photo:daotao.vtv.vn



PHẠM THUỲ NHÂN

CON ĐƯỜNG GAI NHỌN!

(trích đoạn hồi ký)

 

Lê Cung Bắc, Tôi Và Thày Vũ Khắc Khoan

Từ Sân Khấu Đến Giảng Đường (1)

Từ Sân Khấu Đến Giảng Đường (2)

Thiên Đường Đã Mất (1)

Thiên Đường Đã Mất (2)

Rằng Trăm Năm Cũng Từ Đây

Câu Chuyện Nhỏ Của Tôi

 

Đó là tên của tuyển tập kịch bản phim truyện điện ảnh và truyền hình sắp xuất bản của tôi, xin được lấy làm tựa cho bài viết này khi đề cập đến 2 kịch bản phim “Trò ảo thuật” (tức “Gánh xiếc rong”) và “Dấu ấn của quỷ” – 2 kịch bản phim tiêu biểu cho những kịch bản phim khác tôi đã sáng tác trên suốt “con đường gai nhọn” mà tôi đã trải qua khi giã từ sân khấu (Kịch đoàn Thụ Nhân – Viện Đại học Đà Lạt) để bước sang điện ảnh vào đầu những năm 1980 (Hãng phim Giải phóng).

Nếu như những năm tháng dưới ánh đèn sân khấu là cả một thời sinh viên trai trẻ đầy hoa mộng (cho dù đã nhanh chóng tan vỡ sau 2 năm 1973 – 1974 như những cánh phù du) thì ngược lại con đường điện ảnh mà tôi đã đi lại khá dài (từ 1980) với nhiều gai nhọn – những cái gai thấy được mà chân không muốn tránh và những cái gai ẩn giấu đâu đó sẵn sàng đâm sâu vào tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ trước cuộc đời!





TRÒ ẢO THUẬT

(GÁNH XIẾC RONG)

Biên kịch: Phạm Thuỳ Nhân

Đạo diễn: NSƯT Việt Linh

Quay phim: NSƯT Đinh Anh Dũng

Hoạ sĩ: NSƯT Phạm Nguyên Cẩn

Nhạc sĩ: Hoàng Hiệp

Diễn viên: Bắc Sơn (ông già), NSND Thế Anh (ông chủ), Thái Ngân (cô ảo thuật), Lương Viễn Minh (thằng bé)…

Phim đen – trắng 35 mm, Xí nghiệp phim Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, sản xuất năm 1988.

Giải thưởng:

Giải khán giả, LHPQT Nantes (Pháp), 1990.

Bông sen bạc, LHPVN lần thứ IX, 1990.

Giải quay phim xuất sắc (Đinh Anh Dũng), LHPVN lần thứ IX, 1990.

Bằng khen của Ban giám khảo UNICEP, LHPQT Berlin (Đức), 1991.

Giải khán giả thiếu nhi LHPQT Uppsala (Thuỵ Điển), 1991.

Giải thưởng lớn, LHPQT Fribourg (Thuỵ Sĩ), 1992.

Bằng khen đặc biệt, LHPQT Laon (Pháp), 1993.

Giải nhất, LHPQT Phụ nữ, Madrid (Tây Ban Nha), 1994.

TRÊN CON ĐƯỜNG GIAN KHỔ!

Kịch bản Trò ảo thuật có thể nói là cột mốc quan trọng nhất trên bước đường sáng tác của tôi, là tác phẩm mà tôi yêu quý nhất vì một cách nào đó nó là “tự truyện” của chính tâm hồn tôi trong những tháng năm tôi hãy còn là một cậu bé hồn nhiên trong sáng trước cuộc đời… Nhưng ngay từ lúc đó, trang giấy trắng đã bị “hoen ố”.

Chuyện kể rằng…

Có một làng chài xác xơ, tơi tả vì biển động; dân làng phải chịu đựng đói khát, chắt chiu từng con cá, từng lon gạo để sống lây lất qua ngày với niềm hi vọng le lói Ơn Trên sẽ độ trì cho gió yên, biển lặng để tôm, cá đầy khoang! Nhưng niềm hi vọng đang dần dần trở thành tuyệt vọng cho đến một hôm...

Có một gánh xiệc bất ngờ xuất hiện và mang lại cho họ cái “giấc mơ có thật” biến chiếc thùng không thành chiếc thùng đầy cá!

Rồi, một đồn mười, mười đồn trăm những người dân làng nghèo khổ đã vơ vét những đồ đạc đáng giá còn lại trong nhà để bán lấy tiền đi coi hát xiệc!

Trong số những khán giả đó có một thằng bé. Trong đôi mắt hồn nhiên của nó (và kể cả dân làng) đây không là một “trò ảo thuật” mà là một “phép lạ” - cái “phép lạ” sẽ mang lại cơm no áo ấm cho bản thân thằng bé, gia đình nó và rộng hơn là cả ngôi làng đang đói rách!

Thế là nó lân la làm quen với cô gái làm ảo thuật - người được nó coi như “cô tiên trắng” cầm chiếc đũa gõ vào cái thùng không biến nó thành chiếc thùng đầy cá!

Trước sự ngây thơ đến tội nghiệp của thằng bé, cô gái không những không dạy mà còn chỉ ra cho nó đây chỉ là “trò ảo thuật” mà thôi! Song, nó không tin, nó cho rằng cô nói dối mặc cho cô cố phân bua! Thế là nó quyết tâm thử thách bằng cách bán cho người trong gánh xiếc một cặp cá mú bông lớn - được một lão ngư ông cho nó để bán lấy tiền đem em nó đang bệnh nặng lên nhà thương trị bệnh!

Và, trong đêm diễn nghiệt ngã ấy, thằng bé đã phát hiện ra sự thật: cặp cá mú bông lớn của nó đang nằm nổi bật giữa những con cá khác sau khi chiếc thùng được đổ xuống trong “trò ảo thuật” biến chiếc thùng không thành chiếc thùng đầy cá! 

“Lừa đảo! Nói láo!” Nó la lên và giận dữ bỏ ra khỏi rạp xiếc. Bất ngờ thằng bé gặp em gái nó đứng trước rạp chờ nó và báo tin dữ: em nó chết rồi vì không có tiền đi nhà thương! Thằng bé hoảng hốt lập tức chạy về nhà với bao nỗi giày xéo trong lòng!

Thái độ của thằng bé khiến cô gái bứt rứt, dằn vặt, cô chủ động tìm nó để phân trần. Nhưng thằng bé không muốn gặp cô - người mà trước đó nó từng coi là “cô tiên trắng”!

Cùng lúc đó dân làng lớn có, nhỏ có cũng nhao nhao kéo đến gánh xiếc để yêu cầu cô gái ảo thuật truyền dạy cho họ “phép lạ”! Người chủ gánh xiếc phải hứa hẹn sang ngày mai họ mới chịu bỏ về!

Sáng sớm thằng bé thấy dân làng lũ lượt kéo đến gánh xiếc với chiếc thùng gỗ nhỏ trên tay, nó cũng tò mò đi theo xem chuyện gì!

Thật bất ngờ! Khi họ đến nơi thì gánh xiệc đã biến mất! Chỉ còn lại bãi cát trống không vương vải những rác rến và những vật dụng bỏ đi của gánh xiếc...

Dân làng tức giận chửi bới, nguyền rủa bọn lừa đảo rồi lần lượt hậm hực trở về nhà!

Chỉ còn lại thằng bé! Nó chợt thấy đau đớn căm hận nhưng lại bâng khuâng khi nghe văng vẳng tiếng kèn trompette và thấy thấp thoáng bóng hình “cô tiên trắng” đang biểu diễn “trò ảo thuật” biến chiếc thùng không thành chiếc thùng đầy cá!

 

THUỞ CÒN THƠ NGÀY HAI BUỔI ĐẾN TRƯỜNG…

Sau khi học xong bậc tiểu học tại Trường Tiểu học Thanh Lộc (thôn Song Thanh), tôi học tiếp bậc trung học đệ nhất cấp tại trường Trung học Bán công Phan Rí Cửa (THBCPRC) toạ lạc tại một địa điểm có thể nói là thật thơ mộng trước mặt là hợp lưu của sông Luỹ và sông Đồng, sau lưng là một dãy đồi cát thấp trên đó mọc chằng chịt những bụi cây lưỡi long (một loại xương rồng).

         Năm 1963 tôi học lớp đệ thất và tròn 12 tuổi – cái tuổi trong trẻo, vô tư như trang giấy trắng chỉ biết có… “ngày hai buổi đến trường, yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ” (thơ Giang Nam). Cuộc chiến tranh chia cắt đất nước chỉ để lại trong đầu óc tôi những dấu vết mờ nhạt qua lời kể của má tôi về những ngày tháng kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp khi tôi mới sinh ra bước đi hãy còn chập chững!

Tuy nhiên, năm 1963 khi cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm do “Hội đồng quân nhân cách mạng”  mà cầm đầu là Đại tướng Dương Văn Minh nổ ra, thì tình hình chính trị - xã hội miền Nam đã bị chấn động mạnh mẽ không chỉ tại Sài Gòn mà còn lan ra khắp các địa phương ở miền Nam trong đó có xã Phan Rí Cửa nhỏ bé của tôi ở miền Bắc tỉnh Bình Thuận!

Người dân ở khu 6 thôn Hải Tân còn nhớ nhiều nhà hàm hộ giàu từng có mối quan hệ với chế độ Diệm đã bị rút lù nước mắm khiến cho nước mắm tại nhà lều của họ bị xả chảy tràn lan ra ngoài thậm chí ngập cả đường đi! Đến nhiều ngày sau nước mắm đọng trên đường hãy còn bốc mùi hôi thối ô nhiễm cả trung tâm xã!

           Những sự cố mang tính kích động đó cũng đã thấm nhiễm vào từng gia đình, từng cá nhân và cả ngôi trường một thời yên ả của chúng tôi! Dẫu vậy cũng chưa thấy có những biểu hiện cực đoan gì xảy ra trong mỗi giờ học, mỗi hành vi của một số các học sinh từng bị cho là cá biệt ở các lớp. Tuy nhiên, như một ngọn núi lửa đang chuẩn bị phun trào, đâu đó đã có những vận động bí mật của một số các anh chị vốn mang trong người sự bất mãn nào đó với xã hội, với nhà trường! Tất cả đang chờ đợi một cơ hội thuận lợi, thích hợp để châm một mồi lửa!

Mùa hè năm 1964, tôi đang học lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) và đang nghỉ hè để lên lớp đệ ngũ, thì một sự kiện xảy ra: hôm ấy tôi đang “học thêm” một mình tại một lớp học trống không thì anh họ tôi là C.H.S. học trên tôi 2 lớp tức lớp đệ tứ cũng từ Chợ Lầu xuống trường “luyện thi” trung học. Anh có cách học lạ đời là trong khi chúng tôi học trong lớp thì anh lại leo lên cái chòi canh cao ngất của ấp chiến lược sau trường mà học! Bấy giờ anh “hạ san” xuất hiện trước cửa lớp “học thêm” của tôi. Tôi nghĩ là anh xuống rủ tôi “đi rẫy” vì anh thích hái táo, hái ổi chùa của các khu rẫy sau trường rồi thách chủ rẫy rượt theo anh! Nhưng không, anh nói chuyện với tôi khá nghiêm túc khiến tôi cũng bất ngờ!

Anh nói đại ý một số học sinh trong trường đang chuẩn bị tổ chức cuộc bãi khoá với mục đích lui lại ngày khai giảng thêm một tháng để học sinh được nghỉ hè thêm; ngoài ra nhóm hành động sẽ kéo lên toà hành chánh quận Hoà Đa để gởi cho quận trưởng đơn kiến nghị với nội dung: kéo dài ngày nghỉ hè, giảm học phí và “tố cáo” một số các thày mà họ cho là không có đủ tư cách, yêu cầu ông quận trưởng phải thay những thày đó để thế vào những thày khác đáng kính hơn! Tôi hỏi các thày bị “tố cáo” đó là những ai, anh kể một vài tên như thày X, thày Y, thày Z… tôi nghe và im lặng không phản đối bởi chính tôi cũng không tán đồng tư cách của họ! Rồi anh đi vào vấn đề chính, anh nói nhóm hành động muốn mời tôi tham gia và nhờ C.H.S. là anh họ tôi “thuyết phục” tôi giúp cho nhóm về mặt “ăn nói”, “lễ tiết”. Tôi hỏi nhóm hành động gồm có những ai, anh cho biết: đệ tứ có C.H.S. (Chợ Lầu); đệ ngũ có Đ.H.N., Đ.G., T.V.X. (Phan Rí Cửa); P.M. (Chợ Lầu); đệ lục có Phạm Thuỳ Nhân (Phan Rí Cửa); đệ thất hình như không có!

          Tôi lại hỏi anh C.H.S. sao không chọn người khác mà là tôi, anh cho biết vì tôi sẽ là người đại diện nhóm trực tiếp gặp quận trưởng nên phải là một học sinh học giỏi, hạnh kiểm tốt, mặt mũi sáng sủa, gia đình tử tế và nhất là phải có khả năng ăn nói, thuyết trình dễ chiếm được cảm tình của người khác. Tôi đã được các anh lớp trên chọn đại diện cho nhóm mà lẽ ra việc quan trọng đó phải do chính các anh đảm trách! Anh C.H.S dường như hiểu được sự thắc mắc của tôi nên cười nói ngay: “Tụi tao mà vô gặp quận trưởng là “bể dĩa” liền! Mặt mũi thằng nào thằng nấy đều bặm trợn, học hành, hạnh kiểm lơ mơ, ăn nói thì mở miệng được vài câu đã cụt ý! Tao thấy mày là hợp nhứt! Mày thuyết trình hay!”

Năm 1964 khi tôi học lớp đệ lục thì môn quốc văn do thày V.Đ.S. phụ trách. Ngoài những giờ bình giảng văn học, luận văn, thày còn có sáng kiến cho học sinh thuyết trình những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng trong chương trình quốc văn lớp đệ lục. Tôi chọn thuyết trình cuốn Dế Mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài. Để cho phần thuyết trình được độc đáo và hấp dẫn, tôi đi lên khu vực quanh sân vận động Chi Lăng nơi có những mảnh ruộng lẻ nằm trơ trọi chỉ có thể gieo trồng lúa khi có mưa để tìm bắt dế. Trên mặt ruộng lổ chổ nhiều hang nhỏ, nhiều bãi cứt bò để từ đó con dế “tạm trú” bên dưới sẽ mang cái tên “dế hang” hoặc “dế cứt bò”! Muốn bắt dế hang thì cứ việc cầm theo cái lon sữa bò cũ hoặc cái gáo dừa rồi múc nước vũng đổ xuống hang, dế ở dưới hang bị ngộp sẽ lốp ngốp bò lên tha hồ mà bắt! Còn muốn bắt dế cứt bò thì cứ việc giở bãi phân bò khô lên, dế sẽ núp bên dưới nhanh tay mà chụp! Hôm đó tôi bắt được một con dế hang mun (còn gọi là dế than) màu đen bóng, cùng một con dế cứt bò lửa màu vàng rực. Lẫn vào với hai con mun và lửa này còn có mun pha hoặc lửa pha trộn lẫn giữa 2 màu chủ đạo đen và vàng nêu trên; nếu yếu tố mun trội hơn thì là mun pha, còn ngược lại yếu tố lửa trội hơn thì là lửa pha! Tôi đem 2 chú dế hang mun và lửa cứt bò về dưỡng bằng cơm nguội và rau tuyệt đối không được cho ăn giá đậu vì giá giòn dễ khiến dế bị rụng giò! Trúng trật không biết thế nào nhưng trẻ con chúng tôi tin là vậy và truyền miệng với nhau thành một thứ kiến thức dân dã sống động! Cuối cùng tôi chọn chú dế hang mun vì giống “nhân vật” Dế Mèn trong truyện cũng là dế mun, nhỏ con, lanh lợi, lí lắc và dĩ nhiên là “đẹp trai” dưới mắt nhìn của tôi! Và tôi hoàn toàn giữ bí mật không tiết lộ ý đồ của tôi dù là bạn thân để tạo bất ngờ!

Bắt đầu buổi thuyết trình sau khi chào thày phụ trách bộ môn quốc văn và các bạn tôi xin phép được giới thiệu nhân vật chính của buổi thuyết trình hôm nay. Trong khi mọi người còn đang cố tìm kiếm một “người lạ mặt” nào đó thì tôi lấy trong túi ra cái hộp diêm đưa lên và một lần nữa giới thiệu nhân vật Dế Mèn! Tôi đưa ngón tay đẩy nhẹ cái hộc của hộp diêm ra. Và ngay lập tức chú Dế Mèn dễ thương của nhà văn Tô Hoài bước ra khỏi cái hộc và đứng trên cái hộp diêm khẽ ngo ngoe đôi chân nhỏ nhắn phía dưới đầu và vuốt nhẹ cặp râu dài đen nhánh. Những tiếng vỗ tay, những tràng cười vui và những tiếng la “Dế Mèn! Dế Mèn!” nổi lên rộn ràng cả lớp học từ thày và trò, từ người thuyết trình và cử toạ! Buổi thuyết trình với phần mở đầu đầy kịch tính như vậy là đã thành công một nửa, tiếp tục cho phần kể chuyện sau đó. Chấm dứt giờ học thày V.Đ.S. đã cho tôi điểm tối đa (20/20) với lời khen ngợi về sự sáng tạo và khả năng kể chuyện! Thế là Dế Mèn phiêu lưu kí đã vượt qua ranh giới của lớp đệ lục để lan sang các lớp đệ ngũ, đệ tứ cuối cùng dẫn tới cuộc nói chuyện của anh C.H.S. với tôi trong những ngày cuối hè năm 1964!

          Và rồi tôi đồng ý tham gia không phải vì bản chất quậy phá của một học sinh cá biệt! Tôi chấp nhận tham gia làm người đại diện nhóm và phát ngôn viên vì niềm tin rằng những bất công, những chuyện xấu từ một số thày nào đó (mà tôi không tiện nói ra) sẽ được người cầm cân nẩy mực cao nhất của quận Hoà Đa giải quyết triệt để. Và hình như tất cả các anh em trong nhóm cũng đều có chung một nỗi khắc khoải, một niềm tin đó!

          Đúng 2 giờ trưa nhóm chúng tôi tập trung tại nhà bác cai ở trước trường để chuẩn bị lên quận Hoà Đa. Ai nấy đều hăm hở, tôi được giao cầm tờ đơn thỉnh nguyện khá dài gởi ông quận trưởng do các anh lớp trên viết tay mà trước đó tôi có đọc qua để nắm kĩ nội dung mà trình bày với ông quận trưởng. Song một tình huống bất ngờ xảy ra, chân thật đến cười ra nước mắt! Không một “vị” nào trong nhóm lấy cảm hứng từ cái mô hình “Hội đồng quân nhân cách mạng” đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm hồi cuối năm 1963 có một xu dính túi! Học trò mà! Đâu anh nào dám nói thật với cha mẹ để xin chút tiền lẻ đi làm “cách mạng” như mấy vị tướng kia! Kinh tế quả có sức mạnh to lớn, ngay tức khắc nội bộ nhóm hành động lập tức xáo trộn thậm chí có người đưa ra ý kiến không tiền đi xe thì… đi bộ lên Hoà Đa, không thể vì không có tiền mà tiêu tan bầu nhiệt huyết “cách mạng”! Đang sôi nổi tranh luận như vậy thì một “nhân vật vĩ đại” bất ngờ xuất hiện. Chính là bác cai trường. Bác cai ở trong nhà đã nghe lũ học trò đang bị rơi vào thế khó vì không có tiền nên lập tức đem tiền nhà ra gọi là đóng góp chi phí cho “hội đồng cách mạng” đi xe lam lên Hoà Đa gặp quận trưởng. Phải nói là hành vi trượng nghĩa của bác cai khiến cho chúng tôi vô cùng cảm động, cám ơn bác rối rít và lập tức bắt xe ngựa của bác Hai Lộ chạy ngang trước trường mà đi cho mau vì xe ngựa chở được nhiều người còn xe lam thì luôn đầy khách không thể chở hết anh em chúng tôi tròm trèm 7-8 người hay hơn nữa.

          Xe ngựa dừng lại trước toà hành chánh quận Hoà Đa, chúng tôi xuống xe và đi thẳng vào cổng quận. Tôi trình bày lí do và được lính gác cổng hướng dẫn vào phòng khách, tại đây chúng tôi được người thư kí nhận tờ đơn thỉnh nguyện gởi quận trưởng và bảo chúng tôi ngồi chờ. Niềm hi vọng tràn ngập trên các khuôn mặt học trò hãy còn hồn nhiên, vụng về của chúng tôi. Rồi ông quận trưởng xuất hiện trong bộ quân phục sĩ quan quân đội VNCH với quân hàm thiếu tá, dáng người ông khoẻ mạnh, tự tin và hoà nhã lúc nào cũng nụ cười trên môi và cặp kính trắng trí thức trên mắt đầy thân thiện.

          Chúng tôi đồng loạt đứng dậy chào ông quận trưởng, ông bắt tay từng đứa rồi mời chúng tôi ngồi vào ghế xa lông tiếp khách của ông xem chúng tôi như là những vị khách quý! Cầm trên tay tờ đơn thỉnh nguyện ông hỏi chúng tôi cặn kẽ từng chi tiết một và tôi, với tư cách là phát ngôn viên, đã trình bày cho ông một cách thấu đáo. Ông hứa ngay việc dời ngày khai giảng cho học sinh được nghỉ đủ 3 tháng hè. Lời hứa của ông khiến chúng tôi như bay bổng lên không trung! Rồi ông hỏi vào từng trường hợp giáo viên cụ thể bị chúng tôi khiếu nại và ông cũng nhận được những câu trả lời đầy đủ, chi tiết của tôi. Kết thúc buổi làm việc kéo dài suốt hơn hai giờ đồng hồ, ông quận trưởng đích thân tiễn đưa anh em chúng tôi ra tận sân quận lị và mạnh mẽ tuyên bố rằng chúng tôi hãy an tâm về tiếp tục nghỉ hè, ông sẽ trực tiếp can thiệp với nhà trường. Chúng tôi chào ông và túa ra khỏi quận đường như những cậu học trò nhỏ vừa tan trường với những điểm 10 trong cuốn tập!

          Ra khỏi cổng quận niềm vui vỡ oà khiến chúng tôi như vừa được chắp thêm đôi cánh không hề biết mỏi mệt là gì! Tiền xe bác cai cho vẫn còn dư chuyến về, nhưng tất cả đều nhất trí không đi xe mà đi bộ trả tiền dư lại cho bác cai! Đồng ý! Đồng ý! Chơi luôn! Những cánh tay giơ lên, những đôi chân sải bước. Tôi còn nhớ một cảnh tượng ngoạn mục: chúng tôi vừa đi vừa ca hát trên con đường mới để tránh đoạn đường cũ bị sông Luỹ xói lở của quốc lộ 1 chạy giữa cánh đồng lúa xanh rờn trong ánh hoàng hôn. Năm 1789 những người nông dân cách mạng Pháp kéo nhau từ Marseille về Paris phá ngục Bastille – biểu tượng của chế độ phong kiến Pháp, cũng sôi nổi như chúng tôi lúc đó mà thôi! Không ai trong chúng tôi có thể lường trước được những điều tệ hại nhất đang chờ đợi chúng tôi không lâu sau đó!    

          Khi bước vào nhà với một tâm hồn hân hoan, phơi phới tràn ngập những niềm vui thì ngay tức khắc tôi đứng sựng lại, biến sắc khi thấy trước mắt tôi ở bàn nước có mặt 3 người: bà nội tôi, má tôi và thày Đ.T. dạy Pháp văn! Cả 3 người đều im lặng nhìn tôi với những ánh mắt trĩu nặng những sắc thái tâm trạng khác nhau: bà nội tôi thì giận run; má tôi thì ngỡ ngàng và lo lắng khi nhìn thấy đứa con trai duy nhất hiền ngoan của bà đang biến thành khác với những gì bà tin tưởng và hi vọng; còn thày Đ.T. thì mỉm cười – nụ cười thách thức, đe doạ trước những sai lầm nghiêm trọng của đứa học trò giỏi, hiền lành, được gia đình giáo dục nghiêm khắc đang đứng trước mặt thày!

          Tôi ái ngại chào bà nội tôi, má tôi, thày Đ.T. và còn đang chưa hiểu điều gì đang xảy ra thì bà nội tôi nghiêm giọng bảo tôi ngồi xuống. Tôi nhìn má tôi để mong một sự trợ giúp nhưng má tôi cũng chỉ gượng cười bất lực trước bà nội tôi! Rồi bà nội tôi hỏi tôi bằng cái giọng Huế trầm bổng, dịu dàng nhưng không kém phần đanh thép tại sao lại dám làm những chuyện tày trời kết bè, kết lũ lên quận “tố thày” như vậy trong khi mình là con nhà gia giáo! Học trò mà đi tố thày là điều không thể chấp nhận được, đó là một tội lỗi cần phải bị trừng phạt một cách nghiêm khắc! Không thày đố mày làm nên! Sau khi bà nội tôi kết án tôi một cách nặng nề, bà quay qua xin lỗi thày Đ.T và các thày khác, bà hứa sẽ dạy dỗ tôi một cách nghiêm khắc! Thày Đ.T cho biết thày và các thày có liên quan sẽ không truy cứu những gì tôi đã làm, thày cho rằng tôi chẳng qua bị lôi kéo bởi những kẻ hư hỏng gây rối từ những lớp lớn hơn mà thôi! Cuối cùng bà nội tôi bắt tôi phải xin lỗi thày Đ.T và các thày. Tôi không thể chống lại bà nội tôi (và má tôi), tôi xin lỗi nhưng trong thâm tâm không cho rằng những gì tôi đã làm là lỗi! Tôi tin mình đã làm đúng. Tôi chỉ bứt rứt trước câu nói của má tôi sau đó khi chỉ còn hai mẹ con. Má tôi hiền lành nói: “Con làm chuyện đó chi vậy? Cũng đâu có thay đổi được gì! Hết người xấu này thì còn người xấu khác! Cũng vậy mà thôi!”. Tôi nghe má tôi nói nhưng tôi không tin vì tôi nghĩ phải tin vào một cái gì đó ở đời này!

           Sau khi cảnh cáo tôi trước mặt thày Đ.T., bà nội tôi “tuyên án”: quản thúc tôi tại nhà chỉ cho phép đi học rồi về nhà không được la cà, đàn đúm, “học thêm” gì nữa cả! Anh họ tôi C.H.S bị cấm không cho ghé ở lại nhà tôi như trước nữa (vì anh ở Chợ Lầu sáng đi xuống Phan Rí Cửa học, chiều đi về, trưa ở lại nhà tôi nghỉ ngơi).

          Tôi nghe các bạn khác cũng bị gia đình xử nặng như trường hợp P.M (Chợ Lầu): P.M bị ba quăng đồ đạc, vali, sách vở ra khỏi nhà kèm theo phán quyết: “Đồ mất dạy! Đi cho khuất mắt tao! Tao không có đứa con như mày dám tố cáo thày!” Thế là P.M bắt đầu cuộc đời phiêu bạt của nhà thơ – học trò với bút hiệu Thánh Kiều Anh (có nghĩa là cám ơn anh! Thank you!) và mái tóc dài loà xoà xuống mặt với bức ảnh nghệ thuật do nhiếp ảnh gia – nhà thơ Tô Duy Băng Thạch chụp trưng bày tại tủ kích trước tiệm chụp ảnh Mai Dân nơi anh làm việc, đây cũng là nhà của Trần Chí Dân bạn cùng lớp với tôi. Sau này vào niên khóa 1968 – 1969 khi tôi học lớp đệ nhất tại trường Phan Bội Châu (Phan Thiết), biết tôi ở Phan Rí Cửa nên một số bạn học ở Phan Thiết hỏi tôi có biết P.M. không, tôi nói P.M. là bạn tôi và họ hào hứng kể tôi nghe câu chuyện đã trở thành giai thoại mang “thương hiệu” P.M khi anh học lớp đệ tam tại trường này! Anh dám “liều mạng” dùng tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng lúc ấy Vòng tay học trò của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng để nói với cô giáo dạy văn xinh đẹp: “Thưa cô, vòng tay em không ôm nổi đời cô!”. Cô giáo nổi trận lôi đình và ngày hôm sau P.M. bị gọi xuống phòng giám thị nhận phán quyết của ông hiệu trưởng - ác thay lại là chồng cô giáo: “Đuổi!” Và, thêm một lần nữa nhà thơ Thánh Kiều Anh lại phiêu bạt tha hương trước khi trở về cưới vợ, cắm sào ở bến đò Phan Rí Cửa! Bây giờ thì nhà thơ “Cám ơn anh” đã trả xong món nợ giang hồ rồi!

          Còn Đ.G. có biệt danh “Hít-le” do thầy N.X.T. đặt vì thấy cậu học trò này có khuôn mặt khá giống với trùm Quốc xã Đức Adolf Hitler (chỉ thiếu có bộ râu cứt mũi)! Đ.G. lúc đó không hề hấn gì nhưng 2 tháng sau ngày khai giảng đã bị gia đình phát hiện ra sự việc có tham gia với nhóm “cách mạng”, do ai đó méc với anh Đ.G nên gia đình quyết định đưa đi “an trí” tại Đà Lạt và tiếp tục học trung học tại đây để không còn dây dưa gì với đám “quỷ sứ” tại quê nhà. Hành trình đi “an trí” tại xứ hoa đào của Đ.G. cũng khá thú vị. Anh xin học tại trường Trí Đức toạ lạc tại khu Nhà thờ Con Gà thành phố Đà Lạt. Lúc ấy trường khai giảng được 2 tháng rồi! Đ.G. áy náy trình Linh mục H. – hiệu trưởng, cuốn thông tín bạ (học bạ) lớp đệ ngũ. Cha H. mở ra thấy có lời phê “vô kỉ luật!” bèn hỏi lí do tại sao bị phê nặng như thế! Đ.G. kể lại câu chuyện đấu tranh của anh em trước đó, cha hiệu trưởng cười xoà thông cảm và cho Đ.G. vào học lớp đệ tứ mà không lấn cấn gì!

          Sau này khi mọi chuyện nguôi ngoai, tôi mới rõ sở dĩ các gia đình biết được việc chúng tôi lên quận gặp quận trưởng gởi đơn thỉnh nguyện khiếu nại một số vấn đề tại Trường Bán công Phan Rí Cửa, là do trong khi chúng tôi và quận trưởng đang nói chuyện thì một số các viên chức ở các phòng, ban quanh đó nghe được nội dung! Các viên chức này lại là người thân của các thày được chúng tôi đề cập tới trong đơn thỉnh nguyện nên họ lập tức thông báo cho các thày này biết ngay! Thế là một thế trận tinh vi và hiệu quả đã được dàn ra chờ đợi các “con mồi” sụp bẫy mà tôi là một trong những “con mồi” đó! Ngay khi bước chân qua ngưỡng cửa, tôi đã bị tấm lưới chụp xuống!

          Ngày khai giảng rồi cũng đến! Tôi được bà nội cho phép rời khỏi nhà lên trường làm lễ. Đây là cơ hội để tôi được gặp lại các anh trong nhóm để dò la tình hình vì mặc dù đã bị “khủng bố” ngay khi mới từ quận đường bước vào nhà nhưng chúng tôi vẫn đặt niềm tin vào người lãnh đạo cao nhất tại quận Hoà Đa: ông thiếu tá quận trưởng! Trong cuộc tiếp kiến chúng tôi ông quận trưởng đã hứa như đinh đóng cột là ông sẽ giải quyết mọi yêu cầu nêu trong đơn thỉnh nguyện vào đúng ngày khai giảng! Và bây giờ cái ngày trọng đại đó đang diễn ra trước mắt chúng tôi.

          Bên trong sân trường học sinh các lớp với đồng phục nam quần tây xanh dương, áo sơ mi trắng; nữ áo dài trắng, quần trắng đang xếp hàng thẳng thớm đúng theo từng lớp từ lớp đệ thất đến lớp đệ tứ trước cột cờ. Còn các thày thì đứng dọc dưới mái hiên văn phòng. Dường như đã quá 8 giờ làm lễ khai giảng, thày hiệu trưởng đứng cầm cái loa tay nhìn ra trước cổng trường rồi đưa loa lên gọi lớn: “Còn một vài em ở bên ngoài hãy nhanh chóng vào sân trường để chúng ta cử hành lễ khai giảng niên học mới!”. Một vài em ở bên ngoài không ai khác hơn là… chúng tôi! Chúng tôi không vào mà cứ lảng vảng trước trường. Một tấm băng rôn bằng tấm đệm viết lời kêu gọi học sinh bãi khoá được gắn lên hàng rào thép gai ngay trước cổng để bất kỳ ai – học sinh và dân chúng – đi ngang đều nhìn thấy! Hoạt động mạnh nhứt là nhóm lớp đệ ngũ gồm Đ.H.N., Đ.G., T.V.X. dùng vôi bột trắng viết lên mặt đường lộ trước trường câu khẩu hiệu chữ lớn kêu gọi tẩy chay khai giảng! Có một số các nam sinh và nữ sinh đến trễ định vào trường liền bị “ba chàng ngự lâm pháo thủ” ấy chặn ngang thuyết phục bằng lời lẽ nhẹ nhàng để họ quay về, còn những ai không nghe cự lại liền bị cũng “ba chàng ngự lâm pháo thủ” đó trở giọng răn đe, hù doạ sợ quá phải quay về nhà! Lúc ấy tôi và anh C.H.S. đứng cạnh tấm băng-rôn, tôi cứ nôn nao trong lòng vì tiếng loa của thầy hiệu trưởng cứ thúc giục bên tai, trong khi lại lo lắng nhìn về con đường dẫn lên cầu Nam uốn quanh trước trường. Xe cộ từ các nơi chạy xuống Phan Rí Cửa đều đi trên con đường này kể cả chiếc xe của ông quận trưởng quận Hoà Đa!

          Tôi bắt đầu cảm thấy dao động bèn hỏi anh C.H.S. sao ông quận trưởng chưa thấy xuống, tới giờ khai giảng rồi! Anh C.H.S. làm ra vẻ bình tĩnh động viên tôi thế nào ông quận cũng xuống thôi vì ổng đã hứa với tụi mình bữa đó rồi, chắc ổng bận giải quyết công việc gì đó, rán chờ chút đi!

          Bất ngờ tôi run lên, đôi mắt mở lớn nhìn về phía đầu khúc quanh trước trường, chiếc xe Land Rover màu xám mui trần quen thuộc của ông thiếu tá quận trưởng xuất hiện! Tôi buột miệng reo lên: “Ông quận tới! Ông quận tới!” Đối với một cậu học trò trường làng 13 tuổi như tôi, ông quận trưởng tựa như ông Bụt trong truyện cổ tích đem niềm vui tới cho những người thân cô thế cô, cùng đường lỡ vận như chúng tôi. Lập tức “ba chàng ngự lâm pháo thủ” cũng bỏ trận địa chạy tới vỗ tay hét to lên cùng với hai anh em tôi: “Ông quận tới! Chiến thắng rồi! Chiến thắng rồi!”

          Chiếc xe Land Rover màu xám dừng lại ngay trước cổng. Ông quận trưởng rời tay lái xuống xe. Bộ quân phục thẳng nếp, đôi giày bốt đen bóng loáng như mái tóc chải dầu bridăntin (brillantine) của ông, cặp kính gọng vàng đạo mạo. Chúng tôi bước tới cúi chào ông – vị “cứu tinh” của chúng tôi! Nhưng khuôn mặt ông chợt lạnh lùng, vô cảm nhìn chúng tôi! Khuôn mặt ấy hoàn toàn khác với nụ cười tươi tắn, đôn hậu, thân mật mà ông đã dành tiếp chúng tôi hôm ấy tại phòng khách quận đường! Chúng tôi ngỡ ngàng và bẽ bàng hơn khi ông vui vẻ bắt tay thày hiệu trưởng đang tiến ra đón ông. Hai người nói gì đó tôi không nghe được vì ở xa. Song tôi chợt cảm thấy hụt hẫng, trái tim thơ trẻ của tôi chợt đau nhói. Tôi nghe trong số các bạn tôi có tiếng chửi thề tức tưởi: “Mình thua rồi! Họ bắt tay với nhau rồi!”

          Tôi rán nhìn vào sân trường để xem liệu điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Ông quận trưởng cầm cái loa tay của thày hiệu trưởng đanh giọng nói như ra lịnh với đám lính của ông ta: “Tôi là Thiếu tá Quận trưởng quận Hoà Đa, tôi yêu cầu các em học sinh còn đang lảng vảng ở trước trường hãy nhanh chóng vào bên trong khuôn viên nhà trường để chúng ta bắt đầu cử hành lễ khai giảng niên học mới! Nếu em nào còn ngoan cố chống lại lịnh này thì sẽ phải chịu kỉ luật!” Mọi ánh mắt của thày, cô, học sinh trong sân trường đều đổ dồn về phía chúng tôi.

          Tôi chực khóc vì đau đớn, nhưng tôi không khóc vì như vậy là hèn trước mặt các bạn tôi. Tôi cũng không trách họ đã rủ rê, lôi kéo tôi vào vụ việc này mà cho đến lúc đó tâm hồn tôi vẫn hãy còn tinh khôi như trang giấy trắng trên đó chỉ được viết đầy những lời khen, những tưởng thưởng của các thày, cô về học lực và hạnh kiểm của cá nhân tôi! Nhưng kể từ buổi sáng đó tâm hồn tôi đã được ghi thêm những cảm xúc dạt dào, mới mẻ của lòng cao thượng, sự hi sinh, tình bạn nẩy sinh từ “cuộc chiến đấu không cân sức” này! Và tôi cũng cảm nhận được sự đau đớn tức tưởi như thế nào khi niềm tin của một tâm hồn thơ trẻ đã bị tan vỡ vì sự tráo trở của những lời hứa hẹn!

          Chúng tôi lặng lẽ đi vào trường trước những ánh mắt tò mò, lo lắng, ngạc nhiên của phần lớn các bạn. Chắc chắn các bạn ấy không hiểu điều gì đã xảy ra tại trường trong những ngày hè “yên ả” để đến ngày khai giảng phải đích thân ông quận trưởng đến dự và bắc loa “ra lịnh” cho một số “phần tử gây rối” (trong đó có tôi) phải “phục tùng” nếu không muốn, nói trắng ra, bị đuổi khỏi trường!

          Tôi đứng vào hàng ngũ của lớp đệ lục, nhiều bạn thắc mắc hỏi tôi chuyện gì đã xảy ra nhưng tôi không trả lời! Nhìn thái độ của các bạn tôi hiểu họ đang nghĩ thầm: một cậu học trò giỏi nhất lớp, hạnh kiểm luôn luôn ở tốp đầu, chưa từng bị điều tai tiếng gì thì tại sao lại có thể bỗng chốc biến thành “cá biệt”? Chỉ có tôi hiểu được điều đó. Tôi đã học được một bài học sâu sắc về sự “nổi loạn” chống lại sự bất công, thiên vị, suy thoái đạo đức ở một số “người thày” của tôi để chỉ yêu cầu họ phải sống một cách tử tế mà ngay tại nhà trường tôi không thể nào nói ra và được chấp nhận. Để rồi trong hành trình dấn thân, tôi đã có được một bài học nhớ đời về sự tan vỡ niềm tin và sự cô đơn của một con tim tan nát vì sự dối trá! Bài học “ngoại khoá” đó tôi đã không học được trong bất kì cuốn sách giáo khoa nào mà trải nghiệm bằng chính bản thân tôi trong một cuộc hành trình dài 10 cây số từ trường Trung học bán công Phan Rí Cửa lên toà hành chánh quận Hoà Đa rồi trở về! Sự thất vọng và khủng hoảng niềm tin vào cuộc sống là vết thương chưa từng được chữa lành trong suốt cuộc đời tôi kể từ mùa hè định mệnh 1964 trong sân ngôi trường mà tôi yêu mến nhất đầy ắp những kỉ niệm đớn đau của một thời thơ trẻ.

          Sau này, khi đi vào thế giới điện ảnh, tôi đã đem những dấu ấn khôn nguôi ấy vào kịch bản Trò ảo thuật trong đó thằng bé nhân vật chính đã bị khủng hoảng niềm tin trước cái “trò ảo thuật” của gánh xiếc chính là phiên bản của tôi vào mùa hè định mệnh ấy!

 

22 NĂM SAU (1964 – 1986)

Năm 1986 sau khi đã yên hàn với công việc chuyên môn là biên kịch và biên tập phim truyện tại phòng biên tập Xí nghiệp Phim Tổng hợp (sau là Hãng phim Giải Phóng) và đã “lận lưng” 2 kịch bản Con mèo nhung (1981), Tiếng sóng (1983) đều do đạo diễn Lê Dân dàn dựng, tôi bắt đầu mơ tưởng tới những khuynh hướng sáng tác mới mà tôi đã ấp ủ từ lâu kể từ những ngày còn học Ban Việt văn tại Viện Đại học Đà Lạt (1970-1974) và là thành viên chủ yếu (đạo diễn, diễn viên) của Kịch đoàn Thụ Nhân trong những năm tháng huy hoàng của kịch đoàn sinh viên này với việc trình diễn những vở kịch nổi tiếng trong nước và nước ngoài trong phạm vi Viện Đại học Đà Lạt, thành phố Đà Lạt cũng như những chuyến lưu diễn và giao lưu tại các thành phố và các viện đại học khác tại miền Nam: Ngộ nhận (Le Malentendu), Những người trung thực (Les Justes) của Albert Camus; Thành Cát Tư Hãn, Thằng Cuội ngồi gốc cây đa, Những người không chịu chết, Ga xép của Vũ Khắc Khoan; Kim Tiền của Vi Huyền Đắc; Kẻ hà tiện, Trưởng giả học làm sang của Molière…

Năm 1986 cũng là thời điểm cột mốc đánh dấu một bầu không khí cởi mở, đổi mới (perestroika), minh bạch hoá, công khai hoá (glasnost) về chính trị, xã hội, kinh tế tại Liên Xô cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác trong đó có Việt Nam! Tại Việt Nam, tình hình chính trị-xã hội có nhiều thay đổi theo chiều hướng cởi mở, đổi mới tích cực khiến cho các hoạt động kinh tế, văn hoá – văn nghệ có nhiều khởi sắc chẳng hạn tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, địa phương hoá tự cung tự cấp giữa các tỉnh thành trong cả nước đã bị giở bỏ để hàng hoá được lưu thông phân phối theo quy luật thị trường đã khiến cho đời sống của người dân được thoải mái hơn, dễ thở hơn trước đó rất nhiều; và đương nhiên sự “cởi trói” về kinh tế cũng kéo theo sự nở rộ, đơm hoa kết trái về văn hoá-văn nghệ trong đó có lãnh vực điện ảnh với sự ra đời của hiện tượng Đợt sóng mới như ở những nền điện ảnh khác trên thế giới.

Một đặc điểm rất quan trọng khác là kinh tế điện ảnh cũng có những chuyển biến tận gốc rễ, đó là các hãng phim (mà hầu hết là quốc doanh) không còn bị lệ thuộc vào nguồn ngân sách do Nhà nước bao cấp nữa mà phải tự chủ động tìm kiếm nguồn vốn sản xuất đảm bảo cho hoạt động của hãng phim mà trong đó vấn đề tinh giản biên chế ở các khâu (hành chánh, nghệ thuật, kĩ thuật…) đã diễn ra khá gay gắt!

Trong làn gió mới, tôi tin rằng mình có thể làm được một điều gì đó nhằm thực hiện “giấc mơ điện ảnh” thực sự của mình với kịch bản Trò ảo thuật.

Thoạt đầu tôi chọn tên kịch bản là Trò ảo thuật để đặt hành động kịch và tư tưởng của tác phẩm vào đó. Cái tên trực diện và thực tế này sẽ khiến đọc giả / khán giả phải chú tâm vào đó mà không bị chệch hướng!

           Về bối cảnh, tôi lấy vùng Phan Rí Cửa thuộc huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận vốn là quê hương của tôi từ khi còn bé để làm nền cho cốt truyện phim. Phan Rí Cửa với những làng chài hiu hắt nghèo khổ và những người dân chài đánh đố số phận của mình cho biển cả sóng cuồng, gió dữ mong kiếm lấy miếng ăn cho bản thân và gia đình. Họ luôn luôn phải đối diện với những hiểm nguy đến từ thiên nhiên hung bạo, bất trắc chung quanh: bão tố, cuồng phong, cá dữ… sẵn sàng xé nát chiếc ghe câu, ghe lưới và nhấn chìm thân xác đen đúa, gầy guộc của họ nhỏ nhoi như chiếc lá gãy vụn giữa trùng dương cuồng nộ!

Dẫu vậy dân làng biển quê tôi vẫn có những lúc tạm quên đi những nhọc nhằn, khốn khó của đời cần lao, lam lũ khi thỉnh thoảng có những gánh hát cải lương, hát xiệc, mô tô bay… về diễn tại rạp hát cũ kĩ hoặc tại bãi đất rộng giữa làng ở đó đoàn xiệc và mô tô bay đã dựng nên những rạp xiếc hoặc mô tô bay thật hoành tráng, quy mô dưới mắt lũ trẻ chúng tôi.

Chính ông nội tôi là người đã dẫn tôi đi xem hát xiệc và mô tô bay. Ở hát xiệc tôi và dân làng tôi đặc biệt bị mê hoặc bởi trò ảo thuật thường do một cô gái xinh đẹp ăn mặc rực rỡ bởi những dây kim tuyến lấp lánh dưới ánh đèn mănsông; còn ở mô bay thì là một cô gái khoẻ mạnh trong bộ đồ chẽn bó sát người, cổ đeo chiếc khăn quàng màu đỏ tươi bay phất phới khi lái chiếc mô tô “bay” lên thành cái thùng gỗ khổng lồ đang xoay vòng. Cô gái lái xe chạy nhanh với tiếng động cơ ầm ầm từ dưới đáy thùng lên tận miệng thùng nơi khán giả đứng nhìn xuống xem và tươi cười vẫy tay chào khán giả trong đó có tôi. Cả cô gái làm ảo thuật và cô gái lái xe mô tô bay, mỗi người một vẻ, nhưng đều ở lại trong kí ức thơ trẻ của tôi như là những nét đẹp lạ thường! Cô gái làm ảo thuật mang lại cho tôi giấc mơ diệu kì ở đó cái đẹp và sự kinh ngạc cả tin đã hoà quyện vào nhau khiến tôi không biết đâu là ranh giới của sự thật và ảo mộng! Trong khi đó cô gái xinh đẹp và chiếc mô tô bay hầm hố đang gầm rú chạy lên thành cái thùng gỗ đang rung lắc dữ dội lại cho tôi một khám phá khác về mối quan hệ giữa bạo lực và cái đẹp, giữa sự huỷ diệt của cái chết và sự sống!

Thế là sau đó chỉ trong vòng 7 ngày liên tục tôi đã viết xong kịch bản Trò ảo thuật và gởi cho một số người gồm bạn bè trong giới sáng tác để tham khảo cũng như Ban giám đốc và phòng biên tập Hãng phim Giải Phóng để trình duyệt. Dĩ nhiên có nhiều ý kiến trái chiều khác nhau nhưng đều công nhận Trò ảo thuật là một kịch bản lạ, thú vị về nghệ thuật song những gì mà nó chuyển tải trong đó được xem là “có vấn đề”, khó được cơ quan kiểm duyệt thuộc Cục Điện ảnh – Bộ Văn hoá & Thông tin chấp thuận thông qua!

May mắn là vào thời điểm đó sản xuất của điện ảnh Việt Nam không còn lệ thuộc vào “bầu sữa” bao cấp của Nhà nước nữa mà hoàn toàn tự cung tự cấp về vốn liếng. Cho nên kịch bản không phải gởi ra duyệt tại Hội đồng duyệt kịch bản trung ương trực thuộc Cục Điện ảnh ở Hà Nội nữa, mà do Hội đồng nghệ thuật và Ban giám đốc Hãng phim Giải Phóng tại Tp. Hồ Chí Minh quyết định. Thế là hãng phim đã tạo điều kiện cho kịch bản được đưa vào sản xuất khá nhanh chóng.

Thành phần chế tác đoàn phim được thành lập: biên kịch: Phạm Thuỳ Nhân; đạo diễn: NSƯT Việt Linh; quay phim: NSƯT Đinh Anh Dũng; hoạ sĩ: NSƯT Phạm Nguyên Cẩn;  chủ nhiệm: Quách Mạnh Kha (sau là Trần Khải Hoàng) để chuẩn bị cho việc chọn bối cảnh.

Một bất ngờ xảy ra khi sắp đến ngày đi chọn cảnh, đạo diễn Việt Linh yêu cầu tôi đổi toàn bộ bối cảnh và nhân vật trong kịch bản từ làng chài ven biển sang ngôi làng trên núi, các nhân vật từ người kinh trở thành người dân tộc! Đường dây cũng bị thay đổi với nhiều chi tiết khác hẳn! Tôi thật sự bị sốc trước yêu cầu này và hỏi Việt Linh tại sao, chị cho biết phải đổi để khán giả tin rằng người dân tộc với não trạng hồn nhiên, vô tư của họ mới có thể tin rằng “trò ảo thuật” kia là sự thật trong khi người kinh khó có thể có niềm tin đó vì “văn minh” hơn (!) Tôi thật sự ngỡ ngàng trước những ý kiến thay đổi này. Tôi phân tích cho các bạn thấy rằng truyện phim là một ẩn dụ, một ngụ ngôn phi không gian, phi thời gian có thể xảy ra bất kì ở đâu và bất kì lúc nào! Thông qua câu chuyện kể phi hiện thực, người kể chuyện – như nghệ sĩ hát rong – muốn mang lại cho người nghe cái sự thật ở bên dưới bề nổi phi hiện thực kia! Thông điệp của nó là sự khủng hoảng, sự sụp đổ về niềm tin của con người trước cái sự thật trần trụi, giả dối được thêu dệt bằng sự mĩ miều, tô vẽ! Đơn giản là vậy nhưng phức tạp cũng là vậy! Chính vì vậy mà ngay từ nền tảng triết học để hình thành nên một phản ánh luận nghệ thuật cho Trò ảo thuật, tôi đã chọn một làng chài heo hút ven biển có tính ảo mộng và phi hiện thực trong khi Việt Linh và các bạn khác lại yêu cầu phải bứng cái làng chài đó lên núi cho thực, cho có thể tin được!

Bên cạnh bối cảnh, nhân vật thì đường dây kịch cũng là vấn đề nóng cần phải tranh luận. Cuối cùng tôi không thể rút kịch bản lại vì điều đó có nghĩa là sụp đổ tất cả, bộ phim sẽ không được thực hiện! Nên chẳng đặng đừng tôi yêu cầu đạo diễn phải giữ đúng hành động kịch, “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mà tôi đã vạch ra cho hành trình khám phá sự thật của nhân vật (thằng bé) để từ đó tư tưởng của bộ phim được hiển lộ. Và chính tôi phải chấp bút viết lại những yêu cầu mới trên nền tảng của một buôn làng người Raglai!

Mùa đông năm 1987, tôi đích thân đưa cả đoàn thành phần chủ yếu đi chọn cảnh tại vùng núi Bác Ái thuộc huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận – địa bàn cư trú của tộc người Raglai. Tôi phần nào biết về tộc người này khi trước đó vài năm có đi thực tế sáng tác lên xã Phước Đại (Bác Ái) – quê hương của anh hùng Pinăng Tắc trong kháng chiến chống Pháp, lúc ấy đang được biết đến nhiều do việc phát hiện ra bộ đàn đá quý hiếm (đàn đá Bác Ái). Đã 23 Tết! Đó là ngày chọn cảnh cuối cùng quay về Sài Gòn. Các bạn từ đạo diễn, quay phim đến chủ nhiệm đều vui vẻ vì tìm được bối cảnh thích hợp, nhưng tôi chỉ thấy buồn vì cái làng chài Phan Rí Cửa hiu hắt của tôi trong kịch bản Trò ảo thuật sẽ không còn trong bộ phim của đạo diễn Việt Linh nữa! Đó là t”tâm trạng” của người biên kịch điện ảnh! Bởi sáng tác của họ (kịch bản) chỉ là mắc xích khởi đầu cho dù rất quan trọng và quyết định trong việc làm nên một bộ phim hay! Thôi thì tôi giữ lại kí ức về Phan Rí Cửa làng quê tôi, trong “bộ phim trên giấy” Trò ảo thuật này vậy! Bởi biển xanh biến thành nương dâu, ngay cả tên kịch bản rồi cũng sẽ bị thay đổi!

Tất nhiên bộ phim không phải là những con chữ kết nối với nhau như kịch bản, mà là những hình ảnh được quay và dựng (editing) vào nhau theo những quy luật của ngôn ngữ điện ảnh. Màu sắc của các hình ảnh đó cũng được quyết định bởi các nghệ sĩ sáng tác bộ phim (đạo diễn, quay phim, biên kịch) để nó có thể tự thân nói lên bầu không khí đặc trưng của nội dung phim mà không cần đến một sự thuyết minh bên ngoài khung hình. Cho nên mặc dù lúc đó (1987) điện ảnh Việt Nam đang  sử dụng phim màu orwo- color của Đông Đức và kể cả kodak- color của Mĩ với một tỉ lệ không đáng kể, song chúng tôi cũng nhất trí sử dụng chất liệu phim đen-trắng (black-white) để thể hiện như các nhà điện ảnh Ý đã làm hồi năm 1945 sau khi Chiến tranh Thế giới lần 2 chấm dứt, với sự ra đời của trào lưu Tân Hiện thực (Néo – Réalisme) của điện ảnh Ý mà đại biểu là những bộ phim đen – trắng với nội dung đề cập đến xã hội và nhân dân Ý  sống trong những hoàn cảnh hết sức chật vật, đầy rẫy khó khăn sau chiến tranh: Kẻ cắp xe đạp (Bicycle Thieves) ĐD Vittorio De Sica, 1948; Gạo đắng (Bitter Rice) ĐD Giuseppe De Santis, 1949; Rome thành phố bỏ ngỏ (Rome open city) ĐD Roberto Rossellini, 1943… Ngay từ đầu khi viết kịch bản Trò ảo thuật trước mắt tôi đã lung linh những hình ảnh đen – trắng của ngôi làng chài và rạp xiếc… Đen và trắng, thực và ảo, thiện và ác, đẹp và xấu, yêu và ghét, cao thượng và thấp hèn, trung thực và dối trá… luôn luôn là những khái niệm đi đôi với nhau trong cuộc sống của chúng ta. Có khi tách bạch đối lập; có khi che mờ lẩn khuất; có khi hai mà một, một mà hai…

Mặc dù Hãng phim Giải Phóng và vùng núi Bác Ái thuộc xã Phước Đại (huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận) ở cách nhau khá xa trên 400km, nhưng do bối cảnh tập trung tại xã Phước Đại và không có những cảnh quay tổ chức phức tạp nên chỉ trong vòng một tháng đạo diễn Việt Linh đã thực hiện xong phần thu hình, sau đó thêm khoảng một tháng nữa làm hậu kì (dựng phim, tiếng động, âm nhạc, lồng tiếng, in bản đầu…) coi như bộ phim Trò ảo thuật đã hoàn thành có thể ra mắt khán giả. Bấy giờ vào khoảng năm 1988, các thành viên trong đoàn làm phim từ đạo diễn, biên kịch, quay phim, hoạ sĩ, diễn viên đến anh em công nhân đều vui mừng trước thành quả của mình sau những tháng ngày vất vả lăn lộn trên vùng núi Bác Ái. Song ngay trong nội bộ HPGP cũng đã bắt đầu râm ran những lời ong, tiếng ve về nội dung của bộ phim: một số người khen ngợi về sự độc đáo, khác lạ về mặt thể hiện; nhưng một số người khác thì ngược lại phê phán bộ phim không tiếc lời và tiên đoán rằng chắc chắn Trò ảo thuật sẽ không được phép phát hành vì nội dung phim “có vấn đề”!

Quả nhiên Trò ảo thuật đã bị Cục Điện ảnh VN ách lại không duyệt cho rằng cần phải sửa chữa lại nội dung! Bấy giờ CĐẢ đã không duyệt nội dung kịch bản Trò ảo thuật trước như thời bao cấp mà do HPGP chủ động cả nội dung kịch bản lẫn kinh phí làm phim theo cơ chế mới! Cục đã không duyệt thì phim không được phép phát hành đến với công chúng, kéo theo hệ luỵ nặng nề là phim sẽ không được Quốc doanh Phát hành phim và Chiếu bóng (FAFIM) mua! Tức HPGP sẽ không thu lại được tiền làm phim thậm chí phải đứng trước nguy cơ mất cả chì lẫn chài và còn hơn thế nữa, những người có trách nhiệm của bộ phim Trò ảo thuật từ Ban giám đốc Hãng đến thành phần chủ yếu trực tiếp sáng tác (biên kịch, đạo diễn) sẽ bị “soi” khá kĩ để tìm ra những động cơ đã tác động đến việc sáng tác và sản xuất bộ phim!

Tình hình lại càng tệ hại hơn khi do không bán được phim cho FAFIM nên HPGP bị thiếu hụt một khoản tiền (tuy không phải là quá lớn do phim thuộc loại này kinh phí thấp) khiến ít nhiều ảnh hưởng đến tiền lương của mọi người trong hãng, phát sinh ra những lời ta thán từ những người đã chủ trương chống lại việc sản xuất bộ phim này từ khi nó hãy còn trong trứng nước là kịch bản!

Và để tìm cách giải cứu cho bộ phim “lệch lạc” này, xưởng phim truyện HPGP đã tổ chức một cuộc họp kiểm điểm nhằm đề ra giải pháp khả dĩ chữa trị cho nó! Và tôi không thể nào quên được cuộc họp căng thẳng, ác liệt mang tính quy chụp và huỷ diệt này mà trong số đó có không ít người nay đã ra người thiên cổ! Tôi xin được thắp cho họ một nén nhang và không muốn nhắc lại chi tiết chuyện cũ làm gì: cát bụi đã trở về với cát bụi!

Nhưng tôi không hề nao núng, dao động chút nào, tôi tin vào sáng tác của mình, không nhằm công kích, phê phán một cá nhân nào, tổ chức nào trong xã hội mà là nêu lên những góc nhìn khác nhau về thân phận con người trong cuộc sinh tồn của nó. Bên cạnh đó, kịch bản còn là một trải nghiệm trí thức, một kí ức tình cảm đầy đau đớn khi tôi lúc mới thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường (thơ Giang Nam), nhưng đã sớm mất niềm tin vào những lời hứa hẹn nào đó!

Động cơ duy nhất của tôi là viết một kịch bản về thân phận con người - chủ đề triết học mà tôi rất yêu thích khi còn học Ban Việt văn tại Viện Đại học Đà Lạt trước kia! Còn việc nhìn nó và thấy cái gì thì do não trạng và thân phận của từng người. Trên cơ sở đó tác phẩm nghệ thuật đã được nhìn nhận khác nhau thậm chí đối kháng, xung đột nhau một cách quyết liệt! Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du cũng từng trải qua một số phận khắc nghiệt như vậy, thậm chí ngay cả khi tác phẩm và tác giả đã được người đời tôn vinh!

 

VÀ… GÁNH XIẾC RONG

Thực ra buổi họp kiểm điểm góp ý cho phim Trò ảo thuật không chỉ xảy ra tại HPGP mà bắt đầu từ Cục Điện ảnh Việt Nam tại Hà Nội – nơi bộ phim không được duyệt để phát hành trong và ngoài nước và đương nhiên cũng không được FAFIM mua phát hành! Tôi nghe tin hành lang chớ không có một văn bản chính thức nào cấm phát hành bộ phim hoặc yêu cầu HPGP và đạo diễn Việt Linh phải sửa chữa chỗ này, chỗ nọ trong bộ phim rồi duyệt lại! Nhưng đồng thời tôi cũng nghe phong phanh một hội đồng gồm các vị có thẩm quyền của Cục Điện ảnh và FAFIM được thành lập để sửa chữa bộ phim này! Về sau, ở Trung tâm lưu trữ và phổ biến phim tại Tp. Hồ Chí Minh, ông H.T. – một cán bộ lãnh đạo của FAFIM – đã cho biết điều đó khi gặp tôi lần đầu tiên và được giới thiệu tôi là biên kịch của bộ phim! Tôi còn nhớ ông H.T. tròn xoe đôi mắt và buột miệng nói: “Cậu là tác giả kịch bản phimTrò ảo thuật đấy” à?”

Nhưng chúng tôi đợi mãi vẫn không thấy hội đồng ấy đã làm việc xong chưa và có những ý kiến gì để nhanh chóng bắt tay vào việc sửa chữa mà tệ nhất là phải quay lại một số phân đoạn nào đó!

Bất ngờ một hôm chúng tôi được thông báo: Ban giám đốc và những người có thẩm quyền của HPGP cũng như thành phần chế tác bộ phim “Trò ảo thuật” có mặt tại phòng họp của hãng, để tham dự phiên họp quan trọng với Cục trưởng Cục Điện ảnh Việt Nam – đạo diễn Nguyễn Thụ - về việc sửa chữa phim Trò ảo thuật!

Tôi vừa mừng vừa lo: mừng vì ít ra người có tiếng nói cao nhất của ngành điện ảnh VN sẽ phát biểu chính thức về số phận của bộ phim; song lo vì không biết ông cục trưởng sẽ yêu cầu sửa chữa gì đây! Có khi nào sửa xong thì chẳng còn nhận ra mặt mũi của Trò ảo thuật nữa!

Nhưng tôi thật bất ngờ khi ông Cục trưởng Nguyễn Thụ phát biểu đại thể: “Chúng tôi đã tính toán nhiều phương án để sửa chữa bộ phim “Trò ảo thuật”, thậm chí yêu cầu đạo diễn phải quay lại cái kết! Nhưng rồi vẫn thấy không ổn bởi bố cục của bộ phim khá chặt chẽ, sửa không khéo sẽ làm ảnh hưởng đến thể hiện nghệ thuật của nó vốn đã hoàn chỉnh! Tính tới tính lui tôi thấy không cắt bỏ hoặc quay lại cái gì cả, mà giữ nguyên những gì đã có! Chỉ yêu cầu hai việc: thứ nhất, đổi tên phim “Trò ảo thuật” thành “Gánh xiếc rong”; và thứ hai: đạo diễn cho thu âm câu nói đại ý “đây là câu chuyện của bà kể cho cháu nghe” rồi gắn vào đầu phim khi chiếc xe ngựa của gánh xiếc đi vào bản làng trên núi!”

Mọi người đều cảm thấy nhẹ nhõm! Tôi không thể nào ngờ câu chuyện đầy kịch tính này lại có một cái kết “khó tin nhưng có thật” như vậy!

Gánh xiếc rong sau đó được duyệt cho phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhưng với điều kiện: không chiếu ở miền núi cho đồng bào dân tộc vì nội dung “nhạy cảm”! Sự “nhạy cảm” không chỉ giới hạn ở cộng đồng người dân tộc miền núi mà cả đối với khu vực nước ngoài (các liên hoan phim quốc tế) vì những lí do không rõ ràng (theo kiểu có thể được mà cũng có thể không được tuỳ nơi, tuỳ lúc)!

Năm 1989 sau khi bộ phim hoàn thành, ông Alain Jalladeau – giám đốc LHP Ba Lục Địa, Nantes, Pháp – đã mời phim tham dự. Song nó đã bị từ chối thẳng thừng vì những trở ngại đã nêu trên. Đến năm sau 1990, LHP Nantes lại tiếp tục mời Gánh xiếc rong sau khi đã lỗi hẹn vào năm trước! Song ông Alain Jalladeau lại tiếp tục nhận được sự im lặng khó hiểu của những cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam mà không một lời giải thích! Cũng may đầu tháng 11-1990 cách ngày khai mạc LHP Nantes (khoảng cuối tháng 11- 1990) một thời gian không xa, cũng tại Pháp diễn ra một LHPQT khác mang tên Những ngày điện ảnh Orléans trong số các phim tham dự có 2 phim VN: Người tìm vàng (ĐD NSND Đào Bá Sơn, 1989), Gánh xiếc rong (ĐD NSƯT Việt Linh, 1988) – hai phim này được sản xuất liền nhau năm trước, năm sau. Không hiểu tại sao LHP Nantes mời Gánh xiếc rong không được Bộ Văn hoá Thông tin chấp thuận, nhưng Bộ lại cho phép phim tham dự Những ngày điện ảnh Orleans cũng ở Pháp! Có sự “nhầm lẫn” để lọt nào không? Biết được thông tin quý báu này, ông Alain Jalladeau – GĐ LHP Nantes, lập tức liên hệ ngay với Ban tổ chức Orleans để “mượn” Gánh xiếc rong về tham gia LHP Nantes và đưa ngay vào hạng mục thi tuyển (compétition)! Đạo diễn Việt Linh được mời tham dự và ngay tức khắc trở thành “trung tâm chú ý” của truyền thông bởi cô là đạo diễn nữ duy nhất đối đầu với 8 đạo diễn nam của các nước khác! Tội nghiệp cho Gánh xiếc rong và Việt Linh khi phim không có phụ đề tiếng Pháp hoặc tiếng Anh để khán giả có thể đọc mà hiểu nội dung như các phim khác tại liên hoan phim, thế là đạo diễn phải tự thuyết minh áp tiếng Pháp (như thuyết minh phim ở các rạp chiếu phim lúc đó tại VN) cho khán giả có thể phần nào hiểu được bộ phim!

Tuy nhiên những sự vất vả, nhẫn nhục, kiên trì của Việt Linh cuối cùng đã mang lại thành quả xứng đáng: Gánh xiếc rong được trao Giải Phim được khán giả yêu thích nhất! Và sau đó là một loạt những giải thưởng trong nước và quốc tế khác: Bông sen bạc LHPVN lần thứ IX, 1990; Bằng khen của BGK UNICEF, LHPQT Berlin (Đức), 1990; Giải khán giả thiếu nhi LHPQT Uppsala (Thuỵ Điển), 1991; Giải thưởng lớn LHPQT Fribourg (Thuỵ Sĩ), 1992; Bằng khen đặc biệt LHPQT Laon (Pháp), 1993; Giải nhất LHPQT phụ nữ Madrid (Tây Ban Nha), 1994…

Điều đó khiến tôi càng vững tin rằng mình đã hành động đúng: nghệ thuật luôn luôn là niềm an ủi và khích lệ con người, nâng nó dậy khi nó tuyệt vọng và chỉ ra cho nó đâu là sự thật giữa cuộc đời tăm tối!



 

DẤU ẤN CỦA QUỶ

 

Biên kịch:  Phạm Thuỳ Nhân

Đạo diễn:   NSƯT Việt Linh

Quay phim: NSƯT Đoàn Quốc

Hoạ sĩ:        NSƯT Phạm Hồng Phong

Nhạc sĩ:      Phú Quang

Diễn viên:  NSƯT Ngọc Hiệp (cô gái quỷ), Đơn Dương (tử tù), NSƯT Lê Cung Bắc (ông cùi)…

Phim màu 35 mm, Hãng phim Giải Phóng sản xuất năm 1992

Giải thưởng:

          Giải Đặc Biệt Liên hoan phim châu Á – Thái Bình Dương, lần thứ 38,          

          Fukuoka (Nhật Bản), 1993.

          Giải Đặc Biệt  của Ban giám khảo, LHP VN, lần thứ X, 1993.

          Giải Nữ diễn viên chính xuất sắc (Ngọc Hiệp) LHP VN, lần thứ X, 1993.

          Giải quay phim xuất sắc (Đoàn Quốc), LHP VN, lần thứ X, 1993.

          Giải hoạ sĩ xuất sắc (Phạm Hồng Phong), LHP VN, lần thứ X, 1993.


 

DẤU ẤN CỦA QUỶ

Vả, Đất là vô hình và trống không…

(Sáng Thế Kí 1:2).

Bấy giờ (năm 1992), sau khi cùng với phim Gánh xiếc rong làm một cuộc chu du đến các liên hoan phim quốc tế, NSƯT Việt Linh trở về nước chuẩn bị cho một dự án làm phim mới dựa trên tác phẩm văn học của nhà văn Chu Lai. Song, sau đó dự án này không thành vì nhiều lí do. Như vậy coi như chương trình làm việc của Việt Linh ở quê nhà năm 1992 sẽ là con số không, chị sẽ quay về Paris mà không có một bộ phim mới nào mang theo. Bởi người ta vẫn kì vọng rằng sau Gánh xiếc rong, Việt Linh sẽ trình làng một tác phẩm tiếp tục gây chú ý!

Trước tình hình đó, tôi hỏi Việt Linh có muốn làm một bộ phim dựa trên câu chuyện về ba con người có số phận nghiệt ngã bị xã hội xua đuổi, xa lánh, thậm chí tiêu diệt vì những lí do khác nhau! Song số phận đẩy đưa khiến cho họ phải dựa vào nhau để tồn tại làm bừng sáng lên tình yêu thương và sự độ lượng của trái tim con người. Việt Linh đồng ý và đề nghị tôi viết ngay đề cương chi tiết để chị xem qua và trình lên Ban giám đốc Hãng phim Giải Phóng.

Hôm sau, dự án làm phim Dấu ấn của quỷ đã được bắt đầu với câu chuyện được tóm tắt như sau:

Đã lâu lắm rồi có một ngôi làng chài heo hút nằm giữa những dãy đồi cát, rừng và biển. Từ lâu dân làng sợ hãi nói về một “con quỷ” thường lần ra bìa rừng tru lên ai oán mỗi độ trăng tròn! Chỉ có một người không sợ, đó là ông cùi, chẳng những không sợ mà ông còn là “ân nhân” của con quỷ khi đã bí mật cứu nó lúc nó hãy còn là một đứa trẻ bị bỏ rơi trôi giạt trên một chiếc thúng chai trôi tấp vào làng và được dân làng phát hiện đem về nuôi. Tình cờ chẳng bao lâu sau ngôi làng bị bệnh dịch khiến nhiều người chết! Thế là đứa bé bị thày pháp trong làng quy là nguyên nhân đã gây ra thảm hoạ đó, do trên ngực nó có một cái bớt đen mà thày pháp cho rằng đó là “dấu ấn của quỷ”! Vậy là đứa bé bị dân làng đem bỏ phơi nắng trên đỉnh đồi cát cho chết để trừ khử tai hoạ cho làng! Ông cùi thấy tội nghiệp quá nên đem con bé vào rừng giấu trong hang đá và bí mật nuôi nó cho đến khi khôn lớn trở thành “con quỷ” theo cách gọi của dân làng!

Trong khi đó cô gái - cũng như bao nhiêu cô gái khác - cũng có khát vọng được trở về làng và được đối xử như một con người bình thường. Nhưng điều đó là chuyện không thể vì dưới mắt dân làng con bé năm xưa đã chết, còn cô bây giờ chỉ là một “con quỷ” không hơn không kém, nếu gặp họ cô sẽ bị giết ngay! Cho nên ông cùi cấm tiệt cô tìm về làng, chính ông sẽ bí mật đem thức ăn vào cho cô và là chỗ dựa tinh thần cho cô! Cả hai kẻ bị xã hội ruồng bỏ sống tựa vào nhau và tin rằng số phận của họ đã được định mệnh an bài!

Nhưng một hôm kẻ thứ ba xuất hiện. Đó là tên tử tù can tội giết người bị quan trên áp giải về làng xử chém. Song hắn đã nhanh chân, lẹ mắt thoát khỏi bọn lính để chạy vào rừng!

Bọn lính áp giải không dám đuổi theo vì sợ con quỷ dữ trong rừng bắt ăn thịt như lời đồn đãi của mọi người! Thế là gã tử tù thoát chết và gặp “con quỷ”! Mối quan hệ giữa họ diễn ra một cách phức tạp, gay cấn khi cố gắng tìm hiểu nhau và tìm cách giải thoát gã tử tù ra khỏi chiếc gông đang khoá chặt tay gã! Cuối cùng gã cũng thoát được nhờ có sự giúp sức của một người không mong đợi: ông cùi! Bởi chính ân nhân của gã lại trở thành kì đà cản mũi khi ngăn cấm mối quan hệ giữa gã và cô gái suốt một thời gian dài!

Cuối cùng ông cùi cũng phải đứng ra tác hợp cho cô gái và gã tử tù vì họ quá yêu nhau! Một đám cưới đơn sơ mà trang trọng đã diễn ra trong hang động dưới sự chứng giám của trời đất!

Song đối với dân làng “con quỷ” và gã tử tù phải chết thì họ mới yên lòng! Thế là những cuộc lùng sục, truy nã tiếp tục với quy mô càng rộng lớn hơn! Điều đó khiến cho ông cùi lo lắng cho sinh mệnh của những người mà ông thương yêu, che chở, nhất là khi cô gái có thai!

Một hôm chàng trai liều lĩnh mò về làng để trộm lương thực đem về nuôi vợ đang có mang sắp sanh con, chàng bị bọn lính phát hiện giết chết! Cô gái vô cùng đau đớn trước cái chết tức tưởi của chồng! Và, chẳng bao lâu sau cô lại càng kinh hoàng khi sinh con ra lại phát hiện trên ngực nó có cái bớt đen “dấu ấn của quỷ” mà cô đã từng mang khi còn bé và từ đó những nỗi bất hạnh đã đeo bám theo suốt cuộc đời cô!

Cô gái lập tức lấy thanh củi đang cháy dí vào cái bớt để huỷ đi "dấu ấn của quỷ". Đứa bé sơ sinh khóc thét lên vì đau đớn cũng là lúc người mẹ bạc phận kiệt lực lìa đời! Đứa bé sau đó được bà mụ đem về làng nuôi nấng.

Sau khi chôn cất cô gái xong bên cạnh mộ chồng trên đồi cát nhìn xuống biển theo nguyện vọng của cô, ông cùi cũng nổi lửa đốt căn chòi với cả ông trong đó!

Ngọn lửa sẽ làm thanh sạch cuộc đời đầy tai ương và đau khổ này...

Vì thời gian không còn nhiều cho nên chúng tôi phân công như sau: tôi tập trung viết kịch bản còn Việt Linh cùng NSƯT Đoàn Quốc sẽ đi chọn cảnh theo sự đề xuất của tôi. Các bối cảnh chính đều nằm tại Duồng (Gành Son, bãi biển…)  xã Chí Công, La Gàn (ngôi làng cổ với những bức tường rào bằng đá; lăng vạn Bình Thạnh) huyện Tuy Phong và một số cảnh khác tại Bàu Trắng (bàu sen, làng chài, động cát…) huyện Bắc Bình miền Bắc tỉnh Bình Thuận nên cũng không phải vất vả tìm kiếm. Cũng may kinh phí sản xuất phim vào thời điểm đó hoàn toàn do HPGP quyết định – mà không chờ đợi Cục Điện ảnh duyệt kịch bản như thời bao cấp  – nên mọi việc diễn ra cũng nhanh chóng.

Trong vòng hai tuần lễ, tôi đã có thể hoàn chỉnh kịch bản, phù hợp với việc đạo diễn vừa chọn cảnh xong. Nhận kịch bản, Việt Linh bắt tay vào việc làm phân cảnh kĩ thuật. Và, chẳng bao lâu sau, BGĐ hãng phim đã có một cái gì đó cụ thể để ra quyết định sản xuất.

Ê kíp làm phim hoàn toàn khác với Gánh xiếc rong. Hoạ sĩ thiết kế là NSƯT Phạm Hồng Phong, quay phim – NSƯT Đoàn Quốc, nhạc sĩ – Phú Quang… Đáng chú ý nhất là khâu diễn viên. Phim chỉ có ba nhân vật quan trọng (cô gái quỷ, gã tử tù, ông già cùi) nên việc chọn diễn viên vừa khó lại vừa dễ.

Đơn Dương được chọn ngay vào vai người tử tù. Nhưng với một yêu cầu: cạo trọc đầu! Đơn Dương chấp nhận vui vẻ và tỏ ra tâm đắc với nhân vật.

NSƯT Lê Cung Bắc được chọn vào vai ông cùi. Tất nhiên cũng phải hài lòng với việc từ đầu tới cuối bộ phim chỉ mặc một bộ đồ lùm xùm và chịu để cho hoá trang “tàn phá dung nhan”!

Vai cô gái quỷ ban đầu được Việt Linh nghĩ ngay đến Thuỷ Tiên (rất thành công trong phim Vị đắng tình yêu của ĐD Lê Xuân Hoàng). Đạo diễn mong cô gái quỷ phải có một vóc dáng mảnh mai, dễ vỡ. Và Thuỷ Tiên tỏ ra phù hợp với điều này. Tuy nhiên vào giờ chót, Thuỷ Tiên không thể tham gia được!

NSƯT Ngọc Hiệp được mời vào vai ngay sau đó vì Việt Linh đã biết được khả năng diễn xuất của Ngọc Hiệp, nhất là sau phim Chuyến đi tìm vùng trời mơ ước của Hiệp tại Nhật (phim do Đài Truyền hình NHK của Nhật sản xuất). Ngọc Hiệp không hề “tự ái” khi không phải là người được mời đầu tiên. Song, có một trở ngại: những cảnh khoả thân! Và điều này được giải quyết (bằng người đóng thế) trong một số cảnh!

 

VỀ MIỀN NẮNG GIÓ

Trong buổi họp báo ra mắt đoàn làm phim Dấu ấn của quỷ, đạo diễn Việt Linh cho biết đây là lần đầu tiên chị thực hiện một bộ phim “có yếu tố sex”!  Kịch bản của nhà biên kịch Phạm Thuỳ Nhân đã thực sự hấp dẫn chị, khiến chị thích thú đến độ lao vào công việc với tất cả sự nhiệt tình của mình; sau một tuần, phân cảnh kĩ thuật đã hoàn thành. Một tốc độ kỉ lục!

          Trước khi lên đường, đoàn làm phim đã được “lưu ý” trước về sự gian khổ sẽ gặp trong quá trình làm phim, người ta nói đùa với nhau: Chuẩn bị mà chịu đựng vất vả, vì Việt Linh là một đạo diễn “trường lớp”! Nghe ra thì cứ tưởng vì chị tốt nghiệp đạo diễn điện ảnh ở trường VGIK Liên Xô, nhưng thực ra lại có một hàm ý  khác: đoàn làm phim sẽ được ở… trường học! Vì những bối cảnh Việt Linh chọn quay thường là ở những chỗ không có khách sạn hoặc nhà trọ, nên phải tá túc ở trường học hoặc ở đình chùa… như những phim chị làm trước đây: Nơi bình yên chim hót, Phiên toà cần chánh án, Gánh xiếc rong… Còn, ở trong phim này, vì có sự tham gia của “thị trường” nên có khá hơn, đoàn được ở… nhà dân!

          Xe đến huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận vào một buổi trưa nắng ong ong, cái nắng của miền đất này thật khắc nghiệt, cứ chói chang như thả lửa. Xe đang chạy bỗng “stop”, “mời ông cùi xuống xem nhà mình” – tiếng Việt Linh vang lên. Diễn viên Lê Cung Bắc lật đật xuống xe, cả đoàn “ồ” lên thích thú. Trên một cây keo nằm giữa rừng chuối lúp xúp, một cái chòi lá cheo leo giữa những nhánh cây, đó là nơi được chọn làm nhà ở của lão cùi trong phim, đã được Việt Linh phát hiện lúc đi chọn cảnh… Lúc đó, không ai biết được cái chòi này lại là nơi ghi dấu biết bao kỉ niệm vui buồn của những anh em đoàn làm phim trong thời gian làm việc tại đây…

          Sáng hôm sau đoàn làm phim thực sự bước vào trận, và chính cái chòi lại là chuyện khó xử đầu tiên. Số là ông chủ cái chòi khi biết đoàn làm phim sẽ đến quay tại “tư gia” của mình đã nhiệt tình dọn dẹp và chỉnh đốn lại cho khang trang để tiếp khách Sài Gòn. Thế là, ôi thôi! Còn đâu là nét hoang dã, tự nhiên khiến đạo diễn và anh em thiết kế thích thú trước kia. Bởi, những cành cây rườm rà đã được tỉa tót, lá lợp đã được thay mới, đã thế chủ nhân còn dựng thêm một cái nhà bên cạnh để tiếp đoàn cho… đàng hoàng! Nhìn cái chòi, đạo diễn Việt Linh chỉ còn biết ôm mặt kêu trời. Thế là tất cả lao vào giỡ nhà và sắp xếp mọi thứ lại như cũ, báo hại hoạ sĩ Phạm Hồng Phong và nhóm thiết kế của anh phải hì hục trồng lại từng nhánh xương rồng, tìm lại từng miếng lá cũ để đắp lên lớp lá mới. Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đấy. Cảnh đầu tiên cũng bắt đầu. Lê Cung Bắc trong chiếc áo choàng rách tả tơi và bộ mặt lở loét xuất hiện để vào cảnh quay…

          Ngày quay tiếp theo, mới 8 giờ sáng, 80 diễn viên quần chúng tham gia đóng phim đã có mặt. Hôm nay quay cảnh dân làng kéo đứa bé có vết chàm đi tế thần. Ra hiện trường, đạo diễn chỉ lên một đồi cát cao nhất, đoàn người sẽ kéo đứa bé lên đỉnh đồi, để đứa bé lại và đi xuống. Nhìn đồi cát cao ngất, trắng xoá dưới ánh nắng chói chang, ai ai cũng toát mồ hôi. “Cái thúng để đựng đứa bé đâu?”. Đạo cụ khiêng đến một chiếc thuyền thúng. Trời ơi! Kịch bản ghi là cái thúng mà? Thì thuyền thúng cũng là thúng, thúng lớn! Những mẩu đối thoại của dân Sài Gòn giữa vùng đất miền Trung, đúng là chẳng hiểu mô tê gì cả! Song, đành vậy… Phó đạo diễn Trần Ngọc Phong cởi phăng cái áo, mặc bộ đồ bà ba đen, cầm cờ đuôi nheo dẫn đầu, đoàn người đi lên đồi cát, 4 thanh niên lực lưỡng được cử ra đẩy thúng. Diễn viên 3 tuổi Tí Ti được đặt vào thúng. Đoàn bắt đầu đi lên đỉnh đồi cát trong tiếng trống chiêng inh ỏi, được nửa đường bỗng đạo diễn Việt Linh huơ tay ra hiệu ngừng lại, thì ra đoàn người phải đi sát mé đồi máy mới bắt hình được, muốn như vậy thì mọi người phải đi trên mặt nghiêng gần như dựng đứng của đồi cát. Thật nguy hiểm! Bé Tí Ti lúc đầu còn thích thú vì được đẩy lên đồi, cho đến khi thấy mình càng lúc càng lên cao và mọi người phía dưới chỉ còn là những chấm nhỏ thì sợ quá khóc thét lên, cứ chực nhảy ra khỏi thúng, chỉ cần nghiêng thúng là bé sẽ lăn từ độ cao 40-50 thước xuống biển. Cắt! Ngừng lại! Một đứa bé cùng tuổi người địa phương được đưa lên để “thế” cho bé Tí Ti. Sau đó đoàn người lại tiếp tục như con rắn bò chậm chạp lên đồi. Bỗng, đạo diễn Việt Linh đưa tay huơ mấy vòng. Phó đạo diễn Trần Ngọc Phong hiểu ý, dẫn đoàn người đi thành một vòng tròn. Trên nền cát trắng, đoàn người đi quanh chiếc thúng tạo thành một bố cục tuyệt vời đến nỗi đạo diễn sung sướng trào nước mắt. Cả đoàn làm phim trầm trồ trước cảnh đẹp chưa từng thấy này, quên cả những nỗi nhọc nhằn vừa qua.

          Cảnh thơ mộng nhất của phim cũng là nơi đoàn làm phim dừng lại lâu nhất: Gành Son thuộc xã Chí Công (Duồng), huyện Tuy Phong. Thiên nhiên đã tạo ra một doi đất màu đỏ rực ở sát bờ biển với những hình khối dị dạng, lô nhô do nước xói mòn, đứng ở đây tim người ta cứ nhói lên, lòng cứ dạt dào vì cảnh quang quá đẹp và kì ảo… Trong những mỏm đất đó, tổ thiết kế đã dựng lên một cái chòi bằng cành cây khô để làm nơi trú ẩn cho cô gái và người tù, và vào một buổi sáng người ta thấy từ một khối đỏ đã hình thành một bức tượng mẹ bồng con tuyệt đẹp – tác phẩm của hoạ sĩ Phạm Hồng Phong sáng tác tại hiện trường để phục vụ cho cảnh quay. Để ra được Gành Son, đoàn phải mang vác cồng kềnh đi hơn 1 cây số từ chợ xã Chí Công. Đến nơi, ai cũng thở hồng hộc, tội nghiệp nhất là Ngọc Hiệp (vai cô gái quỷ) phải mang một cái bầu “công nghiệp” độn bằng gối, và Lê Cung Bắc mặt hoá trang lở loét, lại tùm hụp trong cái áo choàng bằng bao tải giữa trời nắng chang chang  nóng hầm hập…

          Cảnh quay đầu tiên ở Gành Son là cảnh người tù tạc tượng con chó. Đơn Dương (vai người tù) với cái đầu trọc lóc, vào vị trí. Anh vừa xuống tóc cách đây vài hôm để vào vai. Song, cái khó nhất của cảnh quay vẫn là làm thế nào để con chó nhỏ trước mặt Đơn Dương phải nằm im để làm “người mẫu”. Song, con chó mà anh em đạo cụ mang đi từ Sài Gòn lại vô cùng nghịch ngợm, không chịu nằm im một chỗ. Anh Hùng Phương, phụ trách đạo cụ, phải gãi lưng cho chó ngủ. Máy! Hùng Phương lui ra, con chó bỗng tỉnh dậy… ngáp! Mọi người hồi hộp chờ đợi tiếng hô cắt của đạo diễn, nhưng chó ta lại nằm xuống ngủ tiếp, và cảnh quay hoàn thành tốt.

          Màn đêm buông xuống cũng là lúc những ngọn đèn pha được bật lên sáng rực. Có lẽ từ khai thiên lập địa tới giờ Gành Son mới có một đêm mở hội như thế này. Nhưng với Ngọc Hiệp thì đêm nay là đêm thử thách vô cùng to lớn đối với cô: đóng cảnh sinh con! Ngọc Hiệp rên rỉ, lăn lộn chuyển bụng đạt đến độ những người đứng ngoài cũng mệt theo cô. Hoá trang Thanh Vân liên tục chạy ra chạy vào để thêm nào là “máu”, “mồ hôi”, hoặc làm cho mặt Ngọc Hiệp xanh tái hơn, tóc rối hơn… Phó đạo diễn Trần Ngọc Phong không biết “miệng mồm” thế nào mà được một bà mẹ người địa phương đem đứa con mới sinh 5 ngày đi đóng phim! Đến chỗ quay, thấy Ngọc Hiệp máu me bê bết, chị hoảng lên đòi bồng con về, phải năn nỉ mãi mới chịu giao con cho Ngọc Hiệp bồng. Nhưng đến khi Ngọc Hiệp diễn cảnh cầm que củi cháy đốt vết chàm trên ngực con, thì chị dứt khoát không cho con “đi theo con đường điện ảnh” nữa, dù đã giải thích chỉ đốt “ăn gian”, đốt “dỏm”. Nhưng nói mấy cũng không được. Thế là đạo diễn Việt Linh đành phải quay lưng Ngọc Hiệp để giấu “đứa bé”! Có lẽ chưa có một sản phụ nào lại được chăm sóc chu đáo như Ngọc Hiệp: 30 người lo cho một người… đẻ, mà lại đẻ “dỏm” mới chết!

Sáng hôm sau, đoàn phim rời khỏi Gành Son, khi xe đã chạy cách vài chục km phó đạo diễn vẫn còn ngoảnh lại coi có ai rượt theo… đòi chém không! Chưa hoàn hồn sau “tai nạn” Gành Son, đến Mũi Né Trần Ngọc Phong lại nhận lệnh tìm kiếm một đứa bé sơ sinh để quay tiếp cảnh sau: cô gái chết, bà mụ (Tường Vân) bồng đứa trẻ đưa đám cô gái. Lại tiếp tục lùng sục, thuyết phục, cuối cùng một anh công an xã cho mượn đứa con mới 5 ngày tuổi. Giữa trời nắng chang chang, đứa trẻ diễn xuất bằng những tiếng oe oe xót cả ruột! Trong khi đó cảnh quay lại bị trục trặc cứ quay đi quay lại cho đến trưa! Anh công an sửng cồ lên, nói với phó đạo diễn: “Quay cái con… gì mà quay lâu vậy, chết con tui sao!” Trần Ngọc Phong xanh mặt năn nỉ hết lời, lỡ ổng mà nổi điên lên thì có nước… Nhưng rồi cảnh quay cũng xong!

Đoàn về thành phố được một ngày, bỗng có một lá thơ gửi về hãng phim đề tên Trần  Ngọc Phong, mở thơ ra thì tá hoả tam tinh vì đó là lá thơ anh công an xã báo: đứa bé sau khi “đóng phim” về thì bỏ ăn, bỏ bú lại sốt nóng, đề nghị anh “phó mập” gởi tiền ra để lo thuốc thang cho cháu. Kèm theo là một con mộc công an đỏ chói để bức thư thêm phần “trọng lượng”. Đang rối bời vì cái “tối hậu thư” kia thì đạo diễn Việt Linh báo tin còn “sét đánh” hơn: toàn bộ số phim quay đứa bé ở Gành Son bị hư, tìm ngay một đứa bé khác để quay lại! Trời đất thiên địa ơi! Phó đạo diễn như muốn phát điên lên vì những “tai nạn nghề nghiệp” chết người này. Nhưng biết làm sao, đâm lao thì phải theo lao thôi!

Thế là phó ta phải lang thang hết các công viên trong thành phố để tìm con… “bụi đời”, bởi vì ở thành phố ai dám đem “con ngọc con vàng” của mình ra thử sức với “xi-la-ma”! Một buổi chiều đang đi trong công viên, bỗng nghe tiếng oe oe từ sau một bụi cây, phó đạo diễn mừng húm thấy một người đàn bà bồng đứa con đỏ hỏn trên tay. Vội soạn lại bổn cũ, Trần Ngọc Phong tức tốc chở ngay hai mẹ con “diễn viên” về hãng phim. Lần này thì có vẻ êm thấm vì hai mẹ con đã quen cảnh phong trần trong chốn màn trời chiếu đất rồi! Quay xong, phó đạo diễn hân hoan chở hai mẹ con về chỗ cũ. Xe vừa xịch đổ bỗng bốp, bốp và tiếng hét của đàn ông: “Mày đem con đi đâu?” Rồi một người đàn ông mặt mày bặm trợn xuất hiện, sau khi cho chị vợ hai cái tát nổ đom đóm, bèn chỉ vào phó đạo diễn lúc đó mặt đang xanh như tàu lá mà rằng: “Thằng kia! Mày đưa vợ con tao đi đâu? Nói!” Phó đạo diễn định tẩu vi thượng sách nhưng ngó trật sau lưng đã thấy bị án ngữ bởi vài đệ tử cái bang với tó và gậy chực hô là phang liền! Tiến thoái lưỡng nan, Trần Ngọc Phong bèn xuống giọng, và may mắn sao cái chiêu bài “xi-la-ma” cộng với két bia con cọp đã làm dịu lòng các tay hảo hớn công viên, cho phó đạo diễn nguyên vẹn hình hài cùng chiếc xe cà tàng bò về hãng phim bình an vô sự…

          Nhưng, đứa bé mà khán giả cuối cùng xem trên phim vẫn không phải là “diễn viên nhí” bụi đời vừa kể! Hai ngày sau khi phim được tráng ra, đoàn phim lại nhận được tin sét đánh: dư sáng, không sử dụng được! Và, đứa trẻ tiếp theo… lại cũng là một câu chuyện giật gân không kém! Chỉ biết đứa bé ấy là “con ngọc con vàng” thực sự và cháu đã diễn xuất thật tuyệt trước sự chứng kiến của cả gia đình có mặt trong phim trường: bà nội, bà ngoại, mẹ, cô, dì vốn đều là dân trí thức.

          Giữa năm 1992, Dấu ấn của quỷ được hoàn thành. Buổi chiếu đầu tiên tại rạp Bến Thành đã tạo được tiếng vang trong lòng khán giả và giới truyền thông vì ấn tượng mà bộ phim mang lại, góp phần làm nên diện mạo mới của sáng tác điện ảnh Việt Nam.

 

ĐÃ MANG LẤY NGHIỆP VÀO THÂN…

          Tuy nhiên, cũng như Gánh xiếc rong, Dấu ấn của quỷ lại tiếp tục ma đưa lối quỷ dẫn đường, lại tìm những chốn đoạn trường mà đi (Nguyễn Du) khi bộ phim đã bị đối xử một cách hoàn toàn phi nghệ thuật.

          Năm 1993, sau khi đã được Cục Điện ảnh Việt Nam duyệt cho phép phát hành trong và ngoài nước, một vài ban tuyển phim của các LHPQT đã vào Việt Nam đến Hãng phim truyện VN tại Hà Nội và Hãng Phim Giải Phóng để xem và chọn phim có chất lượng tham dự các LHPQT mà họ là đại diện trong đó có LHP châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 38 tổ chức tại TP. Fukuoka (Nhật Bản) và LHPQT Rotterdam (Hà Lan).

 

LIÊN HOAN PHIM CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

LHP châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Film Festival, APFF) là một trong những liên hoan phim quốc tế quan trọng ở khu vực, trong đó bao gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á nằm trên bờ Thái Bình Dương: CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Singapore, Myanmar, Philippines… Đây là một liên hoan phim có tính cách truyền thống, mỗi năm tổ chức một lần tại một thành phố của các nước nói trên: lần thứ 36 diễn ra tại Đài Bắc, lần thứ 37 tại Seoul, và lần thứ 38 này tại Fukuoka (Nhật Bản).

Phim tham dự sẽ do một ban tuyển phim đến tuyển thẳng tại nước đó và sau đó Ban Tổ chức sẽ mời đích danh bộ phim được tuyển tham dự LHP. Vào khoảng tháng 4.1993, nhà phê bình điện ảnh người Nhật nổi tiếng, Tadao Sato, đã đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để xem các phim được sản xuất trong năm 1992 và đầu 1993 (phim điện ảnh). Cuối cùng, bộ phim Dấu ấn của quỷ (tên tiếng Anh là Devil’ s Mark) đã được chọn tham dự LHP châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 38 diễn ra từ ngày 6.9 đến ngày 10.9.1993 tại thành phố Fukuoka. Cũng cần nên biết ông Tadao Sato là người đã tuyển và tạo điều kiện giới thiệu 9 phim VN đến các LHPQT vào năm 1992 và đã tạo được một cái nhìn thiện cảm của khán giả và giới phê bình quốc tế đối với điện ảnh VN: Xương rồng đen, Đời hát rong, Thằng Bờm, Thị trấn yên tĩnh, Người cầu may, Em bé Hà Nội, Cô gái trên sông, Tướng về hưu, Ngọn đèn trong mơ.

Thậm chí Ban Tổ chức LHP vì muốn Dấu ấn của quỷ tham dự nên đã gởi cho giám đốc HPGP là ông Trần Thanh Hùng thư mời bộ phim và “nhắc khéo” rằng Dấu ấn của quỷ chắc chắn sẽ nhận được giải thưởng của LHP! Ông Trần Thanh Hùng rất mừng cho làm phụ đề tiếng Anh và gởi sang Fukuoka theo yêu cầu của BTC lòng tràn trề hi vọng!

Trong thời gian đó LHP châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 38 cũng gởi Bộ VHTT Việt Nam thư mời một phái đoàn điện ảnh tham dự. Nhưng, thật bẽ bàng và cay đắng không một ai được phép tham dự ngay cả đạo diễn NSƯT Việt Linh! Cũng may bộ phim đã nhanh chân vọt đến Fukuoka rồi!

Thật bất ngờ và vỡ oà hạnh phúc sáng ngày 10.9.1993 báo Tuổi Trẻ đăng ở trang nhất một góc nhỏ thông báo: phimDấu ấn của quỷ” đoạt Giải Đặc Biệt (The Special Prize) của LHP châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 38! Đây là giải thưởng đầu tiên của điện ảnh VN kể từ khi tham gia Hiệp hội Điện ảnh châu Á- Thái Bình Dương (FPA)! Bất ngờ vì không ai tin rằng Dấu ấn của quỷ đã có mặt tại Fukuoka vì thậm chí một phái đoàn điện ảnh cũng không được phép tham dự! Và vỡ oà hạnh phúc vì cuối cùng những nỗ lực không mệt mỏi của những người làm nên bộ phim (từ các nghệ sĩ đến nhà sản xuất, chuyên viên kĩ thuật, công nhân…) đã được đền đáp!

Cũng trong thời gian ấy NSƯT Lê Dân đã điện cho tôi thông báo một sự kiện “dị thường” mà cho đến bây giờ cảm xúc của tôi hãy còn đảo lộn giữa một bên là sự phẫn nộ, nhục nhã và bên kia là sự hân hoan, kiêu hãnh và tự hào!

NSƯT Lê Dân cho biết: Năm 1992 ông và đoàn điện ảnh VN gồm 8 đạo diễn khác và phim của họ được nhà phê bình điện ảnh Nhật Bản là ông Tadao Sato đưa sang giới thiệu tại Fukuoka (Nhật Bản). Nhân dịp này NSƯT Lê Dân được gặp một anh bạn Việt kiều sinh sống tại đây đã lâu. Anh rất thích phim “Xương rồng đen” (KB: Phạm Thuỳ Nhân – Nguỵ Ngữ) của đạo diễn Lê Dân và vì vậy tình cảm càng thêm thân thiết! Khi đạo diễn Lê Dân về nước bạn vẫn thường liên lạc qua điện thoại. Trước ngày bế mạc LHP châu Á – Thái Bình Dương anh điện hỏi ý kiến NSƯT Lê Dân một việc quan trọng như sau: Ban Tổ chức LHP tìm gặp anh và nhờ anh giúp họ một việc tế nhị và khá gay cấn – lên sân khấu nhận giùm giải thưởng của bộ phim VN đoạt giải chính thức của LHP vì không có đoàn điện ảnh VN tham dự! BTC sực nhớ tới anh là Việt kiều sinh sống tại Fukuoka nên nhờ anh đại diện VN lên nhận thay! Anh bạn ngỡ ngàng trước lời đề nghị này của BTC vì nó quá long trọng đối với anh, hơn nữa anh cũng băn khoăn sao không có đoàn điện ảnh VN tham dự một sự kiện trọng thể như thế này nhất là khi bộ phim đoạt được giải thưởng! Sao sứ quán VN tại Tokyo không cử người nhận thay? Nhiều câu hỏi được đặt ra khiến anh hoang mang chưa thể quyết định được ngay! Thế là anh gọi điện về Tp. Hồ Chí Minh để nhờ NSƯT Lê Dân cho ý kiến! NSƯT Lê Dân nói ngay là anh nên làm vì không thể để BTC xướng tên bộ phim VN đoạt giải mà không có nghệ sĩ VN hoặc đại diện điện ảnh VN lên nhận giải! Vì như thế sẽ gây ra cú sốc cho khán giả Nhật Bản và thế giới có mặt tại hội trường lễ bế mạc LHP châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 38 và trao giải (chưa kể một số lượng lớn người xem qua truyền hình!). ĐD Lê Dân động viên anh bạn Việt kiều nên nhận hộ vì đó là vinh dự chung của người VN mình, không nên phân vân, ái ngại! Thế là anh bạn Việt kiều đã đĩnh đạc và xúc động lên nhận Giải Đặc Biệt của LHP Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 38 với bộ phimDấu ấn của quỷ” (Devil’s Mark) trong tiếng vỗ tay vang dội của khán giả!”.

Ngày 24.9.1993, ông Tadao Sato đã gởi fax từ Tokyo báo cho nữ đạo diễn Việt Linh biết:

Bộ phim của bà đã được Giải Đặc Biệt (The Special Prize) của Liên Hoan Phim Châu Á – Thái Bình Dương năm nay (1993)”.

Giải Đặc biệt (The Special Prize) là một trong những giải quan trọng được BGK tặng cho bộ phim tạo được chú ý nhất, như nội dung bức điện đã nêu:

Tất cả các thành viên trong BGK đều rất xúc động vì bộ phim của bà”.

Ngoài ra, dư luận khán giả cũng đánh giá rất cao bộ phim. Ông Tadao Sato cho biết:

Chúng tôi cũng đã nghe được rất nhiều khán giả xúc động nói về bộ phim của bà. Họ nhờ tôi nhắn với bà “cám ơn bà rất nhiều về bộ phim hay như thế” nếu tôi gặp bà”.

Ông Tadao Sato chỉ tỏ ý tiếc một điều:

Thật đáng tiếc, không có một người nào của phái đoàn VN tham dự liên hoan phim của chúng tôi năm nay, cho nên trong lễ trao giải, một người đàn ông VN  sống tại Fukuoka đã nhận giải hộ bà”.

Và, cuối bức điện, ông cũng cho biết thêm:

Chúng tôi chắc chắn rằng giải thưởng sẽ được gởi về Hội Điện ảnh Việt Nam (Tổng Thư kí là ông Đặng Nhật Minh) sớm từ Hội các nhà sản xuất Điện ảnh Nhật Bản là cơ quan của LHPCATBD năm nay”.

Song, Bộ Văn hoá Thông tin một lần nữa lại không cho phép Dấu ấn của quỷ tham dự LHPQT Rotterdam (Hà Lan) mặc dù trước đó đoàn tuyển phim của LHP này đã đến xem phim tại HPGP và chọn Dấu ấn của quỷ với lí do: rất xúc động vì tính nhân bản toát ra từ bộ phim này!

Và, để có bản phim chiếu tại LHPQT Rotterdam, Ban Tổ chức –theo gợi ý của NSƯT Việt Linh – đã phải “mượn” bản phim mà LHP châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 38 đang lưu trữ! Chúa ơi!

 

          Tháng 9 - 2019

          PHẠM THUỲ NHÂN

(Nhà biên kịch phim truyện điện ảnh & truyền hình)