tượng: Tường Vũ Anh Thy

 

 

Tường Vũ Anh Thy

 

Cao Bá Quát: tiếng hú dài cơi mộng

 

tản luận

 

Tiếng hát tâm không ấy vĩnh viễn lan trong không gian cô tịch, giữa một buổi chiều xuân xứ Huế, h́nh như đă nhập vào những đôi môi đôi mắt trọ trẹ Thừa Thiên, khiến thiên nhiên thành cơi mộng. Cơi mộng nào cũng có trăng. Trăng như con ngươi mở lớn. Trong trăng có mộng, và trong mộng có trăng. Trăng cũng là mộng. Mộng là trăng. Người đi vào cơi mộng là người đi vào cơi trăng. Khi tỉnh ra rồi th́ không biết người là trăng hay trăng chính là người.

 

Con đường của Trang đi là con đường của cơi mộng. Trang mở mộng bằng đôi cánh chim Bằng, lướt theo gió lớn. Trang trở về bằng đôi cánh bướm mùa xuân (bướm trắng Nhất Linh) nương theo gió nhẹ.

 

Xưa Trang chiêm bao thấy ḿnh là bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không c̣n biết có Trang nữa. Chợt tỉnh giấc, th́ lại thấy ḿnh là Trang. Không biết Trang chiêm bao là bướm, hay bướn chiêm bao là Trang ?

 

Đó là tâm trạng và tâm thức của những tâm hồn đă hoàn toàn vui trong cơi mộng và ấm trong cơi đời. Cao Bá Quát cũng có niềm vui ấy, và nỗi ấm ấy. Nhưng rốt cuộc ông vẫn một ḿnh bươn bả ở ngoài trăng. Ông vẫn măi măi là nỗi-thao-thức-không-rời về thân phận con người trong lưới đời giăng mắc. Ông vẫn măi là chính ông ngay trong đáy mộng. Không có cách ǵ hóa bướm. Nơi trại giam đă hai lần đổi chỗ, ông đă thấy mười cuộc trăng tṛn – mười giấc mộng trôi xa. Mắt ông mở lớn cho bằng với mắt trăng. Trăng khi nào cũng sáng, cũng vằng vặc như bao mùa trăng cũ…Mắt nh́n trăng trừng trừng như định mạng. Chân ông chôn kín một góc trời. Bây giờ ông nhận ra một điều hết sức kinh hăi là ở tù lâu quá đâm quen cả với không gian tù. Chỉ c̣n trăng là tiếng gọi duy nhất ngoài thế giới xa kia. Và chỉ có cánh chim Bằng của Trang mới đưa được ông tới đó. Ông mượn hay giựt đại cánh chim Bằng của Trang để hối hả bay đi. Ông không biến thành chim, thành Trang hay thành bướm. Ông vẫn là ông. Và ông bay đi không phải để nghêu ngao vui thú, mà để trắc nghiệm, t́m thăm một tiền kiếp xa xăm của chính ḿnh. Nơi vầng trăng ngọt là một rừng quế. V́ thế cung trăng c̣n gọi là cung quế. Trăng muôn đời thơm mùi cây quế. Hay quế của muôn đời thơm đẫm mùi trăng? Hỡi ơi nơi cơi mộng đầy quế thơm lại là nơi đày đọa một người. Người ấy họ Ngô, họ Vũ, hay họ Cao? Thưa đó là người đi tu tiên vào thời Hán, thời Hùng, thời Đinh Lê Lư Trần? Đă thành tiên mà c̣n mắc tội để đến nỗi bị đày! Tội lỗi là ǵ vậy? Tại sao lại bắt ông ta đi chặt quế ? Hỡi ơi quế là loài linh mộc, da thơm và cay nồng như màu mắt Thừa Thiên, không một loại dao kiếm nào có thể chặt được. Chặt đến đâu, da quế liền lại đến đó. Đă không muốn chặt, và chặt cũng không được, th́ suốt đời chịu đóng đanh trong rừng quế mà thôi! Ôi té ra bị đày vào rừng quế cũng c̣n là một công án ? Ông tiên họ Ngô bước ra từ cây quế, hay từ cây quế bước ra, đon đả  kéo tay ta đến bên một cây quế th́ thầm. Ôi mùi quế lẫy lừng làm ta bối rối hoang mang, tim đập th́nh th́nh. H́nh như ông nói miên man mơ hồ về kiếp trước của ta ? H́nh như ta với trăng là một đôi t́nh nhân kỳ lạ? Lời ông nhỏ quá, nghe vo ve văng vẳng như tiếng ong trong rừng vắng. Ta làm sao nhớ được. Quế vẫn ngạt ngào, trăng vẫn long lanh. Ta không chịu nổi. Ta khoa tay từ giă – ta bàng hoàng chia tay. Khắp châu thân đầy rẫy mùi quế. Nội phủ căng phồng, tứ chi măn túc. Hốt nhiên ta bật ra tiếng hú – tiếng hú dài theo ngọn gió nam sà xuống Thừa Thiên. Tiêng hú dài liên miên vang vọng khắp phương trời chiêm bao trùng trùng điệp điệp.

 

Tiếng hú dài cơi mộng. Mộng ở Thừa Thiên hay mộng nơi cung quế? Các bạn ta ơi! Bây giờ là rằm tháng sáu. Trăng tháng sáu tṛn hơn trăng tháng năm? Trăng tháng năm tṛn hơn trăng tháng tư? Ta một ḿnh nâng rượu mời trăng, nâng rượu hỏi trời. Ôi có phải trời đất bất nhân coi mọi loài như loài chó rơm? (thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu – đạo đức kinh) Ôi có phải hạt cơm th́ trắng, hạt nước mắt th́ đen? “các bạn ta ơi bao giờ được thả? Đến bao giờ ăn được bát cơm ngon?”(lời nhạc Nam Lộc). Trời đất mênh mang làm sao ta hỏi. Thôi th́ bắt chước người xưa làm thơ con cóc. Con cóc là cậu ông trời…ai mà đánh nó, nó bèn …làm thơ…Làm thơ hỏỉ cháu trời cao: tại sao thi sĩ lại đi ở tù?

 

LỤC NGUYỆT THẬP NGŨ DẠ NGUYỆT

HẠ TÁC PHỤNG KƯ CHƯ CỐ NHÂN

Cơ lưu lưỡng thiên thứ

Thập kiến hải nguyệt viên

Nguyệt cận bất cải sắc

Khách cư hành dĩ biền

Ngă dục sáp song thí

Phi bộ lăng tử yên

Lộ phùng Ngô tiên nhân*

Ấp ngă quế thụ biên

Tương kiến vị khoản khúc

Tự thoại dư sinh tiền

Ngữ tế liễu bất kư

Huy thủ nam phong điên

Quy lai nhất trường khiếu

Bả tửu dục vấn thiên

Thiên cao bất khả vấn

Thả phú tù sơn thiên**

 

 

TRĂNG RẰM THÁNG SÁU
GỬI CÁC BẠN TA ƠI !

Pḥng giam đă hai lần di chuyển

Mười con trăng trên biển mù xa

Trăng nay vẫn sáng như là

Người nay bỗng phải quen nhà tù lao

Có lúc muốn chấp chao đôi cánh

Lên chin tầng mây tía lô nhô

Chợt ông tiên cũ họ Ngô

Ở bên cây quế kéo vô vái chào

Gặp nhau những nghẹn ngào đón tiếp

Kể huyên thuyên duyên kiếp trước sau

Th́ thào không thể nhớ ngay

Sà theo ngọn gió khoa tay giă từ

Về thế giới hú dài một tiếng

Nâng rượu lên hỏi chú trời cao

Trời cao hỏi được đâu nào

Làm thơ con cóc ra vào ta ngâm

 

* trong bài Thiên Cư Đối Nguyệt, Cao Bá Quát cũng nhắc đến ông tiên này:” dục bằng Ngô Chất phủ, chiết quế hợp đơn thành” nghĩa là ta muốn mượn cái búa của Ngô Chất để đẽo cho được nhành quế. Ngô Chất là người thời Tam Quốc, tự là Quư Trọng, cũng gọi là Ngô Cương, có tài thông bác, các bậc quyền chức đương thời đều kính nể. Sau đi tu tiên. Đồn là thành tiên nhưng phạm lỗi thiên đ́nh bắt phải đi chặt quế !

 

** Tù Sơn là tên một bài phú của Liễu Tôn Nguyên đời Đường. Chúng tôi không dịch nghĩa mà chỉ lấy ư cho trọn nhịp hứng của bài thơ.

 

 

Tường Vũ Anh Thy

 

(trích Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi - Ức Trai xuất bản 1985)

 

http://www.gio-o.com/TuongVuAnhThy.html

 

 

© gio-o.com 2016