tượng: Tường Vũ Anh Thy


 

Tường Vũ Anh Thy

 

Cao Bá Quát: thơ vẫn bay …

 

tản luận

 

Thế là sau những năm tháng tù đày cùng quẫn, những năm tháng phiêu dạt tha hương, Cao Bá Quát đă h́nh thành một đường gươm tuyệt thế: đó là Mai Hoa Thi Kiếm. Kiếm pháp này lấy căn bản ở chữ Vô, biến thế sang Hữu, và hiển thị ở Sinh. Từ Vô sang Hữu, lưỡi kiếm nhấp nhô như sóng mà không đóng lại ở một góc độ nào. Kiếm động th́ người động, kiếm tĩnh th́ người tĩnh. Người và kiếm vừa có thể phân biệt, vừa có thể không phân biệt. Như gịng sông đang chảy cuồn cuộn giữa khoảng không bao la. Trời mây in đáy nước. Đáy nước vọng trời mây. Nước chảy th́ mây trôi. Giữa cái hữu hạn và vô hạn hốt nhiên cùng ríu rít. Bởi thế ông mới làm được câu trường giang như kiếm lập thiên thanh (gịng sông gươm lấp lánh trời xanh). Nước ở đâu trời ở đó. Giữa Có và Không, vừa có thể phân biệt, vừa có thể không phân biệt. Nước chảy đến đâu, lập tức cỏ cây hoa lá côn trùng nảy sinh ở đó.

Đầu mùa thu năm 1843, từ Đà Nẵng, ông về thăm nhà cửa bố mẹ vợ con làng xă. Cuộc trở về này không phải là một, nhưng lại là cuộc trở về quan trọng trong ư nghĩa về nguồn. Rất t́nh cờ ông nhặt được cuốn truyện dài bằng thơ lục bát ở nhà người hàng xóm. Tên truyện là Hoa Tiên, tác giả là Nguyễn Huy Tự. Tuy chỉ là  chuyện t́nh dựa theo một bản ca của Trung Hoa, nhưng Cao Bá Quát lại nh́n ra cái tinh túy của thi ca Việt Nam. ( cũng như trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du ). Truyện bắt đầu từ việc ân ái riêng tư của vợ chồng; rồi đến đạo cha con; nghĩa vua tôi; mối giao t́nh thân thiết giữa bạn bè; ḷng thương yêu anh chị em trong nhà. Lớn th́ triều đ́nh nhà nước, kế sách binh cơ, khen thưởng khuyến khích việc trung nghĩa tiết liệt. Nhỏ th́ chuyện người việc đời, cả đến cỏ cây khí hậu thời tiết. Lời văn mới lạ, ư nghĩa đoan trang. ( Kỳ vi thuyết dă, khởi ư phối thất chi tế, t́nh ái hiệp nật chi tư, nhi đạt ư phụ tử chi luân; chủ thần chi nghĩa; bằng hữu thiết tư chi nhă; huynh đệ tương hảo chi t́nh. Đại nhi triều đ́nh, binh mưu, bao trung khuyến tiết chi điển. Tiểu nhi nhân t́nh thế thái, phong khí thảo mộc chi vi. Kỳ văn kỳ, kỳ nghĩa chính.) Đó là nhận xét đầu tiên của ông. Lúc đó ḷng ông đang chan chứa bao nhiêu mối u t́nh. Lớn, cũng những chuyện triều đ́nh đất nước. Đất nước ông đang rối loạn, lại có nguy cơ bị ngoại xâm bởi người phương Tây. Nhỏ, th́ chuyện ḿnh chuyện nhà. Ḿnh th́ tù đày, lang thang thất nghiệp. Nhà th́ dọn, con chết, chị chết. Hoàn cảnh bi thương đen tối, nhưng ḷng ông lại rất trong sáng hào sảng. Ông viết:” Sự đau khổ của con người không ngoài một chữ t́nh, mà cái khó trong đời là duyên gặp gỡ. Từ đó suy ra tính tới, th́ cái lư trong thiên hạ đă thông được quá nửa rồi.V́ thế ta có mối cảm đặc biệt với truyện Hoa Tiên.    (Phù nhân mạc khổ vu t́nh, nhi mạc nan vu ngộ, dẫn nhi thân chi,xúc loại nhi trường chi, tắc thiên hạ chi lư, tri quá bán hĩ. Ngô ư Hoa Tiên lương hữu cảm yên.)

Cái mối cảm đặc biệt với truyện Hoa Tiên không hẳn chỉ có vậy. Bởi v́ mở đầu cho bài tựa truyện Hoa Tiên, ông đă đặt một câu hỏi lớn: “Sống trên đất nước Việt Nam này ta có thể bỏ được chữ quốc ngữ của ta không?” Câu hỏi mà ai cũng phải đáp: “ Không bỏ được” ( Bất khả dă!) Ôi đă không bỏ được chữ quốc ngữ th́ những truyện viết bằng quốc ngữ như Hoa Tiên, Kim Vân Kiều, ta có bỏ được không?( Độc quốc ngữ dă, Kim Vân Kiều, Hoa Tiên, chi thư khả phế hồ? Dĩ nhiên ta cũng không thể nào bỏ được. Làm sao bỏ được khi đó là những tác phẩm lớn, viết bằng tim óc của người xưa! Làm sao bỏ được khi đó là những tác phẩm viết bằng chính lời nói của nước ta, góp công tô chuốt nền văn chương dân tộc riêng biệt của ta! “ Nước Việt ta, từ sau Hàn Thuyên, các tác gia mọc lên như rừng: nào thơ cổ cận của Ôn Như Hầu, kích thước ngang với Đỗ Phủ thời Đường; Nào điệu cung từ của Nguyễn Hữu Chỉnh d́u dặt như thời Hán, Ngụy…C̣n như về văn chương tiểu thuyết, cho đến nay ta mới thấy Hoa Tiên và Kim Vân Kiều là bậc nhất.” (Ngă quốc Hàn Thuyên chi hậu, tác gia lâm lập: Ôn Như cổ cận, quy mô Thiếu Lăng; Bằng Quận Công cung từ, tŕ sậu: Hán, Ngụy. Chí vu chuyện khúc chi công, ngô phục đắc Hoa Tiên, Kim Vân Kiều yên.)

Thế th́ cái nh́n và cái mộng của Cao Bá Quát đă là một nhịp liên tục từ Nguyễn Trăi đến Nguyễn Du, ông đă thấy sự cần thiết phải có của văn chương dân tộc ghi bằng quốc ngữ. Và ông cũng đă tự hào về nền văn chương dân tộc ấy. Ta có thể đặt câu hỏi: Đă thế sao Cao Bá Quát không làm thơ bằng quốc ngữ? Xin thưa: những bài hát nói ông đă thử làm, vốn cũng đâu phải là tầm thường như ta đă thấy. Nhưng trước lịch sử văn học dân tộc, Cao Bá Quát cảm được sự thiêng liêng của hồn sông núi, nên ông hết sức rụt rè khiêm tốn: Dùng quốc ngữ làm văn chương th́ ta chưa dám ( Dĩ quốc ngữ vi văn chương, ngô vị cảm dă.) Cho nên ông chỉ dám dùng văn chương để xem quốc ngữ mà thôi ( Câu dĩ văn chương quan quốc ngữ, tắc ngô thiết hữu thủ yên.) Đấy là bởi ông hết sức thành thật. Tác phẩm của người xưa sừng sững, ông tự liệu ḿnh không thể vượt qua. ( Cái học từ chương lệ thuộc Trung Hoa của triều đ́nh nhà Nguyễn bấy giờ đă khép chặt mọi cửa ngơ của sĩ tử Việt Nam.) Nhưng ḷng ông vừa cảm phục vừa hănh diện, lại vừa ngứa ngáy háo hức muốn la lớn hét to cho thiên hạ cùng cảm phục, cùng hănh diện với ông về văn chương đân tộc. Tâm t́nh ấy thật khác hẳn thái độ ngạo mạn khinh bỉ mà người ta đă gán cho ông !

Ôi người đời đă hiểu khía cạnh khinh thế ngạo vật của ông theo kiểu người đời. Bởi v́ người đời xem Hoa Tiên, Kim Vân Kiều là những cuốn dâm thư, lẳng lơ, gian dối! Họ đâu có buồn xem cho hết ngọn ngành. Thời đại Cao Bá Quát, người ta đua nhau làm thơ chữ Hán để ngâm vịnh tâng bốc nhau. Thi xă, hội thơ… mọc lên như nấm. Bao nhiêu thơ xưa, điển cũ bên Tầu được đem ra làm khuôn vàng thước ngọc mà trích, mà họa, mà nhái…Chúng ta sẽ được Cao Bá Quát phân tích việc này trong bài tựa tập thơ của Tùng Thiện Vương. Ta cũng chắc rằng cái không khí văn chương tháp ngà lai căng và vong bản nhốn nháo thời đó đă làm ông có lần phải bịt mũi :

                      Ngán cho cái mũi vô duyên

                Câu thơ thi xă con thuyền Nghệ An

Trong bài tựa truyện Hoa Tiên, ông viết: “ Gần đây, những kẻ khinh bạc, đem Hoa Tiên ra làm chuyện đầu môi chót lưỡi, những người cầm bút không xem xét ngọn ngành, vội cho là lời văn dâm đăng, khúc lẳng lơ, đáng buồn biết bao”( Cận thế khinh bạc, chi đồ, tư vi thoại bính, thao cô giả văng văng bất sát, ủy vi dâm từ, diễm khúc, khả bi dă phù!)

Bởi v́ người ta lúc ấy có mặc cảm làm văn thơ bằng quốc ngữ là quê mùa cục mịch, sao bằng viết chữ Hán, vẻ trí thức cao sang! Cũng tựa như gần đây, người ta rập theo Tây theo Mỹ. Nói hay viết mà không có tí Tây Mỹ vào th́ bị xem là nhà quê, thất học. Có kẻ c̣n công khai bài bác văn chương Việt Nam; ca tụng văn học ngoại quốc. Ta chẳng lạ ǵ chuyện đó. Bởi có thế mới thấy được ḷng người và t́nh người.

Trở lại vấn đề quốc ngữ và truyện Hoa Tiên, Kim Vân Kiều cùng với nền văn chương dân tộc, Cao Bá Quát viết tiếp: “Nếu chỉ xem quốc ngữ là quốc ngữ thế thôi th́ hai cuốn Hoa Tiên và Kim Vân Kiều, có hay không, cũng không thành vấn đề nữa. Nhưng nếu muốn làm cho rực rỡ nền văn chương dân tộc của ta, làm cho rơ thế nào là văn chương dân tộc của ta, th́ quư vị yêu văn sẽ phải nghĩ ǵ ? Làm ǵ?” Câu hỏi này, chính ông đă đáp từ đầu khi ông tâm sự:” Ta bị về vườn đă lâu, ngẫu nhiên thấy cuốn truyện Hoa Tiên trong sọt sách cũ của ông hàng xóm, bèn lấy đọc. Trong lúc buồn bă cùng quẫn, gặp cuốn sách này thật chẳng khác nào t́m được vật báu quí giá. Ta mạo muội kiểm điểm từng trang, muốn sửa vài chỗ sai lầm, bớt vài đoạn dài ḍng, để thành tác phẩm hoàn mỹ. Nhưng bỗng có việc gấp, phải đi xa, đành chịu bỏ dở dang.” Việc nhuận cuốn Hoa Tiên bị bỏ dở, th́ ư ông muốn khi in ra sẽ được các bạn yêu văn tiếp ta sắc y tô điểm, tiếp tay phổ biến.

Câu cuối cùng của bài tựa cũng là lời tuyên dương rực rỡ nhất về thi ca:” Kim Vân Kiều đạt thế ngữ, Hoa Tiên tắc cảnh thế ngữ dă” (Truyện Kiều là tiếng nói hiểu đời, Hoa Tiên là tiếng nói răn đời.)

Hốt nhiên cả một trời thơ dào dạt, lời ca dao, tiếng ru, điệu ḥ, bài ca phường vải, khúc hát quan họ, bản chèo…những chuyện cổ tích xa xưa, chuyện sử diễn ca tráng lệ, cuộc đời mưa nắng gió sương, t́nh đất, lũy tre, nghĩa quê, ḷng biển…tất cả đều lồng lộng bay giữa hồn thiêng sông núi…Thơ sẽ phải bay giữa hồn thiêng sông núi! Và chỉ có hồn thiêng sông núi mới đủ từ uy giữ cho thơ không lạc lối mê đường.

Đó lả tất cả nguồn cảm hứng, tâm t́nh trầm trọng, mộng ước ban sơ, mà Cao Bá Quát đă trao thân gửi phận cho Thơ, đă trân trọng đặt cho Thơ một sứ mệnh vừa thiêng liêng vừa hào hùng.

 

Tường Vũ Anh Thy

 

(trích Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi - Ức Trai xuất bản 1985)

 

http://www.gio-o.com/TuongVuAnhThy.html

 

 

© gio-o.com 2016