Tường Vũ Anh Thy

 

Cao Bá Quát: về mái nhà xưa 


tản luận

 

Suốt bao nhiêu năm, đôi lần nhắm mắt tôi lại bị ám ảnh bởi bước chân lạ lùng của Cao Bá Quát. Sau năm 1975, tỵ địa ở Mỹ, tôi càng bị bước chân Cao Bá Quát dẵm vào giấc ngủ. Nhiều lúc bước chân ông mạnh đến độ làm tôi bàng hoàng thức giấc. Có lúc bước chân ông nhẹ nhàng, d́u tôi đi ngây ngất trên đồi núi quê hương. Có lúc bước chân ấy vội vă thúc bách khiến tôi ú ớ khó thở. Cũng có khi bước chân ông vừa vui vừa buồn, nghênh ngang, và ngơ ngác. Nhưng có lẽ điều tôi bị ám ảnh nhất là bước chân lúc ngập ngừng lúc hối hả mỗi khi ông đi xa trở về nhà. Tôi h́nh dung ra được cả hai bàn chân to lớn, với hai ngón cái và những ngón con. Bàn chân đạp b́ bơm trên những thửa ruộng c̣n ngập nước phèn. Lún trong những vũng bùn đen. Hoặc ch́m vào rêu cỏ. Tôi không hiểu tại sao tôi phát khóc khi tưởng tượng ra như thế! Tôi rưng rưng mê mải dơi theo bước chân ông cho đến lúc …trời sáng !

 

Bấy giờ có lẽ vào khoảng thời gian ông đi công cán trở về được gọi vào Bộ Lễ ít lâu rồi bị thải (1843)  hoặc vào năm thôi làm giáo thụ ở Quốc Oai  (1854).  Mỗi lần về nhà là  mỗi lần ông bị giao động dữ dội. Có lần nóng ḷng sốt ruột, thay v́ đi đường cái, th́ ông băng đồng đi lối tắt cho nhanh. Ta có thể đoán đó là những lần ông đi thi Hội trở về. Ḷng trẻ và hồn mơ. Bây giờ ông trở về từ cơi bụi hồng. Ḷng già và trí đạt. Hồn ông ngào ngạt t́nh thương. Ông đi bộ đến làng Đông Dư th́ dừng lại ngập ngừng. Ở đầu sông đă thấy thấp thoáng bóng làng ông. Từ xa đă có thể nhận ra nhờ cây gạo cao lớn. Tại sao nhà không c̣n cách trở nhiêu khê mà chân ông ngập ngừng quá thế ? Mỗi bước mỗi dừng. Không phải v́ thiếu người vơng lọng lễ nghi quan cách (ông c̣n lạ ǵ cái chức tước nghi lễ bề ngoài trong đám quan trường.) Cũng không phải ông chậm bước chờ bạn đến sau. Mà v́ gần đây mang nhiều tục lụy. Khói nhân gian đă làm ông đau đớn. Làm ṃn mỏi chí trai. Ông không c̣n cái bồng bột hăng hái thuở thiếu niên nóng bỏng! Trong nhiều bài thơ ông đă nói đến tâm trạng ấy. Không chán nản thất vọng, mà là sự lặng lẽ thong thả của một trung niên hán tử đă từng trải đường đời, việc người. Đường đời cao thấp mịt mờ mây khói. Việc người nóng lạnh thất thường như nắng mưa. Ông vẫn chưa hẹn thật được lúc nào là lúc treo mũ từ quan. Chưa biết chắc đâu là nơi ông về đóng cửa vườn rau. Nhà ông có nửa mẫu ruộng hoang từ lâu không ai ḍm ngó, cỏ dại mọc cao ngập đầu. Họ hàng thân thích mỗi ngày mỗi thưa thớt qua lại. Ông biết đối với bà con, chưa có được bữa tiệc ḅ dê mời họ. Không biết đến bao giờ. Đời ông chỉ toàn là ly biệt. Ông nghĩ đến bước đường bôn tẩu phía trước mà ngùi ngùi. Ḷng ông không biết bao nhiêu cơ man t́nh cảm. Ông lặng lẽ nh́n trời. Trời đă tối rồi, dừng chân nơi đâu. Có lẽ ông sẽ ngủ trọ ở làng Đông Dư này thôi.

Sa hành đễ Đông Dư, kư mộ lưu túc

Giang đầu vọng cố hương

Cố hương vị tu trở

Như hà hành bất tiền

Nhất bộ nhất diên trữ

Phi quan phạp dư lệ

Ninh vị đẳng trù lữ

Cận lai phụ tục lụy

Tráng đồ bán tiêu tữ

Thế lộ canh yên vân

Nhân sự như hàn thử

Vị hữu quải quan kỳ

Sài môn tại hà hử

Bán mẫu cựu điền viên

Vu uế dĩ bất cử

Thân thích nhật dĩ sơ

Hà thường tốc ph́ trữ

Niệm biệt trướng tiền đồ

Mặc mặc bất dục ngữ

Nhật mộ vô định tung

Do vi dị hương xứ.

 

Đêm ngủ trọ làng Đông Dư

 

Bến đầu sông trông về cố quận

Làng ta kia kề cận tấc gang

Dùng dằng sao chẳng lẹ làng

Bước lên một bước trăm đàng ngổn ngang

Không phải v́ thiếu người vơng lọng

Không phải v́ ngóng vọng bạn bè

Mà v́ tục lụy năo nề

Chí trai ṃn mỏi ước thề phôi pha

Cuộc trần thế mây sa mặt sóng

Cơi người ta lạnh nóng vô thường

Bao giờ cởi mũ quan trường

Về đâu đóng cửa rào vườn ẩn cư

Nửa mẫu ruộng từ xưa c̣n đó

Cỏ dại đầy chả có ai chăm

Họ hàng thưa thớt mỗi năm

Lợn dê chưa mổ đăi đằng được nhau

Chuyện ly biệt ḷng đau quằn quặn

Ḷng dặn ḷng im lặng là hơn

Ngần ngừ trời tối trống trơn

Đêm nay đành trọ trong vườn làng Đông Dư.

 

Làng Phú Thụy có một cái g̣ cao đặt tên là g̣ Chương Sơn. Trong bài Đắc Hà Thành cố nhân thư thoại…ông đă nhắc đến:

Vấn tấn Chương Sơn cựu ẩn thôn

Cao đường vô dạng lưỡng nhi tồn

Lục niên sinh tử phù trầm địa

Nhất chỉ giao du cảm khái ngôn

Kim cổ sự đa tu thức định

Văn chương đạo tiểu lại cùng tôn

Diệc chi hệ vật phi trường sách

Đầu bạch qui lai dă bế môn

 

Đây là thư gửi bạn, trả lời thư bạn ở Hà Nội, báo tin về gia đ́nh ông, và hỏi thăm thơ phú của ông. Ôi được tin g̣ Chương Sơn nơi quê cũ đó, bố mẹ vẫn b́nh yên, hai con nhỏ c̣n khỏe mạnh. Đă sáu năm qua, trôi nổi sống chết trong cơi bụi hồng, tôi mượn giấy bút gửi lời cảm khái bạn bè. Việc xưa nay, sau trước, phải định tâm tĩnh trí, suy xét cho cùng. Nghiệp văn chương tuy không lớn (văn chương là đạo nhỏ) nhưng lúc cùng, nhờ đó mà thanh tao. Hỡi ơi! Biết dấn thân vào cơi thị phi không phải là kế bền lâu, nên ḷng này vẫn hẹn đến khi đầu bạc sẽ về lại quê g̣ đó ẩn cư.

Thư gửi bạn ở Hà Nội

 

Biết tin quê g̣ Chương Sơn ấy

Bố mẹ c̣n ai nấy b́nh yên

Sáu năm ch́m nổi triền miên

Đôi gịng gửi bạn nỗi niềm nhớ thương

Việc xưa nay phải thường tỉnh táo

Chuyện văn chương cơm áo đôi đường

Đem thân vào chốn đoạn trường

Hẹn khi tóc bạc về vườn ẩn cư

 

Câu “lục niên sinh tử phù trầm địa” là một chi tiết để ta đoán được ông làm bài này ở Quốc Oai vào khoảng năm 1853. V́ tính từ năm 1847 là năm ông trở lại làm việc ở Huế, đến năm 1852 đổi đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, và măi đầu năm 1854 ông mới được về quê. Đây cũng là chi tiết quan trọng để ta t́m hiểu tâm sự của ông vào những ngày tháng cuối cùng. H́nh như ông nghĩ nhiều về sự từ biệt cơi đa đoan, về ẩn nơi quê cũ ? Có lẽ ít người tha thiết về làng xưa như Cao Bá Quát. Bài Gặp Lại Làng Xưa (Tương Đáo Cố Hương) ông đă vẽ lại cảnh làng ông và tâm sự của ông:

Tương Đáo Cố Hương

 

Cao cao mộc miên thụ

Cổ cán hà thanh sơ

Thiều thiều vọng thử bang

Quyết hữu cao nhân lư

Trúc mật phú dư kính

Thảo phong nhiễu tiền trừ

Bích chiểu hí tiêm lân

Lục đằng tú gia sơ

Y tích truyền kinh xứ

Yển tức thứ hữu dư

Thanh nhàn duy thủ chuyết

Ngô khế tại huyền hư

Tự băo khuê tổ thượng

Cách vi khâu hác cư

Tuế cửu vị qui khứ

Chỉ ưng úy giản thư

Tiêu tiêu hoàn đáo thử

Mạch mạch dục hà như

Tố tâm kỳ bất phụ

Lai giả khả truy dư

 

Ḱa cây gạo cao ṿi vọi. Gốc đă già mà cành ngọn xanh tươi. Xa xa nh́n vào làng của bậc “cao nhân” ở đấy, thấy trúc tre đan kín lối đi về. Thấy cỏ thơm xanh rợn một thềm thơ. Thấy tung tăng cá lội trong ao biếc. Thấy lúa đồng dào dạt ngạt ngào. Đó cũng là nơi ta dạy học thuở xưa, nơi ngơi nghỉ tuyệt vời. Hỡi ơi chốn quê mùa mộc mạc chính là chốn ḷng ta thơ thới thanh nhàn. Hồn ta gửi măi vào mây trắng xa xôi. Ôi có ngờ đâu từ khi đeo ấn làm quan, ôm chí “lo trước vui sau” trong cơi nhân gian, mới phải xa quê nhà, rời thôn ổ. Đằng đẵng bao tháng năm chưa được trở về mái làng xưa, chỉ v́ sợ lệnh vua phép nước. Nay đă bơ phờ tóc bạc, khi trở về dằng dặc băn khoăn, bâng khuâng như vừa thua một cuộc cờ. Ḷng tần ngần thầm mong nỗi niềm xưa không ruồng rẫy tấm thân này, bởi v́ tấm thân này thầm hẹn sẽ không c̣n cuộc trùng sinh lầm lạc lúc ra đi.

 

Gặp lại làng xưa

 

Ḱa cây gạo vươn cao vẫn đó

Gốc đă già ngọn ngó vẫn thanh

Vời trông phong cảnh trong làng

Trong làng có cửa có nhà “cao nhân”

Tre trúc tốt quanh sân đầy ngơ

Cỏ tươi tươi cười rơ mặt thềm

Ao sâu cá lội êm đềm

Lúa thơm phơi phới khắp miền đồng xanh

Nơi dạy học trong lành xưa cũ

Cũng là nơi lam lũ nghỉ ngơi

Quê mùa cuộc sống thảnh thơi

Ḷng quê theo áng mây trời xa xa

Kể từ buổi vào ra thư kiếm

Mới đổi dời thôn điếm g̣ hang

Bao năm chưa được về làng

Một lo việc nước hai quàng lệnh vua

Nay phờ phạc như thua một cuộc

Trở về nhà thân thuộc nôn nao

Mai sau dù có thế nào

Bước chân tấc dạ xin chào nhân gian.

 

 

Tường Vũ Anh Thy

 

(trích Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi - Ức Trai xuất bản 1985)

 

http://www.gio-o.com/TuongVuAnhThy.html

 

 

© gio-o.com 2016