Đặng Phùng Quân

 

NGƯỜI THỰC HIỆN BẢN THỂ :

NICOLAI HARTMANN

kỳ 12

kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6 , kỳ 7, kỳ 8, kỳ 9, kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12,

 

g) Nan đề hữu thể luận ẩn dấu sau những nan đề nhận thức luận, hay nan đề về hữu thể.

1/ Toàn bộ những nan đề phát triển liên quan đến nhận thức về khách thể; đó là "những nan đề về nhận thức" theo nghĩa nghiêm nhặt của từ ngữ. Không đặt để bất cứ vấn nạn nào về đối tượng của nhận thức;  không có những nan đề về hữu thể. Bằng như cả hai chiều hướng vấn nạn này khác nhau và khác nhau trong việc xử sự, thì cũng dễ thấy là không dễ dầu gì giải quyết toàn bộ, và vấn nạn về nhận thức như thế không thể giải quyết mà không giải quyết vấn nạn về đối tượng như thế; tóm lại, có một số điểm trong vấn đề nhận thức biến đổi thẳng từ vấn đề nhận thức luận sang vấn đề hữu thể luận.[19]

2/ Cho nên điều này đúng không những cho khách thể là một khách thể siêu việt-thực, mà còn là một khách thể thuần túy siêu việt-lý tưởng, Có thể thấy trong trường hợp sau cùng này, còn có một biến chuyển khác, nghĩa là vấn đề từ nhận thức luận thành luận lý, và tiếp theo đó trở thành vấn đề nói chung của hữu thể (l)ý tưởng. Tuy nhiên trong vấn đề của nhận thức theo nghĩa hẹp, tầm quan trọng siêu hình nằm trong quá trình nói trên, từ nhận thức luận qua hữu thể luận. Chắc hẳn hữu-tự-tại luận lý và hữu-tự-tại hữu thể là cho nhận thức một tính khách thể đồng đẳng nghiêm nhặt; tuy nhiên chúng không có cùng giá trị.  Chỉ có cái sau/hữu tự tại hữu thể mới là thực, nghĩa là thực tại toàn diện, và ở nhận thức của nó, có những khó khăn siêu hình của những nan đề phát triển nói trên đứng vào hàng đầu.[20]

3/ Phân tích hiện tượng chỉ ra là những độ điểm/Punkte des Überganges tới hữu thể trong ý thức vấn đề, trong quá trình nhận thức và trong giới hạn của khả tri tính. Trọng tâm của tương quan nhận thức nằm ngoài chính nó, ở bên kia những giới hạn khác nhau của khách thể hóa, trong xuyên khách thể hóa, hay như một số viễn tượng của vấn đề chỉ ra là ở bên kia những giới hạn thứ hai, không di chuyển, trong cái phi lý (đúng ra, trong xuyên khả niệm). Đằng sau khách thể xuất hiện sự vật hiện hữu, đằng sau tương quan nhận thức xuất hiện tương quan hữu thể. Trong tương quan sau này, không những cái biết và cái được biết, mà còn cái hiện hữu của hiện hữu đối mặt nhau. Một trong hai hiện hữu này, sự vật hiện hữu thì dửng dưng với tương quan (khách thể hóa đối với cái kia); song cái kia, cái chủ thể hiện hữu, không dửng dưng với nó, mà còn nhằm bao gộp sự vật hiện hữu luôn luôn liên tục vào tương quan.[21]                               

 

---------------------------------  

[19] Hartmann, Sdt. 6. Kap.

g) Die ontologische Aporie hinter der gnoseologischen, oder die Aporie des Seins.

1. Die ganze Rreihe der entwickelten Aporien beschäftigt sich mit der Erkenntnis des Gegenstandes, es sind "Erkenntnisaporien" im strenen Sinne. Dagegen nach dem Gegenstand der Erkenntnis ist in ihnen noch gar nicht gefragt, es sind keine Seinsaporien. So sehr beide Fragerichtungen verschieden sind und verschieden zu behandeln sind, so ist doch leicht zu sehen, daß sie auch wiederum unlöslic zusammenhängen, und daß die Erkenntnisfrage als solche ohne die Gegenstandfrage als solche nicht abgeschlossen werden kann, kurz, daß es bestimmte Pukte im Erkenntnisproblem gibt, in denen das gnoseologische Problem gradlinig ins ontologische übergeht.    

[20] Hartmann, Sdt. 6. Kap.

2. So steht es nicht nur, sofern der Gegenstand ein transzendent-realer ist, sondern auch sofern er ein bloß transzendent-idealer ist. Nur findet im letzteren Fall ein anderer Übergang, nämlich er v gologischen ins logishroblem, und darür hinaus ins Problem des ideale Seins überhaupt, statt. Aber im enrenEntnisproble  das metaphysische Schwergewicht auf dem ersteren Übergang. Logisches und ontologisches Ansichsen stehen für die Erkenntnis zwar in stren paralleler Gegenständlichkeit da : aber sie stehen nicht gleihwertig für sie da. Nur das letztere ist eben real, d. h.volle Wirklichkeit, und an seiner Erkenntnis hängt in erster Linie die metaphysische Schwere der entwickelten Aporien.

[21] Hartmann, Sdt. 6. Kap.

3. Die Analyse des Phänomens hat gezeigt, daß die Punkte des Überganges zum Ontologischen im Problembewußtsein, im Erkenntnisprogreß und in der Erkennbarkeitsgrenze liegen. Der Schwerpunkt der Erkenntnisrelation liegt außerhalb ihrer selbst, jenseits der verschiebbaren Objektionsgrenze, im Transobjektiven, ja, wie gewisse letzte Problemperspektiven zeigen, auch jenseits der zweiten, unverschiebbaren Grenze, im Irrationalen (genauer, im Transintelligiblen). Hinter dem "Gegenstand" taucht die seiende Sache, hinter der Erkenntnisrelation die Seinsrelation auf. In dieser steht, statt des Erkennenden und Erkannten, nur noch ein Seiendes einem Seienden gegenüber. Das eine von diesen Seienden, die seiende Sache, ist gleichgültig gegen die Relation (die Objektion an das andere); das andere aber, das seiende Subjekt, ist nicht gleichgültig gegen sie, sondern tendiert auf die immer weitere Einbeziehung der seienden Sache in die Relation.

 

(còn nữa)    

 Đặng Phùng Quân

http://www.gio-o.com/DangPhungQuan.html

 

© gio-o.com 2018