v� c�c chế tạo phẩm Trung Hoa lu�n lu�n l� nguồn cung ứng t�i nguy�n sẵn c�, để thiết lập một vương quốc tr�n [c�c t�i nguy�n] đ�.� C�c quan hệ triều cống triều đ�nh Trung Hoa l� c�c phương c�ch an to�n nhất v� sinh lợi nhất cho c�c nh� cai trị tham gia v�o hoạt động mậu dịch đ�.� Trong thực tế, n� mang lại cho c�c nh� cai trị được hậu thuẫn bởi thi�n triều một lợi thế khổng lồ tr�n c�c đối thủ của họ.� Ch�m đ� thụ hưởng vị tr� may mắn nhất tại Đ�ng Nam � trong hoạt động thương mại n�y với Trung Hoa.� Mọi hải vận giữa Trung Hoa với phần c�n lại của thế giới (ngoại trừ quần đảo Phi Luật t�n v� Nhật Bản), đ� b�m s�t bờ biển xứ Ch�m �t nhất trong năm trăm c�y số nằm giữa Cape Varella (Mũi Diều?) v� C� Lao Ch�m (s�t ph�a nam Đ� Nẵng ng�y nay) v� th�ng thường, cho c�c t�u du h�nh từ Eo Biển Melaka (v� thường từ Ấn Độ) hay Xi�m La, trong một qu�ng đường tương đương xu�i xuống ph�a nam gần đ�n v�ng Ch�u Thổ s�ng Cửu Long (Mills 1979, 73-5).

 

���� Như cảng gh� ch�n cuối c�ng trước khi luồng hải vận n�y chạy băng ngang Vịnh Bắc Bộ đến miền Nam Trung Hoa, Ch�m hẳn phải can dự nhiều v�o c�ng cuộc mậu dịch, triều cống, v� c�c cuộc h�nh hương di chuyển đi/đến từ Trung Hoa.� Ngay c�c t�u đối nghịch cũng sẽ dừng ch�n tại một trong những cảng thi�n nhi�n của n� để lấy nước, v� c�c t�u th�n thiện sẽ tiếp nhận h�ng h�a, d�n ch�ng v� tư tưởng.� Phần lớn việc hải vận n�y được đảm nhận bởi c�c người thuộc ngữ tộc Nam � Đa Đảo.� Phải đợi đến thế kỷ thứ mười hai người Trung Hoa mới tự m�nh sắm một vai tr� quan trọng trong c�ng cuộc mậu dịch, v� chỉ trong thế kỷ thứ mười s�u họ mới c� ảnh hưởng chế ngự trong mậu dịch, với sự thua thiệt nghi�ng về phần người M� Lai v� Java (Reid 1993a, 36-45).� Như được ước định từ vị tr� địa l� của n�, cũng như bởi nhu cầu của c�c nh� cai trị cần đến sự trợ gi�p của Trung Hoa chống lại c�c đối thủ địa phương v� giống d�n Việt Nam lu�n lu�n đe dọa, xứ Ch�m được n�u ra trong sử s�ch Trung Hoa như nước tận tụy nhất trong việc gửi c�c ph�i bộ triều cống bất kỳ khi n�o nước n�y sắp xếp được đầy đủ để l�m như thế.� Khu�n mẫu n�y đ� khởi sự ngay từ năm 284 sau C�ng Nguy�n, khi m� nh� vua L�m Ấp (Ch�m) đ� gửi một ph�i bộ triều cống ch�nh thức sang Trung Hoa.� Trong việc l�m n�y, chắ c cắn nh� vua đ� được trợ gi�p bởi quan đại thần cố vấn ch�nh của �ng, t�n Wen, một ngừi Ch�m gốc Trung Hoa hay thấm nhuần văn h�a Trung Hoa, kẻ m� sau n�y đ� du h�nh sang Trung Hoa trong c�c năm 313 v� 316, đ� thu lượm được nhiều kinh nghiệm, v� đ� chiếm đoạt ch�nh thể của L�m Ấp cho ch�nh m�nh v�o năm 336 (Co�des 1968, 44-5).� V�o khoảng hai mươi ph�i bộ đ� được gửi đi trong thế kỷ thứ bẩy, v� một số lượng tương tự trong thế kỷ thứ ch�n,nhiều hơn c�c quốc gia kh�c tại Đ�ng Nam � c� d�n số lớn hơn d�n Ch�m.� Ngoại trừ một số �t c�c thời kỳ x�o trộn giữa khoảng 1391 v� 1403, Ch�m đ� gửi cống phẩm thực sự h�ng năm kể từ khi c� sự th�nh lập nh� Minh v�o năm 1368 cho đến 1446, khi vị Ho�ng Đế ra lệnh rằng c�c sứ giả kh�ng thể được ph�i đến nhiều hơn một lần cho từng ba năm một, bởi c� sự tốn ph� qu� đ�ng (Wade 1991; Reid 1993a, 15-16).

 

���� C�c li�n hệ của Ch�m với Java v� thế giới M� Lai, hiển nhi�n l� mạnh mẽ, mặc d� chỉ được ghi ch�p th�nh t�i liệu một c�ch sơ s�i, được hiểu đ�ng nhất như một sản phẩm của thủy lộ hải h�nh n�y d�nh cho c�c nh� mậu dịch v� c�c kẻ h�nh hương giữa Ấn Độ v� Đ�ng Nam � một b�n, v� với Trung Hoa ở b�n kia.� Đối với c�c kh�ch du h�nh đường trường, c�c điểm dừng ch�n ch�nh yếu kh�c tại Đ�ng Nam � thường l� Java hay Srivijaya, t�y thuộc v�o nơi n�o c� trật tự hơn.� Ngay từ thế kỷ thứ năm, th� dụ, một thầy giảng Đạo Phật gốc Kashmir t�n l� Gunavarman đ� cải đạo cho t�n đồ ở cả Java lẫn xứ Ch�m khi �ng ta du h�nh sang ph�a đ�ng bằng đường biển (Mabbett 1986, 295).� Trong suốt c�c thời kỳ vững mạnh giữa thế kỷ thứ t�m v� thế kỷ thứ mười bốn, khi Java được thống nhất v� đủ thịnh vượng để gửi c�c ph�i bộ sang Trung Hoa, điều n�y đ� tượng trưng cho li�n hệ mạnh mẽ nhất của Ch�m với khối ngữ tộc Nam � Đa Đảo.� Sự đề cập được giả định đầu ti�n về người Java trong c�c bia k� của Ch�m thường hay được n�i về c�c cuộc đột k�ch bởi �qu�n cướp biển da sậm, t�n nhẫn, hung tợn� đ�nh v�o c�c thị trấn của người Ch�m trong c�c năm 774 v� 787, v� đ�nh v�o Bắc Kỳ (Tongking) năm 767 (Coed�s 1968, 91, 95); Lafont 1987, 76-7), mặc d� t�c giả Hall (1992, 259) tin rằng những người n�y nhiều phần chỉ l� c�c thuyền nh�n địa phương).� C�ch n�o đi nữa, đ�y l� một sự chỉ dẫn sớm sủa cho bản chất thường bị x�o trộn của bờ biển n�y, tr�n đ� c�c nh� mậu dịch ngang qua thường hoặc tham gia v�o trong một hoạt động hải tặc cấp nhỏ hay tự bảo vệ để chống lại nạn hải tặc.� Từ thế kỷ thứ t�m đến thế kỷ thứ mười, vương quốc Mataram tại Java đ� l� một trung t�m to lớn của ảnh hưởng Phật Gi�o Đại Thừa (Mahayana) với c�c th�nh tố b�a ph�p Tantra.� Ảnh hưởng n�y r� r�ng đ� được lan truyền dọc theo con đường dẫn tới Trung Hoa, tới Căm Bốt cũng như tới xứ Ch�m.� Một số sử giả n�i đến một thời kỳ bắt chước phong c�ch �Java� tại xứ Ch�m, v� c�c n�t tương đồng đ� được ghi nhận giữa c�c ng�i đền ở Mỹ Sơn tại xứ Ch�m với khu Borobodur tại Java. �Một bia k� năm 911 tại Đồng Dương ghi ch�p hai cuộc du h�nh của sứ giả người Ch�m t�n Rajadvara sang Java để học c�c b� quyết ph� ph�p (Tantric) của quyền lực ho�ng gia (Coed�s 1968, 123; Hall 1992, 258; Mabbett 1986, 297).

 

���� Trong thế kỷ thứ mười bốn, li�n hệ giữa Ch�m v� Java (l�c bấy giờ đang thịnh đạt dưới danh nghĩa vương quốc Majapahit) một lần nữa trở n�n gần gủi, v� li�n kết v�o truyền thống Java với sự xuất hiện đầu ti�n của Hồi Gi�o.� Hai quốc gia đ� trao đổi c�c vị c�ng ch�a v� c�c ph�i bộ ngoại giao, v� vua Chế Năng đ� chọn Java l�m chỗ nương n�u của �ng ta khỏi �p lực của Việt Nam tr�n kinh đ� của Ch�m v�o năm 1318 (Robson1981, 276; Hall 1992, 258).�� C� lẽ ch�nh từ c�c li�n hệ n�y m� bữa yến tiệc đầu mỗi năm gọi l� radja của những người Ch�m Việt Nam theo Hồi Gi�o c� d�nh l�u đến.� Như được m� tả bởi t�c giả Aymonier một thế kỷ trước đ�y, một nữ gi�o sĩ l�m chủ tế, đối thoại với một loạt c�c vị thần ngo�i c�c biển cả, trong suốt ba ng�y yến tiệc, nhảy m�a v� cầu nguyện tr�n một bục được trang tr� v� n�ng cao.� Một miếng gỗ tr�ng giống như một chiếc thuyền được đưa đến v� một sứ giả từ Java bước xuống từ chiếc t�u để đ�i hỏi cống phẩm.� Sau rất� nhiều chuyện kh�i h�i về việc kh�ng th�ng hiểu tiếng Java của người d�n địa phương, một cống phẩm gồm c�c quả trứng, b�nh, v� chuối sau rốt được đặt l�n tr�n �chiếc thuyền�, c�ng với một con khỉ bằng giấy (Aymonier 1891, 88-91).

 

���� Cả hai truyền thống M� Lai v� Java bao gồm nhiều li�n hệ Ch�m-Java.� Một bi�n ni�n sử Banjarmasin rất b�nh vực người Java, bi�n tập kh� l�u sau c�c biến cố n�y, c� liệt k� Ch�m (c�ng l�c, với ni�n biểu lộn xộn, c�c vương quốc của thế kỷ mười bẩy như Aceh, Patani, v� Makasar) như l� c�c nước triều cống của Vương Quốc Majapahit (Hikayat Banjar, 292, 416).� Một t�i liệu then chốt kh�c của M� Lai, quyển Sejarah Melayu (125), tuy�n bố rằng một nh� cai trị của xứ Ch�m đ� du h�nh dến Majapahit để b�y tỏ l�ng t�n k�nh, v� l� cha một một đứa trẻ sinh ra bởi một c�ng ch�a triều Majapahit.� Đứa trẻ n�y lớn l�n v� trở th�n nh� cai trị �p ch�t của Ch�m trước khi kinh đ� Vijaya bị sụp đổ trước sự chinh phục của Việt Nam. �Ch�nh Majapahit, như được phản ảnh trong quyển Nagarakertagama, chắc chắn c� hay biết về Champa c�ng với Căm Bốt, An Nam v� Trung Hoa, nhưng kh�ng nhất thiết như một nước triều cống (Pigeaud 1960, 18, 98).� Trong thực tế,nhiều chuyện cổ t�ch của Java khiến ta nghĩ rằng sự lệ thuộc đi theo một con đường v�ng quanh kh�c.� �t nhất một phi�n bản của thần thoại về Aji Saka, kẻ đ� mang nền văn minh Ấn Độ đến Java, c� n�i rằng Aji Saka đ� dừng ch�n tại xứ Ch�m tr�n đường tới Java, kết h�n với một c�ng ch�a Ch�m ở đ�, v� sau n�y đ� được kế tục trong vai tr� khai h�a văn minh bởi một người con trai từ cuộc h�n phối n�y, Pangeran Prabakusuma (Lombard 1981, 286-7). Nhiều cổ t�ch được lan truyền rộng r�i hơn x�c nhận rằng ch�nh xuy�n qua một vị c�ng ch�a Ch�m kết h�n với nh� vua của Majapahit, c�ng với người em của b� l� Raden Rahmat, m� đạo Hồi đ� tiến v�o triều đ�nh Java.� Để kh�p k�n tam gi�c của c�c người thuộc ngữ tộc Nam � Đa Đảo, Rahmat đ� lấy l�m vợ một phụ nữ của Tuban c� t�n l� Nyai Ageng Manila � c� thể l� bằng chứng cho sinh qu�n ở Phi Luật T�n (Babad Tanah Jawi, 20-1).

 

���� Khi Java bị ph�n t�n v� c�c quốc gia � hải cảng của người M� Lai theo đạo Hồi trở n�n quan trọng hơn trong thế kỷ thứ mười lăm, c�c li�n hệ của Ch�m chuyển hướng sang v�ng Eo Biển Melaka.� C�c sử s�ch Trung Hoa cho thấy rằng trong năm 1418 c�c sứ giả c�ng nhau đến Trung Hoa gồm từ xứ Ch�m, Melaka, Lamri (v�ng Banda Aceh ng�y nay) v� Shi-la-bei (một quốc gia kh�c ở đảo Sumatra, kh� x�c định được). �Trong năm 1438 Nh� Vua Ch�m c� khiếu nại rằng c�c sứ giả m� �ng ph�i đến Samudra (hay Pasai � v�ng Lhokseumawe thuộc ph�a bắc Sumatra ng�y nay), quốc gia Hồi Gi�o ch�nh yếu tại Đ�ng Nam � l�c bấy giờ, đ� bị bắt giữ v� ngăn cản kh�ng đến được nơi muốn đến của họ bởi c�c người Xi�m La (Wade 1991).� C�c mảnh tin tức qu� gi� n�y gi�p biện hộ cho một giả định cho rằng c�c thuyền của M� Lai (v� trong nhiều thời đoạn, của Java) bu�n b�n thường xuy�n với Trung Hoa m�i cho đến thế kỷ thứ mười s�u (Reid 1993a, 38-40) c� cặp bến theo thường lệ ở một hay hai hải cảng của Ch�m, v� c�c c�c đo�n vi�n th�y thủ đ� chung đụng với người Ch�m dọc theo suốt lộ tr�nh n�y.� Người Ch�m trong cung c�ch n�y trở n�n kh� quen thuộc với văn h�a M� Lai để ph�ng t�c hai thi�n anh h�ng ca M� Lai nổi tiếng nhất, Hikayat Indraputra v� Hikayat Dewa Madu, v�o xứ Ch�m, được nghĩ trong thời gian giữa c�c thế kỷ thứ mười lăm v� mười bẩy (Chambert-Loir 1987, 98-101).

 

���� Mặc d� chắc chắn đ� c� mặt người theo Hồi Gi�o tại xứ Ch�m trong thế kỷ thứ mười lăm v� sớm hơn thế, đạo Hồi đ� l� một hậu quả hơn l� nguy�n do của c�c quan hệ chặt chẽ giữa c�c người M� Lai v� người Ch�m.� Như t�c giả Chambert-Loir đ� vạch ra, c�c văn bản của M� Lai được vay mượn dưới dạng thời tiền-Hồi Gi�o m� kh�ng c� bất kỳ phi�n bản đ� được tu chỉnh theo Hồi Gi�o sau n�y.� Tầng lớp l�nh đạo người Ch�m vẫn c�n chịu ảnh hưởng Ấn Độ v�o thời kỳ c� sự chinh phục của Việt Nam tại Vijaya (Qui Nhơn), m� c�c nguồn t�i liệu Việt Nam v� Trung Hoa đ� ghi ni�n kỳ l� năm 1471.� Đ� l� điểm nổi bật khiến t�c giả M� Lai theo Hồi Giao của bộ ni�n sử ho�ng gia Melaka đ� x�c định l� c�c nh� qu� tộc Ch�m ấn tr� tại v�ng Melaka v� Pasai Hồi Gi�o sau khi kinh đ� của họ bị mất đi l� c�c kẻ theo Ấn Độ Gi�o (Serajah Melayu, 136-7).� Hẳn đ� phải c� một sự r�ng buộc ch�nh trị v� thương mại s�u đậm với thế giới M� Lai đến nỗi n� đ� gạt sang một b�n sự kh�c biệt về t�n gi�o � mặc d� c�c người Ch�m sau rốt đ� đi theo Hồi Gi�o trong đời lưu vong.� Nh� vua của Ch�m, với kinh đ� l�i xa hơn về ph�a nam tại Phan Rang, vẫn c�n l� người theo Ấn Độ Gi�o cho �t nhất đến năm 1607, khi một đ� đốc người H�a Lan sang thăm viếng được cho hay rằng người em trai v� l� phụ t� của Nh� Vua �muốn trở th�nh người Moor [chỉ người theo đạo Hồi thuộc v�ng t�y bắc Phi Ch�u như người Ma Rốc, ch� của người dịch] nhưng kh�ng d�m v� sợ người anh �ng ta�.� D� thế, Ch�m khi đ� đ� li�n minh chặt chẽ với v�ng Johor thuộc M� Lai để chống lại người Việt Nam, Khmer, v� Bồ Đ�o Nha, v� đạo Hồi được cổ vũ trong d�n cư v�ng duy�n hải xuy�n qua sự x�y cất c�c đền thờ (Matelief 1608, 120-1; cũng xem, Manguin 1979, 269; Lafont 1987, 78).

 

���� Li�n hệ đường biển quan trọng kh�c của Ch�m đi theo hướng đ�ng, đến Phi Luật T�n v� Brunei.� Sự kiện n�y đ�i hỏi một số sự giải th�ch.� Trong thời Minh sơ, khi sự tương t�c của Trung Hoa với v�ng Đ�ng Nam � tương đối s�i động, hải vận Trung Hoa xuống phương nam hoặc đi theo một lộ tr�nh ph�a t�y xuy�n qua Ch�m hay theo lộ tr�nh ph�a đ�ng xuy�n qua miền nam Đ�i Loan v� miền t�y đảo Lữ Tống (Luzon).� Khi cả hai lộ tr�nh n�y đều được hoạt động v�o cuối thế kỷ thứ mười bốn v� đầu thế kỷ thứ mười lăm, v� một lần nữa sau năm 1567, l�c đ� đ� �t c� sự tiếp x�c giữa Ch�m v� Phi Luật t�n.� Tuy nhi�n, v�o một thời kỳ sớm hơn, trước khi hải tr�nh ph�a đ�ng được ph�t triển, mậu dịch v� triều cống của Phi Luật T�n c� vẻ như đ� đến được tới Trung Hoa xuy�n qua Ch�m.� Ph�i bộ triều cống đầu ti�n được ghi ch�p, từ bất kỳ h�n đảo n�o thuộc Phi Luật T�n, đến từ Butuan, ph�a đ�ng đảo Mindanao v�o năm 1001 sau C�ng Nguy�n, đem lại một sự m� tả xứ Butuan trong Bi�n Ni�n Sử Nh� Tống như �một nước nhỏ ngo�i biển ph�a đ�ng của Ch�m, xa hơn đảo Ma-I (Mindanao), c� sự giao thương thường lệ với Ch�m nhưng hiếm hoi với Trung Hoa�.� Trong năm 1007, Butuan đ� thỉnh cầu Ho�ng Đế xin ban quy chế ngang h�ng với Ch�m, như bị nghi�m khắc tuy�n ph�n rằng �Butuan phải nằm dưới Ch�m� (được tr�ch dẫn bởi Scott 1984, cũng xem, Wade 1993, 83-5).� Scott tin rằng chỉ v�o khoảng thế kỷ thứ mười ba, lộ tr�nh trực tiếp giữa Luzon v� Ph�c Kiến mới trở n�n th�ng dụng, v� rằng mọi mậu dịch với Trung Hoa trước đ� đều xuy�n qua ngả Ch�m dọc theo một hải tr�nh được m� tả kh� l�u sau n�y trong quyển Shun Feng Xiang Song (Scott 1984, 67, 72); Mills 1979, 81).

 

���� Trong quan điểm của t�i, c�c sự tiếp x�c của Luzon (đặc biệt khu vực Vịnh Manila) với miền nam Trung Hoa trở n�n s�i động hơn nhiều l� do kết quả của nhiều ph�i bộ Trung Hoa đi theo lộ tr�nh ph�a đ�ng đến Phi Luật T�n trong thời khoảng từ 1372 đến 1427, khi c�c ph�i bộ triều cống thường xuy�n từ �Luzon� v� c�c địa điểm kh�c của Phi Luật T�n được ghi ch�p.� Trong khi giai đọan n�y đ� tạo ra một văn h�a thương mại chịu ảnh hưởng Trung Hoa tại khu vực Vịnh Manila, nối kết với c�c nền văn h�a kh�c tại Brunei v� Mindoro, sự tiếp x�c trực tiếp của n� với Trung Hoa bị biến mất v�o giữa thế kỷ thứ mười lăm khi c�c ho�ng đế nh� Min kh�ng lưu t�m đến việc triều cống v� ngăn cấm mậu dịch tư nh�n từ c�c miền n�y.� Mậu dịch khi đ� đ� được chuyển hướng sang ph�a Melaka, nơi m� �c�c người Luzon� đ� l� c�c n� mậu dịch trội bật v�o l�c c� sự cập bến của người Bồ Đ�o Nha năm 1511, đ� ph�i c�c thuyền của họ đi theo cả hai lộ tr�nh Manila-Brunei-Melaka v� Melaka-Ch�m-Quảng Ch�u (Reid 1996, 34-5).� V� thế, đ� c� một số li�n hệ giữa c�c người d�n �Luzon� n�y (c�c người n�i tiếng Tagalog theo Hồi Gi�o hay Tagalog-H�n tự) v� c�c người Ch�m, mặc d� l� một sự li�n hệ gi�n tiếp.� N� trở n�n gần gũi hơn khi lộ tr�nh cũ giữa Ch�m (hay �t nhất từ Đ�ng Dương) được phục hồi v�o khoảng 1500.� Sự ph�t biểu của Pir�s (1515, 123) �rằng �người Trung Hoa� đ� khởi sự l�i thuyền trực tiếp sang Brunei v�o thời khoảng n�y c� lẽ cần được giải th�ch l� n�i đến người Hoa hay người Đ�ng Nam � lai Hoa đặt căn cứ tại Ch�m hay Xi�m La.� C�c cuộc th�m hiểm trước đ� của người Bồ Đ�o Nha hay của Magellan đều kh�ng n�i đến người Trung Hoa đến từ nước Trung Hoa c� bu�n b�n trao đổi với Phi Luật T�n hay Brunei, nhưng t�c giả Pigafetta (1524, 33) c� gặp gỡ một chiếc thuyền đến từ �Ciama� (Champa hay Xi�m La) tại đảo Cebu.� Một nguồn t�i liệu tiếng T�y Ban Nha trong thập ni�n 1590 c� x�c định một c�ch mặc nhi�n nguồn gốc ảnh hưởng Hồi Gi�o của Ch�m l� từ �Brunei v� c�c nước Hồi Gi�o kh�c� (Manguin 1979, 270).� Cho m�i đến thập ni�n 1820, một nh� mậu dịch Anh Quốc am hiểu c� tường thuật rằng h�ng trăm chiếc thuyền thường xuy�n đi lại giữa bờ biển xứ Ch�m [khi đ� đ� l� triều Nguyễn của Việt Nam rồi, ch� của người dịch] với c�c duy�n hải của miền bắc Borneo v� miền t�y Phi Luật T�n (Dalton, được tr�ch dẫn bởi Wade 1993, 85-6).

 

���� Mặc d������������ gặp nhiều phức tạp hơn để giải th�ch, nhưng ch�nh từ đ� đ� c� c�c li�n hệ thương mai chặt chẽ giữa c�c hải cảng của Phi Luật T�n với c�c hải cảng tr�n bờ biển Ch�m trong c�c thế kỷ thứ mười một v� mười hai, v� một lần nữa giữa khoảng năm 1450 v� 1567 (khi hải lộ trực tiếp ph�a đ�ng giữa Trung Hoa v� Phi Luật T�n được thiết lập một c�ch thường trực).� Điều n�y c� thể giải th�ch c�c sự li�n hệ với Ch�m m� t�c giả H. O. Beyer (1979, 11-12) đ� t�m thấy trong c�c nguồn t�i liệu của Sulu, v� �ng đ� quy thuộc v�o từ thế kỷ thứ ch�n đến kỷ thứ mười hai.� Song điều đ�ng lưu � hơn l� lập luận được khai triển bởi t�c giả Geoff Wade (1993) rằng văn tự Ấn Độ (Indic scripts) được d�ng bởi người Phi Luật T�n v�o l�c c� cuộc chinh phục của T�y Ban Nha c� h�nh thức gần với chữ viết của Ch�m hơn l� c�c mẫu tự của Sumatra hay Sulawesi m� ch�ng vẫn thường được so s�nh.� T�c giả Wade lập luận rằng sự thiếu vắng trong văn tự Phi Luật T�n để thể hiện c�c phụ �m cuối của từ c� thể được giải th�ch một c�ch đ�ng nhất bởi việc văn tư đ� được mang đến từ xứ Ch�m qua người Truung Hoa, những kẻ c� thể đ� dạy người Phi Luật T�n chỉ nhấn mạnh đến phụ �m khởi đầu kh�ng th�i khi k� �m ng�n ngữ của họ th�nh chữ viết.

 

���� Trong c�c thế kỷ thứ mười s�u v� mười bẩy, Ch�m tiếp tục đ�ng một vai tr� thứ yếu trong sự vụ của Đ�ng Nam �, nhưng đ� c� một th�nh phần quan trọng hơn trong số c�c người Ch�m theo Hồi Gi�o tạo th�nh một loại diện mạo của c�c nh� mậu dịch, c�c chiến sĩ v� c�c người tỵ nạn.� Nh�m c�c nh� mậu dịch �M� Lai� được ban cấp tập thể c�c đặc ưu quyền mậu dịch v� sự tự trị tại v�ng Makasar hồi giữa thế kỷ thứ mười s�u được tường thuật đến từ Johor, Patani, Pahang, Minangkabau v� Ch�m (Sejarah Goa, 26-8; Reid 1993a, 126-8).� Người Ch�m theo đạo Hồi c� mặt trong c�c lực lượng đa d�n tộc được tường thuật hồi giữa thế kỷ thứ mười s�u đ� đ�nh nhau với người Bồ Đ�o Nha tại Biển Nam hải v� đ� trợ gi�p c�c cuộc th�nh chiến của Demak tại Java v� trong thế kỷ thứ mười bẩy đ� trợ lực cho v�ng Makasar c�n xa x�i hơn, chống lại H�a Lan (Pinto 1578, 107, 386; Skinner 1963, 146-7).� Người M� Lai v� ngừi Ch�m li�n kết chặt chẽ trong c�c cuộc tranh chấp ở Căm Bốt hồi thế kỷ thứ mười bẩy đến nỗi đối thủ người Iberia [d�n thuộc b�n đảo Bồ Đ�o Nha v� T�y Ban Nha, ch� của người dịch] nghĩ rằng họ l� một d�n tộc (Reid 1993a, 187-90).

 

���� Khi đ�, c� vẻ rằng c�c mối li�n kết thương mại v� định hướng chung đối với mậu dịch đường biển đ� nối buộc c�c người n�i tiếng Nam � Đa Đảo dọc theo c�c lộ tr�nh mua b�n của miền đ�ng � Ch�u trước khi c� sự thẳng tiến của đạo Hồi.� Sự truyền b� đạo Hồi đến phần lớn c�c khu vực n�y c� thể được nh�n như một hậu quả của sự can dự chung v�o thương mại đường biển n�y, nhưng n� cũng phục vụ cho việc tăng cường một cảm thức về một c� t�nh x�c định chung trong họ.

 

 

C�C CH�NH THỂ ĐA TRUNG T�M CỦA V�NG NAM � ĐA ĐẢO

 

���� Suy tưởng về sự dễ d�i m� c�c t�c giả như Hein-Geldern, Coed�s, Majumdar v� L. P. Briggs đ� giải th�ch c�c bia k� Đ�ng Nam � về c�c quốc gia hay đế quốc tập quyền h�a ng�y nay, Herman Kulke gần đ�y c� n�u � kiến rằng:

 

���� C�c sử gia hiện đại trở th�nh nạn nh�n của một ��m mưu nham hiếm thực sự của c�c triết gia, sử gia Trung Hoa v� Ấn Độ cổ thời v� c�c sự ghi ch�p ch�nh thức nhằm che dấu sự thực của lịch sử, bởi điều được hay biết rất r� l� c�c nh� tư tưởng Ấn Độ cổ thời v� c�c đồng sự Đ�ng Nam � c�ng thời với họ c� ph�c họa l� thuyết sastric [? c� lẽ từ chữ sastra, từ ngữ tiếng Sanskrit để chỉ một c�ch tổng qu�t �nguy�n l� tổ chức v� vận h�nh�, ch� của người dịch] về nh� nước, trong khi c�c thi sĩ của triều đ�nh v� c�c t�c giả bia k� ch�nh yếu nhắm đến sự �p dụng nghệ thuật thi ca kh� tinh tế.� V� thế, kh�ng kẻ n�o trong họ quan t�m đến sự m� tả (chi tiết), th� dụ, c�c cơ cấu cụ thể của một quốc gia v� c�c bi�n giới thực sự của n�.� Mặt kh�c, c�c quan chức Trung Hoa phụ tr�ch Hung lu ssu, văn ph�ng chịu tr�ch nhiệm về �c�c sự sắp xếp đ�n tiếp d�nh cho c�c sứ giả ngoại quốc cũng như sự ghi ch�p c�c chi tiết về quốc gia của họ�, chắc chắn c� quan t�m s�u xa đ�n t�nh h�nh cụ thể tại �c�c nước mọi rợ phương nam�.� Nhưng trong c�c b�o c�o của họ, sọan thảo/để d�ng l�n ho�ng đế của họ v� sau n�y được cung cấp cho c�c sử gia, họ đ� �th�ng dịch� c�c tin tức kh�ng chỉ v�o ng�n ngữ ri�ng của m�nh m� c�n mang theo văn phong ch�nh thức của họ.� C�c th�nh ngữ của n� đ� thấm nhuần s�u đậm bởi kh�i niệm của Trung Hoa về quốc gia tập quyền h�a của ch�nh họ. (Kulke 1986, 2).

 

���� Việc nghi�n cứu gần đ�y quan t�m nghi�m chỉnh hơn đ�n c�c t�i liệu khảo cổ học, cho thấy một khu�n mẫu v� c�ng kh�c biệt của c�c khu định cư đa cấp v� c�c trung t�m chuyển đổi.� Ngay c�c kinh đ� Đ�ng Nam � với bề thế đồ sộ như Angkor, Ph� Nam v� Majapahit cũng đ� được nh�n một c�ch mới mẻ như c�c x� hội đa trung t�m thuộc c�c li�n hiệp tạm thời v� mong manh.� H�y c�n nhiều x� hội n�i tiếng Nam � Đa Đảo rải r�c trong v�ng Đ�ng Nam � hải đảo cho thấy một thi�n t�i t�ch cực trong việc kh�ng cự c�c sự tuy�n x�c của một nh� nước tập quyền h�a.� Sự t�i giải th�ch gần đ�y lịch sử Đ�ng Nam � c� vẻ đặc biệt hữu �ch trong nỗ lực t�m hiểu về Ch�m.

 

���� Ch�ng ta h�y khảo s�t ngắn gọn c�c hệ thống kh�c trong nh�m ngữ tộc Nam � Đa Đảo về ngai vị nh� vua tại Đ�ng Nam �, hẳn nhi�n phải c� c�c điểm tương đồng đặc biệt với Ch�m.� Trong số đ�, hệ thống chịu ảnh hưởng Ấn Độ nhiều nhất, v� l� hệ thống c� sự tiếp x�c l�u d�i nhất với xứ Ch�m, ch�nh l� Java.� T�i liệu khảo cổ v� lịch sử của n� cho thấy một m� thức nhiều trung t�m triều đ�nh (hay kratons), phải giữ l�ng trung th�nh mong manh với bất kỳ thủ phủ n�o t�m c�ch tự vượt l�n cao hơn c�c trung t�m kh�c.� C�c quần thể đền thờ v� bia k� được ph�n t�n tại h�ng trăm địa điểm rải r�c khắp đảo.� Mặc d� hiện c�n chỉ c�n c�c phế t�ch khi�m nhường của một kinh đ� vương quốc Majapahit tại Trowulan, giới học thuật gần đ�y c� vạch cho thấy rằng sự huyền b� thực sự của Java cổ xưa, cũng như của Sumatra v� Bali, l� l�m sao m� c�c nền văn h�a chịu ảnh hưởng Ấn Độ r� r�ng tinh tế� như thế đ� được ph�t triển m� kh�ng để lại chứng liệu khảo cổ n�o về một thủ phủ trung t�m (Wisseman 1977, 1986; Kulke 1986, 3).� Ngay trong thời cực thịnh của Majapahit khi c�c sứ bộ triều cống sang Trung Hoa thường xuy�n diễn ra v�o khoảng 1400, ph�a Trung Hoa nhận thấy c� hai vương quốc cạnh tranh trong một thời kỳ l�u d�i tại ngay khu vực trung t�m của Majapahit, đ� l� chưa kể đến c�c vương quốc kh�c nhau tại v�ng Trung v� T�y Java.� Lại nữa, khi c�c văn bản tường thuật chi tiết của �u Ch�u được cung cấp, c�c t�i liệu n�y đ� ph�t hiện một t� c�c nh� vua hay �ng ho�ng g�y chiến với nhau trong suốt thời khoảng từ 1500 đến 1755, ngoại trừ giai đoạn 1620 � 60, mặc d� một hay hai �ng ho�ng thường c� c�c sự tuy�n x�c mạnh mẽ hơn về việc đ� thừa hưởng �o ho�ng b�o [tương trưng cho vương quy�n] của Majapahit.� T�c giả Ricklefs đ� chỉ cho thấy một c�ch x�c thực rằng c�c nguồn t�i liệu của Java n�i về thời kỳ n�y c� thừa nhận t�nh trạng đa nguy�n n�y, mặc d� c�c t�i liệu đ� cảm thấy �phải� c� một vị quốc vương � đặc biệt d�ng d�i của người m� t�i liệu n�y n�y viết tới (Ricklefs 1992).

 

���� Điều cũng hữu �ch để nh�n Bali như một x� hội đ� chia sẻ một văn h�a chung thời tiền Hồi Gi�o với Java nhưng đ� bảo tồn bản sắc của m�nh cho tới 1900, �t bị ảnh hưởng bởi bởi c�c � niệm về nh� nước của Hồi Gi�o hay người �u Ch�u.� Sau một giai đọan ngắn của sự thống nhất ch�nh trị b�n ngo�i c�ng l�c với phần lớn c�c x� hội Nam Dương kh�c ở đỉnh điểm của thời m� t�i mệnh danh l� �Kỷ Nguy�n Thương Mại (Age of Commerce) (tức v�o cuối thế kỷ thứ mười s�u/đầu thế kỷ thứ mười bẩy), Bali đ� quay về sự ph�n h�a v�o khỏang 1700.� Mặc d� bản chất của quốc gia Bali th� phức tạp v� mờ mịt, ch�ng ta biết được �t nhất rằng t�m ch�nh thể Bali được nh�n nhận trong c�c thế kỷ thứ mười t�m v� mười chin, tự ch�ng kh�c biệt nhau về mặt nội bộ, với hai vị vua ở trung ương, c�c d�ng d�i kết h�n nhiều tầng với nhau, v� c�c định chế mạnh mẽ chẳng hạn như c�c tổ hợp dẫn nước tưới ti�u (subak) v� c�c bandjars [c� lẽ để chi người thuộc sắc d�n Bandjar, du h�nh v� định cư nhiều nơi tr�n b�n đảo M� Lai v� Nam Dương, giỏi về thương mai, nhiều thế lực, ch� của người dịch] tr�n đ� c�c vi vua c� �t quyền kiểm so�t.� Như một vi�n chức H�a Lan bối rối đ� ghi nhận:

 

Kể từ lần đến đ�y đầu ti�n của m�nh, t�i đ� tự g�n cho m�nh nhiệm vụ l�m sao thu t�m được một bức tranh về mối quan hệ giữa c�c vị l�nh ch�a (rajas) �c�ch thức họ quản trị, quyền lực của họ, v.v� C�ng t�m hiểu về n�, t�i lại c�ng �. bị vướng mắc v�o một m� cung của c�c quan hệ v� quyền lợi gia đ�nh phức tạp (Schuurman, 1840, được tr�ch dẫn bởi Schulte Nordholt 1993, 291).

 

���� Văn h�a Bali th� tinh tế v� c� t�nh cấu kết nội tại � �t nhất kh�ng k�m x� hội kh�ng c� nh� nước của Minangkabau hay Batak.� Tuy nhi�n, điều đ� đ�nh kết n� lại với nhau, kh�ng phải l� một nh� nước tập trung h�a kiểu hiện đại, cũng kh�ng phải (mặc d� gần gủi hơn) một sự thực h�nh nghi thức như được ph�c thảo bởi t�c giả Geertz, m� đ�ng hơn một mạng lưới c�c mối quan hệ c� nh�n v� gia đ�nh phức tạp, được kho�c l�n một vẻ si�u nhi�n.

 

���� Khi ch�ng ta tiến đến c�c x� hội �t bị ảnh hưởng bởi c�c kiễu mẫu Ấn Độ hơn, nguy�n tắc đa nguy�n c�ng trở n�n r� rệt hơn, v� c�ng l�m kh� hiểu hơn hơn về t�nh bền bỉ của n�.� Maluku (c�c đảo Gia Vị), giờ đ�y được t�i khảo s�t một c�ch hữu hiệu bởi t�c giả Leonard Andaya, l� một trường hợp hấp dẫn bởi v� như nguồn cung cấp duy nhất về đinh hương v� hạt nhục đấu khấu tr�n thế giới cho đến cuối thế kỷ thứ mười t�m, n� đ� c� sự ch� � thường xuy�n hơn từ b�n ngo�i so với Java � hay trong thực tế, với bất kỳ nơi n�o kh�c tại � Ch�u.� Nếu c� một khu vực n�o c� thể được ước định sẽ khởi sinh ra một nh� nước mạnh để đối đầu với người ngoại quốc, v�ng đ� phải l� Maluku.� Song bất kể mọi nỗ lực của c�c người Hồi Gi�o đầu ti�n, sau đ� l� người Bồ Đ�o Nha, v� sau c�ng người H�a Lan nhằm vận dụng th�nh một quốc gia để chế ngự c�c nước kh�c, người d�n Malulu vẫn cương quyết, gần như cuồng t�n, giữ lấy t�nh đa nguy�n.� Hai nh� nước mạnh nhất, Ternate v� Tidore, tr�n c�c h�n đảo n�i lửa t� hon c�ch nhau c� năm c�y số, mặc d� trong suốt năm trăm năm g�y chiến với nhau v� c� mưu đồ với ngoại nh�n, nước n�y chưa từng bao giờ thu t�m nước kia.� Vượt qu� t�nh nhị nguy�n (hay lưỡng đầu: duality) chủ yếu n�y vốn được phổ biến khắp Maluku, đ� c� sự ph�n chia theo bốn hướng tượng trưng cho bốn phương, mang lại sự trội bật gần như đồng đều cho hai vương quốc hải đảo kh�c cũng c�ch nhau trong v�ng một ng�y đi thuyền.� Sự sống c�n v� li�n thuộc của c�c quốc gia n�y được xem l� cốt yếu cho sự an sinh của Maluku, ngay cả trong l�c ch�ng g�y chiến một c�ch t�n nhẫn chống lại nhau.� Sự li�n thuộc cần thiết của ch�ng đ� được giải th�ch r� r�ng trong c�c huyền thoại tỉ mĩ về nguồn gốc chung của hai, bốn hay nhiều nh� vua.� Như Andaya n�u ra:

 

C�c người �u Ch�u r� r�ng bị bối rối bởi c�c mối quan hệ. �Bất kể sự th� nghịch thề nguyền giữa hai vương quốc n�y, ch�ng vẫn tiếp tục cố vấn nhau chống lại bất kỳ hoạt động n�o của �u Ch�u c� thể đe dọa đến sự an ninh của nước kia � Ngay v�o giữa l�c c� chiến tranh, sự giao tiếp giữa d�n ch�ng của hai vương quốc vẫn được tiếp tục.� T�nh nhị nguy�n của Ternate v� Tidore nằm trong truyền thống về �bốn� vương quốc được nh�n như c� t�nh c�ch thiết yếu cho sự sống c�n của cả nh�m (Andaya 1993, 55).

 

���� Sự bối rối của người �u Ch�u về sự vắng b�ng c�c nh� vua Đ�ng Nam � để ho�n th�nh sự ước vọng của họ về chế độ qu�n chủ nhất nguy�n c� thể được sao ch�p khắp c�i Quần Đảo.� Một trong c�c lời b�nh luận đầu ti�n của người T�y Ban Nha về cơ cấu x� hội Phi Luật T�n đ� ghi nhận tương tự:

 

C�c cư d�n của c�c h�n đảo n�y kh�ng chịu lệ thuộc v�o bất kỳ luật lệ n�o, nh� vua hay l�nh ch�a n�o � Kẻ l�m chủ nhiều n� lệ nhất, v� l� người mạnh nhất, c� thể sở đắc bất kỳ điều g� như � th�ch của �ng ta � Họ kh�ng thừa nhận vị l�nh ch�a hay sự cai trị n�o, v� ngay c�c n� lệ của họ cũng kh�ng nằm dưới bất kỳ sự khuất phục lớn lao n�o đối với c�c chủ nh�n hay l�nh ch�a, chỉ phục vụ họ với một số điều kiện n�o đ�. (Legazpi, 1569, được tr�ch dẫn bởi Blair and Robertson, III: 54).

 

���� Ngay Raja Suleiman, vị vua của v�ng gần Phi Luật T�n nhất được đề nghị lập một quốc gia, đ� n�i với Legazpi rằng trong l�nh địa của �ng �mọi người đều c� nh�n quan v� � ki�n ri�ng của m�nh, v� h�nh động như m�nh muốn� (được tr�ch dẫn bởi Blair and Robertson, III: 325).

 

���� C�c quốc gia ch�nh được khai sinh tại hai phần ba ph�a đ�ng Quần Đảo hẳn đều đ� du nhập t�nh lưỡng đầu v� t�nh đa nguy�n s�u xa v�o m�i trường của họ.� Makasar, quốc gia h�ng mạnh nhất, được x�y dựng tr�n một chế độ lưỡng đầu kết ước giữa hai nước Gowa v� Tallo�, vốn đ� từng l� c�c li�n hiệp của bẩy hay chin d�ng tộc, tất cả đều c� quyền hạn r� r�ng của m�nh trong khu�n khổ vương quốc thống nhất.� Cả hai quốc gia Bugis v� Makasar đều được x�y dựng tr�n một m� thức li�n bang kết ước được tăng cường bởi c�c sự tuy�n thệ long trọng, một hệ thống được chứng minh đ� kh�ng cự một c�ch kh�c thường đối với chế độ chuy�n đo�n tập trung h�a. �Kẻ chinh phục H�a Lan tr�n xứ Makasar, kinh ngạc về một loạt c�c quyền hạn, hợp đồng v� nghĩa vụ cực kỳ phức tạp m� �ng ta l� kẻ thừa kế, ghi nhận rằng �C�c vị vua của Giowa v� Tallo� kh�ng thể phạm một l�i lầm n�o một khi bước ra khỏi cổng [cung điện] của m�nh.� (Speelman 1670).� C�c vương quốc Bugis được ph�t triển trong c�c thế kỷ thứ mười t�m v� mười ch�n đ� c� một cảm thức được khai triển xa hơn về chủ nghĩa kết ước giữa c�c cộng đồng địa phương, đ� tạo th�nh một hợp đồng x� hội để th�nh lập quốc gia.� Khi đặt nh� vua l�n ng�i, thủ lĩnh của mỗi d�ng tộc cấu th�nh đ� ph�t biểu theo nghi thức sự tự trị của m�nh: �T�i sẽ điều h�nh c�c c�ng việc của ri�ng m�nh, t�i sẽ duy tr� c�c c�ch thức của m�nh, t�i sẽ giữ lại tập qu�n của m�nh, chỉ khi n�o cần đến t�i sẽ hỏi � kiến của ng�i�.� Đổi lại, nh� vua đ� tuy�n bố với hội đồng: �T�i sẽ kh�ng đặt m�nh chống lại � muốn của c�c �ng; t�i sẽ kh�ng n�i ngược c�c lời của c�c �ng; t�i sẽ kh�ng ngăn cản c�c �ng từ bỏ Wajo� hay quay trở lại với n�. (được tr�ch dẫn bởi Pelras 1971, 173-5).

 

���� Sumatra, v� B�n Đảo đối diện với n�, c� lẽ cung cấp một sự tương đồng hữu dụng nhất cho xứ Ch�m cả về mặt sinh th�i lẫn kinh tế.� Eo biển Melaka, giống như biển ngo�i khơi duy�n hải Ch�m, l� một h�nh lang m� tất cả sự hải vận phải đi qua.� Chắc chắn rằng một số quốc gia h�ng hải sẽ ph�t khởi ở cả hai địa điểm hấp thụ chất dinh dưỡng của ch�ng từ luồng lưu th�ng chạy ngang qua.� Tuy nhi�n, bởi c�ng l� do, cả hai khu h�ng hải đều cực kỳ hấp dẫn đối với qu�n hải tặc, v� đồ cướp được th� phong ph� v� c�c cửa vịnh để ẩn trốn th� nhiều.� C�c t�i liệu c�n s�t lại về cả miền đ�ng Sumatra lẫn xứ Ch�m cho thấy một sự lu�n phi�n ho�n đổi giữa c�c thời kỳ v� chủ v� hải tặc, với c�c thời kỳ trong đ� một v�i nh� nước c� khả năng tạo lợi nhuận đủ để t�i trợ cho sự tuần tra hầu giữ trật tự tại c�c biển kề cận m�nh v� đ�i hỏi t�u hải vận phải cập bến hải cảng của m�nh m� kh�ng cần dung đến sự bạo động.

 

���� Cả hai miền đều cung ứng một số lượng nhiều con s�ng chảy từ v�ng nội địa s�u xa gi�u sản phẩm l�m nghiệp đổ xuống hải lộ.� Mỗi con s�ng c� một số khu định cư gần cửa s�ng với một tham vọng trở th�nh trạm trung chuyển quan trọng trong miền.� Kh�c với bất kỳ trung t�m quan trọng n�o đặt tr�n nền canh n�ng được tưới ti�u, hai miền đ� cung ứng �c�c cộng đồng rải r�c b�m lấy c�c thung lũng v� c�c đồng bằng duy�n hải� nằm giữa biển v� n�i, như� Mabbett (1986, 291) đ� viết về xứ Ch�m.� Lịch sử của Sri Vijaya v� c�c nh� nước Hồi Gi�o thừa kế của n� tại khu vực Eo Biển Melaka v� thế sẽ l� một h�nh ảnh tương đồng qu� b�u với xứ Ch�m mặc d� kh�ng c� c�c tiếp x�c thương mại giữa ch�ng.

 

���� Sri Vijaya giờ đ�y được nh�n nhận đ� h�nh xử thẩm quyền tr�n Eo Biển Melaka ở nhiều giiai đoạn kh�c nhau giữa thế kỷ thứ bẩy đến thế kỷ thứ mười một.� Song n� kh�ng để lại bằng chứng khảo cổ về bất kỳ kinh đ� quan trọng n�o , v� c� vẻ bị l�ng qu�n v�o ch�nh Sumatra cho đến khi c�c nh� đ�ng phương học của Ph�p �kh�m ph� ra n� trong thập ni�n 1920.� Như t�c giả Wolters đ� diễn tả, �sự bất định nổi tiếng về khoảng c�ch địa l� v� c� t�nh ch�nh trị của n� l� một th� dụ nổi bật về bản chất v� định h�nh của c�c m� h�nh thu nhỏ (mandalas) vĩ đại trong lịch sử Đ�ng Nam � trước đ�y�.� Mặc d� một sự đồng thuận xuất hiện giờ đ�y rằng thủ đ� của n� trong phần lớn thời kỳ phải ở gần Palembang ng�y nay, c�c sự tuy�n x�c cạnh tranh kh�c cũng đ� được đưa ra cho v�ng Jambi tại Sumatra, v� nhiều điểm kh�c thuộc v�ng ng�y nay thuộc miền nam Th�i Lan.� Trong c�c thời kỳ gần hi�n đại hơn, di sản của Sri Vijaya được lan tỏa khắp một x� hội to lớn gồm c�c cảng ở cửa s�ng của cả Sumatra v� B�n Đảo M� Lai.� Ngay Melaka, cảng lớn nhất tại Đ�ng Nam � khoảng 1500, cũng đ� kh�ng thể khởi sự để thống nhất với khu vực �M� Lai� n�y của v�ng Eo Biển Melaka, v� n� đ� tức thời quay trở về t�nh trạng ph�n h�a tự nhi�n của n� với sự sụp đổ của Melaka v�o năm 1511.

 

���� Trong thời gian gần đ�y hơn, Sumatra thường trực l�m thất vọng c�c vi�n chức �u Ch�u vốn kỳ vọng việc thương thảo với c�c nh� vua sẽ r�ng buộc được c�c thần d�n của họ.� C�c nh� vua hiện diện tại Sumatra, trong một v�i trường hợp với thẩm quyền trung ương nhất thời trong thời cực thịnh của kỷ nguy�n thương mại.� Nhưng khi c�c nguồn gốc của quyền lực đ� phai nhạt, t�nh trạng đa nguy�n nội tại xem ra l� một phần vững chắc của cơ cấu x� hội Sumatra lại t�i xuất hiện.� Tại mỗi l�nh địa duy�n hải, c� một t�nh trạng đa nguy�n ngay trong cốt l�i, được tượng trưng bởi giới orangkaya [từ ngữ trong tiếng M� Lai chỉ c�c người c� thế lực, ch� của người dịch] với một quyền lợi về thương mại, tầng lớp m� nếu kh�ng c� sự ủng hộ, c�c vị l�nh ch�a sẽ thực sự kh�ng l�m được g� cả.� Cũng c� một cơ chế lưỡng đầu nội tại kh�c giữa c�nh hạ lưu (hilir) v� c�nh thượng nguồn (hulu) của quốc gia, c�nh sau kh�ng bao giờ c� nhiều hơn ngo�i một sự trao đổi hỗ tương c� điều kiện với v�ng kinh đ�.� Một số lượng lớn c�c con s�ng trọng yếu bảo đảm cho một con số gần như ngang bằng c�c thủ lĩnh nhỏ ở cửa s�ng, c�c kẻ đ�i khi c� gửi cống phẩm cho thủ lĩnh kh�c c� uy t�n lớn hơn, nhưng đ�i khi kh�ng gửi g� cả.� Vượt qu� điều n�y l� một t�nh trạng tự trị vẫn c�n g�y nhiều t� m� hơn của chế độ quận huyện tự quản (nagari) của v�ng Minangkabau [thuộc sắc d�n Minang hay Padang, sống tại cao nguy�n ph�a t�y đảo Sumatra v� nhiều nơi kh�c tr�n b�n đảo M� Lai, theo mẫu hệ, ch� của người dịch] v� c�c l�ng (huta) của Batak [sắc d�n sống tại cao nguy�n miền Bắc Sumatra, theo phụ hệ, ch� của người dịch], d� thế, đ� d�nh l�u với c�c mối tương quan phức tạp về thương mại, chiến tranh v� văn h�a.� Ch�ng đều thừa nhận vị vua tại Pagarruyung l� c� quyền lực si�u nhiện đến một mức độ m� người �u Ch�u thấy kh� c� thể hiểu được.� Ngay người d�n Batak xa x�i cũng tin tưởng rằng nếu vị thế của nh� vua bị th�ch đố, �c�c c�ng việc của họ sẽ kh�ng bao giờ đ�ng đắn, rằng th�c l�a của họ sẽ bị t�n ph�, v� tr�u b� của họ bị chết�, như t�c giả Marsden đ� viết.� Song thẩm quyền của c�c vị vua n�y c� một t�nh chất ho�n to�n kh�c với thẩm quyền trong truyền thống thời Phục Hưng tại �u Ch�u.� Kh�ng c� c�c nguồn t�i nguy�n từ định chế hay kinh tế để ảnh hưởng đến th�i độ của c�c thần d�n của m�nh, ch�nh uy t�n của họ đ� mang tầm quan trọng đến cho họ.� Giống như Singamangaraja [? l�nh ch�a] của v�ng Batak, vị l�nh ch�a (raja) của v�ng Pagaruyung đ� hiện hữu trong một kh�ng gian kh�ng c� c�ch n�o kiềm chế được t�nh trạng tự trị phức tạp của x� hội Sumatra (Drakard 1993).

 

���� Thực thể x� hội khi đ� l� một t�nh trạng đa nguy�n cực đoan, đ�i khi l�n đến một mức độ rối loạn.� Tuy nhi�n, � thức hệ về ngai vua, đ� kh�ng t�n dương qu� đ�ng sự đa dạng n�y khi t�m c�ch ngụy trang hay hấp thụ n� v�o trong c�c ẩn dụ của t�nh đơn nhất (oneness).� Người ta c� thể n�i rằng khi c�c sự tự trị do kết ước c�ng lớn hơn trong x� hội � như của người d�n Minangkabau, Bugis, v� Bali � c�c sự x�c định t�nh trung t�m vương giả trong mối quan hệ giữa con người v� vũ trụ c�ng cao cả hơn.� C�c nh� l�nh đạo Minangkabau tuy�n bố trong c�c văn thư v� ấn t�n của m�nh rằng họ l� c�c kẻ thừa kế ngang h�ng với c�c nh� vua Trung Hoa v� v�ng Constantinople [tức Istambul, giữa �u-� ch�u ng�y nay, ch� của người dịch] tr�n phần di sản của nh� chinh phục thế giới Alexander Đại Đế, trở th�nh khalif (người phụ t�) hay b�ng h�nh của Thượng Đế tr�n trần thế (zil�ullah f�il balam), để thụ đắc trong mọi c�ch c�c phần thừa kế m�u nhiệm của c�c đế quốc đ� qua, v� để c� khả năng đ�nh chết một c�ch huyền nhiệm bất kỳ kẻ n�o nghi ngờ c�c sự tuy�n x�c n�y.� Như t�c giả Jane Drakard (1993) đ� cho thấy, c�c từ ngữ khoa trương n�y đ� hữu hiệu trong việc ph�ng chiếu quyền lực của Minangkabau ra ngo�i, tr�n khắp đảo Sumatra v� xa hơn nữa, mặc d� ch�ng hiển nhi�n kh�ng c� c�ch n�o (ngoại trừ bằng chiến tranh đ�i khi) để giới hạn sự tự trị của nagari [c�c quận huyện] v�ng Minangkabau.

 

���� Một trong những nỗ lực đ�ng lưu � hơn để giải th�ch khu�n mẫu c�c quốc gia đa nguy�n nội tại n�y (c� thể n�o được gọi bằng một danh xưng kh�c đ�ng hơn) l� sự sử dụng � niệm trong tiếng Phạn (Sanskrit) l� mandala [phi�n �m sang tiếng Việt l� mạn đ� la, chỉ m� h�nh thu nhỏ của vũ trụ quan, ch� của người dịch] của t�c giả Oliver Wolters:

 

M� h�nh mạn đ� la tượng trưng cho một t�nh trạng ch�nh trị đặc biệt v� thường kh�ng ổn cố tại một khu vực địa dư được x�c định một c�ch mơ hồ kh�ng c� c�c bi�n giới cố định v� l� nơi m� c�c trung t�m nhỏ hơn c� khuynh hướng quy chiếu về từ mọi hướng đề mưu t�m sự an ninh.� C�c m� h�nh mạn đ� la sẽ b�nh trướng v� co r�t lại trong cung c�ch giống như đ�n phong cầm (concertina).� Mỗi một m� h�nh mạn đ� la bao gồm một số c�c thủ lĩnh triều cống, một sồ người trong họ sẽ phủ nhận vị thế chư hầu của m�nh khi c� cơ hội v� cố gắng x�y dựng c�c mạng lưới chư hầu cho ch�nh m�nh (Wolters 1982, 17).

 

���� T�i muốn bổ t�c th�m v�o � niệm n�y bản chất c� thực chất tinh thần của quyền lực, c� thể biến danh t�nh của một nh� cai trị th�nh uy lực tới c�c nơi rất xa x�i, trong khi c�ng một lức, c�c chư hầu nằm ngay trong tầm với của �ng ta v� gần kinh đ� của �ng lại ho�n to�n tự trị trong sự việc thường ng�y.

 

���� T�i c� khuynh hướng t�n th�nh quan điểm của t�c giả Kenneth Hall rằng �ch�nh thể Ch�m c� nhiều phần giống với c�c quốc gia ven s�ng của M� Lai � hơn l� với c�c nước l�ng giềng ở đồng bằng l�a nước tr�n đất liền ở phương t�y v� phương bắc� (Hall 1992, 253).�� Sự linh động v� t�nh đa trạng nội tại đặc trưng của c�c quốc gia n�i tiếng Nam � Đa Đảo ph�c họa ở tr�n r� r�ng cũng l� một đường n�t trong lịch sử của Ch�m.� T�c giả Hall c� tr�nh b�y một bức tranh về một chuỗi c�c sự li�n minh �được định chế h�a một c�ch yếu ớt� tại xứ Ch�m, giữa c�c thủ lĩnh của c�c hệ thống s�ng ng�i kh�c nhau, mỗi kẻ trong họ đưa ra sự tuy�n x�c c�c quyền lực tinh thần v� ma thuật để hậu thuẫn cho một thẩm quyền kh�ng thể được bảo đảm bằng c�c c�ch kh�c.� Thiếu một căn bản tại nguy�n n�ng ngiệp ổn định, họ t�ng chập tổ chức c�c cuộc viễn chinh để thu nhận vật phẩm cướp b�c c� thể được ph�n phối cho c�c đền thờ hay c� nh�n nhằm chống đỡ cho thẩm quyền mong manh của họ (Hall 1992, 252-60).

 

���� Bức tranh của t�c giả Hall về �một nền kinh tế ch�nh trị dựa tr�n sự cướp b�c� c� thể bị tranh nghị đối với xứ Ch�m trong những thời kỳ thịnh đạt hơn của n�, giống như t�nh trạng đ� diễn ra cho Sri Vijaya, Brunei, hay c�c ch�nh thể h�ng hải thuộc nh�m ngữ tộc Nam � Đa Đảo kh�c.� Tuy nhi�n, c� nhiều điều được thu nhận hơn khi nh�n tất cả c�c thể chế n�y trong khung cảnh rộng lớn hơn của ch�ng./- ����������

� ��������������������������������

_____

� �������������� ����

 

S�CH THAM KHẢO

 

 

Andaya Barbara, 1993.� To Live as Brothers, Southeast Sumatra in the Seventeenth and Eighteenth Centuries.� Honolulu: University of Hawaii Press.

 

Aymonier, �tienne, 1891.� Les Tchames et leurs religions.� Paris: Ernest Leroux.

 

Babad Tanah Jawi.� Babad Tanah Djawi: Javaanse Rijkskroniek.� W. L. Olshof�s vertaling van de prozaversie van J. J. Meinsma lopende tot het jaar 1721.� Bản tu sửa bi�n tập bởi J. J. ras.� Dordrecht: Foris for KITLV, 1987.

 

Bellwood, Peter, 1992.� �Southeast Asia before History�, in Tarling, 1992, I: 55-136.

 

Beyer, H. Otley, 1979.� �The Philippines before Magellan�, trong Readings in Philippine Prehistory, ed. Mauro Garcia.� Manila: Filipiniana Book Guild.

 

Blair, E. H. and J. A. Robertson, eds. 1903-9.� The Philippine Islands, 1493-1898, 55 tập.� Cleveland: Arthur Clark.

 

Chambert-Loir, H. 1987.� �Notes sur les relations historiques et litt�raires entre Campa et monde malais�, trong Actes de seminaries (xem tr�n), 95 � 106.

 

Chandra, Satish, ed. 1987.� The Indian Ocean Explorations in History, Commerce and Politics.� New Delhi: Sage Publications.

 

Chaudhuri, K. N. 1985.� Trade and Civilisation in the Indian Ocean, an Economic History from the Rise of Islam to 1750.� Cambridge: Cambridge University Press.

 

Co�des, Georges, 1968.� The Indianized States of Southeast Asia, trans. Susan Brown Cowing.� Honolulu: East-West Center Press.

 

Couto, Diego do, 1645.� Da Asia.� Nine decades.� Lisbon: Regia Officina Typografica, 1778-88.� Reprint.� Lisbon, 1974.

 

Dampier, William, 1697.� A New Voyage Round the World, ed. Sir Albert Gray.� London: Argonaut Press, 1927.

 

Das Gupta, Ashin and M. N. Pearson, eds. 1987.� India and the Indian Oceạn� Calcutta.

 

Drakard, J. 1993.� �A Kingdom of Words�: Minangkabau Sovereignty in Sumatran History�, Luận �n tiến sĩ.� Australian National University.

 

Hall, K. R., 1992.� �Economic History of Early Southeast Asia�, trong Tarling 1992, I: 183 � 275.

 

Hikayat Banjar.� A Study in Malay Historiography, ed. J. J. Ras.� The Hague: Nijhoff for KITLV, 1968.

 

Houben, V. J. H., H. M. J. Maier and W. van der Molen, 1992.� Looking in Old Mirrors: The Java Sea.� Leiden: Vakgroep Talen en Culturen van Zuidoost-Azi� en Oceani�.

 

Kathirithamby-Wells and J. Villiers, eds. 1990.� The Southeast Asian Port and Polity: Rise and Demise.� Singapore: Singapore University Press.

 

Kulke, Hermann, 1986.� �The Early and Imperial Kingdom in Southeast Asian History�, trong s�ch bi�n tập bởi Marr and Milner, 1986.

 

Lafont, P. � B. 1987.� Apercu sur les relations entre le Campa et l�Asie du Sud-Est�, trong Actes du seminaries (xem tr�n), 71-82.

 

Lombard, Denys, 1981.� �Campa Dipandang dari Selatan�, trong Kerajaan Campa, ed. EFEO.� Jakarta, Balai Pustaka, 285-95.

 

Lombard, D. and Jean Aubin, eds. 1988.� Marchands et homes d�affaires asiatiques dans l�Oc�an Indien et la mer de Chine 13e � 20e si�cles.� Paris: EHESS.

 

Mabbett, Ian, 1986.� �Buddhism in Champa�, trong s�ch bi�n tập bởi Marr and Milner, 1986.

 

Manguin, Pierre-Yves, 1979.� �L�Introduction de l�Islam au Campa�, BEFEO 66: 255-69.

 

Matelief, Cornelis, 1608.� �Historische verhael vande treffelijcke reyse, gedaen near de Oost-Indien ende China�, trong Begin ende Voortgang (xem tr�n)

 

Meilink-Roelofsz, M. A. P. 1969.� Asian Trade and European Influence in the Indonesian Archipelago between 1500 and about 1630.� The Hague: Nijhoff.

 

 

Mills, J. V. G., 1979.� �Chinese Navigators in Insulinde about 1500 A. D.�, Archipel 18: 69-94

 

Pelras, J. C. 1971.� �Hi�rarchie et pouvoir traditionnels en pays Wajo (Celebes)�, Archipel 1: 169-91; 2: 197-223.

 

Pigeaud, Th. G. Th. 1960-3.� Java in the Fourteenth Century: A Study in Cultural History, 4 vols.� The Hague: Nijhoff for KITLV.

 

Pinto, Fern�o Mendes, 1578.� The Travels of Mendes Pinto, trans. Rebecca Catz.� Chicago: University Chicago Press, 1989.

 

Pires, Tom�, 1515.� The Suma Oriental of Tom� Pires, trans. A. Cortesao, 2 vols.� London: Hakluyt Society, 1944.

 

Ptak, Riderich and Dietmar Rothermund, eds. 1991.� Emporia, Commodities and Entrepreneurs in Asian Maritime Trade, c. 1400 � 1750.� Stuttgart: Franz Steiner Verlag.

 

Pyrard, Francis, 1619.� The Voyage of Francis Pyrard of Laval to the East Indies, the Maldives, the Moluccas, and Brazil, trans. A. Gray, 2 vols.� London: Hakluyt Society, 1887-89.

 

Reid, Anthony, 1988.� Southeast Asia in the Age of Commerce 1450-1680.� Vol. 1: The Lands Below the Winds, New Haven: Yale University Press.

 

Reid, Anthony, 1993a.� Southeast Asia in the Age of Commerce, Vol. II: Expansion and Crisis.� New Haven: Yale University Press.

 

Reid, Anthony, 1996.� �Flows and Seepages in the Long-term Chinese Interaction with Southeast Asia�, trong Sojourners and Settlers: Histories of Southeast Asia and the Chinese.� Ed. Reid.� Sydney: Allen & Unwin for ASAA.

 

Ricklefs, M. C., 1992.� �Unity and Disunity in Javaese Political and Religious Thought of the Eighteenth Cemtury�, trong Houben et al. 1992.

 

Robson, Stuart O., 1981.� �Java at the Crossroads�, BKI 137.

 

Schulte Nordholt, H., 1993.� �Leadership and the Limits of Political Control.� A Balinese �Response� to Clifford Geertz�, Social Anthropology 3: 291-307.

 

Scott, William Henry, 1984.� Prehispanic Source Materials for the Study of Philippine History.� Ấn bản c� tu chỉnh.� Quezon City: New Day.

 

Sedjarah Goa.� Kh�ng c� nhật kỳ xuất bản.� Bản k� �m bằng mẫu tự la m�, với bản dịch sang tiếng Nam Dương, bi�n tập bởi G. J. Wolhoff v� Abdurrahim.� Makassar: Jajasan Kebudajaan Sulawesi Selatan and Tenggara.

 

Sejarah Melayu, ed. W. G. Shellabear.� 10th ed.� Singapore: Malaya Publishing House: 1961.

 

Skinner, C., ed. 1963.� Sja�ir Perang Mengkasar (The Rhymed Chronicle of the Macassar War) của Entji Amin, VKI 40.� The Hague: Nijhoff.

 

Speelman, Cornelis, 1670.� �Notitie dienende voor eeneen Korten Tijd en tot nadir last van de Hooge Regeering op Batavia voor den onderkoopman Jan van Oppijnen�, 3 vols.� Bản đ�nh m�y được lưu trữ tại KITLV, Leiden.

 

Tarling, Nicholas, bi�n t�p.� 1992.� The Cambridge History of Southeast Asia, 2 vols., Cambridge University Press.

Wade, Geoffrey, 1991.� �The Ming Shi-lu� as a Source for Southeast Asian History � 14th to 17th Centuries�.� B�i tham luận đọc tại Hội Nghị Kỳ Thứ Mười Hai của Hội Sử Gia Quốc Tế về � Ch�u, Hồng K�ng.

 

Warren, J. F. 1981.� The Sulu Zone 1768-1898: The Dynamics of External Trade, Slavery, and Ethnicity in the Transformation of a Southeast Asian maritime State.� Singapore: Singapore University Press.

 

Wisseman, Jan, 1977.� �Markets and Trade in pre-Majapahit Java�, trong tập Economic Exchange and Social Interaction in Southeast Asia, ed. K. L. Hutterer.� Michigan Papers on South and Southeast Asia.

 

Wisseman, Jan, 1986.� �Negara, Mandala, and Despotic State: Images of Early Java�, trong s�ch bi�n tập bởi Marr and Milner, 1986.

 

Wolters, O. W. 1970.� The Fall of Srivijaya in Malay History.� London: Lord Humphries.

 

Wolters, O. W. 1982.� History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives.� Singapore: ISEAS.

 

Wusthoff, Gerrit, 1642.� �Journael van de reyse near de Lauwen-Landt door Gerrit Wuysthoff, 20 Juli 1641 tot 24 October 1642�, in De Oost-Indiche Compagnie in Cambodia en Laos: verzameling van bescheiden van 1636 tot 1670, ed. Hendrik Muller.� The Hague: Linschoten-Vereniging, 1917.

 

 

____

 

 

PHỤ LỤC 1: KHẢO CHỨNG NGỮ HỌC

 

H�nh 1: C�C NGUỒN GỐC NG�N NGỮ, nguồn: Theo một biểu đồ của Phillip Ẹ Ross, trong b�i �Hard Words�, tạp ch� Scientific American, April 1991, trang 139, được �tr�ch dần bởi H. J. de Blij v� Alexander B. Murphy, Human Geography: Cultural, Society, and Space, ấn bản lần thứ s�u, xuất bản bởi John Wiley & Sons, Inc, năm 1991 tại New York, trang 128

 

 

H�nh 2: C�c Giai Đọan B�nh Trướng Của Ngừ Tộc Austronesian.� M� h�nh l�nh địa Th�i B�nh Dương của t�c giả Bellwood tr�nh b�y c�c giai đoạn trong sự b�nh trướng c�c ng�n ngữ thuộc nh�m Austronesian.� Nguồn: phỏng theo P. Bellwood, �The Austronesian Dispersal and the Origin of the Languages�, tạp ch� Scientific American, 1991, trang 88, trang 139, được tr�ch dần bởi H. J. de Blij v� Alexander B. Murphy, Human Geography: Cultural, Society, and Space, ấn bản lần thứ s�u, xuất bản bởi John Wiley & Sons, Inc.,� năm 1991 tại New York, trang 130.� Phần văn bản được dịch dưới đ�y l� từ trang 129 đến trang 131.� Để � l� bản đồ vẽ sự khuếch t�n xuất ph�t từ xứ Ch�m, thuộc duy�n hải Trung Phần Việt Nam ng�y nay.

 

 

SỰ KHUẾCH T�N NG�N NGỮ TẠI V�NG TH�I B�NH DƯƠNG

 

 

���� C�c giai đọan cuối c�ng của sự lan truyền c�c ng�n ngữ cổ hơn � trước khi c� sự khuếch t�n to�n cầu của Anh ngữ v� c�c ng�n ngữ Indo-European (Ấn-�u) kh�c � đ� diễn ra tại l�nh vực Th�i B�nh Dương v� tại Mỹ Ch�u.� Người ta c� thể giả định rằng địa dư lịch sử của c�c diễn biến n�y sẽ dễ d�ng t�i tạo hơn so với t�nh trạng phức tạp tại ph�a t�y miền Eurasia (�u-�).� Sau hết, người d�n đ� ch�o xuồng băng ngang Th�i B�nh Dương mang theo ng�n ngữ của họ đến c�c h�n đảo kh�ng c� người cư ngụ.� Tương tự, kh�ng c� sự hội tụ ngữ học với c�c ng�n ngữ c� mặt từ trước tại Mỹ Ch�u.� V� thế, nếu ch�ng ta cần đến một khu vực trắc nghiệm cho sự ph�n nh�nh ngữ học m� kh�ng gặp �nhiễu �m�, c�c h�n đảo Th�i B�nh Dương v� Mỹ Ch�u xem ra l� c�c ph�ng th� nghiệm tự nhi�n rất tốt.� Nhưng khi ch�ng ta khảo s�t c�c sự tranh luận về c�c ng�n ngữ bản xứ v�ng Th�i B�nh Dương v� Mỹ Ch�u, ch�ng ta sẽ thấy c�c vấn đề lien hệ kh�ng đơn giản ch�t n�o.

 

Sự Khuếch T�n Tại Th�i B�nh Dương

 

���� Trong cuộc thảo luận của ch�ng ta về sự ph�n t�n của nh�n loại, ch�ng ta đ� ghi nhận rằng c�c người đầu ti�n đến c�c h�n đảo Th�i B�nh Dương, trề tr�ng như thế n�o; c�c ngừoi Polynesian đ� đặt ch�n tới T�n T�y Lan chưa đầy 1000 năm trước đ�y.� Mặt kh�c, �c Đại Lợi đ� được vươn tới khoảng từ 50,000 đến 60,000 năm trước đ�y, v� nh�n số đầu ti�n của New Guinea hẳn đ� phải đến đ� sớm hơn nữa bởi con đường dẫn đến v�ng đất bao la ở ph�a nam đi ngang qua đảo n�y. Người Papua cũng như c�c thổ d�n �c Đại Lợi đ� l� c�c kẻ săn bắn � thu lượm, mặc d� c� bằng cớ khảo cổ rằng sự trồng trọt thu h�i củ đ� bắt đầu xảy ra tại New Guinea từ 6000 năm trước đ�y, dẫn đến sự tăng trưởng d�n số v� sự b�nh trướng d�n số Papua về hướng đ�ng tới c�c đảo Solomon v� vế hướng t�y tới Nam Dương ng�y nay.� Sự b�nh trướng n�y đ� mang c�c n�ng d�n đến tiếp x�c với c�c kẻ thu lượm săn h�i, v� v� thế, bức tranh khảm ngữ học của New Guinea v� c�c h�n đảo gần kề cực kỳ phức tạp.

 

���� Nhưng sự khuếch t�n con người v� ng�n ngữ của họ tại v�ng Th�i B�nh Dương ph�a bắc Nam Dương v� New Guinea đ� kh�ng khởi sự từ c�c khu vực n�y.� Thay v�o đ�, n� đ� bắt đầu từ v�ng duy�n hải Trung Hoa, nơi m� việc canh t�c đ� được thiết lập một c�ch ho�n hảo.� C�c ng�n ngữ Trung Hoa v� Đ�ng Nam � đ� trải qua nhiều chuyển thể; diễn tiến c� lẽ cũng tương tự như tiến tr�nh từ nh�m ngữ tộc Nostratic từ thời tiền n�ng d�n sang nh�m Proto-Indo-European của c�c d�n canh t�c.� Một ng�n ngữ tổ truyền đưa đến ngữ tộc Austro-Tai (�c-Th�i) v� từ ngữ tộc n�y ph�t sinh ra nh�m Austronesian (Nam � Đa Đảo).� C�c nh� địa dư ng�n ngữ tin rằng c�c người n�i ng�n ngữ n�y (với nhiều từ ngữ về gạo, đồng l�a, canh t�c, tr�u, c�i c�y, v� xuồng) đ� đến Đ�i Loan khoảng 6000 năm trước đ�y.� V�i thế kỷ sau đ�, c�c người n�i tiếng Austronesian t�m c�ch đến được Phi Luật T�n.� Sư di chuyển n�y g�y ra sự ph�n chia nh�m Austronesian th�nh hai thổ ngữ sau n�y đ� được ph�t triển th�nh nhiều ph�n nh�m (chi tộc).� Một trong c�c chi tộc n�y, Malayo-Polynesian, đ� trở th�nh tiền th�n của một số đ�ng nhiều ng�n ngữ, kể cả những tiếng đựoc n�i bởi c�c kẻ định cư đầu ti�n tại đảo Madagascar, c�c đảo của Melanesia v� Micronesia, Fiji (nơi m� tiếng Fijian l� một chi nh�nh biệt lập của ph�n nh�m Malayo-Polynesian), v� T�n T�y Lan, nơi m� thổ d�n Maori n�i tiếng Polynesian, một chuyển ngữ kh�c của nh�nh n�y.

 

���� Cứu x�t đến bản chất bị ph�n t�n bởi nước biển của l�nh phận Th�i B�nh Dương, tiến tr�nh khuếch t�n n�y diễn ra kh� mau lẹ.� Ch�ng ta c� thể thắc mắc rằng tại sao phải đợi qu� l�u để Cuộc C�ch Mạng N�ng Nghiệp tại v�ng Đ�ng � Ch�u mới k�ch th�ch sự xuất cảnh đến c�c h�n đảo ngo�i khơi bờ biển � Ch�u, nhưng sau đ� c�c di d�n đ� mau ch�ng trải rộng từ Madagascar ở hướng t�y cho đến đảo Easter Island ở hướng đ�ng.� Tất cả v�ng ph�a đ�ng của Polynesia được định cư trong khoảng v�i thế kỷ. (Xem ch� th�ch H�nh 2).

 

���� Mặc d� c�c d�ng tộc của c�c ng�n ngữ Austronesian ng�y nay được am tường hơn, vẫn c�n nhiều điều cần t�m hiểu về c�c l� do đ�ng sau sự phức tạp của bản đồ ng�n ngữ Th�i B�nh Dương.� Liệu c�c l�n s�ng lien tiếp của sự x�m nhập đ� c� k�ch th�ch sự ph�n nh�nh trong c�c ng�n ngữ Malayo-Polynesian hay kh�ng? Hay sự kh�c biệt l� do sự biệt lập?� V� vẫn c�n c�c c�u hỏi về tổ t�ng nh�m Austronesian.� C�c nh� ngữ học kh�ng c� m� thức tương tự như m� thức Nostratic cho c�c ng�n ngữ của v�ng � Ch�u lục địa.� Hiện trường ng�n ngữ Th�i B�nh Dương ch�nh v� thế kh�ng đơn giản ch�t n�o.

 

 

PHỤ LỤC 2: KHẢO CHỨNG KHẢO CỔ HỌC

 

H�nh 3: Sự Ph�n Bố C�c Ngữ Tộc v� C�c Ng�n Ngữ Ch�nh tại Đ�ng Nam � (theo Bellwood 1992), trong quyển The Bronze Age of Southeast Asia, của Charles Higham, Gi�o Sư tại University of Chicago, do Cambridge University Press xuất bản, năm 1996, trang 6.� Phần văn bản được dịch dưới đ�y l� từ trang 304 đến 308.

 

 

Đồng Bằng Duy�n Hải Trung V� Nam Phần Việt Nam

 

Đồng bằng rộng lớn của Bắc Bộ dẫn đường xuống ph�a nam, trước ti�n đến c�c con s�ng M� v� song Cả, v� sau đ� đến một giải duy�n hải hẹp bị xuy�n ngang bởi một loạt c�c con s�ng bắt nguồn từ Rặng Trường Sơn.� Ch�nh khu vực n�y đ� thu h�t sự định cư thời Đồ Đồng như được nhận thấy ở B�nh Ch�u, một khu định cư với c�c ng�i mộ được mai t�ng tọa lạc tại Thung Lũng s�ng Thu Bồn.� Con s�ng n�y mang lại sự tiếp cận vắt ngang qua c�c ngọn n�i tới lưu vực s�ng Mekong.� Địa điểm khai quật đ� thu lượm được c�c nồi bằng kim loại, c�c khu�n đ�c, một lưỡi r�u c� hốc (ổ) để tra c�n v� một đầu mũi t�n c� ngấn.� T�c giả Ng� Sĩ Hồng (1980) cho rằng địa điểm thuộc v�o cuối thi�n ni�n kỷ thứ nh� hay đầu thi�n ni�n kỷ thứ nhất.

 

���� Sự định cư kế tiếp của khu vực n�y tượng trưng cho một sự t�ch rời quan trọng khỏi tất cả c�c cộng đồng Thời Đồ Sắt kh�c tr�n lục địa �Đ�ng Nam �.� �Việc thẩm định điểm kh�c biệt của khu vực n�y được hiểu đ�ng nhất theo tr�nh tự, [theo] nền văn minh lịch sử của duy�n hải Việt Nam.� C�c bia k� đầu ti�n, đi c�ng với Ấn Độ Gi�o v� kiến tr�c đền thờ li�n hệ, kể cả c�c đoạn văn bằng tiếng Ch�m, một ng�n ngữ Austronesian c� c�c sự tương đồng gần nhất với c�c ng�n ngữ Acehnese v� Malayic được n�i tại miền T�y Nam Borneo, v� thật kh� t�m được một giải ph�p thay thế n�o kh�c cho sự định cư của miền duy�n hải Việt Nam từ khu vực n�y.

 

���� T�c giả Solheim (1959) đ� t�m lược sự kh�m ph� nền văn h�a Sa Huỳnh, tượng trưng cho tiền th�n cuối thời tiền lịch sử của văn minh Ch�m.� Trong năm 1909, �ng Vinet, một thanh tra quan thuế, c� b�o c�o một nh�m c�c chum (vại) mai t�ng lớn, chứa c�c hạt chuỗi bằng đ� v� c�c nồi đun trong c�c cồn c�t gần Sa Huỳnh.� Mười bốn năm sau, địa điểm được khảo s�t kỹ hơn bởi B� Labarre, trong thời gian đ�, Henri Parmentier c� đến thăm viếng c�c nơi thăm d�, đ�ch th�n khai quật trong một hay hai ng�y, v� sau đ� tự m�nh xuất bản c�c t�i liệu (Parmentier 1918b).� C�c cuộc điều tra s�u xa hơn tại khu vực hẳn phải l� một nghĩa trang to lớn đ�ng nể đ� diễn ra trong năm 1934 dưới sự chỉ huy của Colani, v� bởi Janse năm năm sau đ�.� Parmentier đ� m� tả một tập hợp vật dụng mai t�ng điển h�nh như gồm c�c chiếc thuyền bằng đất nung nhỏ, c�c dụng cụ bằng sắt, c�c hạt bằng đ� carnelian m�u đỏ v� bằng thủy tinh, v� đ�i khi c�c đồ đồng, kể cả c�c quả chu�ng.� Solheim (1959) c� ghi nhận rằng c�c đồ đồng th� tương đối hiếm trong c�c chum ch�n cất tại Sa Huỳnh v� địa điểm khai quật tương tự tại Phu Co [?], c�ch 5 km về ph�a bắc, nơi m� Colani đ� khai quật 187 chum hồi năm 1937.� C�c vật khai quật được gồm một v�ng đeo tay, c�c c�i chu�ng nhỏ v� một chiếc thuyền.� Tuy nhi�n đồ bằng sắt th� phong ph� hơn v� gồm c�c cuốc c� hốc tra c�n v� c�c con dao ngắn hay lưỡi kiếm, cũng như một loạt đ�ng kể c�c tượng h�nh s�c vật.� C�c thuyền mai t�ng c� nắp đậy, lớn, thường c� lớp bọc ngo�i m�u đỏ [?] v� được trang tr� bằng c�c họa tiết b�n ngo�i, kh�ng đồng điệu với bất kỳ tập hợp đồ mai t�ng n�o tr�n lục địa, nhưng Solheim (1964) đ� nhấn mạnh đến c�c sự tương đồng của ch�ng với c�c đồ mai t�ng của d�n Kanalay ở Phi Luật T�n.

 

���� Sự hiểu biết của ch�ng ta về văn h�a Sa Huỳnh n�y được mở rộng đ�ng kể kể từ khi c� c�c cuộc điều tra ban đầu n�y.� C�c địa điểm nằm trong khoảng ngay s�t ph�a nam đ�o Hải V�n cho đến v�ng phụ cận S�ig�n, chạy d�i tr�n 700 c�y số bờ biển.� C�c t�c giả Ng� Sĩ Hồng v� Trần Qu� Thịnh (1991) đ� khảo s�t một nghĩa trang mai t�ng trong c�c chum (vại) tại Hậu X� [?], th� dụ, v� đ� kh�m ph� ra c�c thuyền t�ng quy tụ nhau th�nh từng nh�m.� C�c t�c giả đ� quy kết c�c mộ n�y thuộc v�o thời cuối văn h�a Sa Huỳnh, v� n�u � kiến rằng n� đ� ph�t triển, trong c�c thể �kỷ đầu sau C�ng Nguy�n, nhập v�o văn minh của Ch�m.� Tại mỏm cuối ph�a nam của giải đất n�y, Fontaine (1972) đ� khảo s�t bốn mươi chum mai t�ng, được ch�n th�nh từng nh�m, tại Ph� H�a [?].� Hai thời điểm x�t nghiệm bằng carbon được thu nhận (1408-38 v� 814-164 trước C�ng Nguy�n), cho thấy c� sự cư ngụ trong hậu b�n thi�n ni�n kỷ thứ nhất trước C�ng Nguy�n.� C�c chum mai t�ng chứa c�ng loại c�c vật dụng trong mộ như ở khu vực Sa Huỳnh, bao gồm c�c hạt chuỗi bằng đ� m�u đỏ carnelian v� thủy tinh, c�ng c�c v�ng đeo tay, đồ bằng sắt, thủy tinh, v� bằng đồng.� C�c c�ng cụ bằng sắt được buộc bằng d�y hay c� hốc (ổ) tra c�n cũng hiện diện c�ng c�c khoen đeo tai c� kẽ hở bằng ngọc thạch.� Saurin (1973) c� m� tả một nghĩa trang c� chum mai t�ng ngo�i đồng tại Hang Gon [?] b�n c�c bờ con s�ng Suối Gia Leu [?] tương đồng trong nhiều mặt với c�c kh�m ph� ở ch�nh Sa Huỳnh.� Như tại Ph� H�a [?], c�c thời điểm theo x�t nghiệm carbon cho thấy c� sự định cư trong v�i thế kỷ sau c�ng trước C�ng Nguy�n (chỉ số trung b�nh gộp chung l� 400-32 trước c�ng nguy�n).� �ng bắt gặp c�c dẫy chum mai t�ng với nắp đậy, chứa nhiều tro, c�c mảnh gốm vỡ v� c�c đồ trang sức, nhưng �t c� di cốt n�o của con người, c� thể, v� c�c điều kiện thổ nhưỡng địa phương.� Nhiều nồi v� c�c vật dụng kh�c, giống như ở Ban Don Ta Phet, đ� bị đập vỡ một c�ch cố � như một phần của nghi lễ mai t�ng.� Ngay c�c r�u bằng sắt cũng được t�m thấy với ổ tra c�n bị hư hỏng� Chum số 1 bao gồm c�c đồ m�i đ�nh b�ng đ�, c�c mảnh đồng, một r�u bằng sắt v� c�c hạt chuỗi bằng đ� olivine v� pha l�.� Chum số 4 chứa c�c mảnh gốm vỡ v� một c�i r�u sắt, trong khi Chum số 5 gồm c�c mảnh gốm vỡ v� mười hạt zircon.� C�c hạt kh�c được l�m bằng đ� đỏ carnelian, m� n�o (agate), thủy tinh v� trong một dịp, bằng v�ng.� Một người được ch�n k�m theo một thanh kiếm sắt, v� vảy sắt được t�m thấy nơi một điểm tập trung v� hướng t�y nam của nghĩa trang c� thể ti�u biểu cho mộ của một thợ r�n.� Địa điểm n�y cũng thu hoạch được một đồ trang sức đeo m�c [hoa tai?] c� h�nh con th� hai đầu.

 

���� Một đồ trang sức c� biệt như thế đ� cung cấp bằng chứng thuyết phục cho c�c sự tiếp x�c, dưới h�nh thức n�y hay h�nh thức kh�c, với c�c phần kh�c của lục địa cũng như với v�ng Đ�ng Nam � hải đảo.� Trọng t�m của sự ph�n t�n nằm trong khu vực Sa Huỳnh.� Bốn nơi được biết đến từ ch�nh Sa Huỳnh v� hai từ Ph� H�a [?] cũng như một th� dụ từ Hang Gon [?] (Loofs-Wissowa 1980-1).� Một thi dụ từ một khung cảnh Đ�ng Sơn được biết l� từ Xu�n An [?].� Một sự kh�m ph� tr�n địa diện từ U-thong thuộc Miền Trung Th�i Lan cũng được biết đến, c�ng với c�c vật mẫu từ Ban Don Ta Phet.� Sự hiện diện của một sự kh�m ph� ngọc thạch kh�c từ Động Duyong tr�n Đảo Palawan của Phi Luật T�n khiến ta li�n tưởng đến một sự trao đổi h�ng hải mở rộng diền ra trong suốt hậu b�n nthi�n ni�n kỷ thứ nhất trước C�ng Nguy�n.

 

 

H�nh 4: C�c Chế T�c Phẩm từ c�c Động ở Tabon

 

���� Sự kiện n�y nhận được sự x�c nhận từ sự ph�t t�n của một đồ trang sức thứ nh� thường được l�m bằng một thứ đ� qu�, chẳng hạn như ngọc thạch, hay thủy tinh.� Đ� l� khoen tai c� kẽ hở, thường được biết bằng t�n gọi trong tiếng Phi Luật T�n, lingling-o (Xem H�nh 8-5, e-g [trong nguy�n bản]).� C�c khoen đeo tai n�y cũng được t�m thấy ở Sa Huỳnh v� Ph� H�a [?], nhưng những sự ph�t t�n của ch�ng vượt qu� tầm ph�n phối của c�c mặt treo c� h�nh con th� hai đầu. bởi ch�ng cũng được t�m thấy ở Đảo Lamma, Hồng K�ng, Đảo Samasama ngo�i khơi Đ�i Loan, tại Phi Luật T�n ở Tabon, Samrong Sen ở Căm Bốt, v� tại Miền Trung Th�i Lan.� C�c t�c giả Loofs-Wissowa (1980-1) n�u � kiến rằng c�c hoa tai tương tự cũng được t�m thấy tại Lung Hoa [?] v� Đồng Dậu [?] tượng trưng cho một nguy�n mẫu (prototype) của Bắc Bộ.

 

���� Trong khi c�c đồ trang sức n�y mang lại bằng chứng về c�c sự tiếp x�c trao đổi dọc theo bờ biển Viuệt Nam v� xa hơn nữa,vẫn c�n một sự tương phản r� rệt giữa c�c tập hợp đồ mai t�ng của Đồng Sơn v� Sa Huỳnh.� C�c c�i trống, c�c vũ kh� bằng đồng v� c�c chiếc thuyền l� c�c đặc t�nh biểu trưng cho nh�m thứ nhất lại hiếm c� hay vắng b�ng trong nh�m kể sau.� Sự hiếm hoi của c�c đồ đồng, v� danh mục hạn chế của ch�ng, c� thể được hiểu một c�ch dễ d�ng nhất nếu c�c nghĩa trang ở Sa Huỳnh tượng trưng cho c�c nh�m x�m nhập từ v�ng Đ�ng Nam � hải đảo, l� c�c kẻ đ� đến, được giả định l� trong một số thời điểm thủa ban sơ của thi�n ni�n kỷ thứ nhất trước C�ng Nguy�n m� kh�ng c� bất kỳ kiến thức n�o về đồng.� C�c dụng cụ v� vũ kh� bằng sắt, mặc kh�c, th� hiếm thấy tại Bắc Bộ, nhưng tương đối lại th�ng thường tại c�c nghĩa trang Sa Huỳnh.� Trong thực tế, c�c sự tương đồng g�y nhiều thắc mắc nhất trong nghi thức mai t�ng của Sa Huỳnh lại được t�m thấy ngang qua dẫy Trường Sơn, nơi v�ng Thung Lũng song Mun, ở c�c địa điểm như Ban Kan Luang.� Liệu c� thể n�o l� c�c người n�i tiếng Ch�m đ� b�nh trướng v�o miền nội địa n�y v� đ� thụ đắc c�c kiến thức về việc nấu sắt của họ khi gặp gỡ c�c cư d�n địa phương n�y hay kh�ng?� Khả t�nh n�y cần phải được nghi�n cứu, kết hợp với c�c sự mai t�ng bằng chum kh�c thường nhất của miền thương du nước L�o, vốn đ� được điều tra bởi Colani (1935).� C�c nơi hỏa tang v� ch�n cất n�y c� thể c� nhật kỳ ở thời kỳ n�y, v� chứng nhận cho sự b�nh trướng của c�c cộng đồng thuộc Kỷ Nguy�n Đồ Sắt v�o c�c v�ng thượng du trong nội địa Đ�ng Nam �.�

 

���� C�c giải đất duy�n hải v� c�c v�ng thượng du ph�a đ�ng dẫy Trường Sơn được ưa chuộng bởi văn h�a Sa Huỳnh th� tương đối kh� hạn.� Trong khi ch�ng ta biết rằng thực sự đ� kh�ng c� căn bản sinh nhai cho d�n ch�ng ở Sa Huỳnh, một loạt đ�ng kể c�c tầng đất đắp. ngăn bằng đ� tại v�ng thượng du Giao [Giỏ] Linh [?], tỉnh Quảng Trị mang lại một số khả t�nh k�ch th�ch t� m� (Colani 1940).� Nước cho đất nhiều nham thạch được ngăn � như mạng lưới, xuy�n qua c�c hồ trữ nước v� c�c mương dẫn nước đến c�c tầng đất đắp trong c�c hệ thống thung lũng tổng hợp.� C�c hệ thống n�y, như t�c giả Wheatley (1983) đ� nhấn mạnh, được nối kết với c�c đ� tảng đứng, to lớn, c�c chỗ ngồi, v� c�c g� đất thuộc một truyền thống li�n hệ chặt chẽ với v�ng hải đảo hơn l� với v�ng đất liền của Đ�ng Nam �.� Bằng một tiến tr�nh loại trừ v� trong sự thiếu vắng việc khai quật, t�c giả Wheatley đ� đề xướng một nguồn gốc cuối thời tiền sử cho c�c hệ thống n�y, sẽ xem ch�ng ngang h�ng với văn h�a Sa Huỳnh.� C�c biện ph�p kiểm so�t nước như thế, nếu ni�n kỳ được x�c định ch�nh x�c, sẽ khiến cho c�c hệ thống n�y ở c�ng thời với c�c thời điểm khả dĩ nhất cho sự gia tăng canh t�c xuy�n qua c�c kinh đ�o, c�c đường h�o, v� hồ trữ nước tại Thung Lũng s�ng Cửu Long.� Mặt kh�c, t�c giả L�m Mỹ Dung [?] (1993) đ� khai quật gần đ�y một số giếng v� kh�m ph� một mẫu đồ gốm cho thấy rằng hệ thống n�y đ� được �p dụng trong thời khoảng giữa thế kỷ thứ bẩy đến thế kỷ thứ mười hai sau C�ng Nguy�n.

 

T�m Tắt

 

���� Sự b�nh trướng về ph�a nam bởi c�c n�ng d�n trồng l�a gạo n�i tiếng Nam � Đa Đảo yếu dần nơi bờ ph�a bắc của Eo Biển Melaka.� C�c cộng đồng n�ng nghiệp x�m nhập đ� vươn tới c�c hải đảo ph�a nam bằng một con đường kh�c, nhưng c� lẽ từ c�ng nguồn sinh s�i tại Thung Lũng s�ng Dương Tử [Trung Hoa].� C�c người n�y n�i tiếng Austronesian, v� họ đ� b�nh trướng ngang qua đảo Đ�i Loan v� từ đ� xuy�n qua Phi Luật T�n đến một thế giới hải đảo mới. �Ch�ng ta thiếu bằng chứng khảo cổ về c�c cộng đồng l�ng x� to lớn rất thường thấy tại v�ng lục địa.� C�c địa điểm n�y h�y c�n chờ để được x�c minh, hay một c�ch kh�c, m�i trường sinh sống ở v�ng rừng nhiệt đới sum s� c� thể đ� chống đối lại sự thiết lập dễ d�ng việc canh t�c l�a gạo.� Ch�ng ta cũng kh�ng c� sự tiếp cận với một bộ phận lớn lao c�c dữ liệu mai t�ng để lập chứng sự tổ chức x� h�i.� Nhưng bằng chứng của sự ch�n cất bằng chum cuối thời Đ� Mới tại Phi Luật T�n c� ph�t hiện ra c�c nh�m lưu t�m đến c�c vậtt phẩm v� đồ gốm ch�n theo mộ c� phẩm chất tốt nhất.

 

���� Đồng, thiếc, ch� v� sắt vươn tới c�c hải đảo xuy�n qua một mạng lưới mậu dịch ph�t triển một c�ch mau lẹ trong hậu b�n thi�n ni�n kỷ thứ nhất trước C�ng Nguy�n.� Mạng lưới n�y cũng du nhập c�c trống của nội địa, đồ gốm nung Ấn Độ, đ� đỏ carnelian v� thủy tinh.� Từ Phi Luật T�n đến Java, ch�ng ta t�m thấy sự thiết lập khu�n đ�c địa phương, sự th�ch nghi c�c mẫu lục địa với khiếu vị địa phương, v� sự ph�t triển h�ng loạt mới về đồ đồng: vỏ che ng�n tay, c�c bộ phận d�y chuyền đeo cổ sỏ d�y, c�c đồ bảo vệ c�nh tay.� Sự khởi đầu của một kỹ nghệ đồ đồng địa phương mang �m hưởng của nguồn gốc được n�u ra về truyền thống lục địa trong khung cảnh trao đổi với v�ng trung nguy�n [Trung Hoa] [zhongyuan, tiếng H�n trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Một lần nữa, � tưởng đ� chứng kiến một sự chấp nhận v� th�ch ứng kỹ thuật địa phương.

 

���� Sự b�nh trướng của người n�i tiếng Austronesian sau hết đ� mang M� Lai đến v�ng lục địa, v� r� r�ng đ� c� một sự định cư x�m nhập dọc theo bờ biển của Trung Phần Việt Nam được chứng nhận bởi sự ph�t t�n trong lịch sử v� hiện tại ng�n ngữ của Ch�m.� C�c người n�y đ� duy tr� mối quan hệ trao đổi nhộn nhịp với c�c anh em họ của m�nh tại c�c hải đảo.

 

���� Sự di chuyển x�m nhập của c�c người n�i tiếng Austronesian v�o ph�a đ�ng Ấn Độ đ� mang sự canh t�c l�a gạo đến đ�, được nghĩ, trong thi�n ni�n kỷ thứ ba trước C�ng Nguy�n, nhưng sự ph�t triển kỹ nghệ đồ đồng địa phương chỉ li�n hệ rất �t, c� thể kh�ng mắc mớ g�, đến truyền thống Đ�ng Nam �.� Sự tiếp x�c giữa hai khu vực chỉ được t�i thiết lập từ thời cuối của thi�n ni�n kỷ thứ nhất trước C�ng Nguy�n./- ���

 

_____

 

 

S�CH THAM KHẢO

 

 

Blust, R. 1993b.� The Austronesian settlement of Mainland Southeast Asia.� B�i tham luận chưa in, được tr�nh b�y tại phi�n họp thường ni�n thứ nh� của Hội Ngữ Học Đ�ng Nam � (Southeast Asian Lingustic Society).

 

Colani, M. 1935.� M�galithes du Haut Laos ((2 vols), PEPEO, 25-6.

 

Colani, P. 1940.� Emploi de la Pierre en des Temps Recul�e, Annam-Indonesie-Assam.� Amis du Vieux Hue, Hanoi.

 

Fontaine, H. 1972.� Nouveau champ de jarres dans la province de Long Khanh.� Bulletin de la Soc��t� des �tudes Indochinoises, xlviii: 397-486.

 

L�m Mỹ Dung, 1993.� Arranged stone works for water exploitation in Quang Tri Province (bằng tiếng Việt), Khảo Cổ Học, 86: 67-79.

 

Loofs-Wissowa, H. H. E. 1980-1.� Prehistoric and protohistoric links between the Indochinese Peninsula and the Philippines, as exemplified by two types of ear-ornaments.� Journal of the Hong Kong Archaeological Society, IX: 57-76.

 

Ngo Si Hong, 1980.� Binh Chau (Nghia Binh).� A new discovered Bronze Age site on the central Vietnamese coast. (bằng tiếng Việt).� Khảo Cổ Học, 35: 68-74.

 

Ngo Si Hong and Tran Quy Thinh, 1991.� Jar burials at Hau Xa, Hoi An Tower (Quang Nam � Đa Nang provinces) and new knowledge of the Sa Huynh culture.� (bằng tiếng Việt) Khảo Cổ Học, 78: 64-75.

 

Parmentier M. H.� 1918b.� Ancient tambours de bronze.� BEFEO, 18: 18-30.

 

Saurin, E. 1963.� Station pr�historique � Hang Gon, pr�s Xuan Loc.� BEFEO, 51: 433-52.

 

Solheim, W. G., 1959.� Sa Huynh related pottery in Southeast Asia.� Asian Perspectives, 3: 177-88.

 

Solheim, W. G., 1964.� Pottery and the Malayo-Polynesians.� Current Anthropology, 5: 376-84.

 

Wheatley, P. 1983.� Nagara and Commandery,� University of Chicago Department of Geography Research Paper Nos. 207-8, Chicago.

 

 

 

Ng� Bắc dịch

10/3/2009

 

                                                                                                                                              

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2009 gio-o