Michel Foucault

văn chương là gì?

[phần thứ nhì của bài thuyết trình]

(tiếp theo)

 (kỳ 5)

 

(kỳ 1), (kỳ 2), (kỳ 3) (kỳ 4)

 

Hôm qua, tôi đã nói với các bạn, hay tôi đã thử nói với các bạn đôi lời về văn chương, về hữu của phủ nhận (être de négation), và về giả tượng hiện hình trong quyển sách. Chiều nay, tôi muốn làm một bước lùi và thử đi vòng quanh chút đỉnh những lời bàn này mà chính tôi đã nói về văn chương. Bởi, chung cuộc, thực ra, người ta có thể nói về văn chương thật rõ ràng, thật hiển nhiên, thật trực tiếp không? Bởi, chung cuộc, khi người ta nói về văn chương, người ta có cái gì như nền tảng, như đường chân trời? Dĩ nhiên, chẳng có gì cả, rằng cái khoảng trống được văn chương bỏ lại quanh nó, và nó cho phép một thứ hết sức lạ lùng, có thể là duy nhất, đó chính là văn chương, đó là một ngôn ngữ bất tận, ngôn ngữ này cho phép nói bất tận về văn chương.

   Sự lập lại/làm kép (réduplication) hoài hủy của văn chương bằng ngôn ngữ về văn chương là cái gì, cũng chính cái ngôn ngữ nó là văn chương đó, và nó cho phép, những chú giải (exégèses), những bình luận, những cái làm gấp đôi này là gì? Câu hỏi này, tôi nghĩ rằng, không rõ ràng. Tự chính nó không rõ ràng, và đối với tôi đến nay nó chẳng khi nào rõ ràng cả.

   Ngày nay câu hỏi này không rõ ràng, và chẳng khi nào nó rõ ràng cả, vì một số lý do. Lý do thứ nhất là lý do này, rằng mới đây có một chuyển động nảy sinh trong cái người ta có thể gọi là phê bình. Người ta có thể nói thế này, rằng chưa bao giờ mảng ngôn ngữ phê bình lại dầy như ngày nay. Chưa bao giờ người ta lại thường sử dụng thứ ngôn ngữ bậc hai này như vậy, ngôn ngữ này gọi là phê bình, và chưa bao giờ, một cách tương ứng, cái ngôn ngữ thứ nhất tuyệt đối, cái ngôn ngữ chỉ nói về chính nó, và nhân danh chính nó, chẳng bao giờ lại mỏng như ngày nay.

   Nghĩa là, việc làm dầy thêm, việc bội nhân những hành vi phê bình này được một hiện tượng gần như ngược lại đi kèm. Hiện tượng này, tôi nghĩ vậy, chính là hiện tượng: nhân vật của phê bình, nhân vật của Homo criticus, đã được sáng chế ra hầu như ở thế kỷ XIX giữa La Harpe và Sainte-Beuve [1] nhân vật này đang tự xóa bỏ chính vào lúc những hành vi của những nhà phê bình tăng lên. Nghĩa là những hành vi phê bình, trong khi tăng tốc, trong khi trải ra, giãn ra theo một cách nào đó, và đến ngụ ở, không còn trong những bản văn được đề nghị phê bình, nhưng trong những tiểu thuyết, những bài thơ, những suy tưởng, cả trong những triết học nữa. Ngày nay chúng ta phải tìm những hành vi thực sự của phê bình trong những bài thơ của Char, hay trong những đoạn văn của Blanchot, trong những bản văn của Ponge, hơn là trong trong mảng ngôn ngữ đây đó đã được, một cách rõ ràng, và do tên của tác giả, nhằm trở thành những hành vi phê bình. Người ta có thể nói rằng phê bình đã trở thành một chức năng tổng quát của ngôn ngữ nói chung, nhưng không có tổ chức (organisme), không có chủ đề riêng.

   Tuy nhiên, và đây là hiện tượng thứ ba hiện nay làm cho chính chính phê bình văn chương thành khó hiểu, hay, hiện nay, một hiện tượng mới xảy ra, là hiện tượng sau đây: người ta thấy thiết lập, từ ngôn ngữ tới ngôn ngữ, một tương quan không hẳn đúng là một tương quan phê bình, nó không đúng với ý tưởng người ta vẫn có về phê bình theo truyền thống. Thời chúng ta, một tương quan rất khác hình thành giữa ngôn ngữ người ta có thể gọi là ngôn ngữ thứ nhất, và chúng ta gọi đơn giản là văn chương, và cái ngôn ngữ thứ nhì, ngôn ngữ này nói về văn chương, mà người ta thường gọi là phê bình. Thật vậy, phê bình hiện nay được khuyến khích thiết lập hai hình thức tương quan mới giữa phê bình và văn chương.

   Dường như đối với tôi hiện nay phê bình nhắm tới việc thiết lập, đối với văn chương, đối với ngôn ngữ thứ nhất, một thứ mạng lưới khách quan, tranh biện (réseau objectif, discursif) có thể điều chỉnh, có thể chứng minh được ở mỗi điểm trong các điểm của mạng này, một tương quan ở đó cái đầu nhất, cái tạo dựng, không phải là ý thích của nhà phê bình, một ý thích ít nhiều bí mật, hay ít nhiều lộ liễu, nhưng điều thiết yếu trong tương quan này là một phương pháp, thiết yếu rõ rệt, một phương pháp phân tích, phương pháp này có thể là phân tâm học, ngôn ngữ học, có chủ đề (thématique), hình thức (formelle), như các bạn muốn. Vậy, như các bạn muốn, phê bình đang trên đà đặt ra vấn đề về nền tảng của nó trong trật tự của sự tích cực, hay của khoa học.

   Và, ở một mặt khác, phê bình đóng một vai trò hoàn toàn mới, vai trò này hoàn toàn không phải là vai trò của phê bình trước đây, vai trò này là vai trò trung gian giữa viết/văn tự và văn chương. Vào thời Sainte-Beuve, và cho mãi tới bây giờ, chung cuộc, làm phê bình là gì? Đó là làm một thứ đọc văn riêng biệt, đầu nhất, một việc đọc văn sớm sủa hơn mọi cách đọc khác, và cách đọc này cũng cho phép làm cho văn tự của tác giả, hơi mù mờ, tối tăm, hay riêng biệt một cách thiết yếu, người đọc ở vùng thứ nhì là tất cả chúng ta có thể tiếp cận, chúng ta những người đọc cần đi qua phê bình để hiểu cái chúng ta đọc. Nói thế khác, phê bình là hình thức riêng biệt, tuyệt đối, và đầu nhất của việc đọc.

   Tuy nhiên, với tôi ngày nay dường như, điều quan yếu trong phê bình, đó chính là việc phê bình đang chuyển sang phía văn tự. Và điều này xảy ra theo hai cách. Trước hết, bởi, phê bình càng ngày càng không hoàn toàn chỉ quan tâm tới khoảnh khắc tâm lý của việc sáng tạo tác phẩm, nhưng quan tâm tới văn tự là gì, tới chính bề dầy của văn tự của người viết, văn tự này có những hình thức, những dạng thức của nó. Rồi sau đó, chính bởi phê bình không còn muốn là một cách đọc tốt hơn hay sớm sủa, hay được trang bị kỹ hơn: phê bình chính nó đang trở thành một hành vi của văn tự. Một văn tự hiển nhiên là thứ cấp đối với một văn tự khác, nhưng vẫn cứ là văn tự, văn tự này tạo thành với tất cả những văn tự khác một mạng (lacis), một hệ thống mạng lưới (réseau), một sự chồng chất (enchevêtrement) những điểm và những đường. Một cách tổng quát, những điểm và những đường này của văn tự giao nhau, lập lại nhau, phủ lấp nhau, chênh nhau, để sau cùng tạo nên trong một trung tính hoàn toàn (une neutralité totale) người ta có thể gọi là cái toàn thể của phê bình và của văn chương, nghĩa là cái tượng hình bập bềnh hiện nay (actuel hiéroglyphe flottant) của văn tự nói chung.

 

   Các bạn thấy chúng ta đối mặt với một sự mập mờ như thế khi muốn thử nghĩ xem ngôn ngữ thứ nhì, ngôn ngữ này thêm vào ngôn ngữ thứ nhất của văn chương và nó cũng có ý định đặt trên ngôn ngữ thứ nhất một diễn ngôn tích cực tuyệt đối, rõ ràng, hoàn toàn tranh biện và có thể chứng minh được, và rồi nó đồng thời cũng thử trở thành một hành vi của văn tự như văn chương. Ta nghĩ sao về sự nghịch lý này? Phê bình làm thế nào có thể vừa là ngôn ngữ thứ nhì, và đồng thời lại là một ngôn ngữ thứ nhất, tôi muốn làm sáng tỏ điểm này với các bạn, để hiểu sơ sơ phê bình là gì.

   Như các bạn biết, khá gần đây, quãng chừng mười năm và không hơn mười năm, để cố thử giải nghĩa xem phê bình là gì, một nhà ngữ học, Jakobson [2], đã đưa ra một khái niệm ông ta vay mượn từ những nhà luận lý học, khái niệm siêu ngôn ngữ (métalangage). Và ông ta gợi ý rằng, một cách tổng quát, chung cuộc phê bình, cũng như văn phạm, văn phong học (stylistique), ngữ học, là một siêu ngôn ngữ. Hiển nhiên đó là một khái niệm rất hấp dẫn, và khái niệm này có vẻ, trước tiên trong mọi trường hợp, thích hợp một cách hoàn hảo, bởi khái niệm siêu ngôn ngữ đặt chúng ta trước sự có mặt hai tính chất thiết yếu chính để định nghĩa phê bình. Tính chất thứ nhất, đó là sự khả hữu định nghĩa những tính chất của một ngôn ngữ có sẵn, những hình thức của một ngôn ngữ, những mã [số hiệu](codes), những qui luật của một ngôn ngữ, trong một ngôn ngữ khác. Và tinh chất thứ hai của siêu ngôn ngữ, rằng ngôn ngữ thứ nhì, trong đó người ta có thể định nghĩa những hình thức, nhữ qui luật, và những mã của ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ thứ nhì này về bản chất không thiết yếu khác ngôn ngữ thứ nhất. Bởi, chung cuộc, người ta có thể làm siêu ngôn ngữ Pháp văn bằng tiếng Pháp, chắc chắn cũng thế, bằng tiếng Đức, bằng tiếng Anh, trong bất kỳ ngôn ngữ nào, người ta có thể cũng làm vậy trong một ngôn ngữ tượng trưng (un langage symbolique) được sáng chế bởi hiệu quả này; do vậy người ta có, trong sự khả hữu thối lui tuyệt đối (dans cette possibilité de recul absolu) đối với ngôn ngữ thứ nhất, một khả hữu vừa để đặt trên ngôn ngữ thứ nhất một diễn ngôn hoàn toàn tranh biện, song le lại cũng hoàn toàn ở trên cùng một mặt phẳng với ngôn ngữ thứ nhất.

   Thế nhưng tôi không chắc rằng khái niệm siêu ngôn ngữ này, có vẻ như để định nghĩa, ít ra là một cách trừu tượng, nơi chốn/sở cứ luận lý (le lieu logique) phê bình có thể ngụ ở đó, dường như với tôi có nên giữ lại khái niệm siêu ngôn ngữ này để định nghĩa phê bình là gì không. Thật vậy, có lẽ, để giải thích sự dè dặt này đối với khái niệm siêu ngôn ngữ, phải quay trở lại đôi chút về điều ngày hôm qua chúng ta nói về văn chương. Các bạn nhớ lại rằng quyển sách hiện ra với chúng ta như nơi chốn của văn chương, nghĩa là như không gian ở đó tác phẩm hiện ra như giả tượng của văn chương, trong một trò chơi soi gương và của tính chất phi thực (jeu de miroir et d’irréalité) nào đó. Nếu như chúng ta thử biểu đạt cùng một sự vật, ngay cả bằng ngữ vựng của những chuyên gia về ngôn ngữ, có thể người ta có thể nói như thế này: hẳn văn chương đã là một trong vô vàn những hiện tượng của lời nói (phénomènes de parole) được con người phát lên một cách hiệu quả. Cũng như tất cả những hiện tượng lời nói khác, văn chương chỉ khả hữu trong mức độ những lời nói này là một với tiếng nói (la langue), với đường chân trời chung tạo nên ký hiệu của một tiếng nói có sẵn. Vậy nên, bất kỳ văn chương nào, như một hành vi của lời nói, chỉ khả hữu trong tương quan với tiếng nói này, trong tương quan với những cấu trúc của ký hiệu chúng làm cho mỗi từ của tiếng nói được thực sự phát lên, chúng làm cho từ này trong sáng, chúng làm cho từ này được hiểu. Nếu những câu có một ý nghĩa nào đó, chính bởi mỗi hiện tượng lời nói được định vị trong đường chân trời ảo (l’horizon virtuel) của tiếng nói, nhưng tuyệt đối cưỡng ép, Tất cả cái đó, là những khái niệm, dĩ nhiên, ai cũng biết.

   Nhưng phải chăng người ta không thể nói rằng văn chương là một hiện tượng lời nói hết sức riêng biệt, và hiện tượng này có lẽ phân biệt với tất cả những hiện tượng lời nói khác? Thật vậy, văn chương, từ nền tảng, là một lời nói có thể tuân theo ký hiệu nó được đặt trong đó, nhưng nó, ngay lúc nó bắt đầu, và trong mỗi từ nó nói lên, hóa giải ký hiệu trong đó nó được đặt vào và được hiểu. Nghĩa là, mỗi khi người nào đó cầm bút để viết một cái gì đó, đó chính là văn chương trong chừng mực, nếu các bạn muốn, sự cưỡng ép của mã/số hiệu – là sự bị treo lửng để, ở giới hạn, từ này có thể rất không tuân theo ký hiệu của tiếng nói. Nếu như mỗi từ được viết ra bởi một người làm văn chương có không tuân theo ký hiệu của tiếng nói đi nữa, nó sẽ tuyệt đối không được hiểu, đó tuyệt đối là một lời nói của sự điên cuồng (folie) – và ở đây người ta nay có thể thấy lý do của sự thuộc về nhau thiết yếu của văn chương với điên cuồng. Nhưng điều này lại là một vấn đề khác; chúng ta có thể nói một cách đơn giản như thế này, rằng chính văn chương. đó là sự mạo hiểm luôn luôn nắm lấy và luôn luôn cho rằng bằng mỗi từ của một câu văn của văn chương, sự mạo hiểm chung cuộc là, từ này, câu này, và tất cả những gì còn lại, không tuân theo mã. Hai câu văn: “Từ lâu, tôi đi ngủ sớm” và câu văn khác “Từ lâu, tôi đi ngủ sớm”, câu trên là câu tôi nói, câu sau là câu tôi đọc nơi Proust, hai câu văn này giống hệt nhau khi đọc lên; nhưng thực ra chúng khác nhau một cách sâu xa. Vào lúc câu văn được Proust viết ra ở ngưỡng đi vào quyển Đi tìm thờ gian đã mất, có thể là, trong giới hạn, không có một từ nào có cái nghĩa mà chúng ta gán cho nó cả, chúng ta, với chính những từ khi chúng ta phát âm lên hàng ngày, rất có thể là lời nói đã treo lửng mã mà nó đã vay mượn.[3]

   Luôn luôn có một sự hiểm nguy thiết yếu, cơ bản, luôn luôn không thể xóa bỏ đi được trong mọi văn chương, như các bạn muốn, nguy cơ này là nguy cơ của thuyết bí ẩn/truyền có tính cách cấu trúc (ésotérisme structural). Rất có thể là mã không được tôn trọng; trong mọi trường hợp, lời nói văn chương luôn có quyền uy trong việc treo lửng mã này, và chính sự hiện diện của quyền uy này, ngay cả khi nó không được thực thi đi nữa, rất có thể tạo nên sự hiểm nguy và sự hoành tráng của mọi tác phẩm văn chương. Trong mức độ này, với tôi dường như siêu ngôn ngữ không thể thực sự áp dụng như một phương pháp phê bình văn học, bởi vì nó đề nghị một đường chân trời luận lý trên đó chúng ta có thể đặt phê bình là gì. Bởi siêu ngôn ngữ chính xác ngầm có nghĩa rằng người ta có thể tạo ra lý thuyết về mọi lời nói được thực sự phát lên, khởi từ mã được thiết lập cho tiếng nói. Nếu mã bị hóa giải trong lời nói, nếu, ở mức giới hạn, mã không thể có giá trị một cách tuyệt đối, thì vào lúc này, không thể làm siêu ngôn ngữ một lời nói như thế, người ta buộc phải kiếm thứ khác. Do đó, để định nghĩa văn chương, phải tìm đến cái gì khác, chứ người ta không tìm đến khái niệm siêu ngôn ngữ?

 

Có thể cần phải khiêm tốn hơn, và, thay vì cứ tiến tới bất cần thận trọng với cái từ luận lý nhảy loạn xạ, là từ siêu ngôn ngữ, phải chăng người ta chẳng thể chỉ đơn giản quan sát sự hiển nhiên gần như không thể thấy được này, nhưng với tôi nó lại có tính quyết định, rằng ngôn ngữ có thể chính là hữu duy nhất hiện hữu trên đời, và nó tuyệt đối có thể lập lại được.

   Chắc chắn là có những hữu khác trên đời có thể lập lại: người ta hai lần nhìn thấy cùng một con vật, người ta hai lần nhìn thấy cùng một cái cây. Nhưng trong trật tự của tự nhiên, thực ra sự lập lại chỉ là sự đồng nhất từng phần (identité partielle), vã cũng có thể dứt khoát phân tích một cách hoàn toàn. Chỉ có những sự lập lại, theo đúng nghĩa, tôi nghĩ vậy, trong trật tự ngôn ngữ. Và, chắc chắn rằng, rồi có ngày phải làm sự phân tích tất cả những hình thức lập lại khả hữu có trong ngôn ngữ, và rất có thể chính trong phân tích những hình thức này người ta có thể khái lược một cái gì đó sẽ như một hữu thể luận ngôn ngữ (ontologie du language), một cách thật đơn giản, rằng ngôn ngữ không ngừng lập lại.

   Những nhà ngữ học hiểu rất rõ điều này, họ đã chứng minh chẳng cần nhiều hiện tượng để tạo nên toàn thể ngữ vựng của một tiếng nói. Cũng chính những nhà ngữ học này, và cả những nhà soạn từ điển, hiểu cần có bao nhiêu từ, chung cuộc, để tiến tới việc tạo nên tất cả những lời tuyên bố khả hữu (énoncés possibles) bất tận, số lượng thiết yếu mở rộng, là những tuyên bố mà chúng ta nói hàng ngày. Chúng ta không ngừng nói lên một cấu trúc lập lại nào đó, lập lại âm, lập lại nghĩa những từ, và rồi người ta biết rằng ngôn ngữ có thể lập lại kế cận tiếng nói và vào lúc kế cận cách nói: người ta có thể nói cùng một câu, người ta có thể nói về cùng một sự vật bằng những từ khác, và đó chính là điều đưa đến sở chú, bình giải, v.v…: người ta cũng có thể lập lại một ngôn ngữ trong hình thức của nó, bằng cách treo lửng hoàn toàn ý nghĩa của nó, và đó là cái mà những nhà lý thuyết về ngôn ngữ sau hết đã làm khi họ lập lại một tiếng nói, trong cấu trúc văn phạm của tiếng nói, hay trong cấu trúc hình thái của tiếng nói.

   Các bạn thấy rằng, trong mọi cách, ngôn ngữ cách nào đó là sở cứ/nơi chốn duy nhất của hữu, có thể là, trong cái gì đó như thể sự lập lại là tuyệt đối khả hữu. Vậy nên hiện tượng lập lại trong ngôn ngữ này là một tính chất tạo lập của ngôn ngữ, chắn chắn thế, nhưng tính chất này không là trung tính và bất động đối với hành vi viết. Viết, đó không phải là chạy vòng quanh sự lập lại thiết yếu của ngôn ngữ; viết, theo nghĩa văn chương, tôi nghĩ, chính là đặt sự lập lại trong tâm điểm tác phẩm, và có thể nói rằng văn chương, tất nhiên là văn chương Tây Phương – bởi vì tôi không hiểu biết những văn chương khác và tôi không biết người ta có thể nói gì về những nền văn chương ấy –, văn chương Tây Phương hẳn đã bắt đầu với Homère, Homère là người, thực vậy đã sử dụng một cấu trúc thật đáng ngạc nhiên trong quyển Odyssée. Các bạn hãy nhớ lại bài ca thứ VIII trong Odyssée, trong đó người ta thấy Ulysse, kẻ đã tới với dân Pheacien, và chưa được họ biết hắn là ai. Ulysse được dân Pheacien mời dự tiệc, nhưng chẳng ai biết hắn cả. Đơn giản chỉ có sức mạnh trong những trò chơi, việc thắng những đối thủ, những cái này đã chứng tỏ hắn là một anh hùng, nhưng lại là người đã không phản bội căn cước thực sự của hắn. Vậy hắn vừa ở đó vừa lánh mặt. Và, giữa bàn tiệc, có một thi nhân tới: ông ta đã ca hát về những cuộc phiêu liêu của Ulysse, ông ta đã ca hát về những thám hiểm của Ulysse, những cuộc phiêu liêu và thám hiểm như thực sự đang diễn ra dưới mắt thi nhân này, bởi Ulysse ở đó. Những thám hiểm này còn lâu mới kết thúc, chúng chứa đựng câu chuyện của chúng, như một trong những hồi, bởi câu chuyện thuộc về những cuộc phiêu liêu của Ulysse vào một lúc nào đó, hắn nghe một thi nhân ca hát những cuộc phiêu liêu của Ulysse. Vậy là Odyssée lập lại trong chính nó, Odyssée có thứ gương soi ở giữa, nằm ở trung tâm chính ngôn ngữ của nó, như thể bản văn của Homère cuộn trên chính nó, bọc lại hay mở ra quanh tâm điểm của nó, và nhân đôi, trong một chuyển vận thiết yếu đối với bản văn. Với tôi dường như người ta cũng thấy cấu trúc này trong quyển Nghìn Lẻ Một Đêm, khi một trong những cấu trúc này dành cho câu chuyện của Shéherazade kể lại một nghìn lẻ một đêm cho nhà vua nghe để tránh cái chết –, có thể là sự cấu thành chính hữu của văn chương, không thì ít ra một cách chung chung của văn chương Tây Phương.

   Hẳn là, có thể chắc chắn là, có một sự phân biệt rất quan trọng giữa cấu trúc lập lại này và cấu trúc lập lại nội tại chúng ta thấy trong văn chương hiện đại. Thật vậy, trong Odyssée người ta thấy bài hát bất tận của nhà thơ là kẻ bằng một cách nào đó theo dõi Ulysse và cố thử chụp bắt được anh ta; và rồi, đồng thời, người ta thấy bài ca của nhà thơ này luôn luôn đã được bắt đầu và ông ta gặp mặt Ulysse đã đón nhận ông ta trong chính thần thoại của mình, và nói với ông ta ngay vào lúc ông ta ngưng lời, khám phá ra ông ta khi ông ta lẩn mất. Trong văn chương hiện đại, tự qui chiếu (autoréférence) có lẽ im ắng hơn việc tách rời dài dặc lời Homère kể lại. Có lẽ rằng văn chương hiện đại tự lập lại chính trong bề dầy ngôn ngữ của nó, và cũng có lẽ, bằng cái trò chơi của lời nói và của mã hiệu mà tôi muốn nói với các bạn lát nữa.

(còn tiếp)

đào trung đạo

_______________________________

[1] Charles-Augustin Sainte-Beuve (1804-1869) nhà phê  bình văn chương nổi tiếng vì cách đề cập, bằng một phương pháp khuôn sẵn, tác phẩm văn chương qua lăng kính tiểu sử tác gia. Marcel Proust trong quyển Contre Sainte-Beuve đã đưa ra phản kháng cách nhìn này. Proust cho rằng nếu như có sự soi sáng, thì sự soi sáng này phải từ tác phẩm để biết về cuộc đời tác giả chứ không phải ngược lại.

[2] Roman Jakobson (1896-1982) là một nhà ngữ học Nga, nghiên cứu Ferdinand de Saussure cha đẻ thuyết cấu trúc (structuralisme).

[3] Đây là điều được nói trong bản thảo làm việc của Foucault: “Sự khác nhau giữa bất kỳ lời nói nào (“Hôm qua, tôi đi ngủ sớm”) và câu văn sau đây: “Từ lâu, tôi đi ngủ sớm”) không phải ở chỗ câu văn thứ nhì đẹp hơn và được trang hoàng hơn; chính là vào lúc nó được phát âm lên một sự mạo hiểm nào đó được chấp nhận một cách tối tăm (nằm bên dưới mọi sự có thể nhìn thấy) sau cùng đã làm cho tất cả lời nói bắt đầu như vậy, có thể là không tuân theo mã ngữ học.