phỏng vấn

nh� thơ

Nguyễn Th�y Song Thanh

l� thị huệ thực hiện

(Kỳ 3)

 

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3,

L� Thị Huệ: Chị thấy m�nh c� đơn, c� độc, ở những thảm đời n�o ?

Nguyễn Th�y Song Thanh: T�i th�ch c�u hỏi n�y v� th�ch lu�n từ �thảm đời� của c� L� v� n� chỉa mũi k�ch v�o mạch t�m tư hiện nay của t�i.

C� độc, theo từ điển Vietlex : chỉ ri�ng một m�nh t�ch khỏi li�n hệ với xung quanh

C� đơn, (cũng) theo từ điển Vietlex : chỉ c� một m�nh kh�ng sống c�ng với người kh�c, c�i kh�c.

Theo Thanh Nghi : chỉ c� một m�nh, kh�ng tựa được v�o đ�u.

Thường giữa c�c hội nghị, giữa c�c đ�m tiệc, t�i thấy t�m hồn t�i muốn rời bỏ nơi đ� đi lang thang. Người ta c�ng r�m rả ch�c tụng t�i c�ng cảm thấy m�nh thừa thải, v� cảm, c� độc. Hoặc những khi t�i may mắn c� những chuyến du lịch ra nước ngo�i d�i hạn m� chỉ đi một m�nh, xa chồng, xa con ch�u t�i cảm thấy c� độc v� vắng nh� l�u, mặc d� vẫn ở c�ng những người th�n kh�c hoặc bạn th�n. Hoặc khi một m�nh g�nh v�c một c�ng việc kh�, vất vả m� kh�ng ai hỗ trợ ủng hộ m�nh, chỉ v� y�u th�ch n�n theo đuổi, đ� l� l�c cảm thấy c� độc. T�i cũng đ� c� độc v� c� đơn khi kh�ng c�n Khoa Hữu, ở trong nh� một m�nh, sinh hoạt một m�nh kh�ng ai b�n cạnh. Hơn hai năm như v�̣y.

C�n c� đơn ? l� tiếng đ�n bầu c� lưỡi lam cứa ngọt tr�i tim. L� kh�c h�t vừa đẹp n�o vừa sầu đời vừa đ�i khi chết người. Như b�i Sombre Dimanche/Gloomy Sunday của t�c giả Seres Rezs gốc Do Th�i đ� tạo l�n s�ng tự tử trong giới thanh ni�n ở Budapest. T�i tạm chia c� đơn l�m 2 loại : c� đơn nh�n bản, v� c� đơn bi thảm.

C� đơn nh�n bản c� thể l� trạng th�i hầu hết mọi người đ�̀u c� lần bắt gặp trong đời m�nh. Đối với nhiều nh� thơ c� đơn l� một trạng th�i t�m l� thường trực. T�i cũng từng mắc kẹt trong nỗi c�-đơn-sầu kh�ng dứt. V� c� đơn n�n th�́y mình:

Ở lại một m�nh dưới m�i nh� xưa

Cầu cho mộng lại mộng đ�m qua

Ở lại một m�nh dưới đ�y biển đ�ng

Nghe nước mặn hờn l�m mặt lạ trần gian

Năm nh�nh tay rung c�nh biển động

Ở lại một m�nh tr�n non cao

Ch�u th�n tủa l� hồn vận r�u

Trong tim một khối sầu như đ�

Dội bước người l�n ng�n năm sau

 

Hoặc khi đ� quen với c� đơn, thay v� sầu, trở th�nh ki�u h�nh trong c�i ri�ng.

Hồng nhan một n�t, trời một c�i

C� đơn bi thảm: l� c� đơn nh�n bản cộng hưởng với nỗi c� đơn sấm s�t bất ngờ hay rền rĩ trải d�i của thất bại, của hụt hẫng, của mất m�t lớn lao kh�ng g� b� đắp nổi, kh�ng c� ai chia xẻ, kh�ng c� ai tri �m, giữa đ�ng nghịt, giữa ồn �o m� như giữa thế giới lặng ngắt, kh�ng n�i được với người sống phải gọi người thi�n cổ về b�n :

Sau lưng anh sương m� đ� kh�p

Trước mặt em vực s�u mở ra

Em nh�n anh linh hồn đ� tượng

Anh ngắm em trần thế ngọc ng�

 

Ta b�n nhau một đời v�ng đ�

Một h�m nay lại cũng b�n nhau

Một nh�m � long pha ngập lệ

Uống đi anh hồn ph�ch hư hao

 

Một nh�m � long pha ngập l�̣

Từng ngụm c� đơn r�t cạn b�nh

Vẫn một ch�n đầy anh kh�ng uống

Cho em r�t xuống vực �n t�nh

 

Tạm biệt - anh về b�n thi�n cổ

Em c�i trăm năm nghịt nghịt người

M� sao trống trải trần gian lạnh

V� cực đường về b�ng lẻ rơi.

Đ� l� tấm thảm c� đơn kẹt trong thi�n la địa v�ng của t�i

C� đơn c� thể đưa người ta đến chỗ tự hủy qua c�y cầu tuyệt vọng như Van Gogh, như Hemingway, như Syvia Plath (nữ thi sĩ Mỹ)� May mắn là t�i chưa đ�́n n�̃i tuy�̣t vọng.

 

L� Thị Huệ: Chị c� ganh tị với đ�n �ng những điều g� ?

Nguyễn Th�y Song Thanh: Ganh tị th� �t, bất b�nh th� nhiều

Ở nhiều nước tr�n thế giới, t�i muốn n�i đến Ch�u Phi v� nhiều nước Hồi gi�o kh�c, đạo đức x� hội v� luật ph�p quốc gia đồng nghĩa với đ�n �ng đ� v� đang d� man giầy x�o nh�n quyền của phụ nữ. Họ (đ�n �ng) đ� đ�nh đập, t�ng xẻo phần thịt nhạy cảm sex của phụ nữ, kh�ng cho phụ nữ học h�nh tốt như họ, ngăn cản con đường l�m ch�nh trị, l�m kinh tế, l�m nghệ thuật của phụ nữ. Trong thế giới động vật con đực bao giờ cũng đối xử tử tế với con c�i, c�n họ, đ�n �ng, con người sao lại thế ?

Ở Việt Nam vấn đề đạo đức x� hội vẫn c�n v� sẽ c�n l�u thi�n vị đ�n �ng, coi rẻ đ�n b� do bị ảnh hưởng �ng Khổng qu� s�u đậm. Đ�n �ng c� trăng hoa c� nhiều vợ, nhiều bồ c�ng l�c, nếu kh�ng bị vợ hợp ph�p đưa ra T�a th� x� hội cũng sẽ chỉ ch�p miệng �đ�n �ng m� rồi� huề cả l�ng. Nhưng đ�n b� c� chồng m� c�n l�n l�t ngoại t�nh th� sẽ bị x� hội �n�m đ� đến hết dậy nỗi rồi th� tan hoang.

Bất b�nh với đ�n �ng l� thế. C�n ganh tị với đ�n �ng về mặt tr� tuệ, t�i năng � l� những vấn đề chưa thể giải quyết được trong thời đại ch�ng ta. Tại sao chưa ? Từ thời �ng B�nh Tổ (nh�n vật truyền thuyết cổ đại T�u) tới giờ, khi ng� lại bất cứ l�nh vực n�o, ng�nh nghề n�o cũng thấy đ�n �ng thống trị, phụ nữ xếp h�ng đứng xa ph�a sau v� thua k�m họ. Tại sao thua k�m ?

C�c nh� khoa học c� n�i tuy n�o bộ của đ�n �ng c� lớn hơn n�o bộ phụ nữ nhưng kh�ng phải k�ch cỡ của n�o bộ quyết định tr� th�ng minh. Nh� b�c học Einstein c� bộ n�o nhỏ hơn bộ n�o b�nh thường. K�ch cỡ tổng thể của bộ n�o kh�ng quan trọng. K�ch cỡ từng v�ng n�o mới l� yếu tố quyết định. Th�y đỉnh bộ n�o của Einstein ph�t triển hơn b�nh thường. Phần n�y quyết định khả năng t�nh to�n, h�nh dung kh�ng gian v� vật thể ba chiều. C�n những v�ng n�o kh�c, t�y từng v�ng, c� hoạt động li�n quan đến những lĩnh vực kh�c nhau.

Họ cũng giải th�ch, qua nhiều ng�n năm đại đa số cộng đồng lo�i người sinh hoạt theo tập qu�n, phong tục, văn h�a trọng nam khinh nữ. Đ�n �ng cậy sức khỏe, �ch kỷ, dựng r�o cản kh�ng cho phụ nữ tham gia học tập, hoạt động x� hội, kinh tế, khoa học, ch�nh trị, nghệ thuật� do đ� c�c v�ng n�o của phụ nữ kh�ng được k�ch th�ch ph�t triển như đ�n �ng. M�i đến thời nữ b�c học Marie Curie nước Ba Lan vẫn c�n cấm cửa nữ lưu� bước v�o đại học. B� l� người đầu ti�n được nước Ph�p cho ph�p l�m gi�o sư đại học Sorbonne. Xem ra, n�i chung tr� tuệ, t�i năng phụ nữ thua k�m đ�n �ng l� do đ�n �ng từ thời Trung cổ đ� ăn hiếp đ� tr�i chặt phụ nữ trong c�ng việc nội trợ v� đẻ con, chặn hết mọi đường ph�t triển bộ n�o của phụ nữ để m�i đến giữa thế kỷ 20 phụ nữ mới được cởi tr�i. Cũng do những người đ�n �ng tử tế tiến bộ th�o gỡ cho. Phụ nữ đ� được mặc nhi�n ăn theo quyền sống của con người n�i chung (nam v� nữ). Những quyền được sống xứng đ�ng l� con người được ghi trong bản giấy chứng nhận c� t�n l� Tuy�n Ng�n Quốc Tế Nh�n Quyền năm 1948. Bản Tuy�n Ng�n n�y được bốn người đ�n �ng v� một qu� b� k� tại Đại Hội Đồng Li�n Hiệp Quốc v� được b� Eleanor Roosevelt hoan hỉ cầm đưa cao khoe với mọi người.

Xem ra th� (lại cũng xem ra) ch�nh đ�n �ng đ� an b�i định mệnh cho phụ nữ, khiến phụ nữ kh�ng thể vượt l�n số phận m�nh.

Kh�ng đ�u, chỉ c� phụ nữ yếu b�ng v�a mới nghĩ vậy. Trong hơn nữa thế kỷ qua, sau khi được th�o gỡ dần những xiềng x�ch v� h�nh, rất nhiều phụ nữ xuất sắc mọi ng�nh nghề tr�n thế giới đ� s�ng l�n như những ng�i sao chen v�o bầu trời vinh quang của nam giới. Khoảng c�ch biệt tr� tuệ, t�i năng giữa đ�n �ng đ�n b� sẽ được san bằng sớm hay muộn, một thế kỷ hay nhiều thế kỷ, t�y v�o sự nổ lực học tập nổ lực tự ph�t triển của phụ nữ. T�i tin như vậy.

 

L� Thị Huệ: Sự mạnh mẽ của tr� thức. �Một số c�y viết mới v� mạnh xuất ph�t từ Gi� O c� sự bộc trực của tr� lực. Tự nhi�n m� m�i tr� thức nhảy loi choi ra r�ng. L� một người đọc t�i c� cảm tưởng phải c� một tr�nh độ n�o đ� mới cảm được c�i sảng kho�i của việc đọ chữ đầy tr� lực của những c�y viết như Nguyễn Th�y Song Thanh đươc trang trọng giới thiệu l�n gio-o.com. Chị c� cảm thấy năng lượng n�y trong t�m hồn từ bao nhi�u năm nay để đến cuối đời ch�ng tỏa ra b�t ng�t trong thơ thế chăng. Hay đấy l� một sự bất ngờ, một phi�u lưu với chữ nghĩa kh�ng lường trước. Nếu n�i nguồn năng lực s�ng tạo n�o th� cũng đ�ng qu� như nhau v� kh�ng n�n n�i thơ Nguyễn Th�y Song Thanh đẳng cấp hơn thơ Nguyễn B�nh.

Nguyễn Th�y Song Thanh: Đứng ở g�c độ trải nghiệm c� nh�n th�i, t�i nghĩ chỉ tri thức kh�ng th�i chưa thể quyết định đẳng cấp thơ. Nhưng tri thức gi�p người l�m thơ, viết văn nh�n v� thấu hiểu bản chất sự vật. Nếu thơ t�i c� sự bộc trực của tr� lực, (điều n�y do người đọc tinh nhạy nhận thấy, người viết �t khi thấy được m�nh) th� kh�ng phải tự nhi�n m� m�i tr� thức nhảy loi choi ra r�ng như c� L� hỏi. Tr� lực của thơ ph�t ra từ nguồn năng lực được t�ch dưỡng, lớn dần. Nguồn năng lực n�y do gặt h�t được từ trường lớp, s�ch b�o, in tơ net v.v� với � thức tự tr�ng tu, t�n tạo kho tri thức của tr� tuệ m�nh. Người viết khi đ� c� sẵn kho tri thức rồi c�n phải c� khả năng vận dụng tri thức mới ra được sự mạnh mẽ của tr� thức trong thơ. Đ� l� khả năng hồi tưởng, li�n tưởng, tưởng tượng, suy diễn� để tạo ra h�nh ảnh thơ, tứ thơ.

Nh� thơ cũng c� những ph�t xuất thần nhả ra những c�u thơ thần sầu tưởng như được thần linh ban cho. T�i nghĩ thơ thần kỳ cũng l� kết quả của c�ng phu khổ luyện ẩn t�ng. C�ng phu n�y ch�m s�u ở một tầng n�n, một g�c khuất n�o đ� trong tiềm thức, đợi c� một k�ch th�ch bất ngờ, một cảm x�c sấm s�t chẳng hạn, bắt buộc t�c giả hứng khởi xuất chi�u. V� rồi tứ thơ, ảnh thơ, chữ nghĩa thơ lập tức ngoi l�n, �o ạt bay vụt ra. Một sự bộc ph�t. Nh� thơ chỉ kịp viết xuống v� dĩ nhi�n c� thể kh�ng cần chỉnh sửa về sau. Vậy đ�, c� vẻ bất ngờ nhưng x�t về chiều s�u, đ� cũng l� hạnh ph�c ngo�i mong đợi m� nh� thơ phải trả gi� trước bằng qu� tr�nh lao động x�y dựng tri thức, khổ luyện chữ nghĩa, nu�i dưỡng t�m hồn thơ, ph�t triển năng lực thơ. Cũng c� những t�c giả phi�u lưu với chữ nghĩa c� vẻ kh�ng lường trước. Bản th�n t�i kh�ng kinh nghiệm điều n�y nhưng c� đọc được những b�i thơ ở đ�u đ�, c�u n�o cũng đầm đ�a chữ nghĩa, rất k�u, rất vang, rất b�c học lại c� khi đầy những t�n tiếng Ph�p, Anh, �, Đức � m� tứ thơ trong b�i th� b� r�, lỏng lẻo. Đọc to�n b�i kh�ng hiểu được t�c giả muốn n�i g�. Những t�c giả kiểu n�y c� thể gọi l� phu chữ, hiểu theo nghĩa t�ch cực kh�ng? (nh� thơ L� Đạt tự nhận m�nh l� �phu chữ�)

Về vấn đề tr� lực của chữ nghĩa c� L� đề cập đến như t�c giả Khuyến l� chủ so�i nh�m Nguyễn Trần Khuy�n, (theo giới thiệu của chủ bi�n L� Thị Huệ) v� l� t�c giả những c�u đối thần kỳ mỗi m�a Tết về. H�nh như chưa xuất hiện kỳ t�i n�o trong số những vị t�i hoa g�p mặt ứng đối c�n xứng với những c�u ứng xuất. Đ�y l� hai t�c giả học h�nh tới bến, �tu luyện ph�p thuật� tột đỉnh để ph� khiển đ�m thi�n binh chữ nghĩa v�o trận đồ thi ca. T�i chỉ muốn x�ch lại gần để dựa cột m� nghe cho r�.

C� L� cũng đề cập đến nh� thơ Nguyễn B�nh một trong những nh� thơ được giới truyền th�ng văn học n�i đến nhiều nhất. C�c nh� ph� b�nh Ho�i Thanh, Ho�i Ch�n cho l� thơ Nguyễn B�nh b�nh d�n kh� lọt v�o con mắt của những nh� ph� b�nh th�ng th�i. C�n nh� ph� b�nh Thụy Khu� n�i �Thơ Nguyễn B�nh l� tiếng n�i h�ng ng�y, l� ng�n ngữ ch�ng ta hay d�ng để n�i chuyện với nhau�. Về thể loại b� n�i �Thơ Nguyễn B�nh kết hợp hai thể loại hai d�ng thi ca cổ điển, thể Ng�m, của Cung O�n Ng�m Kh�c v� Chinh Phụ Ng�m v� thể Thoại của c�c truyện N�m Hoa Ti�n, Kiều� N�i kh�c đi thơ Nguyễn B�nh l� tự chuyện kết hợp với tiểu thuyết.�

C�c nh� ph� b�nh vừa kể tr�n c� những nhận định x�c đ�ng về thơ Nguyễn B�nh nhưng vấn đề những nh� th�ng th�i m� Ho�i Thanh Ho�i Ch�n đề cập cần được x�t lại. Ri�ng t�i, phải đọc lại tiểu sử v� thơ Nguyễn B�nh, thấy Nguyễn B�nh l� nh� thơ c� số phận hẩm hiu, kh�ng được học ở trường lớp chỉ học với người cậu, sống đời lưu lạc, chết trong ngh�o khổ ngo�i gia đ�nh. Nhưng sự nghiệp thi ca Nguyễn B�nh rất đặc biệt để lại ấn tượng s�u sắc trong l�ng đại c�ng ch�ng. Nguồn năng lực s�ng tạo của �ng l� cả cuộc đời đem ra trải nghiệm mọi cảnh ngộ cuộc sống bản th�n. �ng cảm x�c, tư duy những điều bản th�n quan s�t được ở những nơi �ng sống v� viết ra thơ với t�m hồn ch�n th�nh y�u th�n qu�, y�u đồng ruộng, thương cảm bản th�n, kh�t khao hạnh ph�c của một thi sĩ t�i hoa vốn sẳn. �ng nhuần nhuyễn thể thơ lục b�t gần với ca dao. H�y đọc một �t thơ Nguyễn B�nh:

Van em em h�y giữ nguy�n qu� m�a

Như h�m em đi lễ ch�a

Cứ ăn mặc thế cho vừa l�ng anh

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u m�nh với ch�ng m�nh ch�n qu�

H�m qua em đi tỉnh về

Hương đồng gi� nội bay đi �t nhiều

Nh� em c� một gi�n giầu

Nh� anh c� một h�ng cau li�n ph�ng

Th�n Đo�i th� nhớ th�n Đ�ng

Cau th�n Đo�i nhớ giầu kh�ng, th�n n�o ?

�ng cũng c� h�ng chục b�i thơ phổ nhạc như : C� h�i mơ, G�i xu�n, Ghen, Trăng s�ng vườn ch�, Nụ tầm xu�n�

Thơ Nguyễn B�nh ngo�i t�nh đậm phong c�ch ca dao, t�i c�n thấy trong thơ �ng nghệ thuật tạo bối cảnh để cảm x�c linh hoạt ph�t triển. Như b�i C� h�ng x�m, bối cảnh l� một kh�ng gian mở trong đ� c� hai ng�i nh� gần nhau ngăn c�ch bởi giậu mồng tơi, một nong tơ v�ng, một con bướm trắng. Con bướm trắng vượt giậu mồng tơi bay sang b�n n�y bay về b�n ấy để t�nh cảm thi sĩ chấp chới bay theo. B�ng d�ng n�ng c�ng với nong tơ v�ng khi xuất hiện, khi vắng khuất dưới m�i hi�n nh� n�ng khiến thi sĩ hồi hộp mong chờ. Cho đến một h�m �hỡi ơi bướm trắng tơ v�ng� , thi sĩ kh�ng c�n tr�ng thấy nữa. N�ng đ� chết. Thi sĩ gục đầu kh�c rưng rưng, để c�i điều l�u nay tự dối l�ng m�nh l�n tiếng quả t�i y�u n�ng . Nghệ thuật n�y của nh� thơ Nguyễn B�nh c� thể t�m thấy qua nhiều b�i kh�c như Một ngh�n cửa sổ, C�y b�ng cuối thu, C� l�i đ�, Hết bướm v�ng v.v��

Tạo bối cảnh đặc trưng để cảm x�c, t�nh tự sầu bi của m�nh c� chỗ dung th�n, c� chỗ l�n cao tr�o l� nghệ thuật của nh� thơ Nguyễn B�nh.

Ri�ng mảng ca dao, Nguyễn B�nh l� thi sĩ ca dao t�i hoa bậc nhất thi�n hạ.

 

L� Thị Huệ: Chị học Anh ngữ như thế chị phải giỏi ngoại ngữ, cảm nhận của chị về việc sử dụng Việt ngữ để s�ng t�c. Chị c� thấy nguồn sử dụng hai ng�n ngữ gi�p chị đa dạng h�a từ ngữ khi s�ng t�c thơ ?

Nguyễn Th�y Song Thanh: Xin x�c định, về Anh ngữ t�i chỉ giỏi hơn những người đang ngồi trong lớp t�i dạy.

V� t�i l� người quanh năm g�nh chữ đi b�n rong, giao dịch với c�c tiệm ngoại ngữ ở th�nh phố S�i g�n n�n học tr� cũ của t�i rất đ�ng, hiện ở trong nước cũng như ngo�i Việt Nam. Tiếng Việt l� ng�n ngữ t�i sử dụng để s�ng t�c. Xin c� một so s�nh nhỏ : Nhờ c� học tiếng Ph�p từ thời tiểu học, v� suốt thời trung học tiếng Ph�p song song với tiếng Anh l� hai ngoại ngữ bắt buộc phải học c�ng l�c trong chương tr�nh Việt thời t�i học, t�i thấy tiếng Ph�p rất �m dịu, �m vần cuộn tr�i nhẹ nh�ng. C�n tiếng Anh khi đọc khi n�i rất gi�n gi� nhịp nh�ng nhờ ngữ điệu v� tiết điệu (intonation and rhythm) trong khi đ� Việt ngữ l� chốn m� cung đối với người nước ngo�i khi học tiếng Việt. Thanh kh�ng dấu cộng với thanh của năm dấu (sắc, huyền, hỏi, ng�, nặng) cũng như c�c dấu của �m (dấu ă, �, ơ, ư) đ� tạo ra biết bao nhi�u rắc rối kh� nhớ kh� ph�n biệt cho họ l�c mới bắt đầu học tiếng Việt. C�ng một chữ, khi viết chỉ cần nh�ch tay một ch�t l� ra một chữ kh�c, nghĩa kh�c ngay. Th� dụ : hai, h�i, h�i, hải, h�i, hại hay l� to, t�, tơ�v.v�

Nhưng đối với người Việt, tiếng Việt kh�ng phải l� m� cung m� l� một trường ca kỳ diệu khiến người ta say đắm. Ch�nh v� vậy, v�o đầu thế kỷ 17 gi�o sĩ Marini khi đến Đ�ng Trong học tiếng Việt để truyền gi�o ph�t biểu �Dường như đối với người Việt n�i v� h�t cũng l� một.� C�c bạn thử đọc v�i b�i thơ phổ nhạc. Th� dụ b�i : Ng�y Xưa Ho�ng Thị (Thơ Phạm Thi�n Thư, nhạc Phạm Duy, Th�i Thanh h�t) c�c bạn đọc th�nh tiếng, diễn cảm, rồi h�t (hoặc nghe Th�i Thanh h�t) c�c bạn sẽ thấy �m hưởng của thơ v� nhạc hết sức gần nhau, quyện v�o nhau : Em tan trường về / Đường mưa nho nhỏ / Chim non dấu mỏ / Dưới cội hoa v�ng / thơ Phạm Thi�n Thư như được nhạc Phạm Duy chấp c�nh bay v�t l�n. Nhạc sĩ đ� đưa thơ về với nhạc v� nhạc t�nh của thơ đ� gợi cảm x�c cho người nhạc sĩ tuyệt vời t�i hoa n�y.

Hay như b�i Lệ Đ� Xanh, thơ Thanh T�m Tuyền, nhạc Cung Tiến, Kh�nh Ly h�t. Như ch�ng ta biết, thơ tự do Thanh T�m Tuyền kh�ng l� tới vần, thanh, nhịp, nhạc theo truyền thống nhưng tổng thể mỗi b�i thơ tự do của Thanh T�m Tuyền l� một cấu tứ, một bản nhạc ho�n chỉnh. Nhạc sĩ Cung Tiến khi phổ nhạc Lệ Đ� Xanh c� �biến tấu� lời đ�i ch�t ở một v�i chỗ, nhưng ở những đoạn thơ d�i vẫn giữ đ�ng nguy�n t�c:

Lệ Đ� Xanh (nguy�n t�c)

T�i biết những người kh�c lẻ loi / kh�ng ngu�i một ph�t / những người kh�c lệ kh�ng rơi ngo�i tim m�nh / em biết kh�ng / lệ l� những vi�n đ� xanh / tim rũ rượi / đ�i khi anh muốn tin / ngo�i đời chỉ c�n trời sao l� đ�ng kể / m� b�n những v� sao lấp l�nh đ�i mắt em / đến ng�y cuối / đ�i khi anh muốn tin / ngo�i đời thơm phức những tr�i c�y của thượng đế / m� b�n những tr�i c�y ngọt ng�o đ�i m�i em / nguồn sữa mật khởi đầu / đ�i khi anh muốn tin / ngo�i đời đầy cỏ hoa tinh khiết / m� b�n cỏ hoa quyến rũ c�nh tay em / v�ng �n �i / đ�i khi anh muốn tinh / �i những người kh�c lẻ loi một m�nh / đau đớn lệ l� những vi�n đ� xanh / tim rũ rượi.

Nghe Kh�nh Ly h�t Lệ Đ� Xanh, ch�ng ta thấy hai con người t�i hoa bậc nhất n�y, Thanh T�m Tuyền v� Cung Tiến rất mực t�n vinh (chữ �t�n vinh� trong một b�i th�nh ca l�u đời của Tin L�nh) �m thanh của ng�n ngữ Việt Nam. �m thanh của ng�n ngữ v� �m nhạc đ� l� đ�i c�nh n�ng nỗi c� đơn l�n tầng buồn chất ngất.

T�i kh�ng học nhạc m� d�m n�i tới �m nhạc quả l� t�o lao nhưng t�i cậy m�nh c� đ�i tai m� mẩn �m nhạc n�n đ� mạo muội n�i l�n c�i sự �phi�u� �m thanh (t�i viết �phi�u� kh�ng viết feel, cũng kh�ng viết �phiu� v� c�i từ �phi�u� đầy hấp dẫn khi n� cặp k� với một từ kh�c : phi�u linh, phi�u bồng, phi�u l�ng � v� cả phi�u di�u miền cực lạc. Từ �phi�u� quả l� c� đ�i ch�n giang hồ, đ�i c�nh vi v�t, n�n đến chết vẫn c�n phi�u di�u � đ�ng ngoặc) của m�nh qua ng�n ngữ đ� học, qua thơ phổ nhạc, chẳng qua l� để trả lời một phần trong c�u hỏi của thi sĩ L� Thị Huệ.

C�n nữa, ng�n ngữ Việt kh�ng chỉ tuyệt vời về thanh m� c�n kỳ diệu về �m / vần nữa Mỗi �m / vần cho ta một cảm gi�c hoặc � niệm kh�i qu�t. Th� dụ:

- Vần �ng : cho ta cảm gi�c (kh�ng gian) rộng, trống trải� th� dụ : m�nh m�ng, m�ng quạnh, lồng lộng�

- Vần ấc, ất : cho ta cảm gi�c kh�ng su�ng sẻ, kh�ng tr�i chảy, kh�ng dễ d�ng� th� dụ : tất bật, trầy trật, lẩn quất, lật đật, xất bất.

- Vần i�u : cho ta cảm gi�c xa xối, vắng vẻ, hoang phế � th� dụ : tịch li�u, ti�u điều, c� li�u, đi�u t�n�

- Vần iu : cho ta cảm gi�c nhỏ, nhẹ, yếu � th� dụ : liu riu, hiu hiu, hắt hiu�

- Vần �nh : cho ta cảm gi�c kh�ng vững, kh�ng cố định � th� dụ : ch�ng ch�nh, gập gềnh, l�nh đ�nh, bấp b�nh �

V� c�n nhiều nữa. Người l�m thơ t�y t�i năng vận dụng thanh v� �m / vần của tiếng Việt để thăng hoa cảm x�c. Xin mời đọc thơ v� lắng nghe cảm x�c qua chữ nghĩa c�c nh� thơ sau đ�y:

Thanh T�m Tuyền

Ng�i nh� đỏ đồi trăng hồng đuối nhớ

Thở� hơi sương rung rẩy ng� trong trời

Nh�e gi� bấc, ngựa m�y dồn gấp v�

Tiếng nhạc đen. Thả bổng quạnh hiu rơi


Đ�n v�ng lụn như đầu di�m x�e tắt

Lửa thuyền xa, đom đ�m dạt phi�u bồng

T�nh rầu rĩ k�u tiếng trầm cắn đắng

B�ng vang hư, thoảng lịm như kh�ng

���������������������������� Biến kh�c 4

(nguồn: Gi�-O.com. Nguyễn Lương Vy : Thanh T�m Tuyền � �m vang kh�c)

V� T� Th�y Y�n :

Anh y�u em vầng tr�n hắt hiu

Gợn mơ hồ n�t tuổi

(Những th�nh phố m� ta kh�ng gh� lại)

Cố ngủ mong thay được mộng mới,

Đỡ thiu hồn rữa, những tiền sinh

Mai nữa lại đi c�ng gi� quẩn

Mịt mờ theo đuổi tiếp m�ng m�nh

(Đ�m quan ngoại)

V� Vi�n Linh :

S�ng nay t�i trở về nh�

Tho�ng thấy người n�o lẩn trốn

Khe cửa đăm đăm cặp mắt đen

Đ�ng rồi t�i đ� thấy

T�i vừa vắng mặt ở nơi n�y

L�c rạng đ�ng t�i gặp v�i nỗi nhớ

Lẩn quất tự đ�m qua

������������������ (Kẻ t�n t�ng)

C� L� hỏi : Chị c� thấy nguồn sử dụng hai ng�n ngữ gi�p chị đa dạng h�a từ ngữ khi s�ng t�c thơ ?

Để ph�n minh, ngo�i những từ tiếng Anh được Việt h�a kh�ng kể, vấn đề đa dạng h�a tiếng Việt kh�ng thể xảy ra v� tiếng Việt l� ng�n ngữ mỗi từ chỉ c� một �m tiết (single syllable) c�n ng�n ngữ Anh mỗi từ c� thể c� một hoặc nhiều �m tiết (multisyllable). Từ một từ tiếng Anh, c� thể tạo từ mới bằng c�ch th�m tiền tố, hậu tố (prefix, suffix) hoặc vận dụng hệ từ ngữ ph�t sinh (derivation).

Nhưng về mặt đa năng h�a như tiếng Anh, tiếng Việt ho�n to�n c� thể t�y người sử dụng c� mạnh tay hay kh�ng. Th� dụ :

Ng�y đ� ăm ắp b�nh minh

M�u sắc hồ ly

Tất cả bỗng rạng h�nh tướng

S�i g�n rất biển

Biển �o xanh bạc mồ h�i c�ng nh�n

������������������ (S�i g�n, nhan sắc thời gian)

Hồ ly, biển : danh từ d�ng như t�nh từ. Hay tổ hợp n�y :

Một m�nh giữa c�i thi�n đường tạo dựng bằng ch�n cục gạch

������������������ (Một tựa đề trong tập C�nh Cửa)

tạo dựng : động từ, được d�ng như một qu� khứ ph�n từ trong tiếng Anh (past participle) tương đương với created, built� người kh� t�nh sẽ bắt bẻ, phải n�i : được tạo dựng mới đ�ng ngữ ph�p tiếng Việt. Nhưng như ch�ng ta đều biết, ngữ ph�p (viết v� n�i) được đ�c kết từ ng�n ngữ n�i h�ng ng�y. Vậy ch�ng ta h�y n�i, viết theo c�ch l�m phong ph�, l�m trong s�ng v� l�m đẹp tiếng Việt của ch�ng ta, như nhiều nh� văn thơ đ� đang v� sẽ l�m như thế. Hoặc �

B�y giờ một m�nh d� khi mặt trời ủ rũ

Hạt ngọc t�i vẫn quạnh hiu lấp l�nh b�n đời

Bằng thi�n h� nỗi nhớ�

(Thể dục ảo - Hạnh ph�c t�i)

thi�n h� : danh từ được d�ng như t�nh từ (chỉ lượng v� c�ng, đẹp lấp l�nh, xa cao v� c�ng, đầy thi�n �n)

 

(c�n tiếp)

 

 

Nguyễn Th�y Song Thanh

t�n thật Nguyễn Bạch Tuyết

Sinh tại Sađec

Sống tại S�i g�n

Học tiểu học, trung học, đại học tại S�ig�n

Cử nh�n Anh Văn

Dạy học c�c trường trung học c�ng lập v� c�c trung t�m ngoại ngữ. Nghỉ dạy hẳn từ th�ng 9.2011

C� thơ đăng từ năm 1959 tr�n c�c tạp ch� : B�ch Khoa, Hiện đại, Nghệ thuật

Sau 1975:

- Ngưng s�ng t�c hơn 25 năm

- Hừng Đ�ng Sau Rừng (thơ), nxb Thanh Ni�n, S�i G�n, 2003

- C�nh Cửa (thơ), nxb Trẻ, S�i G�n,  2014

 

 

http://www.gio-o.com/NguyenThuySongThanh.html

 

  

 

� gio-o.com 2014