Tường Vũ Anh Thy

 

Cao Bá Quát: bệnh Duy Ma Cật

 

tản luận

 

 

Bài thơ làm vào rằm tháng sáu, cách bài Đằng Tiên Ca đúng 10 tháng - mười con trăng đày đọa ở Thừa Thiên như thơ ông đă viết. Căn cứ vào đó ta biết được bấy giờ là năm Nhâm Dần 1842, ông trên dưới 33 tuổi; tuổi tráng niên đầy rẫy nội lực mà bị gió đời nhốt lại một nơi, thật khó mà chịu nổi v́ buồn bực. Thơ gửi bạn cũng là thơ gửi chính ḿnh, và người đời. Hơi thơ vẫn đi một mạch, mạnh mẽ và trong sáng, dù có phảng phất cái tù túng tức tối, nhưng ta không thấy sự thất vọng hay chán chường. Đó là một đặc điểm của thơ ông- đặc điểm của một trái tim đă say trong sông núi hồn thiêng. Tâm ông đă là tâm định. Cho dù mặt có đổi v́ phong sương, thân có gầy v́ bệnh hoạn, ḷng có héo buồn v́ nhớ thương; nhưng tâm quyết không bao giờ suy suyển. Khác với Tô Đông Pha: “tâm suy diện cải sấu chênh vênh”, khi nhà thơ này bị đày ở Hoàng Châu. Đọc bài Bệnh Trung sau đây ta thấy rơ điều đó hơn:

 

Bệnh Trung

 

Vị tử tàn h́nh nhất hủ nho

Cưỡng chi quyện cốt thiến nhân phù

Trắc thân thiên địa bi cô chưởng

Hồi thủ yên tiêu khuất tráng đồ

Hà nhật qui sào đồng yến yến

Tha thời tập uyển qui ô ô

>Ái đồng bất thức Duy Ma bệnh

Sát vấn yêu vi sấu tổn vô

 

Nỗi buồn trong thơ th́ man mác, mà hùng khí càng cao. Sự trách móc nhẹ nhàng, tâm đă cất cánh bay khỏi mặt đất. Ông cũng tự giễu ḿnh chỉ là một bác đồ nho hủ lậu, thân tàn mà chưa chết.(chết thế nào được!). Ông tả cái tấm thân tàn ấy nghe ră mục làm sao! Đi đứng không vững, phải nhờ người nâng đỡ bám vịn.( Khác với ngày xưa, dù uống rượu say vẫn không cần bám vịn ai, tự ḿnh thả bộ dọc con sông về nhà, xem bài bạc văn túy qui Cao Bá Quát: về giữa tử sinh) Thế th́ giữa trời đất bao la, giữa cuộc đời đầy cạm bẫy, phỏng tấm thân ấy làm nên tṛ trống ǵ ? Ông biết rơ lắm, khép ḿnh nh́n sự cô đơn và cô độc, nghe tiếng vỗ tay của ḿnh vọng lại, thấm thía đến tận xương tủy. Làm thế nào để có được sự “nhất hô bá ứng”? Cái đó thuộc về tâm lực của con người. Ngoảnh nh́n con đường khói mây mờ mịt, chí lớn chưa được thi thố vẫy vùng, mà nay đă ra người tay không tù ngục! Hỡi ơi đường bằng phẳng th́ ít, và mập mờ. Đường xa th́ trắc trở nhiêu khê. Cái khó là phải có bản lănh và ḷng dạ lớn. Ôi biết đến bao giờ mới về được trong tổ yên ấm như những con chim yến bé nhỏ, năm năm cứ đến mùa rét th́ bay sang phương nam làm tổ mà sinh đẻ trong các mái nhà người. Ngày ấy, ngó sang vườn cây um tùm kia, bày quạ đang xúm xít cười đùa, th́ ḷng chim yến sẽ thẹn thùa hay thanh thản?

 

Cổ tích Việt Nam có chuyện đôi chim xanh se sẻ bị đày xuống trần gian. Mới đầu, hai con chim bỡ ngỡ đi theo quạ kiếm ăn. Nhưng sau thấy quạ, tổ nào cũng xục vào ăn, lại ăn cả những đồ hôi thối bẩn thỉu; hai con chim xanh bàn với nhau rằng: Ta theo quạ, nghĩ rằng có lợi, song lợi ḿnh ta, mà hại cả đến đồng loại, ḷng ta thật áy náy không yên chút nào. Rồi hai con liền bỏ quạ, đi theo khướu. Sau thấy khướu khi th́ kêu theo tiếng con này, khi lại kêu theo tiếng con kia; bất cứ con nào cũng bắt chước hót được cả; mới lại bàn với nhau:  Ta theo khướu, nghĩ rằng có tiếng. Nhưng ta xem, ǵ nó hót cũng được, không phải là bậc chính đính; v́ ở đời việc phải chăng đâu cũng là một, chẳng khi nào phân được hai nhẽ. Vậy ta sợ cứ theo nó hoài, chẳng những không có tiếng ǵ cho ta, mà lại mang tiếng xấu nữa. Sẻ xanh bàn rồi, trước đă bỏ một anh tham ăn, giờ lại bỏ một anh hay hót. Rốt cuộc đôi chim không theo ai, đậu nơi cành mai lá trúc, kiếm vừa đủ ăn, thảnh thơi ca hát. (Theo Nguyễn Văn Ngọc: Truyện Cổ Việt Nam tập 2).

 

Đọc truyện này th́ thấy ư Cao Bá Quát rất rơ rệt. Ông không muốn theo đuôi quạ và khiếu, hiện là những thế lực được ưu đăi trong xă hội chuyên chế. Ông đă khước từ, và bước đi trong cô đơn và bạc đăi. Nhưng ông lại phát đại nguyện không đi t́m thanh nhàn một ḿnh. Đó cũng là đại nguyện của cư sĩ Duy Ma Cật, quán niệm về sự buông bỏ (xả kỷ), mà vẫn làm các việc thiện; quán niệm về vô hành, mà vẫn hành động; quán niệm về không, mà vẫn lấy có làm phương tiện. Thế th́ việc chữa văn cho các thí sinh là một hành động đă được suy gẫm, và ông sẵn sàng chịu tất cả mọi hậu quả của việc ḿnh làm. Hai câu kết của bài thơ thật là một cái cười rất mực chất phác chịu đựng của ông – y hệt cái cười của người làm ruộng, lo lắng trăm bề; đến khi về th́ người nhà đón hỏi sao trông phờ phạc gầy ṃn thế! Cậu bé người nhà theo chăm sóc ông cũng thế, cứ săn hỏi ṿng đai lưng có gầy đi phần nào không? Ông chỉ biết cười cười.

 

Trong Lúc Ốm Đau

 

Bác đồ gàn thân tàn chưa chết

Gượng nắm xương lê lết nhờ người

Vỗ tay không tiếng đáp lời

Buồn trông mây khói che mờ chí trai

Bao giờ về theo đàn chim yến

Ngoảnh mặt xem quạ đến vườn xanh

Hỏi ta sao cứ gầy nhanh

Ta c̣n muốn độ chúng sanh qua bờ.

 

Tường Vũ Anh Thy

 

(trích Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi - Ức Trai xuất bản 1985)

 

Cao Bá Quát: tiếng hú dài cơi mộng

Cao Bá Quát: thơ vẫn bay …

Cao Bá Quát: ngày sinh của thi sĩ

Cao Bá Quát: về mái nhà xưa

Cao Bá Quát: tiếng hát giữa rừng

Cao Bá Quát: bài hát cái roi song

Cao Bá Quát: Tính Hiện Ra Lời

 

 

© gio-o.com 2017