T�n Thất Phu

 

VĂN NH�N H� NGHỊ

 

 Kỳ 6 (cuối)

 

  (Kỳ 1)

  (Kỳ 2)

  (Kỳ 3)

  (Kỳ 4)

  (Kỳ 5)

 

(L� Thị Huệ: Bản văn n�y được phổ biến tr�n net đầu ti�n khoảng năm 1997. Sau đ� t�i đ� nhận đi nhận lại nhiều lần từ t�c giả lẫn những nguồn v� danh kh�c. T�i chưa hề gặp t�c giả T�n Thất Phu. T�i kh�ng biết anh l� ai ở ngo�i đời. T�i n�i chi tiết n�y, v� trước năm 1997, khi loạt b�i viết n�y được gửi đến cho 3 tờ b�o giấy ở hải ngoại thời bấy giờ, l� Văn (Mai Thảo), Văn Học (Nguyễn Mộng Gi�c), v� Hợp Lưu (Kh�nh Trường), th� một người bạn đ� điện thoại cho t�i v� n�i nh� văn Nguyễn Mộng Gi�c chủ bi�n tờ Văn Học hỏi c� phải L� Thị Huệ l� T�n Thất Phu đ� viết loạt b�i n�y kh�ng. T�i chưng hửng. T�i n�o biết mặt mũi bản văn như thế n�o. M�i sau n�y, khi internet ch�o đời, thuở hồng hoang 1997 l�c email c�n phải x�i font tiếng Việt VIQR, T�n Thất Phu mới gửi cho t�i đọc. L�c đ� t�i mới biết hiu hiu ch�ng tuổi trẻ kia l� c�i đấng qu�i kiệt n�o.

T�n Thất Phu (kh�ng phải t�n thật) đậu Tiến Sĩ ng�nh Vật L� Ph.D in Physics năm 1993 tại University of Texas at Austin. L�m Research in Materials trong 2 năm, v� sau đ� l�m Patent Examiner cho đến nay. Hiện đang sinh sống ở Springfield, Virginia. Hoa Kỳ

T�n Thất Phu viết b�i n�y những năm anh c�n tuổi trẻ. B�y giờ cả anh lẫn t�i kh�ng c�n trẻ. Tại sao tập t�i liệu n�y cứ x� quờn t�m đến địa chỉ t�i, d� t�i đ� cố t�nh ng� chỗ kh�c, lơ n� đi cả mấy chục năm nay.

H�m nay gio-o. com lại nhận được bản văn n�y.  Lại một lần nữa�

H�m nay, t�i cho đăng l�n Gi� O như một c�ch gi�p t�i liệu n�y c� cơ hội l�n tiếng. Để giống như một cục u chưa được khơi, th� n� cứ m� nheo m�i quanh t�i, b�m lấy t�i, chờ t�i cho một cơ hội phản kh�ng. C� những điểm t�i ho�n to�n kh�ng đồng � với tập t�i liệu.

C�c t�c giả phản b�c c� thể trả lời tr�n Gi� O.

Tr�n Trọng.

L� Thị Huệ

Chủ bi�n gio-o.com 

15/10/2017

 

T�n Thất Phu

 

VĂN NH�N H� NGHỊ

 

  

Tạo h�a g�y chi cuộc h� trường

Đến nay thấm tho�t mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ l�u đ�i b�ng tịch dương

(B� Huyện Thanh Quan)

 

(T�I LIỆU PHỔ BIẾN KH�NG GIỚI HẠN)

 

MỤC LỤC

 

L� thư thay lời bạt.

 

I .  Khai từ.

 

II . Văn phong của B�i Vĩnh Ph�c

1. Thựợng đế của B�i Vĩnh Ph�c

2. Trường "t�m hồn" của B�i Vĩnh Ph�c.

3. Khoa văn của B�i Vĩnh Ph�c

Phụ đề: N� lệ T�nh l� g�?

4. Trả Lại văn vẻ cho L� thị Huệ

5. Sự hủy thể của văn chương.

 

III Văn c�ch của Thụy Khu�

1. Khu� l� chổng ngược của C�ch

2. Kẻ trước người sau

3. Phụ Thư

4. Ch� th�ch

 

IV. Văn Hồn của tập san Văn Học, Văn v� Hợp Lưu.

1. Văn Nh� trong thi ca Bolsa

2. Đạo Văn v� thi nh�n Bolsa

Lạm B�n Hai Chữ Văn Ho�

1.     Văn H�a Con C�c

2.     Từ S�ng Gianh, Bến Hải... Đến Con C�c

3.     Ngoại Truyện: Huyền Sử C�ng Ch�a C�c

Lạc Đường V�o Khoa Học

4.     Vụ �n Con C�c

5.     Cuộc Đấu Tranh Tư Tưởng

6.     Dấu Ch�n Của N�ng

 

Thay Lời Kết

 

 

 

VỤ �N CON C�C

Trước khi viết nốt về vụ �n con c�c, t�i th� nhận l� t�i chưa từng đọc quyển s�ch n�o của �ng NHQ v� �ng ĐMT; t�i cũng chưa c� dịp rớ tới cuốn s�ch ph� b�nh văn học n�o viết bằng tiếng ngoại quốc ở �u-Mỹ. Hơn nữa t�i kh�ng phải l� con nh� văn như đ� n�u tr�n, t�i sinh ra trong giai cấp thợ thuyền, một giai cấp c�ng khổ của nh�n loại nằm trong một qu� hương kh�i lửa (giai cấp m� được đảng nịnh cho l�n cấp ti�n tiến để tiện bề sai khiến v� c�y cho khỏe để đảng được no cơm ấm �o). Tất cả g� t�i tiếp cận được do sự "gi�o dục" tận t�nh của những b�i viết về ph� b�nh văn học trong v� ngo�i nước đ� được chuyển ngữ hộ, n�n v�i ba c�i thuyết văn học t�i đọc được đều l� bản "second hand" (v� t�i vốn rất dốt ngoại ngữ).

Ở phần n�y, t�i chỉ dựa v�o � đ� lập luận của hai �ng NHQ v� ĐMT, t�i kh�ng cần biết � ấy từ đ�u ra của ri�ng hai �ng hay đ� được cắp nhặt nơi n�o. Hai �ng n�u l�n � ấy m� diễn bằng ng�n từ cuả ch�nh m�nh th� xem như l� "gia t�i" của hai �ng đi, dẫu hai �ng diễn � c� sai hoặc kh�ng hết � của người kh�c do dịch thuật hỏng của ch�nh hai �ng hay từ s�ch dịch. N�i c�ch kh�c, t�i chỉ dựa v�o văn bản tiếng Việt của hai �ng để soi s�ng về vụ �n con c�c n�y .

 

1-Người đẹp c�c

T�i kh�ng r� thơ �, thơ tứ của b�i con c�c hay ra sao, nhưng Thị Nở th� xấu that. Thế m� trong b�i viết trả lời ĐMT, NHQ l�m ra vẻ thiện ch� qua "T�i chưa bao giờ c� � định lố bịch l� đưa Thị Nở l�n ng�i hoa hậu. T�i chỉ muốn chứng minh một điều đơn giản v� dễ hiểu l�: bức ch�n dung của chị l� một bức ch�n dung đẹp. Thế th�ị" Theo t�i hiểu chắc NHQ lại c� � l� "ch�n dung Thị Nở l� đẹp về sự mi�u tả c�i xấu". T�i chẳng cần biết đ�ng sai ra sao. C� điều t�i muốn hỏi �ng NHQ l� g�a như ngư�i bạn trăm năm của �ng cũng c� c�i ch�n dung như Thị Nở th� �ng c� buồn kh�ng? �ấy l� thực tế chứ kh�ng phải l� hoang tưởng trong thi ca m� kh�o dụng ng�n từ để "giải phẫu thẩm mỹ" m� vặn vẹo lung tung. Liệu �ng c� nh�n ra c�i đẹp thi vị trong c�i sồ sề của b�ng d�ng ấy m� kh�ng gh� tởm đến n�n ọe kh�ng? �ng c� nh�n ra "c�i nết đ�nh chết c�i đẹp" thường được truyền tụng trong d�n gian (m� ĐMT gọi l� "Khế Ước Văn H�a g� đ�) m� chung sống với n�ng cho đến răng long t�c bạc hay kh�ng? Thực v� Mộng qủa kh�ng giống nhau phải kh�ng �ng nhỉ. Nếu thế, th� �ng cố vẽ ra một ch�n dung kh�ng giống thực như Thị Nở l�m chi vậy !(để l�m hoa mắt người đọc ư?). Nếu Thị Nở l� nh�n vật c� thật (hay c� ai giống như chị ấy) th� sẽ cho l� �ng b�ng đ�a một c�ch thiếu nghi�m t�c tr�n th�n x�c "kiều diễm" của n�ng. Trong b�i con c�c đ� đăng tren b�o Hợp Lưu (HL) số 17 trang 65, �ng đ� dạy như sau "cuộc đời l� c�i n� l�, chứ kh�ng phải l� c�i n� được nghĩ l�" hay lắm! Thế dựa v�o đ�u �ng quyết x�c l� c�i ch�n dung Thị Nở hoặc "con c�c h�m oan" l� c�i n� l�, chứ kh�ng phải l� c�i đưọc �ng nghĩ lấy. Kh�ng kh�o �ng lại m�u thuẫn với ch�nh m�nh đấy. Thế ra c�i đẹp của Thị Nở hoặc c�i hay của b�i con c�c chỉ l� sự tưởng tượng hay ảo tưởng của �ng th�i sao?� �ng vừa ngụy luận vừa k�u oan, cớ l� �ng chỉ dụng n�ng c�c như v� dụ để minh chứng thuyết văn bản của �ng, v� dụng Thị Nở như vật chứng về c�i t�i giải phẫu thần th�nh của �ng. Trong b�i trả lời ĐMT �ng đ� n�u ra ở b�o Văn Học số 134 "�em b�i 'Con C�c' ra để ph�n t�ch, t�i nhắm tới hai mục ti�u kh�c quan trọng hơn l� việc b�nh luận b�i thơ ấy nhiều: thứ nhất, mượn n� để ph� ph�n những quan niệm thẩm mỹ cũ kỹ cho đến giờ vẫn thống trị trong sinh hoạt thi ca Việt Nam; thứ hai, mượn n� để chứng minh � nghĩa của việc đọc, của người đọc, qua đ�, đưa ra luận điểm cho thơ l� c�i g� đong đưa giữa văn bản v� người đọc; � nghĩa của thơ l� sự tương t�c giữa văn bản v� người đọc chứ kh�ng phải l� c�i g� c� sẵn, tự tại, nhất th�nh bất biến b�n trong t�c phẩm; bản chất của thơ l� một c�i g� 'trống' để người đọc c� thể nhập cuộc, nhập vai, l�m 'đồng t�c gi� với t�c giả; từ đ�, h�nh dung con đường ph�t triển thơ như l� một qu� tr�nh ho� giải giữa nh� thơ v� người đọc; chủ nghĩa hiện đại như một thứ chủ nghĩa đặc tuyển; Thơ Mới rất gần với văn xu�i ở t�nh chất tự sự của n�, v.v..." . �ng đ� nhầm lẫn về c�ch chọn lựa v� dụ để dẫn thuyết hoặc minh chứng thuyết, �ng đ� mượn c�i xấu của Thị Nở, c�i dở của b�i con c�c m� ph� ph�n c�i dở, c�i xấu của những quan niệm xưa cũ (theo như �ng nghĩ). Người sống vươn l�n c�i đẹp để thăng hoa m� dụng c�i xấu như một hệ quy chiếu để so s�nh. Do đ� chẳng ai muốn thay c�i hệ xấu/dở n�y cho hệ dở/xấu kh�c, người chỉ muốn ho�n cải cho tốt/đẹp hơn theo sự thăng tiến của "hiện tượng h�a" (Phenomenology của Hegelianism l� chủ thuyết về sự ph�t triển khoa học v� tri thức theo tiến tr�nh của t�m tư từ hệ thấp nhất của vật chất đến hệ cao nhất của t�m linh). Thay v� chọn b�i con c�c nhảy loanh quanh, dụng ngay những b�i trước đ� cho l� hay (như Kiều) m� đưa ra � kh�c hay hơn để thử nghiệm l� thuyết văn bản th� đ� sao, cứ g� phải l�m chuyện ngược đời mới hay mới tốt, c� nhẽ �ng muốn thử nghiệm lu�n c�i �c t� m� khốn nạn của d�n Nam, m� khi bị c�i "khế ước văn h�a" phạng lại th� dẫy đ�nh đạch cho rang oan. C� lẽ đ� đến l�c �ng NHQ đập tay v�o ngực m� trả b�i "lỗi tại t�i, lỗi tại t�i mọi đ�ng..." chưa nhỉ? �ng dựa v�o sự sống đời của b�i con c�c trong d�n gian hay "v� thức cộng đồng" theo chữ của ĐMT m� cho b�i con c�c l� b�i thơ hay. Trong b�i đăng ở HL số 17 trang 63, �ng viết "Như vậy c� thể n�i, qua việc nhớ b�i con c�c (trong d�n gian?), việc coi thơ con c�c như l� điển h�nh của c�i dở, từ trong v� thức (của cộng đồng?), ch�ng ta đ� thức nhận gi� trị (?) của n�, đ� linh cảm được đ� l� một b�i thơ hay. Song c� lẽ v� c�i hay của n� q�a lạ, kh�c hẳn những c�i hay ch�ng ta quen thưởng thức, cho n�n l� tr� thắng thế; b�i thơ bị liệt v�o loại dở". Trong tất cả c�c b�i viết, �ng NHQ đ� dụng l� tr� của m�nh để "đảo chứng" b�i con c�c l� b�i thơ hay chứ chẳng qua một linh cảm hay thức nhận chi cả, giả dụ NHQ lại dụng chi�u thức "dĩ l� tr� trị l� tr�". Chắc �ng NHQ sẽ c�i lại l� mọi thứ "thức nhận hay linh cảm" đều được thể hiện qua l� tr� cả, thế th� t�i q�a ngớ ngẩn rồi đ�! �ng đ� dụng sự truyền đời (chứ kh�ng phải truyền tụng?) của b�i con c�c (hay Thị Nở) cho rằng hay (đẹp); tự hỏi c�i g� đ� gi�p sự truyền đời như thễ ấy l� d�n gian cả n�i giống Việt, c�i m� ĐMT gọi l� "v� thức cộng đồng, quy ước văn h�a", NHQ gọi l� "truyền thống, văn học d�n gian". Khi bị ĐMT dụng c�ng vũ kh� ấy (chỉ kh�c tr�n mặt mũi của văn bản th�i) đập lại th� �ng nhảy t� t� m� trương c�i thuyết văn bản v� dụng đến bảo bối "Quyền" như sau "người đọc c� quyền diễn dịch thơ theo kinh nghiệm v� c�ch cảm nhận ri�ng của m�nh, tuy nhi�n, sự diễn dịch ấy c� sức thuyết phục hay kh�ng lại l� chuyện kh�c..."(VH số 134).

Người đọc kh�ng phải l� truyền thống hay văn học d�n gian, người đọc chỉ l� một yếu nh�n cảm nhận m� th�i. �ể sửa soạn trước một c�ch kh�n ngoan, NHQ đ� dọn đường cho tiền đồ văn học lung lay của m�nh bằng "Trong khi người Việt Nam xưa nay chỉ xem b�i thơ Con c�c l� một chuyện tiếu l�m tầm ph�o như bao nhi�u chuyện tiếu l�m tầm ph�o kh�c, t�i chỉ xem n� l� (i)một b�i thơ hay nhất trong những b�i thơ mi�u tả c�i dở, c�i k�m nghệ thuật v� k�m thẩm mỹ (ii)một b�i thơ hay (chứ kh�ng phải l� hay nhất) n�i về c�i nh�m, c�i hảm, c�i quẩn quanh, bế tắc v� v� nghĩa của kiếp người, v�, tr�n hết, l� (iii) một c�i cớ, một c�i bệ để x�y dựng tr�n đ� một l� thuyết về tho (VH số 137. C�i lối chơi chữ của �ng kh� đấy, NHQ cũng kh�n ngoan dụng ngay hiện t�nh m� dụng đến chi�u "đảo vị c�n kh�n" khi ngụy luận như "Trong lịch sử văn học Việt Nam, c� được bao nhi�u b�i thơ c� được một � nghĩa s�u thẳm v� một sức cộng hưởng lớn lao như thế. Nếu c� được một � nghĩa như thế, một sức cộng hưởng đến như thế m� vẫn bị coi l� dở, vậy thế n�o mới l� hay, l� lớn? Cho n�n, ngay cả khi �ỗ Minh Tuấn c�n ngần ngại kh�ng muốn hay kh�ng d�m d�ng chữ 'ha� để g�n cho b�i thơ Con c�c th� �t nhất, qua c�ch ph�n t�ch của anh, người ta cũng kh�ng thể tiếp tục an nhi�n cho đ� l� một b�i thơ nhảm nh�, ngớ ngẩn, một b�i thơ dở được nữa. Nếu kh�ng, c�c kh�i niệm 'hay','dỡ sẽ trở th�nh v� nghĩa hết." �i miệng lưỡi của văn nh�n gh� gớm thật! Như thế c�c nh� văn Trần văn T�ch, �ặng Tiến, Phạm thị Ho�i (VH số 137) v� bao người d�y dưa mơ rễ m� đến ngụy luận b�i con c�c của NHQ, cả Phu t�i nữa, ch�ng t�i �t ra trong th�m t�m m� kh�ng d�m n�i ra đ� c�ng nhận b�i con c�c l� b�i thơ hay ư. Thưa �ng phản đối ngụy luận thuyết văn bản của �ng v� cảm nhận b�i con c�c l� hai việc l�m kh�c nhau, xin đừng lấy việc n�y m� sỏ qua việc kia l� việc l�m kh�ng lương thiện t� n�o, ấy kh�ng phải l� phong c�ch người cầm b�t theo "quan niệm xưa cũ", c�n "quan niệm mới" thế n�o th� t�i � tịt. Chẳng v� v� cớ m� Plato đ� cho rằng "văn học dẫn con người đi xa ch�n l�"(8b) hay "văn học c� t�c dụng vỗ về dục vọng l�m cho con người trở th�nh yếu đuối"(8b) rồi đ� "khuy�n c�c nh� văn, nh� thơ chỉ n�n phản ảnh c�i đẹp"(8b) cho dễ thăng hoa. Bảo l� c�i đẹp ư ,lại tự hỏi, lấy g� l�m ti�u chuẩn để "đo lường" c�i đẹp, nếu kh�ng phải l� c�i xấụ �� l� c�i lắc lơ của tư tưởng hiểu thế n�o cũng xong! C� lẽ nh�m ch�n với c�i đẹp l� đẹp, xấu l� xấu; bởi vốn đẹp xấu chỉ l� � niệm đầu ti�n gieo v�o đầu �c con người để ph�n biệt dẹp/xấu, hay/dở � niệm đầu ti�n ấy tự đ�u ra đ� lại l� vấn đề kh�c v� lớn lao lắm của triết học. T�i kh�ng d�m đụng đến. �ng NHQ đ� đưa ra những �n văn chương bất tử của nh�n loại ở hai gi�ng văn h�a đ�ng t�y, rồi tự hỏi như thế b�i con c�c cũng lưu truyền l�u đời như những �n văn chương ấy, tại sao n� lại l� b�i thơ dở, c�i dở của b�i con c�c v� c�i hay của �ng văn được coi l� tuyệt hảo ấy c� g� tương quan giữa c�i xấu của Thị Nở v� c�i đẹp của c�ng ch�a Diana c� g� giống nhau? Tại sao cả hai đều truyền đời m� b�n xấu b�n đẹp, b�n hay b�n dở . Lập luận đ�ng đắn đấy! C�ng nhau đi xa hơn một t� nữa, thế th� "lưu danh thi�n cổ" hay "lưu x� vạn ni�n" c� g� tương đồng? Cả hai đều lưu t�n tuổi m�nh cả m�, đời bất c�ng q�a phải kh�ng? Lưu xấu để ta tr�nh vết xe đ� đổ, lưu danh để ta theo cho thăng hoa. �i đẹp/xấu, hay/dở, thiện/�c, ch�nh/t� l� c�i v�ng luẩn quẩn ng�n đời trong t�m khảm con người m� vẫn kh�ng giải quyết được. Thi�n hạ xưa nay kh�ng phải v� những thứ n�y m� đua nhau lao m�nh v�o ngon lửa của l� tưởng hoặc thần quyền m� chết cho tham vọng của ch�nh m�nh hoặc của người kh�c hay sao. Ấy phải chăng l� một bế tắc của l� luận, một thất bại của l� tr� đ� l�m cho người t�y phương nhốn nh�o cả l�n, họ lội ngược d�ng sống sử t�m về đ�ng phương, m� họ kh�ng biết rằng đ�ng phương cũng rối loạn kh�ng k�m.

Theo dấu người xưa, NHQ luận th�m trong Văn Học số 134 "Nghĩ cho c�ng, c� một người cầm b�t c� ch�t t�i năng n�o lại kh�ng cầm b�t, trước hết, từ cảm gi�c bất ổn đối với truyền thống? C� c�i lớn n�o trong l�nh vực văn học nghệ thuật n�o m� kh�ng từng l� một sự g�y hấn đối với th�i quen? Kh�ng những chỉ 'c�i lại một c�ch viết cũ để t�m kiếm những phương ph�p s�ng t�c mới, người ta c�n c� thể 'c�� lại 'v� thức cộng đồng' về một c�ch đọc, một c�ch cảm thụ để l�m cho c�c t�c phẩm văn học cũ được c� một diện mạo mới. N�i c�ch kh�c, người ta kh�ng những đổi mới được sinh hoạt văn học đương đại m� c�n c� thể đổi mới được cả nền văn học trong qu� khứ. C� thể n�i một phương ph�p s�ng t�c mới c� t�c dụng l�m cho hiện tại gi�u; một phương ph�p ph� b�nh mới c� t�c dụng l�m cho qu� khứ trở th�nh gi�u: những g� đ� cũ, đ� chết lại được hồi xu�n. Tại sao ch�ng ta lại sợ h�i trước những sự gi�u c� ấỵ" T�i c� lời khen NHQ c� một tham vọng kh� lớn đấy, �ng muốn l�m c�ch mạng văn h�a ư, chắc �ng sẽ c�i lại rằng �ng chỉ l�m văn học chứ kh�ng th�m v�c văn h�a chứ g�. Thế hỏi �ng văn học l� g� nếu kh�ng l� những t�nh tự, suy tư, dằn vặt, sợ h�i ..v.v. được chuyển qua ng�n từ trong văn bản, v� tất cả những c�i thầm k�n ấy đ� chẳng g�p phần x�y dựng cho văn h�a hay sao. N�i theo giọng của triết học th� văn học l� một b�ng hoa tr�n c�y văn h�a đấy. Chắc �ng chỉ chăm nom cho phần ngọn "văn học" m� chẳng cần biết đến gốc c�y "văn h�a" nu�i nấng ngọn ấy ra sao ư. Dựa v�o c�i l� thuyết văn bản nhỏ nhoi(m� cũng kh�ng l� của ri�ng m�nh?) m� muốn phất cờ khởi nghĩa chống bọn Việt gian sống với tinh thần Ghetto đang l�m tr� trệ nền văn học giống n�i ư?

Nếu chỉ dựa v�o tiến tr�nh ph�t kiến về thuyết văn bản qua HL #17, HL #19, HL #21 (8) sau đ� l� s�ch "Thơ v.v v� v.v ", th� người ta sẽ lầm nghĩ rằng từ v� dụ nhỏ nhoi như b�i con c�c (HL#17)m� �ng cố gắng "đảo chứng" ngược đời, gi�p �ng nghi�n cứu m� đưa ra thuyết văn bản (HL#21). Từ v� dụ nhỏ như con c�c thế m� �ng đưa ra c�i thuyết to bằng con voi. Thử hỏi, �ng đ� dụng ph�p luận g� m� dẫn thuyết như thể. Bảo l� Ph�n-T�ch th� kh�ng xong v� ph�n t�ch bắt �ng phải cắt x�n con c�c th�nh nhiều phần nhỏ hơn. Ph�p Quy Nạp thời kh�ng được, v� với lối quy-nạp �ng phải đưa ra rất nhiều v� dụ (data) rồi tổng hợp � ch�nh, trong khi �ng đơn thuần chỉ tựa v�o c� một b�i con c�c th� quy nạp nỗi g�. Chỉ c�n lại c�i ph�p rất th�ng dụng ở nước ta (do ảnh hưởng của lối học linh tinh của T�u), ấy l� ph�p Ph�ng �ại, c� nghĩa l� �ng NHQ đ� đặt "con c�c nhỏ x�u của nước Nam" dưới một k�nh l�p cực mạnh. Cả ng�n l� thuyết c� thể dụng để biện chứng cho một dữ kiện (khoa học hay văn học). Tuy nhi�n chỉ cần một dữ kiện minh chứng sự sai lạc, bất ổn của l� thuyết th� l� thuyết ấy chưa to�n đ�ng. Dẫu �ng c� lối ngụy luận th�ng minh, v� chớ cậy m�nh......

�iện soi học thuật canh t�n
Gi� T�y phơi phới, thấm nhuần hoặc m�

Vững tổng hợp, chắc bề ph�n t�ch
�ủ
rạch r�i, thanh lịch, h�o hoa
Văn minh bay bướm ch�i l�a
Con theo thời thượng đ�m ra qu�n m�nh

Ngoảnh mặt lại, coi khinh cha mẹ
Sao qu� m�a, hủ tệ, tối tăm
D�ng cục
mịch, vẻ th� cằn
Mặt m�y nhem nhếch, tay ch�n ph�n b�n

�ầu t�c rối, m�ng c�n, da nẻ
"v�y quai cồng", yếm xẻ, �o n�ụ..
So giầy cao g�t, khăn mầu
T�c vờn s�ng mắt bồ c�u h� cười

Qu� s�ch chợ: một trời, một vực!
L�a mắt v� phấn sức, con say
Thấy đ�u c�c dục cao d�y
Thấy đ�u đức trọng, hạnh đầy ch�nh ch�n

C�y mục gốc, sầu th�n thối rễ....
(L. Nguy�n Chương)

T�i chưa đọc s�ch của NHQ n�n chưa thấu r� c�i hay của l� thuyết văn bản ra sao. T�i chưa đọc s�ch của ĐMT n�n chưa thấm nhuần khế ước văn h�a tuyệt vời thế n�o. Theo � t�i th� đơn giản lắm. Văn bản kh�ng thể độc lập với văn h�a, ch�nh trị, kinh tế..v.v..v� những sinh hoạt kh�c của nh�n sinh; v� con người chưa tho�t được những "c�m kẹp" ấy th� văn bản của con người l�m thế n�o tho�t ra được, v� người đọc tho�t l�m sao. Nhưng qua văn bản ta c� thể nhận diện sự giao lưu của c�c nền văn h�a của giống d�n kh�c l� do "tr�i đất b�y giờ đ�u c�n lớn,đại dương cũng hết rộng v� s�u". Thực ra giao lưu văn h�a đ�/sẽ trở th�nh một nền văn h�a kh�c biệt với những nền văn h�a cũ. C�i di hưởng �t nhiều của một văn h�a trong sự giao lưu văn h�a l� do nhiều yếu tố như "sức sống của nền văn h�a ấy trước khi giao lưu", "nh�n số mang sắc th�i văn h�a ấy" ..vv..C�n sự tương quan giữa người viết-văn bản-người dọc, theo t�i ấy kh�ng phải l� một mối tương quan độc lập với nhau hoặc độc lập với văn h�a m� những thứ ấy hội nhập. Người viết đọc lại �ng văn chương của m�nh, hay người đọc nh� đi nh� lại bản văn người kh�c m� nảy ra nhiều � kh�c nhau l� do sự suy tưởng, cảm gi�c, nhận thức ..v.v..của họ biến thể theo thời gian v� kh�ng gian, đ� l� chưa kể đến phản ứng t�m l� của người từng giai đoạn cũng kh�c nhau. Kh�ng vật hay sự g� c� thể độc lập tự tại một m�nh m� c� nghĩa. Tự hỏi, NHQ c� để con ch�u �ng đọc những văn bản của d�m thư hay kh�ng? Tại sao thễ. Ấy l� c�u hỏi thực tế chứ kh�ng do ảo tượng m� ra. C�i "chất" g� trong �ng, trong con ch�u �ng, trong văn bản thế nhỉ. Nếu chỉ quan t�m đến văn bản th� kh�c n�o ta h�t hết "hồn Việt" ra khỏi người Việt, "hồn Mỹ" ra khỏi người Mỹ, "hồn �c" ra khỏi người �c v.v..v� v.v..v� như thế chỉ c�n lại c�i "x�c văn bản" chết v� kh�ng linh động. Những "chứng t�ch văn h�a" tiềm t�ng trong người viết-văn bản-người đọc trong trường giao lưu văn h�a m� 3 thứ ấy trở th�nh m�i trường để tiếp nhận v� thay đổi c�c quan niệm xưa cũ để l�m mới cho văn học v� phong ph� cho văn h�a. N�i về văn bản ai cũng nghĩ đến ng�n ngữ v� nhịp điệu của n� qua lối h�nh văn hay văn phạm. �ừng x�t đến ng�n từ, nhịp điệu ng�n ngữ từ đ�u ra tại sao mỗi giống d�n lại c� nhịp điệu ri�ng? T�i kh�ng biết! Tại sao văn Việt viết theo văn phạm Mỹ th� người Việt ngửi kh�ng được? Tại sao văn Mỹ h�nh theo văn phạm Việt th� người Mỹ "gets mad"? Nhịp sống của t�m tư ư hay hơi thở của văn h�a. T�i b� l�! N�n việc tựa v�o văn bản dẫu c� đưa ra nhiều � nghĩa kh�c nhau đi nữa, nhưng l� việc l�m "lắp r�p ng�n ngữ" rất nguy hiểm, v� mỗi lối "lắp r�p ng�n ngữ" kh�c c� thể đưa ra những � nghĩa "qu�i thai"! L�m thế c� lợi g� cho văn học v� văn h�a của lo�i ngườị Hay cứ thế m� tự ph�t trong hoang tưởng để phải hoang mang, mất hướng!

Sau khi đưa ra l� thuyết đồ sộ ấy m� ở mấy trang cuối quyển "Thơ .v.v v� v.v..", �ng NHQ đ� "x�a b�i đi l�m lại" (ĐMT đừng bấm "save" cho b�i con c�c nữa). Ấy l� tuyệt b�t theo nhản quan nh� Phật, thức l� v� thức, l�m l� kh�ng l�m g� cả, văn bản cũng l� kh�ng văn bản nốt! Ừ thế cũng tốt. Theo lời Kafka, h�y đốt tất cả đi! Lại cạn nghĩ văn minh c� thể t�n lụi, hủy diệt, đốt tất, song liệu c� thể đốt sạch s�nh sanh văn h�a lo�i người được kh�ng? R� khổ, con người cứ vướng v�u nỗi băn khoăn đ�u đ�u ấy, tự l�m khổ m�nh rồi l�m khổ người trong những cuộc đấu tranh tư tưởng triền mi�n.

 

 

NGOẠI TRUYỆN: M�n ăn c�c

Hơn hai mươi năm về trước t�i t�nh cờ đọc quyển "M�n Lạ Miền Nam" của Sơn Nam(?) hay của ai t�i cũng kh�ng c�n nhớ. Trong s�ch, t�c giả đưa ra những ph�p thưởng thức v� ăn c�c m�n lạ lẫm miền Nam trong đ� c� m�n c�c. Trước khi đưa thực đơn cho kẻ s�nh ăn, t�c gỉa đ� giới thiệu về những "tập tục" sinh động của lo�i c�c nhất l� về "t�nh y�u lo�i c�c". Lo�i c�c cũng l� lo�i đa t�nh lắm chẳng thua chi lo�i người ch�ng m�nh cả, c�c cũng y�u nhau da diết, y�u chết bỏ hay "chết nửa hồn thương đau", t�c giả c�n đ�o để ph� them lo�i c�c đ� thế th� thật kh�ng hiểu tại sao lo�i người tự cho c� tr� kh�n m� cứ hơi t� l� phạng nhau ra tr�. Nếu n�i thế th� chắc ai đ� sẽ cho t�c giả chẳng hiểu g� về "v� thức cộng đồng hay khế ước văn h�a" bởi người m�nh chẳng c� c�u "thương nhau lắm, cắn nhau đau" đấy sao. Nay, t�i cạn nghĩ, gi� như người m�nh bớt thương nhau t�, ch�ngta sẽ đở phạng nhau u đầu sứt tr�n. V� biết đ�u nếu bớt y�u nhau đi th� nước ta đ� h�ng mạnh hay trở th�nh con "rồng � Ch�u" l�u rồi phải kh�ng? Tiếc thật, tiếc l� người m�nh cứ ph�ng hồn theo văn h�a m� y�u nhau m�ỉ. Y�u nhau m� l�m nhau khổ thế th� c� n�n chăng?

�ọc xong quyển s�ch "M�n Lạ Miền Nam", t�c giả đ� l�m t�i th�m thuồng m�n c�c lắm, th�m đến chảy cả nước d�i. T�i b�n �m quyển s�ch ấy ra mắt chị t�i v� bảo "chị l�m m�n c�c như trong s�ch được kh�ng?", chị nh�n ngỡ rằng t�i đọc s�ch nhiều q�a n�n đầu "bị chạm d�y " chăng? Chị cười bảo "chị chưa ăn m�n c�c bao giờ, n�n kh�ng biết l�m", t�i giận lẫy "th� cứ dựa v�o s�ch l�m l� xong chứ g�", chị cười "đừng c� bựa �ng cụ non ạ! Đ�y l� tiểu thuyết th� ăn thế n�o được", chị c�n n�i dọa "c�c độc lắm đấy", rồi c�n giở giọng m� t�n "con c�c l� cậu �ng trời, m�y m� ăn thịt c�ụ "ổng" l�m "ổng" nổi giận l�i đ�nh sai binh thần tướng th�nh kết với �m binh hộ tướng dưới địa phủ đến m� "dũa" m�y ph� m� đấy", t�i c�i bướng (c�i để m� c�i) "th� em nhờ tổ nh� m�nh l� �ng T�n Ngộ Kh�ng t�i thế th� đến trời cũng phải sợ chứ n�i l� bọn thần th�nh ma qủỵ.."

Thế l� cả tuần buồn v� nhớ c�c, v� kh�ng c� thịt c�c để ch�n thử xem c� giống như đ� mi�u tả trong văn bản hay kh�ng? Một chiều đi học về, t�i phụ chị dọn cơm tối cho gia đ�nh, t�i giật bắn người, mắt s�ng s�ng sọc, nh�n v�o đĩa thức ăn chị trao tay, thấy m�n lạ qu� như l� "c�c bị tứ m� phanh th�y" nằm gọn trong đĩa m� bốc m�i thơm nghi ng�t, nghĩ đến m�n c�c t�i sắp chảy nước d�i, th� chị t�i nh�n t�i b� hiểm nhẹ bảo "m�n c�c của m�y đấy", giật nẩy người t�i hỏi lại "m�n c�c như trong s�ch?", chị t�i cười nắc nẻ m� chẳng n�i g� th�m....Cả th�ng sống trong hạnh ph�c đ� được ăn m�n c�c l� ra vẻ thầy đời với c�c bạn "nhỏ" m� tỏ ta đ�y l� người từng trải v� vừa mới ăn m�n c�c. Hơn th�ng sau t�i mới biết ấy l� thịt ếch chứ kh�ng phải thịt c�c! Trời ơi, t�i bị lừa, chị t�i lừa t�i!

M�i đến nay, khi đọc luận thi tứ của con c�c th� người kh�c lại b�n thi vị của con ếch. T�i đoan chắc thịt c�c v� ếch chẳng kh�c g� nhau. Th�i từ nay t�i kh�ng đ�i ăn c�c nữa. C�m ơn chị t�i đ� lừa t�i, đ� cho t�i một th�ng trời sống trong ảo tưởng l� m�nh ăn c�c, cứ tha hồ kho�t l�c.

about:blanksetstats1

2- Cuộc đấu tranh tư tưởng

T�i muốn khai m�o cuộc đấu tranh tư tưởng với c�u rất � vị của Phạm Thị Ho�i "S�ch trời lật từ trang ướt sang trang kh� như thế n�o chỉ c� trời biết. C�i Khế ước văn ho� của d�n Việt mưa nắng thất thường �u cũng l� thi�n cơ (bất khả lậủ). Quả nhi�n vẽ ma quỷ dễ hơn ch� ngựạ Vẽ một c�i khế ước biến ho� kh�n lường chẳng ai biết mặt dễ hơn,vẽ một c�i khế ước thi�n hạ đ� nhẵn mặt l� Hiến Ph�p nước CHXHCN Việt Nam." Thế ra c�i "văn bản" của văn h�a n�i B�ch Việt cũng biết đ�n gi� xoay chiều như thế ử �ng DMT chớ qu� lo lắng qu� về c�i thứ m� ch�nh �ng v� t�i cũng chẳng biết l� c�i gị c� lẽ chẳng ai r� h�nh dạng văn h�a ra saỏ Văn h�a l� nếp tự sinh của d�n tộc (oan nghiệt q�a)? văn h�a l� những bước ch�n to nhỏ của lịch sử (khổ đau qu�) ? văn h�a l�t�nh tự của d�n tộc (lờ mờ qu�) hay tiền đồ của cha �ng (xa x�i qu�)? hay văn h�a l� v.v.. v� ..v.v..(b� chữ rồi!). Với t�i văn h�a lu�n giao lưu với nhau l�m mới cho nhau m� sinh tồn, nghĩa l� văn h�a l� "hệ thống mở" để tiếp nhận c�c tr�o lưu kh�c của lo�i người m� biến dạng cho phong ph� th�m l�n để thăng hoạ Văn h�a kh�ng biến đổi l� văn h�a chết, l� văn h�a diệt vong. Bởi văn h�a lu�n thay đổi theo thời gian v� kh�ng gian n�n kh�ng thể c� một "bộ mặt cố định" như DMT gọi l� "tiền đề văn h�a", "khế ước văn h�a", những thứ n�y chỉ c� nghĩa trong những giai đoạn kh�c nhau ở tiến tr�nh ph�t triển văn h�a th�i, �ng DMT ạ! Văn h�a ch�nh n� kh�ng c� "tiền đề" hay "hậu đề" chi cả m� chỉ c� "hiện đề". "Hiện đề" của văn h�a l� ph�t triển, l� thay đổi trong sự giao lưu mới tựa v�o nếp tự sinh của d�n tộc, giống như gi�ng nước chảy m�I từ v� thủy đến v� chung mang cả ph� sa bồi cho đất mẹ, chứ kh�ng bảo tồn nếp suy tư hay "bản sắc văn h�a truyền thống xưa" để d�ng văn h�a phải ngưng đọng m� kh� cạn (v� kh� hậu oi bức ơ nước tả). Bởi bản sắc văn h�a truyền thống xưa v� nay cũng đ� kh�c nhau qu� nhiều; vậy muốn bảo tồn c�i xưa m� qu�n c�i nay l� sự hiện sinh của d�n tộc, c� n�n chăng? Như muốn bảo tồn c�i nay m� qu�n c�i xưa th� "hồn tiền nh�n sẽ rướm m�u". N�n c�i bệnh bảo tồn sẽ sinh ra sự m�u thuẫn nội tại kh�ng th�o gỡ được. C�i bệnh n�y sẽ l�m cho văn h�a kh�p k�n như một "hệ thống đ�ng" tức l� đ�ng cửa lại m� kh�ng chơi với ai hết, nghĩa l� bế quan tỏa cảng. Mong DMT nh�n lại c�i cảnh tang thương bế quan của vua quan nh� Nguyễn đ� g�y hại cho sự tiến h�a của d�n tộc ta ra saỏ Thay v� khăng khăng bảo tồn, ta n�n tựa v�o c�i "bản sắc văn h�a truyền thống xưa" ay^' m� chuyển biến. Ấy l� ph�p "t�y biến" của d�n tộc, "t�y biến" l� thể tuyệt hảo của n�i giống để l�m văn h�a Việt sinh tồn v� thăng hoạ Văn h�a dựng n�n do con người, l� "sản phẩm" của con người, v� những tiềm t�ng trong ấy gi�p con người h�nh th�nh cấu tr�c của x� hội (chớ con người kh�ng phải l� sản phẩm của x� hội như duy vật biện chứng đ� tin, v� c� con người th� mới c� x� hội). Tuy nhi�n, hệ giao lưu văn h�a phảI l� hệ song phương, nghĩa l� ch�ng ta tiếp nhận đồng thời cũng phải g�p phần. Nếu ch�ng ta chỉ tiếp nhận m� kh�ng g�p phần, ch�ng ta sẽ trở th�nh kẻ "n� lệ văn h�a";nếu ch�ng ta chỉ g�p phần m� kh�ng tiếp nhận, ch�ng ta sẽ dễ trở th�nh "kẻ kỳ thị văn h�a" hay "kẻ b�i ngoại". V� vậy, "giao lưu" l� danh từ rất dễ bị hiểu lầm va lạm dụng để khỏa lấp những "n� lệ t�nh" hay "b�i ngoại t�nh" của con người.

Do đ� văn h�a lệ thuộc v�o con người, con người tựa v�o văn h�a m� sinh tồn chứ con người kh�ng n�n lệ thuộc v�o văn h�a. Ấy l� t�nh "nh�n chủ" trong văn h�a Việt. Con người phải l�m chủ lấy hiện t�nh của văn h�a, t�y biến m� thay đổi sao cho khế hợp với thể phong khi giao lưu với văn h�a kh�c. Ch�ng ta phải l� "học tr� giỏi của tiền nh�n, chớ trở th�nh kẻ n� lệ của tiền nh�n hoặc n� lệ cho gia t�i của tiền nh�n". Con người l�m chủ tể trong việc giao lưu văn h�a. Trong b�i đăng ở Văn Học số 134 ĐMT đ� b�n về sự tiếp biến như sau "Song, qu� tr�nh tiếp biến văn ho� phải c� thời gian v� phải dựa tr�n cơ sở bảo tồn những bản sắc văn ho� truyền thống, nếu kh�ng sẽ trở th�nh x�m lăng văn ho�, diệt tộc về văn h�a". �ng ĐMT lầm rồi đấỵ Văn H�a kh�ng cần thời gian, chỉ c� con người cần thời gian thay đổi cho khế hợp với tiến h�a chung của cả nh�n loại (ch�ng ta cần loại bỏ trường hợp ĐMT coi "đảng" l� văn h�a, nếu đảng cần thời gian để tiếp biến th� văn h�a phải phụ thuộc v�o quyết định của đảng, như thế văn h�a sẽ phải cần đến ng�n năm biến dạng để diệt vong). N�i theo giọng to�n học th� con người l� "biến số" m� văn h�a l� "h�m số", điều kiện cần cho "h�m số văn h�a" thay đổi l� "biến số con người" phải thay đổi trước. N�i theo giọng của n�ng d�n (giai cấp ti�n tiến) th� con người l� "anh n�ng d�n" c�n văn h�a nu�i dưỡng người l� "con tr�u"; "anh n�ng d�n" dắt "con tr�u văn h�a" đi c�y chứ chẳng bao giờ con tr�u dắt anh n�ng d�n đi c�y. Nay DMT bảo Văn H�a cần thời gian để tiếp biến m� con người chỉ l� phụ thuộc v�o sự tiếp biến ấy, tức l� ĐMT xem văn h�a l� biến số v� con người l� h�m số; để con tr�u dắt ĐMT đi c�y vậy! �ấy l� "ph�p nghịch l�, đảo thần" rất dễ bị tẩu hỏa nhập ma. ��y l� "cơ chế đ�nh tr�o tọa độ văn h�a" v� mang t�nh chất cấp t�nh đ� thưa �ng. Khi luận về sự tiếp nhận một t�c phẩm, ĐMT viết "...người đọc thơ bị r�ng buộc bởi một truyền thống văn h�a", đ�ng qu�! Nhưng hơi bị động. Con người kh�ng "bị" (trạng bị động), m� con người "tự" (trạng t�c dộng) r�ng buộc v�o một truyền thống văn h�a. Con người l� Chủ Tể cho mọi sự để chọn r�ng buộc trước sau, để tự lựa sắc th�i văn h�a cho ri�ng m�n. C�n nếu như lệ thuộc v�o biến th�i của văn h�a l� mất quyền chủ tể, để văn h�a "gắn" cho m�nh một sắc th�i n�o đ� m� con người kh�ng kiểm so�t được trước saụ..

...Trước v� sau, gọi luyến v� thương

Xa c�ch v� đ�u hỡi m�u xương

Con bảo con đi t�m xu�n mới

T�m xu�n con c� thấy tơ vương

Tơ vương vấn v�t mẹ v�o con

Vấn v�t bao nhi�u nghĩa nước non

Vương vấn trước sau bao t�nh nghĩa

Nhưng xu�n vẫn ở chỗ chon von

Chon von nghĩa nước với t�nh s�ng

T�nh mẹ non cao những ng�ng tr�ng

L�ng mẹ chảy d�i bao nhi�u kh�c

Bao giờ cho n�i vững s�ng trong

S�ng trong n�i vững, thắm hoa xu�n

Loan phượng vui đ�n m�a khắp xu�n

Rồi mai mẹ cười run gậy tr�c
Tiếng cười �t cả nhạc Nam Hu�n....

(L. Nguy�n Chương)

V� thế, con người phải l�m chủ động thay đổi, c�n văn h�a chỉ thụ động thay đổi theo con người m� th�i.

C� cực đoan chăng khi ĐMT viết "Vậy c�i lại tổ ti�n, đem l� tr� v� học vấn c�i lại v� thức cộng đồng chỉ l� sự x�m lăng về văn ho�, đem chuẩn mực văn ho� của cộng đồng n�y �p đặt cho cộng đồng kh�c, v� mỗi nền văn ho� l� một thực thể tinh thần c� diện mạo ri�ng, c� kho� m� ri�ng, c� độ bảo thủ ri�ng. Sự �p đặt đ�, d� c� th�nh c�ng về phương diện l� luận th� vẫn lu�n thất bại trong thực tế. Từ g�c độ nh�n chủng học, quốc tế học, từ g�c nh�n của mẫu quốc, ta c� thể chứng minh rằng những kẻ b�n nước trước đ�y l� tiến bộ, cao cả, c� c�ng. Nhưng những kết quả xuất sắc do sự chứng minh đ� đem lại vẫn kh�ng thể đảo ngược được cảm x�c bền vững trong t�m thức cộng đồng l� sự căm gh�t gh� tởm những kẻ b�n nước, bu�n n�i, rước voi về gi�y mả tổ." Viết như thế th� chắc Hồ Ch� Minh nằm triển l�m ở Ba ��nh chắc buồn lắm v� �ng Hồ đ� l� người đầu t�u trong việc mang học thuyết ngoại bang của M�c-L� v�o �p đặt để biến d�n th�nh c�ng cụ n� lệ để sai khiến, bắt người Việt kh�ng được l�m người m� ti�u diệt văn h�a Việt bật cả gốc l�n. V� kh�ng c�n người th� kh�ng c�n văn h�a. �ng Hồ Ch� Minh tức b�c Hồ của �ng đấy l� đỉnh cao chỉ đạo việc x�m lăng văn h�a, đem chuẩn mực văn h�a t�y phương �p đặt cho cộng đồng người Việt, l� lương t�m mục n�t soi s�ng sự diệt tuyệt con người Việt, văn h�a Việt dưới ngọn cờ của Chủ Nghĩa X� Hội. T�i nghĩ �ng n�i thế l� v� t�nh như sứ mệnh đ� trao cho �ng l� hạ bệ Hồ Ch� Minh xuống th�nh "tội đồ" của d�n tộc Việt Nam ta ư? Ừ! thế cũng được, chẳng oan ức g�! Chứ ch�ng t�i d�n Việt hải ngoại, dẫu nhảy đi v� phương hướng m� đ�p xuống, tr� ngụ khắp nơi tr�n địa cầu nhưng l�c n�o cũng...

...Ta đứng giữa đất trời của Hoa Kỳ lồng lộng

Vẫn tự h�o cất tiếng Việt Nam ơi!...

chứ kh�ng ủ dột, bị động trong lo toan sợ h�i bị x�m lăng văn h�a trong khi văn h�a Việt c� c�n chăng chỉ l� c�i x�c kh�ng hồn (từ ng�y qủy đỏ đặt ch�n l�n) hiện tồn tr�n đất Việt. Khi con người kh�ng được l�m người m� chỉ l� con vật sai khiến của đảng! Trước khi giải mối cơ nguy cho văn h�a ta phải giải ph�ng con người trước......sao cho tồn tại c�ng trời đất


Lại được vui vầy giữa n�i s�ng
Sống thỏa t�m thần, th�n an th�ch
Mở liền cũ mới lối hanh th�ng...
(L. Nguy�n Chương)

V� cộng đồng người Việt haỉ ngoại ch�ng t�i dẫu c� �t bất h�a với nhau, l�u l�u phạng nhau v�i đ�n v� "thương nhau lắm th� phạng nhau đau"; chứ c�i t�nh cảnh trong nước, người Nam kẻ Bắc c� được vui sống h�a thuận hay kh�ng?

Để rồi..

trong nước c� non, non c� nước

nước non một kết, nở trăm con...

(L. Nguy�n Chương)

"hay chỉ lơ mơ t�y mộng trung" ở những khai quật tại Ho� B�nh v� ��ng Sơn để t�m bước h�a thạch dấu ch�n c�c...

 

NGOẠI THƯ: Từ Văn Bản đến Văn H�a

Người c� hồn, văn h�a cũng c� hồn; người c� th�n x�c để "mang đựng" c�i hồn, như thế hồn văn h�a được tựa v�o đ�u? Xin thưa, hồn văn h�a được "chứa" v�o trong văn bản, hay văn bản l� c�i th�n x�c "chuy�n chở" c�i hồn văn h�a m� ng�n ngữ chỉ l� những n�t đặc th� của th�n x�c văn bản ấy, v� mang những sắc th�i ri�ng của hồn văn h�a? Cũng như c�i n�t đặc th� ở th�n x�c của người � kh�c của người �u-Mỹ, v� mang những sắc th�i văn h�a kh�c nhau? �ến đ�y, c� người đ�o s�u hơn v� hỏi: h�nh dạng của th�n x�c v� hồn (của văn h�a v� của con người) c� g� li�n quan? Phong thổ tr� đ�ng của những sắc tộc của lo�i người đ� ảnh hưởng thế n�o về h�nh dạng v� nếp suy tư hoặc văn h�a đ� gắn liền con người v�o phong thổ ấy. Từ đ� ch�ng ta sẽ hỏi th�m: con Rồng ch�u Ti�n ng�n năm nay sống men theo ven biển Th�i B�nh Dương m� lập quốc, mảnh đất qu� hương v�ng v�o cong co như h�nh con Giao Long đang vươn m�nh đạp s�ng biển ��ng với "rồng ch�n đầu" (d�ng Cửu Long) đ� phun ch�u nhả ngọc gi�p cho sự tr� ph� của miền Nam nước Việt. Phong thổ như thế ảnh hưởng thế n�o cho h�nh dạng x�c th�n, cho tinh thần tự sinh của d�n Nam? Ngược d�ng sống sử, ta đi xa hơn...đi xa hơn nữa ta sẽ nghe thấy lời kh�c than của d�n B�ch Việt ở v�ng Lĩnh Nam Ngũ Hồ, c�i g� đ� l�m họ phải tan r� khổ đau như thễ...cứ đ�o sẽ gặp lại "duy�n xưa", cứ g� th� cửa t�nh xưa sẽ mở

Trong b�i "Từ luận điểm ��ng T�y" đ� gởi cho TK21, t�i cũng đề cập sơ khai về sự tương quan giữa văn h�a v� ng�n ngữ. Ng�n ngữ l� th�n x�c của văn h�a, ấy chỉ l� điểm tổng quan, nhưng khi đi đến chi tiết của những nền văn h�a th� ng�n ngữ chỉ mang n�t, vẻ đặc th� của th�n x�c của nền văn h�a. V� c� ng�n ngữ n�n c� sự hiện th�n của văn bản để di truyền c�i th�n x�c văn h�a ấy theo thời gian; x�c th�n ấy c�n chuy�n chở hồn văn h�a kh�ng? �� l� chuyện kh�c. Do đ� nếu chỉ tựa v�o sự đồng dạng của ng�n ngữ (n�t đặc th�) trong văn bản (th�n x�c) m� quyết x�c rằng: t�m tư của người viết, t�nh tự của người viết... ở những gi�ng văn h�a kh�c hoặc ở con người kh�c c� sự đồng dạng, đồng nhất, th� thật l� sai lầm lắm vậy. Th�n x�c c� thể vẽ vời tr�n giấy trắng mực đen, rồi "chặp v�o" m� so s�nh; chứ hồn vẽ ra saỏ "chặp v�o" để so s�nh c�ch n�o? Do đ� văn bản th� c� thể so s�nh, nhưng văn h�a kh�ng so s�nh được v� kh�ng một ti�u chuẩn n�o c� thể l�m được việc ấỵ

Văn h�a c� thể kh�ng cần văn bản, nhưng văn bản đ�i hỏi phải c� một nền văn h�a. Tại sao thế? Trước khi ng�n ngữ h�nh th�nh, th� con người cũng đ� truyền lại suy nghĩ v� kinh nghiệm của m�nh qua tập qu�n v� truyền thống...đến l�c con người "đẻ" ra ng�n ngữ (như một ph�p lạ truyền đời), trước khi văn bản th�nh h�nh để ghi ch�p th� con người truyền lại đời sau c�c t�nh tự, suy tư qua ca dao, tục ngữ, một thứ văn chương truyền miệng...đến khi con người "ph�t kiến" ra văn bản, họ đ� chuyển tất cả thứ ấy v�o văn thơ nhạc, kịch v.v...N�n văn h�a đ� h�nh th�nh trước ng�n ngữ v� văn bản. Ngược lại đi từ văn bản để t�m văn h�ạ trước khi đặt b�t xuống; tự hỏi, con ngườI viết c�i g�...n�o l� thơ, văn, triết, t�nh tự, cảm quan, mỹ quan .v.v...từ � thức đến v� thức con người đ� bị "gọt đẽo" bởi một nền văn h�a m� m�nh lựa chọn l�c lọt l�ng...từ v� thức đến � thức con người đ� ngụp lặn, bơi lội, uống nước của gi�ng s�ng văn h�a của m�nh. V� thế lời con người viết trước sau cũng tự đ�y t�m linh, tự hồn văn h�a m� viết th�nh; do đ� văn bản n�o cũng cần nền văn h�a m� "tụ hội" th�nh văn. Kh�ng c� văn h�a, văn bản kh�ng thể h�nh th�nh.

 

NGOẠI THƯ: Sửa thơ Haiku

B�i haiku của Basho về con ếch do Nhật Chi�u dịch:

Ao Cũ

Con ếch nhảy v�o

Vang tiếng nước xao

m� ĐMT đ� t�n dương. Nếu lấy con c�c như biểu hiện t�nh Việt như NHQ đ� n�u. T�I xin "Việt H�a" b�i haiku như sau:

Gi�ng s�ng xưa

Con c�c nhảy xuống

Vang tiếng nước xao

t�i nhận thấy chữ "ao" c� vẻ t� t�ng với "địa phương t�nh", "cục bộ t�nh", "ghetto t�nh" về phương diện kh�ng gian. Tuy nhi�n, về thực chất "ao" c� vẻ bất dịch trong khi "gi�ng s�ng" th� m�i chảy trong tịnh lặng, an nh�n m� nối kết nam-bắc-d�ng-t�y, xưa-nay-kim-cổ. Hơn nữa, "gi�ng s�ng" c� t�nh tiếp lưu, c�n "ao" c� t�nh c� đọng v� c� thể vơi cạn. Chữ "xưa" mang đậm n�t thời gian t�nh hơn chữ "cũ" như "xưa-nay-mai chẳng hai d�ng chẩy"(LNC), c� t�nh luyến tiếc qua "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ l�u đ�i b�ng tịch dương" trong lời thơ của b� Huyện Thanh Quan; "xưa" c� vẻ như đ� mất dấu, nhưng "cụ vẫn c�n "t� g� để nhớ để thương". Lại hỏi th�m, c�i g� nối mạch sống của thời gian "xưa" đến kh�ng gian c�i "s�ng", ấy l� c�i "gi�ng". Chữ "gi�ng" đ� n�u l�n mạch sống trường tồn của d�n tộc, nh�n loại, v� điều n�y đ� thiếu vắng trong c�i "ao" đơn thuần. Tuy nhi�n, trong thơ văn người Việt thường n�i về s�ng mẹ v� ao l�ng chứ �t ai n�i đến s�ng l�ng v� ao mẹ. Mẹ l� sự khai sinh ra d�ng Việt, l�ng l� sự th�nh tựu của x� Việt. Mẹ thắm thiết bao nhi�u th� l�ng ray rứt bấy nhi�u. N�n ao l�ng vẫn kh�ng in đậm n�t trong hồn Việt bằng s�ng mẹ (phải chăng mẹ Việt Nam đ� kh�c r�ng r� 4000 năm m� chảy th�nh s�ng biển nu�i d�n). Qua c�u 2, chữ "v�o" chỉ n�u c�i t�nh "rộng" của kh�ng gian như "va� v� ra", nhừng bỏ mất t�nh "cao s�u" của kh�ng gian cũng ảnh hưởng kh�ng �t v�o cảm nhận của con ngườị Tuy nhi�n, c�i h�nh tương "con c�c nhảy xuống" cho ta thấy cả "ngang-dọc-cao đều một c�i th�ng"(LNC), con c�c nh�ng ch�n l� để nhảy "v�o" v� rơi "xuống" d�ng s�ng xưạ Ta lại hỏi th�m, con c�c nhảy "v�o" đ�u trong kh�ng gian hay "v�o" thời điểm n�o trong thời gian rồi mới rơi "xuống", hoặc vừa "v�o" vừa rơi "xuống". V� vậy chữ "xuống" bao h�m cả "v�o" gi�ng s�ng xưa; nhưng "v�o" chưa thể x�c quyết l� sẽ rơi xuống "ao cũ". N�n chữ "xuống" cũng được cảm nhận như một kh�ng-thời thống nhất trong thức gi�c của con người. �ến c�u 3, "vang tiếng" đ� nối liền mạch sống của "gi�ng" với "xuống" như một thể to�n diện. Những cụm từ v�o giữa hai chữ n�y, "... s�ng xưa/con c�c nhảỵ..", đ� được nối như c�c ph�n tử của nước s�ng để "gi�ng..." lu�n chảy "...xuống" như th�c v� "vang tiếng nước xao". ��y c� thể xem như một phần �t ỏi đ�ng g�p của t�i trong gi�ng giao lưu văn h�a song phương. N�n chăng?

 

3-Dấu Ch�n của n�ng

N�ng l� một con c�c v� danh, tiểu tốt, tự dưng nhảy ra v� ngồi xổm tr�n diễn đ�n văn học hải ngoại như chỗ kh�ng người, ch�n tay m�a m�y, chỉ trỏ lung tung, rồi lại nhảy đi, về đ�u chẳng ai hay. Ấy thế m� những vết ch�n son của n�ng đ� ghi lại cho d�n tộc ta một bước tiến khả quan trong văn học.

Bước ch�n đầu ti�n của n�ng tại hải ngoại được c� thể t�m thấy (theo như t�i biết) từ b�i "khế ước văn h�a" của ĐMT với b�i trả lời của NHQ luận về quyển "Thơ vv..v� vv" đ� đăng ở b�o Văn Học số 134. Sau đ� lại xuất hiện tr�n VH số 136, ĐMT đ� tr�nh l�ng th�m v�o quan điểm của m�nh qua b�i "Về c�i bẫy Văn H�a Của NHQ", c� lẽ v� thiếu t�i liệu T�y Phương n�n ĐMT cứ xoay quanh vấn đề của văn h�a. Trong khi NHQ x�c định l� quyển s�ch của �ng l� s�ch về l� thuyết văn học chứ kh�ng phải s�ch về văn h�a. Nghĩa l� ĐMT đ�i b�m trụ lấy gốc c�y Văn H�a dẫu bị đ�i chết, c�n NHQ lại ung dung, đong đưa, tự do tr�n "ngọn c�y văn học" m� kh�ng cần biết "gốc c�y văn h�a" n�o đ� nu�i dưỡng n�. Ch�ng ta may mắn hơn đưọc đến cư ngụ những nơi đầy ắp t�i liệu về văn học T�y Phương, tuy nhi�n c� kẻ đọc của người, lấy của người, để dẫn chứng v� để tỏ vẻ ta c� một kiến thức uy�n b�c th�ng kim-cổ đ�ng t�y, m� chưa hẳn đ� hiểu hết c�c s�ch đ� dẫn, đ� đọc hết c�c s�ch dẫn. Dẫu c� người đọc cả ng�n chương s�ch của �u-Mỹ m� chỉ ứng dụng một c�ch hơ� hợt, cứng nhắc khi ph� b�nh văn học nước nh� m� kh�ng sao lồng v�o được những "sợi tơ" của văn h�a Việt, th� hỏi kiến thức ấy c� lợi g� cho d�n tộc c� chăng nh� th�m v�i ba cặn b� xứ người để trả nợ cơm �o như Phu t�i l� hết mức! Người như thế cười ĐMT được chăng? Ngo�i ra, ĐMT đ� ăn cơm của đảng cộng n�n trung th�nh, đ� l� l� dương nhi�n, c� tr�ch chăng l� những kẻ ăn cơm quốc gia (miền Nam trước 1975) m� thờ ma cộng sản, ranh giới bất minh, t�m tư bất định, lập trường q�e quặt, người như thế d�m cười tinh thần d�n tộc qu� kh�ch của ĐMT chăng? Thiển nghĩ, quan trọng l� c�i ta hiểu để ứng dụng v�o cuộc sống, Việt H�a trong việc du nhập, chứ kh�ng phải l� một thứ "k� khai kiến thức tổng qu�t khỏng lồ" trong rời rạc m� chẳng đ�c kết được g�! Động t� l� phun �ng t�y b� đầm (tật sợ ma!) tưởng rằng sẽ đ� chết được người. C�i học như thế thật v� �ch, v� bổ.

Ở VH số 137, ch�ng ta cũng đ� t�m thấy những bước ch�n to nhỏ của n�ng c�c đ� h�a thạch.

Dấu ch�n h�a thạch đẹp nhất đ� t�m thấy bởi �ng Trần Văn T�ch qua b�i "�ọc Thơ", bạn t�i l� �ng Nguyễn Anh Thăng đ� khen b�i văn "uy�n b�c v� x�c t�ch", �ng T�ch đ� so s�nh nhiều thơ phi�n dịch ở nhiều văn bản kh�c nhau, từ đ� ta c� thể r�t ra một kết luận l� nếu chỉ dựa v�o văn bản m� x�t nghĩa hay gi� trị của t�c phẩm th� c� thể đi đến một sai lầm nghi�m trọng. T�i đưa ra một v� dụ buồn cười kh�c l� nếu chỉ dựa v�o văn bản của mặt chữ th� người Anh c� thể dịch nghĩa cụm từ "D�n Lạc Hồng" ra tiếng Anh như "the people of pink peanut", th� chắc d�n Việt ta sẽ gi�y t� t� m� chết giấc cả! Cuối c�ng �ng T�ch đ� đưa ra nhận x�t tế nhị (dĩ nhi�n l� �ng T�ch tế nhị hơn Phu t�i nhiều lắm) m� đối chứng với c�ng t�m. �ng cho NHQ đ� qu� đ� hay ...qu� độ m� "tiến nhanh tiến mạnh tiến lung lay từ thuyết văn bản l�n 'chủ nghĩa văn bản' (9).

Phạm thị Ho�i (PTH) đ� kh�m ph� ra một vết son kh�c qua b�i "trận con c�c". B�i của PTH cũng nặng m�i vị ch�nh trị, văn h�a như b�i của ĐMT. Tuy nhi�n b� cũng đưa ra một nhận x�t rất � vị l� "d�n tộc ta c� khả năng Việt h�a mọi sự tiếp nhận từ ngo�i v�o." v� cho Khế ước văn h�a hay tiền đề văn h�a l� những vũ kh� đ� lỗi thời v� v� dụng. Mẫu chuyện "thằng lịch sử" của b� l� nhộn nhất; t�i xin chua th�m: "thằng lịch sử" v� "thằng văn h�a" l� hai đứa con của "thằng con người", thế m� ch�ng lại giao to�n việc nặng cho"thằng con người", ch�ng bất hiếu (10) qu� phải kh�ng b� nhỉ?

C�n dấu vết t�m thấy do �ặng Tiến th� qu� lờ mờ,đọc giả kh�ng r�t ra được điều g� mới lẫ �ng đ� viết với giọng kh�n kh�o của kẻ cả, của người ch�nh t� c�n trong thời kỳ lưỡng lập v� x�t lạị Tuy nhi�n đ� hứa sẽ l�m r� n�t hơn trong b�i thi ph�p của thơ con c�c sẽ ấn h�nh ng�y gần đ�y, mong.

Từ � kh�c của văn bản, hiện tượng NHQ l� hiện tượng của con Việt qu� mệt mỏi với tất cả m� h�nh như "d�n tộc, nguồn gốc, văn h�a .v.v.." đ� bị lạm dụng cho những tham vọng, n�n NHQ muốn tạm thời khước bỏ một c�ch v� thức để ch� t�m v�o c�I trước mắt như văn bản. Thế nhưng �ng DMT đ� k�o NHQ về, cho rằng đọc văn bản m� qu�n t�c giả kh�c na� "uống nước qu�n nguồn" hay "ăn tr�i qu�n kẻ trồng c�ỵ" Ai đ�ng? Ai saỉ Hy vọng ch�ng ta l� những con chim Việt từ những phương trời kh�c nhau, cố vui sống, "con chim n�o vui th� cứ ngứa cổ h�t chơi" (tr�ch � thơ Xu�n Diệu) (11) để con c�c tư lự x�t xem c�i g� c�n rớt lại.

 

NGOẠI THƯ: Xưa v� Nay

Theo truyền thuyết, khởi từ v�ng Lĩnh Nam Ngũ Hồ d�n B�ch Việt đ� hội tụ m� soi chung một nền văn h�a; v� những cuộc ph�n tranh đến ph�n r� m� chạy lạc về phương nam (?) men theo bờ Th�i B�nh Dương lập quốc, dựng nền; c� thể chăng nền văn h�a ấy của B�ch Việt (được mệnh danh l� con Rồng ch�u Ti�n) cũng đ� tan biến, rời rạc m� mất dấu cả?

Lĩnh Nam �m trọn Ngũ Hồ

ngh�n năm văn hiến chỉ ngần ấy sao

V�o thế kỷ trước, d�n Nam mỗi khi dạy nhau th� thường n�i "Tử (tức Khổng Tử) n�ị..thế n�y" hay "th�nh nh�n (chỉ khổng Tử) dạy thế nọ", "Mạnh Tử bảo như vậy" hay "thầy Mạnh dạy như kia"...v.v..bao nhi�u thứ ấy đ� mượn ở đ�u đ�u m� dạy d�n Nam; điều n�y đ� l�m t�i cảm thấy d�n Nam chẳng c� g� ngo�i c�i x�c kh�ng hồn để người ngo�i khống chế v� dạy dỗ. C� thực thế kh�ng?

Ở thế kỷ 20, d�n Nam khi tiếp x�c với T�y phương cũng chẳng "tiến hơn" một bước n�o. Mỗi l�c dạy nhau, ngo�i ngo�i thứ cũ kỹ đ� n�u tr�n, c�n cần đến c�c "tư tưởng lớn nhập cảng" từ phương t�y, chỉ nhai đi nh� lại văn bản của họ m� qu�n ti�u h�a, động t� như chứng sợ ma (hồn của d�n Nam) l� phun ra những �ng T�y b� Đầm cứ tưởng sẽ đ� chết được hồn người Nam. V�o cuối thế kỷ n�y ta cũng nhập cảng được v� số chủ nghĩa đ�u đ�u như: Chủ nghĩa Tam D�n, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản... D�n Nam chỉ học của người một c�ch hời hợt, n�n hiểu thiếu chiều s�u, do đ� �p dụng mới chắp v� tạm thời ...Từ đ� kẻ theo Mỹ, người theo Nga-T�u, chia đ�i mảnh đất cha �ng m� phạng nhau cho "thỏa ch� tang bồng nam nhi tr�ị" Ai thắng? Ai bạỉ.. kết qủa một đất nước hoang t�n đổ n�t, nh�n t�m ly t�n. NgườI Việt ta đ� thua nặng rồi đ�! �ến nay, l�c m� cả thế giới đang m� mẫm t�m hướng ph�t triển mới (xin đọc Recent History Journal) bước v�o ngưỡng cửa của ni�n kỷ mới, ni�n kỷ năm 2000. D�n Nam đ� tứ t�n khắp nơi tr�n địa cầu để "tha phương cầu thực" rồi cũng học (qu�n ti�u h�a) một c�ch hời hợt v�i ba c�i thuyết đ�u đ�u v� vung gươm s�t phạt, loạn "kiếm kh�" động n�t hồn Quốc Tổ.

Gần nhất, một chuyện rất kh�i h�i trong l�ng văn học Việt ở hải ngoại khi b�nh phẩm b�i con c�c. Người ở Mỹ mượn sự tr� mật của đất nước n�ỵ..người ở Ph�p vay lấy �nh s�ng Ba-l� trăm năm trước...kẻ ở �c tựa v�o sự h�ng tr�ng n�i đồi hoang dả, kẻ tại Việt Nam dựa v�o bốn ng�n năm r�ch n�t...họ c�ng nhau khai tử cho con c�c! Trong thứ m� họ gọi l� "giao lưu văn h�a", một số nh� ph� b�nh văn học kh�ng biết l� luận để ti�u h�a v� đưa ra � ri�ng của m�nh m� chỉ biết mở s�ch �u-Mỹ v� hời hợt điền v�o "chỗ trống" một c�ch hỗn tạp, như thầm bảo rằng "m�y biết �ng ấy, tao cũng biết" v� khoe c�i "kiến thức tổng qu�t hổ lốn" của m�nh hơn l� truyền b� sự hiểu biết của m�nh sau thời gian nghi�n cứu v� l� luận. Ấy l� bệnh "đa thư loạn mục." người m�nh đ� học từ t�u. �� l� bởi đ�u, xin thưa l� bởi:

...c�y thối rễ, sầu th�n, mục gốc

nghĩ: "Phải l�m con Mẹ tủi th�n"

"th�c sinh đ� chọn cửa lầm"

"thẹn v� c� mẹ qu� tầm thường đi"...

(L. Nguy�n Chương)

c� phải chăng ch�ng ta q�a thẹn v� hơn 4000 năm văn hiến m� chẳng c� gị xấu hổ v� Mẹ c�c Việt Nam q�a xấu v� kh�ng được c�i h�o nho�ng b�n ngo�ị..để...

...�ể che đậy mọi lưu manh

Mới phủ l� lượt; che m�nh m�nh hoa

N�o mấy ai thật th� ph�t chất

�t vị m�nh, khuất tất, � tham

Mấy ai đ�i r�ch cũng cam

�ổ mồ h�i tr�n, tay l�m m� ăn?

Như Mẹ đ�, nhọc nhằn, vất vả

Sống cho người, hiến cả t�m th�n

Suốt một đời những tảo tần
Chỉ cho đi, chẳng giữ phần mảy may

Chẳng hề hỏi lễ n�y, cớ nọ
Cứ hồn nhi�n, nhem nhọ, cần c�
Hậu, hiền chẳng lệnh ri�ng tư
Qu�n m�nh m�nh hẳn, qu�n từ nội t�m...
(L. Nguy�n Chương)

C�c nh� ph� b�nh văn học đ� mượn c�ng cụ t�y phương để "giải phẫu" cho n�ng kh�ng?

 

C�I C�N RỚT LẠI

C�i c�n rớt lại l� một đất nước hoang t�n, một nền văn h�a bị hủy hoại v� nh�n t�nh th� r�ch n�t. C�i ch�ng ta cần x�y dựng l� Con Người, chứ kh�ng phải Văn H�a. C�i ch�ng ta cần t�m hiểu l� Con Người, chứ kh�ng phải Văn Bản. Bởi c�n Con Người l� c�n tất cả, mất Con Người l� mất tất cả! Con Người l� Chủ Tể, ấy l� hiện sinh Nh�n Chủ của n�i Việt, l� tự sinh Nh�n Bản của n�i Việt. Thế m� nay, nhiều người Việt lại bỏ mất c�i Con Người của m�nh để chạy đuổi theo c�i b�n ngo�i của Con Người l� Văn Bản, Văn H�a để mất th�n, mất hướng. T�i xin tạm dừng với v�i c�u thơ nhảm...

...ta sống trong Hồn non cao nước biếc

t�nh c�n đầy hay vơi cạn l�u rồị

hỡi người ơi!

xin g�p nhau c�ng

chung x�y thế giới của lo�i người

v� nước Việt ki�u h�ng của ng�n năm

ơi hỡi ng�n năm...

để nhắn ai t�m hướng tự tồn cho d�n nước Việt, h�y nhớ

�ường Kinh Sinh phải l� d�ng sống sử
�ường Kinh Sinh phải l� đường Việt lớn...

 

Nhiệm Vụ của nh� văn

 

Th� thật, viết đến đ�y t�i mu�n bu�ng tất cả để 'mặc cho con tạo xoay vần', v� qu� mệt, nhưng lại nghĩ về c�ng lao của tiền nh�n... 'Nguyễn Du, Nguyễn Tr�i ho�i đầu bạc; Ngọc Vạn, Huyền Tr�n uổng m� hồng'...n�n kh�ng d�m để cho 'tự nhi�n trời vẫn quyền h�nh h�� m� phải 'lựa thế người d�nh sức g�p c�ng'. ��nh phải ngồi xuống m� nặn th�m chữ m� viết th�nh nhận định về nhiệm vụ của nh� văn.

Biểu dương-h�y biểu dương c�ng tận

Vinh dự lầm than của kiếp người

Hi hữu một lần tr�n tr�i đất

V� rồi tất cả sẽ ngu�i ngoai

(T� Th�y Y�n)

Văn l� c�i hay, vẻ đẹp. Cho n�n nh� văn l� người n�u được c�i hay, tả được vẻ đẹp của nước nh� m� 'd�y cho quốc d�n hay 'giới thiếu với người nước ngo�i để tỏ d�n tộc c� một nền Văn Hiến hẳn hoi. Từ đ� d�n ta mới mang một niềm tự h�o 'c� thực' m� dạy cho con ch�u giữ nước, dựng nh� để bảo vệ nền văn h�a sao cho trường tồn v� thăng tiến l�n m�i. Từ xưa d�n tộc ta đ� c� một nền Văn H�a ri�ng, niềm t�n s�ng 'vẻ đẹp' của nước thật ki�u kỳ, hay n�u 'c�i hay của nh� q�a ngạo mạn. V� Thế nước ta đ� được t�n gọi l� nước Văn Lang (L�ng văn đấy nh�). �ược thế l� v� "tr�u ta ăn cỏ đồng ta; tuy l� cỏ cụt nhưng m� cỏ thơm" (L. Nguy�n Chương).

Văn Học l� t�m kiếm c�i hay, vẻ đẹp của tiền nh�n để 'dạy nhau, dạy con ch�u sao cho khỏi vong th�n để rồi vong bổn. Ngo�i ra, người l�m văn học c�n phải biết ph�ng t�c, trước t�c hay s�ng t�c để l�m phong ph� cho văn h�a nước nh�. Ấy l� bởi Văn Học l� một trong những b�ng hoa của cội c�y Văn H�a. Người l�m Văn H�a l� ai? Xin thưa ấy l� to�n d�n. Như thế những ai trực tiếp l�m Văn-Học? Lại xin thưa đ� l� nh� văn.

Cho n�n nhiệm vụ nh� văn thật l� to t�t lắm vậy. Ấy bởi nh� văn l� người th�u nhặt c�i hay, vẻ đẹp của nước nh� m� viết với t�nh cảm hay l� tr� của m�nh t�y ở việc l�m. Mỗi nh� văn c� thể c� những lời viết (styles) kh�c nhau, người th� viết d� dỏm, người th� ngạo mạn, người th� ch�n chất, mộc mạc ..v.v....D� c� theo lối n�o đi nữa, khi viết, lời văn phải giản dị dễ hiểu, � văn phải trong s�ng, t�nh văn phải đượm đ�, ch�n thật. C� thế nh� văn mới đi s�u được v�o l�ng của tiền nh�n v� quốc d�n. Nh� văn cần n�n tr�nh dụng những 's�o ngử' kh� hiểu, v� 'loạn văn' kh� đọc. S�o ngữ hoặc loạn văn đều l� hư văn cầ Nếu dụng ch�ng một c�ch v� � thức, nh� văn đ� v� t�nh phỉ b�ng cả nền học thuật của nước nh�.

 

Nhắc lại, nh� văn l� một trong những người khai ph� mở mang cho nền học thuật nước nh�, g�p nhặt những tinh t�y của d�n tộc m� n�i l�n được t�nh tự của quốc d�n. V� thế việc l�m của nh� văn cần phải cẩn trọng lắm lắm!!!!...N�n mỗi khi đặt b�t xuống nh� văn cần phải c�n nhắc, phải tự kiểm vốn hiểu biết của m�nh về đề t�i đang đề cập, phải tự x�t t�m tư v� 'văn tải �ạo' người. N�n khi viết nh� văn kh�ng c�n viết cho m�nh nữa, m� c�n viết cho người, những sai tr�i sẽ ảnh hưởng kh�ng �t đến những thế hệ theo sau v� thường đem đến hậu họa kh�ng lường được.

Nếu được thế th� kh�ng cứ g� trong hay ngo�i nước vẫn giữ được t�nh non nước. V� đi đến đ�u cũng nghe thấy c�u h�t

 

�. Dẫu từng khắp n�i c�ng s�ng,

��i ch�n đ� mỏi, đ�i tr�ng đ� hoa

Thấy tr�u ta th�ch cỏ ta,

Th� ta về tắm ao nh� 'th� ghế (đi)*

Nguy�n Chương)

*dựa c�u ca dao "Ta về ta tắm ao ta. D� trong d� đục ao nh� vẫn hơn".

 

 

Thay lời kết

 

Việc g� cũng thế, c� bắt đầu th� c� kết th�c, c� thủy th� phải c� chung; thủy chung như nhất l� c�i ch�nh l� để l�m người

S�ch Chu Dịch bắt đầu bằng quẻ 'Kiền', l� 'Trờ� với � mọi vật sinh ra từ trời (vạn v�t sinh ư kiền). N�i theo giọng triết học, th� 'Kiền' l� một nguy�n động lực, tự hiện hữu, t�c động l�n c�c nguy�n tố, xưa cho l� ngũ h�nh (kim, m�c, thủy, hỏa, thổ) m� tạo ra mọi vật. Vạn vật sinh động m� tạo ra mọi việc. Mọi vật sinh ra, rồi lại kết tụ lại m� h�a ra vật mới (chứ kh�ng hề hủy thể bao giờ, chỉ c� biến thể m� th�i). C�c việc, tự l�c manh nha đến l�c th�nh tựu tốt đẹp rồi lại lụi đi v� trở th�nh nh�n cho c�c việc sau nối tiếp theo d�i ra m�i m�i kh�ng biết đến đ�u l� dứt. Cho n�n Kinh Dịch tận c�ng cũng bằng quẻ 'Vị Tế" l� chưa dứt hẳn.

B�i viết n�y bắt đầu ở văn phong, đến văn c�ch, văn hồn�.. rồi biết đ�u ở tương lai, t�i (cứ g� phải t�i, ai đ� cũng được m�) lại viết th�m văn đạo, văn t�nh, văn t�nh, văn ch�, văn kh� v..v.. cứ thế m� đi, cứ thế m� tạo t�c th�m nhiều. Tr�n nền đ� cũ (Tại sao lại cũ? Cũ phải chăng chỉ do � thức hệ) m� dựng n�n c�i khung mới kề c�i khung cũ, cứ giằng n�o n�u k�o nhau; c�i đ� c� th� bồi th�m cho tốt hơn; c�i đ� hư phải sửa chữa cho hợp lẽ thời; c�i chưa c� phải tạo dựng n�n cho phong ph� như người; c�i kh�ng c� th� học ở người m� biến cải cho th�ch hợp với t�nh t�nh của quốc d�n. Ấy l� những bước ti�n khởi để x�y dựng lại nền học thuật cho nước nh�

Trăn trở canh khuya, n�t chiếu giường,

M�c vần trăng lạnh, dội v�o tim ,

Lu�n hồi thấm ướt hồn ba kiếp

Gửi xuống nh�n gian một b�ng h�nh.

Việc g� cũng thế, c� bắt đầu th� c� kết th�c, c� kết th�c m� chưa dứt hẳn; ấy cũng l� c�i tinh � của Dịch, c�i l� sống trong nh�n sinh, c�i lẽ tuần ho�n của vạn vật.

Ch� Th�ch

(1) Dấu phẩy đặt v�o giữa "đời" v� "ta" ở c�u 4 l� một tinh � của t�c giả. Chữ "đời" đ�y c� nghĩa l� người hay tha nh�n, n�n c�u 4 phải được hiểu l� "chắc người v� ta c�n thắm n�t xu�n tươị" �iều n�y đ� n�u l�n t�nh tương quan thắm thiết giữa người v� ta trong nh�n sinh quan của d�n Việt giữa con người với nhau qua "người với ta tuy hai m� một/ta vớingười tuy một m� hai". Nếu ta thay thế chữ "người" cho "đời" m� đổi c�u 4 như "chắc người, ta c�n thắm n�t xu�n tươi", nhưng lại kh�ng ấm v� t�nh kh�ng trải rộng trong nh�n sinh băng "chắc đời, ta c�n thắm n�t xu�n tươi" v� "đời" trong c�u n�y ngo�i nghĩa tha nh�n ra c�n c� nghĩa "tất cả những li�n hệ giao lưu với con người" như c�y cỏ, hoa hương, m�y gi�, mu�n sinh vật v� sinh động kh�c nữa. Nếu bỏ dấu phẩy đi th� c�u 4 th�nh "chắc đời ta c�n thắm n�t xu�n tươi", một c�i đời của ri�ng ta một c�ch vị kỷ, đ�ng gh�t m� mất sự giao lưu với con người, c�ng thể c�ch ấy nếu như ta cũng thay chữ "đời" bằng chữ "người" như "chắc người ta c�n thắm n�t xu�n tươi" th� chỉ nghĩ về người kh�c m� qu�n mất c�i ta tức dễ vọng ngoại m� mất th�n.

N�n dấu phẩy "ngăn" ở văn bản, ở mặt chữ nhưng lại giao h�a trong t�nh, t�nh ch� của con người. C�u 4 cũng sẽ cho ta c�ng một cảm nhận nếu ta thay "dấu phẩy" bằng chữ "v�" hoặc "với"; ấy l� những n�t dị biệt trong thi ca, n�t dị biệt đ� như thế n�o

H�y c�ng nhau x�t đến lời thơ của Du Tử L� (DTL): "�i v� về c�ng một nghĩa như nhau" m� đ� được một nh� gi�o dụng để n�u l�n c�i nghĩa Sống v� Chết (sống gửi th�c về) trong sự giao động trước sự lần lượt ra đi của những t�n đồ của Cổng Trời (Heaven Gate). Dựa v�o văn bản th� cụm từ "một nghĩa" trở n�n v� nghĩa, v� văn bản c� thể hiểu với cả trăm ng�n � kh�c nhau. Nghĩa bao gồm cả Danh, Sắc, Tướng, H�nh. Tuy nhi�n, "đi" v� "về" đ� bị ph�n t�m, rẽ hướng bằng chữ "v�", th� "đi" v� "về" c�n c�ng "một nghĩa nữa hay kh�ng? chữ "v�" đ�y c�n gieo l�n mối giao động của t�m tư trong dục vọng m� t�m thức kh�ng được thanh tịnh. Hơn nữa người vẫn c�n nghĩ đến "nghĩa" l� c�n tham sống, tham danh, tham lợi .v.v..c�n t�m vọng th� l�m sao c� thể kiến giải được nỗi sống gửi th�c về, những Danh, Sắc, Tướng, H�nh bị bủa ly ra trăm phương ng�n hướng, như thế c� "như nhau" được chăng? Tựa v�o văn phong ấy, t�i xin nặn ra 2 c�u sau:

kh�ng vợ kh�ng con kh�ng tất cả

đi về một c�i cũng như nhau ...

Ở đ�y cụm từ "đi về" kh�ng bị ph�n, bởi chữ "v�" m� lại hợp v�o trong "một c�i", ấy l� "c�i ta b�", "c�i niết b�n", "c�i thi�n đ�ng", "c�i u minh"... Tất cả Danh, Sắc, Tướng, H�nh đ� trộn lẫn v�o "một c�i" m� phản ảnh qua những cảm nhận khắc nhau của từng người. Từ "một c�i" c� thể cho ta "v� thường" nghĩa, l�.

"�i về" được viết liền v�o nhau như t�nh thống nhất trong "một c�i", cũng như dấu phẩy ngăn giữa "đời" v� "ta" tạo sự tương quan giữa người v� ta như "c� người m� cũng c� ta" trong văn h�a Việt. X�t đến c�ng th� người v� ta đều phải "đi về" với vạn ảnh gi�c trong "một c�i như nhau"

(2) Hầu hết những đối thoại trong "huyền sử về c�ng ch�a c�c" tr�ch từ thơ của L. Nguy�n Chương. (a) Theo LNC, 2 c�u cuối của đọan thơ n�y đọc l� "...Trai rạo rực sức rồng tung s�ng bể/G�i huyền minh cao � n�i non ti�n..."

(3) B�i haiku của Basho về con ếch do Nhật Chi�u dịch: Xin xem th�m ở ngoại thư phần 2.

(4) Tr�ch thơ Tương Phố.

(5) Ng�y 30 th�ng 4 năm 1975 l� ng�y lịch sử Việt Nam chuyển hướng, cộng qu�n đ� ồ ạt đạp l�n sinh linh m� chiến thắng. C�i c�u "nhất tướng c�ng th�nh vạn cốt kh�" đến nay nghe thật thấm, chỉ tội cho những người vợ, người mẹ của hai miền Nam Bắc đ� kh�c r�ng r� mấy mươi năm chiến loạn...

Mẹ ơi mắt Mẹ kh� chưa

đ�m xưa Mẹ kh�c Cha con r� rời

Cha con vị quốc vong đời

đến anh con lại bỏ đời ra đi

vươn theo nhịp bước cha đi

con v�o nghiệp l�nh bỏ nh�a tuổi xanh

con đi Mẹ tựa cửa nh�n

đ�i d�ng t�m lệ chẩy đầy Cửu Long

n�o ngờ một ch�n bảy lăm (1975)

con chưa thất trận lệnh tr�n đ� h�ng

non s�ng nay đổi chủ rồi

"Giặc" v�o d�n gọi con l� "Ngụy" qu�n

Mẹ ơi mắt mẹ kh� chưa
Ngh�n xưa Mẹ kh�c qu� hương đọa đ�ỵ..
T�m tư c�n lại ch�t n�y
M�u xương, hương hỏa, vơi đầy, thủy chung

(6)� ch�nh trong vỡ kịch thơ "Sinh Th�nh" của Thảo Vũ.

(7) Như t�i nhớ, theo kiến giải của �ng L. Nguy�n Chương, Gậy Thần n�i Việt l� hiện th�n của cửu cung b�t qu�i, gậy được chia l�m 9 đốt từ đầu Sinh đến đầu Tử; 9 đốt mang 9 nghĩa kh�c nhau m� nay t�i qu�n mất; 9 đốt cũng mang 9 vị số, bắt đầu từ số 1 ở đầu Sinh cho đến số 9 dứt ở đầu Tử Số 5 nằm tại trung t�m (cung) l� nơi Người cầm đẩ h�nh sử, l� "trung t�m điểm của c�ng dụng Tạo H�a" theo chữ của cụ Phan Bội Ch�ụ Số 1, 2, 3, 4 ở đầu Sinh l� số sinh Thủy, Hỏa, Mộc, Kim; số 6, 7, 8, 9 ở đầu Tử l� số th�nh Thủy, Hỏa, Mộc, Kim. Người cầm gậy quay tr�n cho 1 & 9, 2& 8, 3 & 7, 4 & 6 giao nhau, kiến giải theo Hy Kinh L�i Trắc cuả Phạm Thị Gia Thục:

Th�i Dương ở 1 liền với 9 (H� �ồ) hay ở 1 đối diện với 9 (LạcThư)

Thiếu �m ở 2 liền với 8 (H� �ồ) hay ở 2 đối diện với 8 (LạcThư)

Thiếu Dương ở 3 liền với 7 (H� �ồ) hay ở 3 đối diện với 7 (LạcThư)

Th�i �m ở 4 liền với 6 (H� �ồ) hay ở 4 đối diện với 6 (Lạc Thư)

ng�i số của Tứ Tượng hợp nhau đều l� số 10, số th�nh thổ.

(8) Nguyễn Ngọc Tuấn, a-"thơ con c�c", HL#17, tr. 61; b-"trở lại b�i thơ con c�c", HL#19 tr 41;"thơ, văn bản v� người đọc", HL#21 tr 31.

(9) Trong cuộc đối thoại "tương k�nh" với �ng HQB, �ng HQB đ� dạy t�i : "biết thi�n kinh vạn quyển kh�ng bằng đ�i ăn kh�t uống" như một bản năng tiền sử. Tựa v�o lơ� dạy tr�n, t�i muốn n�u l�n một thực trạng của d�n Việt: "d�n Việt đang đ�i ăn, kh�t uống chứ kh�ng đ�i văn bản hay kh�t văn h�a".

(10) Hiếu l� đạo của cả lo�i ngư�i. Người xưa c� c�u: "B�ch thiện hiếu vi ti�n, luận t�m bất luận t�ch, luận t�ch bần gia v� hiếu tử/Vạn �c d�m vi thủ, luận t�ch bất luận t�m, luận t�m kim cổ thiểu h�an nh�n" tạm dịch "trăm thiện hiếu l� trước hết, luận t�m chứ kh�ng ai luận t�ch, nếu luận t�ch th� con nh� ngh�o l�m g� c� hiếu tử/Vạn �c d�m l� đầu, luận t�ch chứ kh�ng ai luận t�m, nếu luận t�m th� xưa nay mấy kẻ được ho�n to�n." N�n hiếu l� đức tốt nhất v� người c� hiếu tất phải trung nghĩa với nước non, chồng vợ, bạn b� m� kh�ng phạm v�o thứ nhất �c l� gian d�m. (nếu t�i nhớ sai hay hiểu sai � người xưa xin c�c nh� ph� b�nh thứ lỗi, nhất l� c�c vị ph� b�nh văn học tại Ph�p v� được gần cụ Ho�ng Xu�n H�n l�c sinh thời m� thấm nhuần H�n-Việt v� tinh thần � đ�ng, xin chữa hộ nhau)

 

 

T�n Thất Phu

 

� gio-o.com 2017