Đặng Phùng Quân

 

NGƯỜI THỰC HIỆN BẢN THỂ :

NICOLAI HARTMANN

kỳ 14

kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6 , kỳ 7, kỳ 8, kỳ 9, kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12, kỳ 13, kỳ 14,

 

Nan đề như trong Đại từ điển triết học xác định "thể hiện những ý kiến trái ngược nhau mà mọi khoa học phải bắt đầu".[27] Lý luận về nan đề của Hartmann đã trình bày trong nhiều kỳ trước đã được một số học giả như Anton Schlittmaier, Nicholas Rescher đánh giá cao, xác định vị trí của ông trong lịch sử triết học :

Theo Schlittmaier, nan đề có thể chia làm nhiều loại về chức năng là chức năng xóa bỏ lý luận vì chỉ thị sự khiếm khuyết của một số chủ đề, chức năng hoài nghi chỉ thị sự viển vông của những nỗ lực đắc nhận thức, chức năng tầm kiện/heuristic nghĩa là khai phá ra những giả thuyết hay những phương pháp, chức năng đánh dấu biên giới cũa nhận thức khả hữu hay những lý luận. Trái với chức năng hoài nghi, ở đây nan đề khởi sự cho nghiên cứu. Một chức năng khác có tính cách hệ thống nhằm cấu thành triết học vì nan đề được xem chỉ ra những mệnh đề thực về những sự kiện của thực tại xây dựng trên cơ sở của nhiều lý luận. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là dẫn đến tiêu hủy hay phát sinh ra những lý luận, cũng không dẫn đến phán đoán do hoài nghi mà mọi nỗ lực đạt được nhận thức đều vô dụng. Quan niệm nhận thức có thể khả hữu, tuy nhiên không thể đạt tới qua lý luận, song chỉ có thể qua nhiều lý luận giao tiếp với nhau qua con đường biện chứng của nan đề. Trong khi những nan đề đánh dấu biên giới lý luận được xem như những chỉ dấu của một biên giới của nhận thức ngăn ngừa con người phát triến quá độ một lý luận, thì những nan đề cấu thành triết học được xem như  những chỉ dấu là những mệnh đề thực  chỉ có thể tạo thành  qua những phương tiện  của nhiều lý luận trong đó những nan đề là những quan liên giữa những viễn tượng khác nhau.[28]

Trong tác phẩm của Hartmann, theo Schlittmaier, những nan đề với chức năng xóa bỏ lý luận tương ứng với những nan đề mà Hartmann xem như giả tạo. Những nan đề này xây dựng trên những chủ đề sai lầm. Trong tiểu luận Tự biểu hiện có hệ thống/Systematische Selbst darstellung, Hartmann chỉ ra là mục đích của nan đề nhằm chứng tỏ sai lầm của những chủ đề này. Cho nên ông quan niệm những nan đề có chức năng phát sinh lý luận thì tương ứng với những nan đề đước ông xem là xác thực/echt và đồng thời có khả năng, do những hiện tượng tạo ra. Ông gọi chúng là những nan đề tự nhiên/natürlichen Aporien vì nguồn gốc của chúng ở ngoài chủ thể, có ý hướng thúc đẩy sự phát triển những lý luận triết học công chính. 

Schlittmaier nhận định Hartmann sử dụng những nan đề đánh dấu biên giới lý luận như những tuyến lực trong những tác phẩm của ông; sau khi hoàn tất nghiên cứu sâu sắc, không thể phát triển hơn nữa. Cho nên ông xem những nan đề rút ra từ bất đồng này là những nan đề chính đáng.

Để chứng minh nhận định này, Schlittmaier phân tích những nan đề trong tác phẩm của Hartmann như nan đề của sự vật tự tại, tức nan đề có chức năng tiêu hủy lý luận, nan đề khái quát của nhận thức, tức nan đề có chức năng phát sinh lý luận, vấn đề không thể giải quyết, tức nan đề có chức năng đánh dấu biên giới lý luận,  nan đề từ phụ thuộc vào những nguyên lý, tức nan đề có chức năng đánh dấu những biên giới lý luận.[29]     

----------------------------------

[27] Grand Dictionnaire de la philosophie,

Aporie : C'est par un exposé aporétique des opinions contraires que toute science doit commencer".

[28] Anton Schlittmaier, Nicolai Hartmann's Aporetics and its place in the history of philosophy trong Tthe philosophy of Nicolai Hartmann, R. Poli, C. Scognamiglio, F. Tremblay (Eds.) :

Aporia can be classified, according to the function they have... :

The theory-eliminating function :... the aporia is considered to be an indication of the defectiveness of a certain thesis.

... The skeptical function: ... the aporia is considered to be an indication of the vainness of all efforts to attain knowledge.

... The theory-generating or heuristic function: ... the aporia has the function of partially modifying the thesis in such a way that an adequate theory of an area can be achieved.

... The function of marking theory boundaries: ... the aporia marks the boundary of possible knowledge or the boundary of theories. Contrary to the skeptical function, here aporias are the beginning of research.

... The philosophy-constituting or systematic function: ... aporias are considered to be indications that true poropositions about facts of reality can be only be made on the basis of a multiplicity of theories. They neither lead to the elimination nor to the generation of theories. Nor do they lead to the skeptically motivated judgment that all effort to attain knowledge is vain. knowledge is conceived as possible. Hpwever, it cannot be attained through a theory, but only through a plurality of theories interconnected in an aporetic-dialectic way.Whereas  theory-boundaries-marking aporias are cinsidered to be indications of a boundary of knowledge preventing human beings from extensively developing the one theory, philosophy-constituting aporias are considered to be indications that true propositions may be made only through the means of a multiplicity of theories in which aporias are connections between different perspectives.

[29] A. Schlittmaier, Sdt. :

The aporia of the thing in itself - an aporia with theory-eliminating function, the general aporia of knowledge - an aporia with theory-generating function, the remaining unsolvable problem of the theory of knowledge  - an aporia with the function of marking theory boundation, the aporia from the existential dependence of principles - anothet aporia with the function marking theory boundation.

 

(còn nữa)    

 Đặng Phùng Quân

http://www.gio-o.com/DangPhungQuan.html

 

© gio-o.com 2018