Michel Foucault

văn chương là gì?

(tiếp theo)

 (kỳ 6)

 

(kỳ 1), (kỳ 2), (kỳ 3) (kỳ 4) (kỳ 5)

 

   Trong mọi trường hợp, tôi muốn kết thúc những nhận định về siêu ngôn ngữ và những cấu trúc của sự lập lại bằng cách nói với các bạn thế này: các bạn đừng nghĩ rằng người ta có thể, vào lúc này, định nghĩa phê bình, một cách thật thơ ngây, không như một siêu ngôn ngữ, nhưng như sự lập lại cái gì có thể lập lại trong ngôn ngữ. Và trong chừng mực đó phê bình văn chương có lẽ chỉ làm việc ghi tên mình trong một truyền thống sở chú lớn (grande tradition exégétique), truyền thống này đã bắt đầu, ít ra đối với thế giới Hy Lạp, ngay từ những nhà văn phạm học là những người đã bình giải Homère. Phải chăng người ta không thể nói rằng, với sự phỏng chừng đầu tiên, phê bình chỉ thuần túy và đơn giản là diễn ngôn của những cái kép, nghĩa là phân tích những khoảng cách và những khác biệt trong đó những nhất tính của ngôn ngữ quay trở lại. Và vào lúc đó, người ta cũng sẽ thấy có thể có ba hình thức phê bình. Một hình thức, hình thức thứ nhất, nếu các bạn muốn, là khoa học, hay tri thức, hay kho chứa những diện mạo, bằng những diện mạo này những thành tố đồng nhất của ngôn ngữ được lập lại, biến đổi, tổ hợp – người ta biến đổi, tái tổ hợp, lập lại, những thành tố phát âm, ngữ nghĩa, cú pháp, nói cho gọn, phê bình hiểu theo nghĩa này như là một khoa học những lập có tính chất hình thức của ngôn ngữ, cái này có một tên gọi, đã hiện hữu từ rất lâu, đó là tu từ học. Kế đến, có hình thức khoa học của những cái kép thứ nhì, đó là phân tích những đồng nhất tính (analyse des identités) hay những biến cải (modifications) hay những hoán chuyển (mutations) ý nghĩa, qua tính chất đa phức (diversité) của những ngôn ngữ – là việc người ta có thể lập lại một ý nghĩa, bằng những từ khác nhau; và các bạn biết rằng hầu như thế chính phê bình theo nghĩa cổ điển đã làm, kể từ Sainte-Beuve gần như cho tới thời chúng ta ngày nay, là nơi người ta đã cố tìm lại tính đồng nhất (identité) của một sự chỉ nghĩa (signification) tâm lý, hay lịch sử, sau hết là tính đồng nhất của một chủ thuyết chủ đề (thématisme) nào đó,  thông qua phần lớn một tác phẩm. Chính cái đó người ta vẫn gọi là phê bình theo truyền thống.

   Thế nên tôi tự hỏi nếu chẳng thể có chỗ, phải chăng nay không có chỗ cho một hình thức phê bình thứ ba, hình thức này sẽ là phá vụn (déchiffrement) sự tự qui chiếu này, của sự hàm nghĩa (implication) tác phẩm với chính tác phẩm, trong cái cấu trúc dầy dặn của sự lập lại mà tôi vửa nói với các bạn nhân nói về Homère; phải chăng sẽ không có chỗ cho phân tích đường cong do đó tác phẩm luôn được chỉ ra trong chính nó này, và tác phẩm hiện ra như sự lập lại của ngôn ngữ bởi ngôn ngữ? Với tôi dường như là thế, chính phân tích sự hàm nghĩa của chính tác phẩm, phân tích những dấu hiệu do chúng mà tác phẩm không ngừng tự chỉ ra, tôi nghĩ rằng chính điều đó, nói cho gọn, việc chỉ nghĩa của chúng cho những công trình đa tạp và đa dạng ngày nay người ta gọi là phân tích văn chương.

   Và tôi muốn chỉ ra vì sao khái niệm phân tích văn chương, được sử dụng và áp dụng bởi những người khác nhau, dù đó là Barthes, Starobinski [4] v.v… tại sao phân tích văn chương này có thể, tôi tin rằng, tạo nên một suy tư/phản tỉnh (réflexion), cuối cùng, mở ra và mở nút chặn trên một suy tư gần như triết học (quasi philsophique) – vì tôi không coi mình làm triết học thực sự nên hôm qua tôi không cho phép những người quan tâm về văn chương, làm văn chương thục sự: tôi sẽ ở trong giả tượng của triết học cũng như ngày hôm qua văn chương đã trong gỉa tượng của văn chương. Thế nên tôi muốn biết có phải là hướng về một giả tượng của triết học mà những phân tích văn chương này có thể dẫn chúng ta tới.

    Với tôi dường như những phác thảo phân tích văn chương cho tới nay đã được thực hiện, người ta có thể xếp chúng vào, trong mọi trường hợp người ta có thể đặt tên cho nó, như các bạn muốn, là hai định hướng khác nhau. Những định hướng có liên hệ tới những dấu chỉ (signes), bằng những dấu chỉ này những tác phẩm dược hoạch định trong chính chúng. Và những định hướng khác có liên hệ tới cách thế tạo không gian khoảng cách mà những tác phẩm tạo ra ngay trong chúng.

   Trước hết tôi muốn nói với các bạn, dưới tựa đề hoàn toàn có tính cách hoạch định, về những phân tích đã được thực hiện, để cho thấy những tác phẩm văn chương không ngừng tự hoạch định ngay trong chính chúng ra sao. Các bạn biết rằng đó là một khám phá mới mẻ một cách nghịch lý, rằng khám phá này, chung qui, cho rằng tác phẩm văn chương được tạo nên, trên hết không phải với những ý/tư tưởng, không phải với cái đẹp, không phải với những tình cảm, nhưng tác phẩm văn chương được tạo nên hoàn toàn chỉ với ngôn ngữ. Nghĩa là, khởi từ một hệ thống của những dấu chỉ. Nhưng hệ thống của những dấu chỉ này không cô lập, nó chung phần với cả một mạng lưới của những dấu chỉ khác, là những dấu chỉ lưu hành trong một xã hội nào đó, những dấu chỉ không phải là ngữ học, nhưng là những dấu chỉ có thể là kinh tế, tiền tệ, tôn giáo, xã hội v.v…Mỗi khi người ta chọn nghiên cứu trong lịch sử của một nền văn hóa, thế nào cũng thấy có một trạng thái của những dấu chỉ, một trạng thái tổng quát, nên phải lập bảng chỉ dẫn xem đâu là những thành tố hỗ trợ cho những giá trị chỉ nghĩa, và theo những qui tắc nào những thành tố chỉ nghĩa này tuân theo trong việc lưu hành của chúng.

   Khi mà nó là một thao tác chuẩn bị hành động chung của những dấu chỉ lời nói (manipulation concertée des signes verbaux), người ta có thể chắc chắn rằng tác phẩm văn chương tham gia vào, với tư cách vùng miền, một mạng lưới theo chiều ngang, lặng lẽ hoặc nói lảm nhảm, điều này không quan trọng, nhưng luôn phát quang, tạo thành, ở mỗi lúc, trong lịch sử của một nền văn hóa, cái người ta có thể gọi là trạng thái của những dấu chỉ. Và, do vậy, để hiểu xem văn chương nghĩa là gì, ta phải hiểu văn chương được chỉ nghĩa, nơi văn chương định vị trong thế giới những dấu chỉ của một xã hội, cái mà về thực hành đã không được tạo ra với những xã hội đương đại, cái phải tạo ra, có thể bằng cách như một công việc kiểu mẫu về những nền văn hóa cổ xưa hơn những nền văn hóa của chúng ta – tôi nghĩ tới những nghiên cứu được Georges Dumézil thực hiện [5] về những xã hội Ấn-Âu.

   Và các bạn cũng biết ông ấy đã chứng minh rằng những truyện cổ tích (légendes irlandaises) xứ Ái-Nhĩ-Lan, hay những truyện dân gian Xcandinaves (sagas scandinaves), hay những truyện kể của người La Mã, như đã được Tie-Live phản ánh, có thể gọi là những tác phẩm của ngôn ngữ, nếu như người ta muốn tránh dùng từ văn chương, tất cả những những tác phẩm của ngôn ngữ thực ra đã tham gia vào một cấu trúc những dấu chỉ tổng quát hơn như thế nào.Và người ta không thể hiểu được những truyện cổ tích này thực sự là gì nếu không xác lập tính chất đồng/thuần nhất (homogénéité) về cấu trúc đã có giữa những truyện cố tích này, và, thí dụ như, lễ nghi tôn giáo hay xã hội này kia mà người ta thấy có trong một xã hội Ấn-Âu khác. Khi đó, người ta nhận ra rằng văn chương, trong những xã hội ấy, vận hành như một dấu chỉ thiết yếu có tính chất xã hội và tôn giáo, và rằng ngay trong mức độ văn chương chú ý tới chức năng chỉ nghĩa (la fonction signifiante) của một nghi thức tôn giáo, cho thấy văn chương đã hiện hữu, văn chương vừa là được sáng tạo ra vừa được tiêu thụ.

   Vào thời chúng ta, rất có thể là – phải xem xét điều này, phải thiết lập trạng thái của những dấu chỉ hiện thời trong xã hội chúng ta –, rất có thể là văn chương sẽ không còn nằm cạnh những dấu chỉ tôn giáo nữa, nhưng có lẽ ở gần bên cạnh những dấu chỉ, cứ cho là của sự tiêu thụ hay của kinh tế hơn. Nhưng, chung cuộc, người ta đâu có biết, đó chính là tầng ký hiệu thứ nhất (la première couche sémiologique), định vị vùng chỉ nghĩa (la région signifiante) mà văn chương chiếm cứ.

     Nhưng đối với tầng ký hiệu thứ nhất này, người ta có thể nói rằng văn chương ù lỳ (inerte) tuy nó vẫn thao tác, nhưng cái mạng trong đó nó thao tác không thuộc về nó nữa, nó không chế ngự mạng lưới này. Do vậy phải đẩy xa sự phân tích ký hiệu, hay đúng ra là khai triển nó về hướng một tầng khác nằm trong tác phẩm. Nghĩa là phải thiết lập xem đó là hệ thống vận hành những dấu chỉ nào, không phải trong nền văn hóa đã có, nhưng ngay bên trong chính tác phẩm. Cũng ngay ở đó người ta cũng chỉ có những khái lược theo lối những ngoại lệ. Saussure đã để lại một số tập vở trong đó ông ấy đã thử định nghĩa, đúng thế, việc sử dụng và cấu trúc của những dấu chỉ phát âm hay ngữ nghĩa (signes phonétiques et sémantiques) trong văn chương La tinh. Và những bản văn này ay đã được Starobinski đưa cho nhà Mercure de France xuất bản, tôi sẽ dẫn các bạn trở lại bản văn này[7].  Người ta thấy có trong những bản văn của Sausure sơ yếu của một phân tích trong đó văn chương sẽ thiết yếu như một tổ hợp những dấu chỉ tiếng nói (combinaison de signes verbaux). Những phân tích như vậy có thể ứng dụng một cách dễ dàng vào một số tác gia, tôi nghĩ tới Charles Péguy, chắc chẳn cả Raymond Roussel nữa, cũng như tới những nhà thơ siêu thực, và trong phân tích dấu chỉ tiếng nói như vậy nơi những tác gia này, như các bạn muốn, có thể có một lớp (couche) phân tích ký hiệu học thứ nhì, lớp thứ nhì này không phải từ ký hiệu học văn hóa, nhưng là ký hiệu học ngữ học, định nghĩa những chọn lựa có thể thực hiện, những cấu trúc mà những chọn lựa này phải tuân thủ, mức độ tiềm ẩn có được ở mỗi điểm của hệ thống, và mức độ cho cấu trúc nội tại ý nghĩa. Rất có thể có một lớp những dấu chỉ thứ ba, một mạng lưới những dấu chỉ được văn chương sử dụng để chỉ nghĩa chính nó, đó sẽ là, như các bạn muốn, những dấu chỉ mà Barthes gọi là viết/văn tự (écriture). Nghĩa là do những dấu chỉ này hành vi viết (l’acte d’écrire) đặt mình ngoài phạm vi thông giao tức thời (communication immédiate).

   Viết, giờ đây người ta biết rằng, không phải chỉ đơn giản sử dụng những công thức của một thời đại rồi chộn vào đó một số công thức của cá nhân mình, viết, đó không phải là chộn vào một liều lượng tài năng, sự tầm thường (médiorcrité) và thiên tài (génie) nào đó, viết, điều này trên hết có nghĩa sử dụng những dấu chỉ, chẳng là gì khác hơn những dấu chỉ của viết/văn tự. Những dấu chỉ văn tự này có thể lả những từ (mots) nào đó, một số từ được coi là sang trọng, nhưng trên hết là những cấu trúc ngữ học sâu thẳm như, chẳng hạn trong Pháp văn, những thời của động từ (les temps du verbe) – các bạn biết rằng văn tự của Flaubert thiết yếu ở chỗ đó và người ta cũng có thể nói như vậy về tất cả những truyện kể cổ điển (récits classiques) Pháp từ Balzac cho tới Proust, trong sự hình dung (configuration) nào đó, trong một tương quan nào đó của thì quá khứ bất toàn (l’imparfait), thì quá khứ đơn (passé simple), quá khứ kép (passé composé) và của thì quá khứ xa (plus-que-parfait), là chùm tạo dạng không bao giờ có cùng giá trị trong ngôn ngữ các bạn và tôi dùng, hay dùng trong báo chí; hình dung bốn thì (configuration de quatre temps) này là, trong truyện kể Pháp, có tính chất thiết lập sự kiện đúng là có liên quan tới một truyện kể văn chương.

   Sau hết, phải dành chỗ cho một lớp ký hiệu thứ tư, rất chặt chẽ và bí ẩn, đó sẽ là nghiên cứu những dấu chỉ mà người ta có thể gọi là ẩn tàng (implication), hay tự-ẩn tàng (auto-implication); đó là những dấu chỉ tác phẩm dùng để chỉ định trong chính nó, được hình dung dưới một hình thức nào đó, với một khuôn mặt nào đó, trong chính nó. Tôi đã nói về khúc ca VIII trong Odyssée, trong đó Ulysse nghe một thi nhân ca hát những cuộc phiêu lưu của Ulysse. Tức là, có một cái gì đó rất đặc biệt, đó là, vào lúc hắn nghe thi nhân ca hát chính những phiêu lưu của hắn, thì Ulysse kẻ luôn luôn không được những người Phéaciens nhận biết, hắn gục đầu xuống, che mặt lại, và khóc nức nở, theo như bản văn của Homère, trong một cử chỉ là cử chỉ của phụ nữ, khi họ nhận được, sau chiến trận, xác của chồng họ.

   Dấu chỉ tự ẩn tàng của văn chương bởi chính nó, như các bạn thấy, ở đây có ý nghĩa cao, đó là một hành lễ (rituel), đúng là hành lễ để tang (le rituel de deuil). Nghĩa là tác phẩm chỉ định chính nó trong cái chết, và trong cái chết của nhân vật. Chỉ có tác phẩm trong chừng mực ở đó nhân vật, kẻ còn sống trong tác phẩm, nhưng lại đã chết đối với truyện kể được làm ra này.

   Nếu người ta so sánh cái dấu chỉ tự ẩn này với dấu chỉ tự ẩn trong tác phẩm của Proust, người ta thấy có những khác biệt rất thú vị và độc đáo. Tự ẩn tàng trong quyển À la recherche du temps perdu bởi chính nó, trái lại được cho dưới hình thức của sự soi sáng thời gian (l’illumination temporelle), khi đột nhiên, nhân nói về một cái khăn lau lụa, hay về chiếc bánh madeleine, về vỉa hè khấp khểnh trong sân ở Guermantes, sự khấp khểnh này gợi ra sự khấp khểnh của những vỉa hè ở Venise, một cái gì đó như sự hiện diện phi thời gian (présence intemporelle), được soi sáng, tuyệt đối hạnh phúc, của tác phẩm, cho kẻ, một cách chính xác, đang viết. Giữa sự soi sáng phi thời gian này và cử chỉ của Ulysse kẻ che mặt lại và khóc lóc như một người vợ nhận xác chồng tử trận, các bạn thấy có một sự khác biệt tuyệt đối, và nếu có một khảo cứu ký hiệu học những dấu chỉ của tự ẩn tàng này của những tác phẩm trong chính chúng thì chúng ta chắc chắn sẽ biết được rất nhiều thứ về văn chương là gì. Thế nhưng tất cả những cái này chỉ là những hoạch định (programmes) trong thực tế vẫn chưa được thực hiện. Nếu như tôi nhấn mạnh về những lớp ký hiệu khác nhau này, đó thực ra vì có một chủ thuyết nhập nhằng (confusionisme) nào đó đang cai trị việc áp dụng những phương pháp ngữ học và ký hiệu học vào văn chương. Các bạn biết hiện có một số người, dùng mọi cách (mettre à toutes les sauces), như người ta nói, trộn nháo nhào những phương pháp của khoa ngữ học và coi văn chương như một dữ kiện thô của ngôn ngữ.

   Đúng là văn chương được tạo bằng ngôn ngữ. Cũng như kiến trúc được tạo bằng đá. Nhưng không phải rút ra từ đó cái hậu quả cho rằng có thể áp dụng bất kỳ kể vào văn chương những cấu trúc, những khái niệm và những luật tắc có giá trị với ngôn ngữ. Thực ra, khi người ta áp dụng, ở trạng thái thô, những phương pháp ký hiệu học vào văn chương, thì người ta là nạn nhân của sự lầm lẫn kép. Một mặt, nói chung, người ta dùng đi dùng lại một cấu trúc chỉ nghĩa riêng biệt trong những phạm vi của dấu chỉ; nghĩa là người ta quên rằng ngôn ngữ, từ căn để, không phải là một hệ thống những dấu chỉ nằm giữa một hệ thống tổng quát hơn, là những dấu chỉ tôn giáo, xã hội, kinh tế, mà tôi sẽ nói tới. Và rồi, ở một mặt khác, trong khi áp dụng ở trạng thái thô những phân tích ngữ học vào văn chương, đúng là người ta quên rằng văn chương sử dụng những cấu trúc chỉ nghĩa thật riêng biệt, tinh lọc hơn những cấu trúc của ngôn ngữ, và đặc biệt là những dấu chỉ của tự ẩn tàng mà tôi vừa nói với các bạn, những dấu chỉ này thật ra chỉ hiện hữu trong văn chương, và sẽ chẳng thể nào tìm được những thí dụ trong ngôn ngữ nói chung.

   Nói thế khác, phân tích văn chương, như chỉ nghĩa và tự chỉ nghĩa, không chỉ nằm trong một kích thước của ngôn ngữ. Nó nằm sâu trong một phạm vi của những dấu chỉ, phạm vi này chưa là những dấu chỉ lời nói (signes verbaux), và, ở một mặt khác, nó vươn ra, vươn cao lên, vươn dài ra, hướng tới những dấu chỉ khác, những dấu chỉ này này phức tạp hơn những dấu chỉ lời nói nhiều. Cái làm cho văn chương chỉ là văn chương trong chừng mực nơi đó nó không đơn giản bị giới hạn vào chỉ một mặt phẳng chỉ nghĩa, của chỉ một mặt phẳng của những dấu chỉ lời nói. Thực ra, văn chương đứng thẳng qua nhiều bề dầy của những dấu chỉ, nó là, như các bạn muốn, đa [chỉ] nghĩa (polysémantique) một cách sâu thẳm, nhưng bằng một kiểu riêng biệt, không như người ta nói rằng một tín hiệu có thể có nhiều ý nghĩa và tín hiệu này không rõ nghĩa, nhưng thực ra văn chương là đa nghĩa, điều này muốn nói rằng, để nói về một vật hay có thể để chẳng nói gì hết – bởi chẳng có cái gì chứng tỏ rằng văn chương phải nói về cái gì đó –, trong mọi trường hợp để nói về một cái gì hay không chẳng nói gì hết, văn chương luôn phải đi qua một số tầng ký hiệu – tôi nghĩ ít nhất qua bốn tầng mà tôi đã nói với các bạn –, và, trong bốn tầng này, văn chương trích ra cái gì tạo thành một diện mạo, một diện mạo có tính chất chỉ nghĩa chính nó. Nghĩa là văn chương chẳng là gì khác sự tái tạo diện mạo/tái hình dung (reconfiguration), dưới một hình thức thẳng đứng, những dấu chỉ có sẵn trong xã hội, trong văn hóa, ở những tầng rời nhau; điều này có nghĩa văn chương không được tạo ra từ sự im lặng, văn chương này không phải là việc không thể nói lên một niềm im lặng, văn chương, đó không phải là sự tuôn trào (effusion) cái không thể tự cất tiếng và sẽ chẳng bao giờ nói ra.

   Thực ra, văn chương chỉ hiện hữu trong chùng mực người ta chẳng thể ngừng nói, trong chừng mực người ta không làm cho những dấu chỉ luân chuyển. Bởi vì chung quanh văn chương luôn luôn có những dấu chỉ, bởi điều này nói lên rằng một cái gì đó một người nghiên cứu văn chương có thể nói. Đó, các bạn thấy, một cách giản lược, trong định hướng nào người ta có thể thấy một phân tích văn chương triển khai, theo sát nghĩa ký hiệu học của từ này. Với tôi dường như một ngả khác sẽ là ngả, có thể ít được biết đến, ngả này liên quan tới, không phải những cấu trúc có nghĩa và chỉ nghĩa (les structures significatives et signifiantes) của tác phẩm, mà là không gian tính (spacialité) của tác phẩm.

  

Các bạn biết rằng, đã từ rất lâu, người ta đã cho rằng ngôn ngữ có một dòng dõi sâu xa với thời gian. Người ta dĩ nhiên đã tin thế, với nhiều lý do. Bởi vì ngôn ngữ, thiết yếu chính là cái cho phép làm một truyện kể, và đồng thời cũng là cái để hứa hẹn… [8]   Ngôn ngữ thiết yếu chính là “gắn liền với” thời gian. Và rồi, ngôn ngữ đặt thời gian trong chính nó, vì nó là viết/văn tự, và rằng, như văn tự, nó sẽ đứng vững trong thời gian, và duy trì cái nó nói trong thời gian. Mặt phẳng phủ những dấu chỉ, trong sâu xa chỉ là mưu mẹo có tính chất không gian của thời diễn (la ruse spatiale de la durée). Vậy có nghĩa là trong ngôn ngữ thời gian hiện ra với chính nó, và cũng trong ngôn ngữ, nó sẽ trở thành ý ý thức của chính nó như lịch sử. Và người ta có thể nói, nếu các bạn muốn, rằng từ Herder [9] cho đến Heidegger, ngôn ngữ như logos luôn có chức năng cao canh giữ thời gian, theo dõi thời gian, trụ vững trong thời gian và giữ cho thời gian dưới sự theo dõi bất động của nó.

   Và tôi nghĩ rằng chẳng ai lại nghĩ rằng ngôn ngữ, chung cuộc, không phải do từ thời gian, mà do từ không gian. Chẳng có ai đã tưởng rằng, ngoại trừ một người, thật vậy, tuy tôi thật không thích, nhưng tôi buộc lòng phải nói ra, đó là Bergson. Bergson là người đã có ý tưởng cho rằng chung cuộc, ngôn ngữ, không phải do không gian, nhưng do thời gian. Chỉ có điều đáng buồn, rằng ông ấy đã rút ra từ đó một hậu quả tiêu cực. Và ông ta tự nhủ rằng nếu như ngôn ngữ lả của không gian, chứ không phải của thời gian, vậy là thật là không may cho ngôn ngữ. Và như sự cần thiết của triết học, đúng ra là ngôn ngữ, để tư tưởng về thời gian, ông ấy đã rút ra hai kết luận tiêu cực: trước tiên, rằng triết học phải khoanh tròn thời gian và ngôn ngữ để có thể suy tư tốt hơn về thời gian và, sau nữa, để có thể suy tư và biểu lộ thời gian, một cách nào đó phải đi vòng quanh ngôn ngữ; sau hết phải gỡ bỏ cái gì có thể đè nặng trong ngôn ngữ. Và để trung hòa những sức mạnh này hay bản chất này, hay cái số mệnh không gian (destin special) của ngôn ngữ, cần phải để thời gian đùa nghịch trên chính nó, sử dụng trực diện những từ của những từ khác, như kiểu những phản từ (contre-mots); và trong việc gấp nếp (plissement) này, trong sự va chạm này, trong những mối nối kết những từ chồng chất lên nhau này, nơi không gian tính của mỗi từ trong những từ này sẽ luôn luôn bị giết chết, bị vắt sạch, bị hủy diệt, sẽ luôn luôn bị giới hạn bởi không gian tính của những từ khác, trong cái trò chơi theo đúng nghĩa, là ẩn dụ – từ đó có sự quan trọng của những ẩn dụ nơi Bergson –, ông ta nghĩ rằng nhờ tất cả trò chơi của ngôn ngữ phản lại chính nó, nhờ tất cả trò chơi của ẩn dụ trung hòa thời gian tính, có một cái gì đó sẽ nảy sinh, hay ít ra là đi ngang qua, và đó sẽ là sự trôi chảy của thời gian.

   Trên thực tế, cái mà ngày nay người ta đang khám phá và bằng hàng ngàn ngả đường, song le những ngả đường này hầu như tất cả là do kinh nghiệm, đó là ngôn ngữ là không gian. Ngôn ngữ là không gian, người ta đã quên mất điều này, đơn giản chỉ bởi vì ngôn ngữ tác hoạt để nói về thời gian. Thế nhưng chức năng của ngôn ngữ không phải là hữu của ngôn ngữ, và đúng ra hữu của ngôn ngữ, nếu như chức năng của nó chính là trở thành thời gian, thì hữu của ngôn ngữ là không gian. Là không gian, bởi mỗi thành tố của ngôn ngữ chỉ có nghĩa trong mạng lưới của một sự đồng bộ (synchronie). Là không gian, bởi vì giá trị ngữ nghĩa của mỗi từ hay mỗi biểu thị được định nghĩa bởi sự chặt mảnh một biểu đồ, một hệ hình. Là không gian, bởi vì ngay như sự tiếp nối của những thành tố, trật tự những từ, những độ uốn (flexions), những hòa hợp giữa những từ khác nhau, độ dài của chuỗi lời, tuân theo, với ít nhiều bề rộng, những bó buộc đồng thời, có tính chất kiến trúc, do hậu quả không gian, của cú pháp. Sau hết, là không gian, bởi vì, một cách tổng quát, dấu chỉ chỉ có ý nghĩa với cái được chỉ nghĩa bởi những qui luật thay thế, tổ hợp những yếu tố, nghĩa là bởi một chuỗi hữu hạn trên một toàn thể – nghĩa là trong một không gian.

   Và từ lâu, tôi nghĩ, từ rất lâu cho đến mãi bây giờ, người ta đã lẫn lộn những chức năng phát biểu (fonctions annonciatrices) với những chức năng tóm lược (récapitulatrices) của dấu chỉ, xem chúng có đúng là những chức năng có tính chất thời gian không, vì cái cho phép nó là một dấu chỉ, cái đó không phải là thời gian, mà chính là không gian. Lời nói của Thượng đế, lời nói này khiến cho những dấu chỉ tận thế đúng là tận thế, lời nói này không có nơi chốn trong thời gian, nó rất có thể thể hiện trong thời gian, nó là vĩnh cửu, nó đồng bộ với mỗi dấu chỉ chỉ nghĩa cái gì đó. Phân tích văn chương, tôi nghĩ vậy, sẽ chỉ có ý nghĩa của nó, với điều kiện quên đi tất cả những khung thời gian (schèmes temporels), trong những khung này phân tích văn chương bị giam giữ chừng nào người ta còn lẫn lộn ngôn ngữ với thời gian. Phê bình, đã từ khá lâu nay, tự cho mình chức năng và vai trò tái lập khoảnh khắc sáng tạo đầu tiên, là khoảnh khắc trong đó tác phẩm đang phát sinh và nẩy mầm, đơn giản chỉ vì phê bình này đã tuân phục huyền thoại về thời gian của ngôn ngữ. Luôn luôn có sự cần thiết, sự hoài nhớ này của phê bình: tìm lại những con đường của sáng tạo, tái thiết trong chính diễn ngôn của nó thời gian của sự ra đời và của sự kết thúc, chúng, người ta nghĩ vậy, phải giữ gìn tốt những bí mật của tác phẩm. Phê bình là sáng tạo, nếu các bạn muốn, chừng nào những quan niệm vẫn được liên kết với thời gian, chính trong mức độ ở đó ngôn ngữ được tiếp nhận như của thời gian: nó tin tưởng sự sáng tạo như nó tin tưởng sự im lặng.

_________________________

[4] Jean Starobinski, triết gia và nhà nghiên cứu lịch sử văn chương (sinh ở Genève năm 1920), là tác gia nhiều tác phẩm; vào thời Foucault phát biểu bài thuyết trình này, việc xuất bản tác phẩm Jean-Jacques Rousseau: la transparence et l’obstacle (Paris, Plon 1957) của ông ta đã là một dấu mốc, và những công trình ông ấy dành cho những khảo cứu Ferdinand de Saussure về những đảo chữ cái (anagrame) đóng góp vào việc nhấn mạnh mối liên hệ giữa phân tích văn chương và ngữ học cấu trúc.

[5] Georges Dumézil (1898-1986) nhà ngữ học và đa ngữ Pháp, nhất là trong quyển Mythe et epopée, tác phẩm chính của ông, ông đã thực thi công việc so sánh những tôn giáo và những huyền thoại Ấn-Âu trong đó ông đã nhận ra những cấu trúc tự sự chung (les structures narratives communes)

[6] Ferdinand de Saussure (1857-1913) nhà ngữ học Thụy Sĩ cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại. Quyển Cours de linguistique générale của ông được xuất bản sau khi ông từ trần, đã khởi hứng cho toàn thể những công trình ngôn ngữ học sau đó, cũng như cho khá nhiều ngành khoa học nhân văn (nhân chủng học, triết học, phân tích văn chương). Saussure đã đặt những cơ sở cho thuyết cấu trúc.

[7] Jean Starobinski, “Les anagrammes de Ferdinand de Saussure”, Mercure de France, fevrier 1964.

[8] Đoạn văn không đọc được trong bản đánh máy bài thuyết trình cũng như trong bản thảo chuẩn bị.

[9] Johann Gottfried von Herder (1744-1803) là một nhà thơ, nhà thần học và triết gia Đức. Ông đã đánh dấu sự chống đối về lý thuyết chủ nghĩa nhân bản của thời Khai Minh, coi chủ nghĩa này là trừu tượng. Nhãn quan lịch sử của ông theo thuyết liên tục, cho rằng mỗi “thời đại-quốc gia” tự nó là đầy đủ. Từ đó ông khai triển một triết học rất khác với triết học Hegel, đưa ra giả thuyết về sự triển khai của Lý trí trong Lịch sử.

(còn tiếp)

đào trung đạo