Michel Foucault

văn chương là gì?

(tiếp theo)

 (kỳ 4)

 

(kỳ 1), (kỳ 2), (kỳ 3)

 

   Có lẽ người ta có thể nói, để tóm lược tất cả những điều này, rằng tác phẩm của ngôn ngữ, ở thời cổ điển, không thực sự là văn chương. Tại sao người ta không thể nói rằng quyển Jacques le Fataliste, hay Cervantès, tại sao người ta không thể nói rằng Racine là văn chương, hay Corneille, hay Euripide, chắc chắn là ngoại trừ đối với chúng ta, trong chừng mực chúng ta hòa nhập nó vào ngôn ngữ của chúng ta? Tại sao ở thời điểm đó, mối tương quan của Diderot với ngôn ngữ của riêng ông ta lại không là cái tương quan văn chương mà tôi mới nói với các bạn? Tôi thấy ta có thể nói thế này: ở thời cổ điển, nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, tất cả mọi tác phẩm của ngôn ngữ hiện hữu theo chức năng của một ngôn ngữ câm và nguyên sơ nào đó, rằng tác phẩm có nhiệm vụ tái lập ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ này theo cách nào đó là nền tảng khởi đầu, là nền tảng tuyệt đối trên đó mọi tác phẩm sẽ tách rời sau đó, và bên trong ngôn ngữ này tác phẩm sẽ ở đó. Cái ngôn ngữ câm này, cái ngôn ngữ trước mọi ngôn ngữ, đó là lời nói của Thương đế, đó là chân lý, đó là kiểu mẫu, đó là những lời nói Cổ Đại, đó là thánh kinh, cùng lúc cho chính cái từ ý nghĩa tuyệt đối của nó, nghĩa là ý nghĩa chung của nó. Có một thứ quyển sách có trước, tiên khởi, quyển sách này là chân lý, đồng thời nó cũng nói lên tất cả chân lý.

   Và cái ngôn ngữ quyền uy và được bảo lưu này như thể, một mặt duy trì, mọi ngôn ngữ khác, tất cả ngôn ngữ của con người, khi nó muốn là một tác phẩm, nó đơn giản phải diễn dịch, sao chép, lập lại, tái lập cái ngôn ngữ quyền uy và được duy trì này. Nhưng ở một mặt khác, cái ngôn ngữ của Thượng đế này, hay cái ngôn ngữ của tự nhiên này, hay cái ngôn ngữ của chân lý này, song le lại bị dấu đi. Nó là cơ sở của mọi sự khai mở, song le chính nó lại ẩn tàng, nó không thể được sao chép một cách trực tiếp. Do đó cần có những trượt đi/khỏi (glissements), bóp méo những từ này, tất tật cái hệ thống mà người ta chính xác gọi là tu từ. Chung qui, những ẩn dụ, những hoán dụ, những giai thoại v.v…chẳng là gì khác hơn, nếu chẳng phải là cái nỗ lực để, với những từ của con người, những từ chính chúng tối tăm và ấn dấu đối với chính chúng, tìm lại được, bằng một trò chơi của những sự khai mở và như thể bằng những trò khúc mắc (chicanes), tìm lại được cái ngôn ngữ câm này mà tác phẩm có ý nghĩa và nhiệm vụ tái lập và phục hồi.

   Nói thế khác, giữa một ngôn ngữ ba xàm (langage bavard) chẳng nói lên điều gì, và một ngôn ngữ nói lên tất cả, nhưng lại chẳng chỉ ra cái gì, có một ngôn ngữ trung gian đưa ngôn ngữ ba xàm về ngôn ngữ câm của tự nhiên và của Thượng đế, người ta có thể nói điều này, đó chính là ngôn ngữ văn chương. Nếu chúng ta gọi là những dấu chỉ, như Berkeley, như những triết gia thế kỷ XVIII, thì người ta có thể nói thế này, hoàn toàn đơn giản, rằng tác phẩm cổ điển được điịnh tính bởi sự kiện rằng nó có liên hệ, bằng một trò chơi những dạng thức (jeu de figures), những dạng thức này là những dạng thức của khoa tu từ, di chuyển cái bề dầy, tính chất mờ đục (opacité), tính chất tối tăm (obscurité) của ngôn ngữ về sự trong sáng, về độ sáng của chính những dấu chỉ.

   Ngược lại, văn chương, chính nó, đã bắt đầu khi nó thôi cất tiếng. cho thế giới tây phương, cho một phần của thế giới tây phương, nói cái ngôn ngữ không ngừng được nghe, được tri nhận, được giả thiết trong nhiều thên niên kỷ. Bắt đầu từ thế kỷ XIX, người ta không ngừng nghe cái ngôn ngữ đầu nhất này, và, ở chỗ của nó, vẳng lên, sự bất tận của tiếng thì thầm, từng mảnh của những lời đã được nói ra; trong những điều kiện như thế, tác phẩm không phải hiện thể trong những dạng thức của phép tu từ này, chúng có giá trị như những dấu chỉ của một ngôn ngữ câm, tuyệt đối; tác phẩm chỉ phải nói lên như một ngôn ngữ lập lại, đã được nói và ngôn ngữ này, bằng sức mạnh của việc lập lại của nó, đồng thời xóa bỏ mọi thứ đã được nói ra, và đi đến thật gần chính nó, để nắm bắt lại yếu tính của văn chương.

   Người ta có thể nói, như các bạn muốn, rằng văn chương đã bắt đầu vào cái ngày khi không gian của tu từ được thay thế bởi một cái gì đó người ta có thể gọi là bề dầy của quyển sách. Song thật đáng thắc mắc khi nhận xét rằng quyển sách lại chỉ trở thành một biến sự trong hữu của văn chương thật muộn màng. Bốn thế kỷ sau thời điểm khi đó quyển sách đã thực sự được sáng chế một cách thực sự, một cách kỹ thuật, quyển sách mới có thực trạng trong văn chương; và quyển sách của Mallarmé, chính là quyển sách đầu tiên của văn chương. Quyển sách của Mallarmé, cái dự án thất bại từ trong nền tảng, cái dự án không thể không thất bại, là, nếu như các bạn muốn, hậu quả của sự thành công của Gutenberg trên văn chương. Quyển sách của Mallarme, nó muốn lập lại và đồng thời xóa sạch tất cả những quyển sách khác, là một quyển sách, trong sự trống trơn của nó, lướt tay sờ cái hữu đã dứt khoát vuột khỏi văn chương, đáp lời quyển sách câm nín to lớn nhưng đầy những dấu chỉ, mà tác phẩm cổ điển đã thử chép lại, đã thử hình dung. Quyển sách của Mallarmé đáp lời quyển sách to lớn này, nhưng, đồng thời, nó cũng thay thế quyển sách to lớn này: nó là cái chứng thực của sự biến mất của tu từ.

   Giờ thì người ta hiểu tại sao, trong thanh thế của nó, mà không chỉ trong thanh thế của nó, nhưng trong yếu tính của nó, một mặt, tác phẩm cổ điển chẳng là cái gì khác hơn một sự tái dung tưởng (re-présentation), bởi nó phải tái hình dung một ngôn ngữ đã được tạo ra rồi, và đó chính là lý do tai sao về cơ bản, ngay yếu tính của tác phẩm cổ điển, người ta luôn tìm thấy nó, dù ở Shakespeare hay ở Racine, ở kịch trường, vì người ta hiện hữu trong thế giới của dung tưởng; và, ngược lại, yếu tính của văn chương, theo đúng nghĩa của từ này, bắt đầu từ thế kỷ XIX, người ta sẽ không tìm thấy nó ở kịch trường, nhưng chính ở quyển sách.

   Và sau hết chính trong quyển sách này, quyển sách sát hại mọi quyển sách này, và cùng lúc cũng thu nhận cái dự án trong nó, dự án luôn luôn thất bại, dự án làm văn chương, sau rốt cũng chính trong quyển sách mà văn chương tìm được nơi và xây dựng hữu của nó. Nếu như quyển sách đã hiện hữu, và với một thực tại thật chắc, từ nhiều thế kỷ, trước khi có sự sáng chế văn chương, thực ra nó không phải là sở cứ (le lieu) của văn chương: nó chỉ là một cơ hội vật chất của việc đi qua của ngôn ngữ. Chứng cứ tốt nhất, chính quyển Jacques la Fataliste Diderot đã xé nát hay tìm cách xé nát, không ngừng, sự mê hoặc của những quyển sách phiêu lưu ký, bằng những cú nhảy lùi lại đằng sau mà chúng ta đã nói tới; quyển don Quichotte của Cervantès cũng thế.

   Nhưng, thực ra, nếu như văn chương hoàn thành hữu của nó trong quyển sách, nó lại không đón nhận một cách thản nhiên yếu tính của của quyển sách – dù cho quyển sách thực ra không có yếu tính, nó không có yếu tính bên ngoài cái nó chứa đựng –, đó là lý do tại sao văn chương sẽ luôn luôn là giả tượng của quyển sách; nó ra vẻ nó là một quyển sách, nó giả tảng là một loạt những quyển sách. Đó cũng là lý do tại sao, nó chỉ muốn hoàn thành bằng sự xâm lược và bạo động chống lại tất cả những quyển sách khác; hơn nữa, bằng xâm lược và bạo động chống lại yếu tính mềm dèo, tạm thời, nữ tính của quyển sách. Văn chương là vượt ngưỡng/biến tiến, văn chương, đó chính là nam tính (virilité) của ngôn ngữ chống lại nữ tính của quyển sách; thế nhưng chung cuộc văn chương có thể sẽ là cái gỉ, nếu không có một quyển sách giữa những quyển sách khác, một quyển sách với những quyển sách khác, trong không gian dài dặc của thư viện? Bằng không văn chương có thể không là gì hơn, một cách chính xác, là một hiện hữu èo uột lưu lại của ngôn ngữ? Đó là lý do tại sao, ngôn ngữ chẳng thể, đối với văn chương, cứ cho rằng hữu của nó ở trong quyển sách, rút cục nó chẳng thể không ở bên ngoài ngôi mộ.

   Vậy nên, chỉ ở trong bề dầy, khép và mở của quyển sách, nơi những tờ giấy vừa trắng bạch vừa được phủ lên bằng những dấu chỉ, trong bề dầy duy nhất này, bởi mỗi quyển sách là duy nhất, và giống tất cả mọi quyển sách bởi mọi quyển sách đều thu tập, đón nhận, chính là một cái gì đó như chính là hữu của văn chương. Thứ văn chương mà nó không phải hiểu như ngôn ngữ của con người, cũng không là lời của Thượng đế, cũng chẳng là ngôn ngữ của tự/thiên nhiên, cũng không là ngôn ngữ của trái tim hay của sự im lặng; văn chương, đó chính là ngôn ngữ biến tiến, đó là một ngôn ngữ sát nhâni, lập lại, nhân đôi, cũng là ngôn ngữ của quyển sách. Trong văn chương, chỉ có một chủ thể cất tiếng, duy nhất một mình nói, chính là quyển sách, vật mà Cervantès, như các bạn nhớ đấy, đã muốn thiêu rụi, quyển sách, vật mà Diderot thường đã muốn, trong quyển Jacques le Fataliste, xé vụn, quyển sách, vật mà trong đó Sade đã bị, như các bạn biết, giam hãm, và trong cái vật này chính chúng ta, chúng ta cũng bị giam vào.


(còn tiếp)

đào trung đạo dịch