photo: nguyễn thị hải h�

 

NGUYỄN THỊ HẢI H�

V�i Điều Suy Nghĩ

Về Ng�y Trở Về Của Nh� Văn Lưu Vong

bi�n khảo


Một ng�y kh�ng t�n v�o cuối thập ni�n bảy mươi t�i được tặng một tập thơ mỏng của Nguyễn Đức Sơn, trong đ� c� một b�i thơ m� đến giờ t�i vẫn c�n nhớ.

�i biết ng�y nao anh trở lại

Vườn xưa c�y tr�i ngả nghi�ng sầu

Anh đi trong nắng t�n hoang dại

Thấy l� sầu ri�ng bạc hết m�u[1]

B�i thơ cho t�i cảm tưởng nh� thơ sắp đi rất xa, c� thể biệt xứ, kh�ng c�n cơ hội trở về. Tuy nhi�n đến nay nh� thơ vẫn c�n ở Việt Nam, c� nghĩa l�, �ng chỉ di chuyển đến một địa phương kh�c; thế m� đ� buồn đến bạc l� sầu ri�ng.

Loanh quanh trong nước, vẫn c� cơ hội quay về m� đ� thương nhớ qu� nh� đến thế; những người phải l�a bỏ qu� hương, vượt đại dương, kh�ng c�n đường trở về, nỗi nhớ c� lẽ c�ng khắc khoải hơn. Việt Nam c� hai cuộc di cư vĩ đại; từ Bắc v�o Nam v� từ miền Nam sang nước ngo�i. T�i cũng biết, c� những cuộc vượt bi�n từ miền Bắc hay tập kết ra Bắc, nhưng b�i n�y xin chỉ giới hạn trong việc quan s�t � muốn v� h�nh động trở về của một số văn nghệ sĩ di cư từ Bắc v�o Nam v� từ miền Nam sang tị nạn ở nước ngo�i.

Đ� c� nhiều định nghĩa về văn nghệ sĩ lưu lạc, lưu đ�y, lưu vong, tị nạn, di d�n, v� nhập cư. Mỗi từ mang một � nghĩa ch�nh trị kh�c nhau. Trong b�i n�y để giản dị h�a t�i xin được d�ng từ lưu vong để chỉ chung cho cả hai trường hợp di cư v� tị nạn. Đơn giản, d�ng từ n�y v� nghe quen tai. Văn nghệ sĩ t�i quan s�t gồm c� ba nh�m: di cư trước tị nạn sau (Phạm Duy, Mai Thảo, Thanh T�m Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tr�ng Dương), tị nạn (V� Phiến, Trần Ho�i Thư, L� thị Huệ, Nguyễn thị Thảo An[2]) v� một số nh� văn sinh ra ở Việt Nam nhưng lớn l�n ở hải ngoại (Kim Th�y, Andrew Lam)[3]. Sự trở về ở đ�y bao gồm hai mặt: một c�ch hiện thực với th�n thể của văn nghệ sĩ, v� biểu tượng, bằng t�c phẩm.

 

C� thật ai bỏ xứ ra đi đều muốn quay về hay đ� chỉ l� � nghĩ l�ng mạn chỉ xuất hiện trong văn thơ hay nhạc? Ch�ng ta lớn l�n với quan niệm đ� được cấy sẵn v�o đầu. C�y c� cội, nước c� nguồn. Chim c� tổ, người c� t�ng. Hễ c� những cuộc ra đi l� tự nhi�n ngầm coi như c� những lời hứa hẹn sẽ trở về. Ha Jin, nh� văn Trung quốc lưu vong ở Hoa Kỳ quả quyết rằng tất cả mọi người khi lưu lạc đều thương nhớ qu� nh� v� muốn trở về. �Đa số những người lưu vong đều ấp ủ một mơ ước ng�y n�o đ� trở về qu� hương. Nỗi niềm nhung nhớ n�y thường l�m họ mất phương hướng v� ngăn ngừa họ bắt rễ ở bất cứ nơi n�o.��(Jin, The Writer As Migrant, 2008, p. 63)[4] Ha Jin định nghĩa qu� hương như sau: �Theo thường lệ, qu� hương của một người l� xứ sở nguồn cội của người ấy. Nơi nầy người ấy thường mong muốn trở về d� đi đến bất cứ nơi n�o.��(Jin, The Writer As Migrant, 2008, p. 65)[5]

Phạm Duy, l� người thể hiện mạnh mẽ nhất c�i � muốn trở về qu� hương. T�i quan s�t Phạm Duy như một thi sĩ v� một số lớn ca từ của �ng l� thơ được phổ nhạc. �B�i Thuyền Viễn Xứ mang nỗi sầu cố l� m�nh m�ng. Tuy nhi�n, t�i vẫn kh�ng thể khẳng định sầu ho�i hương c� nghĩa l� muốn hồi hương. Trong Come back to Sorrento, Phạm Duy đặt lời Việt th�nh Trở Về M�i Nh� Xưa, �ng đ� thể hiện mơ ước trở về chốn cũ. �Về đ�y khi m�i t�c c�n xanh xanh. Về đ�y với m�u gi� ng�y lang thang. Về đ�y với x�c hiu hắt lạnh l�ng�� Đ�y l� một bản nhạc �, độc giả c� thể đọc bản ch�nh v� bản dịch ở Wikipedia[6], tuy nhi�n lời Việt của Phạm Duy lập đi lập lại hai chữ về đ�y như một x�c định trở về d� chỉ l� quay về với đi�u t�n. Ngay cả khi chọn bản nhạc n�y để đặt lời, phải chăng � muốn trở về đ� nằm trong t�m tưởng của �ng? Một bản nhạc ngoại quốc kh�c �ng viết �Tội nghiệp thằng b� cứ nhớ thương m�i qu� nh�. Gi�n thi�n l� đ� xa m�i ng�n xa�T�m một miếng đất cho g� si t�nh�N�ng h�y ch�n tr�i tim non buồn thương.�[7] ca từ thể hiện sự nhớ thương qu� nh�, ho�n to�n kh�c b�i d�n ca của bản nhạc gốc. Ở Ng�y Trở Về, ch�ng ta cũng c� thể tưởng tượng Phạm Duy l� anh ch�ng thương binh trở về qu� nh�, để gặp lại mẹ gi� đ� m� l�a, người vợ trẻ th�nh đ�a hoa t�n tạ, v� tiếng cười đ�a trở th�nh giọng h�t rầu rầu. Khi sang Hoa Kỳ � muốn trở về của Phạm Duy r� rệt hơn. �Rồi đ�y anh sẽ đưa em về nh�, nh� của đ�i ta xinh xinh nhỏ b酔 Nh�, ở đ�y c� thể l� gi�n thi�n l�, mảnh vườn, miếng nấm mồ, hay l� c�i chết nơi �ng được ở lại mu�n đời. Cuối c�ng, Phạm Duy đ� trở về, bằng h�nh h�i xương thịt. Khi di cư �ng l� một trong những người đi trước. Khi trở về �ng cũng đi trước rất nhiều người.

Alexander Solzhenitsyn, suốt mười t�m năm lưu đ�y, sống ở tiểu bang Vermont Hoa Kỳ lu�n mong muốn trở về qu� hương. �ng từ chối kh�ng v�o quốc tịch Mỹ, v� thường n�i rằng �ng sống chỉ viết cho người Nga đọc.�(Jin, Writer As Migrant, 2008, pp. 5-7). ��Milan Kundera th� tr�i lại. Xuất th�n l� người Czech, t�c phẩm của �ng bị cấm lưu h�nh ở xứ �ng sinh ra. Năm 1975 �ng di cư sang Ph�p. L�c 60 tuổi �ng bắt đầu viết văn bằng tiếng Ph�p. �ng lu�n nhấn mạnh, �ng l� nh� văn Ph�p. C� nghĩa l� kh�ng những Kundera kh�ng nhớ tiếc qu� nh� m� c�n chối bỏ nguồn gốc của �ng.[8]

Mai Thảo, Thanh T�m Tuyền, Vũ Khắc Khoan, v� Mặc Đỗ l� trường hợp đặc biệt. Nếu xem mỗi nh� văn l� một c�i c�y th� c�c �ng bị nhỗ bật rễ hai lần. �Để t�m xem c�c �ng c� � muốn trở về miền Bắc khi đang sống v� viết văn ở miền Nam, t�i đọc một số t�c phẩm c�c �ng đ� xuất bản ở miền Nam v� ở hải ngoại[9]. B�ng bạc trong hầu hết mọi t�c phẩm, cả bốn nh� văn đều biểu lộ r� rệt sự nhớ tiếc tuổi thơ, cảnh cũ, người xưa, t�m trạng lạc l�ng của những người xa qu� nh�. Chỗ ở mới chưa cố định, c�ng việc chưa vững chắc, nhưng c�c nh� văn n�y kh�ng mấy hoang mang, thất lạc, hay tuyệt vọng. Độc giả vẫn nh�n thấy những tia s�ng của hy vọng v�o một tương lai tốt đẹp. C�c nh� văn di cư kh�ng hề ph�n n�n bị kỳ thị Bắc Nam, cũng kh�ng phải vất vả đương đầu với một ng�n ngữ xa lạ như nh� văn miền Nam tị nạn sang nước ngo�i.

Mai Thảo biểu lộ t�m trạng lạc l�ng của người xa qu� hương: �Y giống như người đến từ một h�nh tinh kh�c. Y đ� mất qu� khứ, như một th�n c�y mất rễ. Những ng�y th�ng về trước đ� nhạt nh�a dấu t�ch, ấn tượng xa xưa chỉ l� một vực đen s�u kh�ng c�ng. Y sống cũng như chết. Y chết giữa cuộc sống.�[10] Cũng c� l�c Mai Thảo tho�ng nghĩ đến sự trở về nhưng chỉ l� một � nghĩ viển v�ng. �Từ Cửu Long, ch�ng t�i sẽ về đ�nh chiếm lại Hồng H�. Để những buổi chợ đất nước lại được mở th�nh hội ở hai b�n bờ s�ng.�[11] Đọc c�u n�y t�i kh�ng khỏi mỉm cười. Với bộ v� nh� thơ, �ng lấy g� để đ�nh chiếm lại Hồng H� chứ? L�c gần cuối đời, Mai Thảo c� tặng nh� văn Nguyễn Xu�n Ho�ng b�i thơ tựa đề B�i Tiễn:

Xuống tầu đưa bạn đi ra biển

Thả t�n tro xuống Th�i B�nh Dương

Biển m�nh m�ng lặng l�ng gi�ng b�o

Chẳng biết nơi n�o nữa viễn phương[12]

B�i thơ l�m t�i li�n tưởng đến số phận người vượt biển, c�u thơ khiến t�i nghĩ d� Mai Thảo vẫn nhớ đến Việt Nam nhưng nơi n�y kh�ng c�n l� một chỗ để về.

Thanh T�m Tuyền trẻ hơn, mộng ước phi�u lưu tr�n đầy, thẳng thắn b�y tỏ ước muốn ra đi v� kh�ng trở lại: �Hắn lớn l�n trong một th�nh phố đ� mất, th�nh phố bị v�y h�m như một h�n c� lao nổi chờ ng�y tan r� kh�ng để lại dấu vết.� [�] �N� chờ đợi một chuyến đi xa, kh�ng trở về c�i đất nước nhục nh� n�y, đi t�m c�i chết nơi hải cảng trong qu�n rượu xa lạ, chết một m�nh b�n chai rượu.�[13] Thanh T�m Tuyền c� nghĩ đến ng�y về, nhưng �ng tự chế nhạo c�i � nghĩ viễn v�ng ấy.

�Đến bao giờ anh t�nh về ngo�i ấy?�

�Anh t�nh về?� � Người đ�n �ng cười gằn � �Anh t�nh sao được, phải đợi thống nhất chứ.�[14]

Vũ Khắc Khoan khẳng định, nhớ nguồn gốc th� vẫn nhớ, nhưng kh�ng muốn trở về. �Con người cũng như vạn vật cũng đều phải theo c�i lẽ đ� m� sinh s�i nảy nở. Nhưng thỉnh thoảng đến chỗ c�ng cự của tang thương biến đổi th� tĩnh t�m, th�nh �, con người lại nu�i ứ muốn trở về nguồn. Lớn rồi đi, đi rồi xa, xa rồi trở về [�] Nguồn tất phải đẹp. V� nguồn l� tuyệt đối. Cho n�n con người từ ph�n h�a sinh th�nh, mấy ai m� qu�n hẳn được nguồn.�[15]

�Thế l� hết c�u chuyện Trương Chi của t�i. V� b�y giờ th� chắc �ng cũng hiểu tại sao t�i lại kh�ng quay về H� Nội. Cuộc đời Trương Chi c� ngang tr�i chỉ v� họ Trương chưa t�m được người đồng cảnh. t�i may mắn hơn anh ta. V� t�i đ� gặp những người đồng cảnh.�[16]

Vũ Khắc Khoan lớn tuổi nhất v� c� lẽ do c� kinh nghiệm sống d�i nhất, �ng biểu lộ � thức ch�nh trị r� rệt nhất. V� v� l� do ch�nh trị, �ng kh�ng muốn trở về.

��ng c� hiểu anh tr�m Phường đ� n�i g� với Trương Chi kh�ng? T�i chắc �ng cũng thừa hiểu. Đ� hơn một lần, t�i chắc những người như �ng đ� được nghe những lời tương tự. C� phải bắt đầu th� bao giờ cũng l� những danh từ quyến rũ: C�ch mạng, Lực lượng đang l�n� �ng l� c�i chất ma t�y của những danh từ! V� trong cơn m� đắm của tuổi hai mươi, �ng đ� vội v�ng kh�ng th�m nghĩ, m� nhận ngay c�i vai tr� đẹp nhất trong một tấn kịch mới mở m�n đầu. Một với hiệp sĩ phong lưu sảng kho�i, cả đời chỉ chuy�n v�o việc cứu khổn ph� nguy. Trong mỗi con người, nhất l� ch�ng ta, bao giờ m� chả tiềm t�ng một Don Quichotte? Ch�ng ta đ� l�n y�n. Ch�ng ta lại c� th�m ngọn gi�o. L�m g� m� ch�ng ta chả lăn xả v�o một c�i cối xay! [�] Từ địa vị một ch�ng hiệp sĩ phong lưu, ch�ng ta trở n�n một con sĩ tốt, c�i đầu chịu lệnh một vị tướng v� h�nh. Hỡi ơi!�[17]

Mặc Đỗ viết về đời sống xa qu� hương như sau: �Anh Gi�p phải k�o d�i cuộc sống ở đ�y, kh�ng vui với kh�ng kh� gia đ�nh nhưng rất thương vợ con, l�c n�o cũng hy vọng c� cơ hội đổi được c�i kh�ng kh� lạc l�ng ấy, chẳng hạn đưa gia đ�nh trở về Việt Nam. Nhưng cơ hội m�i kh�ng đến v� lẽ n�y lẽ nọ. B�y giờ hi vọng xem như ti�u t�n lu�n m�i m�i. Nga bảo c� một bữa gần đ�y chợt Gi�p đ� buồn rầu n�i rằng: �T�i đ�nh ở lu�n đ�y th�i.��[18]

�T�i cố t�m một sự khẳng định � muốn trở về, thật mạnh mẽ, như Scarlett O�Hara muốn trở về Tara để t�m lại sự hỗ trợ tinh thần của một nơi n�ng đ� từng sống trong hạnh ph�c ở bốn nh� văn n�y nhưng kh�ng thấy.

 

�T�i đ� đọc một số truyện v� t�y b�t của V� Phiến[19] nhưng l�c ấy t�i kh�ng để � t�m xem �ng c� � muốn quay về hay kh�ng. Th�nh thật m� n�i, d� muốn t�i cũng kh�ng thể đọc hết tất cả t�c phẩm của �ng. Rất c� thể, ch�m khuất đ�u đ� nh�n vật của �ng lớn tiếng đ�i về m� t�i chưa đọc tới. T�m trạng ho�i nhớ qu� hương của nh� văn V� Phiến xuất hiện hầu hết trong c�c b�i t�y b�t, đặc biệt l� t�c phẩm Cuối C�ng, của �ng. Nỗi buồn n�y đ� được nh� văn John Schafer ghi nhận trong quyển bi�n khảo �V� Phiến and the sadness of exile.� D� V� Phiến kh�ng về hay chưa về bằng xương bằng thịt th� t�c phẩm của V� Phiến đ� được nh� văn Thu Tứ đưa về Việt Nam d� phải chịu c�i cảnh nằm sao cho vừa chiếc giường của Procrustes[20].

 

Kh�ng đề cập đến sự trở về trong t�c phẩm, kh�ng hẳn l� nh� văn kh�ng muốn trở về. Rất c� thể với chiến tranh c�ng l�c c�ng trở n�n khốc liệt, mức độ chia rẽ giữa hai miền Bắc Nam c�ng l�c c�ng s�u, cơ hội trở về kh�ng c� v� kh�ng thiết thực n�n kh�ng ai nhắc đến sự trở về? C� thể n�o c�i một l�ng một dạ quay về với tổ quốc của Solzhenitsyn chỉ v� �ng kh�ng thể sử dụng ng�n ngữ n�o kh�c hơn tiếng mẹ đẻ? Khi trở về qu� hương Solzhenitsyn bị tiếp đ�n lạnh nhạt một thời gian rất d�i. Một trong những l� do khiến Solzhenitsyn kh�ng th�ch hợp với cuộc sống v� kh�ng thể s�ng t�c được ở Hoa Kỳ l� v� trở ngại ng�n ngữ. V� rất c� thể th�m một l� do nữa, n�i như nh� văn Vũ Khắc Khoan l� v� �ng ta kh�ng t�m được người đồng cảnh. Giả tỉ như l�c bấy giờ c� cả triệu người c�ng l�c ra đi với �ng, qui tụ lại c�ng viết v� xuất bản bằng tiếng mẹ đẻ, như c�c nh� văn Việt, c� thể �ng đ� ở lại Hoa Kỳ.

 

Nh� văn Tr�ng Dương di cư v�o Nam khi b� chừng 9 tuổi, đọc t�c phẩm Lập Đ�ng, t�i thấy c� n�t ho�i nhớ mảnh đất b� đ� ra đi, nhưng nỗi nhớ kh�ng đậm đ� như c�c nh� văn thuộc thế hệ trước. B� nhớ mang m�ng l� m�a xu�n nơi ấy r�t lắm khi xu�n ở Saigon n�ng bức. Tương tự như Tr�ng Dương, nh� văn Việt sang Mỹ từ l�c 9 hay 10 tuổi nỗi ho�i hương kh�ng đậm n�t, v� c�ng sống l�u ở xứ người, � thức Việt Nam l� qu� hương c�ng phai nhạt. Trong t�c phẩm Ru, nh�n vật của Kim Th�y, sang H� Nội l�m việc, nhưng qu� nh� của c� xuất hiện bằng c�i m�i hương x� ph�ng bột của xứ Canada c�n phảng phất tr�n chiếc �o của chồng c�. T�c phẩm của Linda L� đ� được dịch v� xuất bản ở Việt Nam, bản th�n Linda L� cũng đ� đến Việt Nam để giới thiệu t�c phẩm. Trường hợp của Linda L� kh�ng thể n�i l� �về� m� phải n�i l� �đi đến� bởi v� c� kh�ng tự nhận l� người Việt Nam. Bản sắc Việt d�nh v�o c� như một th�y ma chết m� c� phải cưu mang[21]. Andrew Lam, vẫn nhận m�nh l� người Việt, Việt Nam l� nơi chốn anh sinh ra, v� anh đ� nhiều lần trở lại Việt Nam.[22]

 

C� nhiều nh� văn Việt cương quyết kh�ng trở về d� bằng t�c phẩm hay th�n x�c. Nh� văn Trần Ho�i Thư l� một trong những nh� văn n�y. To�n bộ s�ng t�c của �ng được viết ra ở miền Nam. Từ khi sống ở Hoa Kỳ �ng kh�ng s�ng t�c nhiều, đa số th� giờ �ng d�ng để kh�i phục những t�c phẩm của �ng cũng như nhiều t�c giả kh�c đ� bị cấm đo�n chối bỏ. Nhiều lần t�i trực tiếp hỏi v� được biết từ khi ra khỏi nước �ng chưa hề trở lại Việt Nam v� cũng kh�ng cần phải trở về xuất bản t�c phẩm của �ng.

Nh� văn L� thị Huệ trở lại Việt Nam nhiều lần, th�nh quả của những lần trở lại ấy l� quyển Văn H�a Tr� Trệ[23] nhưng nh�n vật của b� kh�ng muốn trở lại. �H�y nghe nh�n vật Lan Hương b�y tỏ � nghĩ:

�[�] C� khi tao muốn cắt bỏ lu�n qu� khứ. Tao muốn ở lại Mỹ đời đời. Tao muốn qu�n lu�n Việt Nam. Nhưng đ�i khi tao cũng c� nhu cầu t�m lại nơi đ� đưa tao v�o đời sống n�y. Tao muốn gặp ba m� v� anh chị em của tao. Nhưng tao sợ khi về lại Việt Nam tao đ� th�nh một kẻ xa lạ.�[24]

�Em gh�t Việt Nam. Em gh�t xứ sở n�y. Em gh�t trở về một c�i xứ sở ngu dốt. Xứ sở tr� trệ. Xứ sở u m�.�[25] (L�, 2005)

Từ bỏ xứ sở nơi sinh ra v� l� do ch�nh trị v� kh�ng sử dụng ng�n ngữ của xứ sở b� cư ngụ khi viết văn, L� thị Huệ xem ng�n ngữ Việt l� qu� hương. Khi được sử dụng ng�n ngữ mẹ ở đất kh�ch nh� văn kh�ng cần phải về nguồn bằng t�c phẩm. Như Milan Kundera, L� thị Huệ cho hai nh�n vật Việt tha hương, gặp nhau ở tr�n giường của một kh�ch sạn, hai kẻ xa lạ n�i tiếng Việt với nhau suốt đ�m. Với b�, tiếng Việt l� nơi hội ngộ, kết hợp hai linh hồn, đ�y l� biểu tượng của sự trở về với qu� hương.

Nh� văn Nguyễn thị Thảo An th� d�ng dằng nửa về nửa ở. Thảo An nghĩ rằng:

�Theo truyền thuyết, cuộc đời ch�ng ta l� một chuỗi lu�n hồi.�

�C� nghĩa l� ch�ng ta sinh ra nơi n�o th� sẽ trở về nơi đ�. Mười mấy ng�n năm, qui luật đ� kh�ng bao giờ thay đổi.�[26]

Sau đ� Thảo An nghĩ ngược lại:

�N� h�nh dung ra một cuộc sống c� đơn ngo�i biển khơi, nhưng m� c�n hơn trở về để chết.�[27]

�Bạc lẳng lặng quay đầu v� v�ch khe. N� lạ lẫm tr�n ch�nh qu� nh� của n�. Lần đầu ti�n, n� c� cảm gi�c lạc l�ng giữa đ�n. Bạc chợt ước, phải chi n� chết ở một nơi n�o đ� tr�n đường trở về. Để c�i qu� hương dấu y�u kia m�i m�i vẫn c�n trong tim của n�.�[28]

 

Khi đề cập đến việc trở lại qu� hương, một cuộc trở lại vật chất, của con người bằng xương bằng thịt, ch�ng ta thấy c� nhiều quan điểm. Solzhenitsyn cương quyết trở về. Milan Kundera, Cao Xingjian, l� những con ho�ng hạc một đi kh�ng trở lại. James Joyce xem sự lưu đ�y l� nguồn cảm hứng để s�ng t�c. Vladimir Nabokov quan niệm, ngay cả quốc tịch của nh� văn cũng kh�ng đ�ng kể, chỉ c� nghệ thuật biểu lộ trong t�c phẩm mới quan trọng. Để được tự do theo đuổi nghệ thuật, Nabokov đ� chối từ qu� hương Li�n X� của �ng tr�n cả hai mặt ch�nh trị v� ng�n ngữ. T�i kh�ng t�m thấy chứng cớ chắc chắn l� Mai Thảo, Thanh T�m Tuyền, Vũ Khắc Khoan muốn trở về Việt Nam bằng xương bằng thịt v� t�c phẩm của c�c �ng thất lạc rất nhiều, v� như đ� th� nhận, t�i kh�ng thể đọc tất cả t�c phẩm của c�c �ng. Tuy nhi�n, đ� l� nh� văn lưu vong, sự trở về quan trọng nhất phải l� sự trở về của t�c phẩm. Ha Jin cho rằng ngoại trừ việc gi�p cho ngu�i ngoai nỗi nhớ về qu� khứ, cuộc trở về bằng xương bằng thịt của nh� văn chẳng c� � nghĩa g� cả.�(Jin, Writer As Migrant, 2008, p. 21)[29]

 

Bởi v� t�nh chất ch�nh trị của sự ra đi; sự trở về bằng t�c phẩm của nh� văn lưu vong thường bị xem l� h�nh động phản bội. Phản bội những nh� văn c�ng khuynh hướng đ� từng bị t� đ�y, l�m nhục chỉ v� họ đ� viết những điều kh�ng được nh� cầm quyền chấp nhận. Nếu bảo rằng ch�ng ta ra đi khi t�nh trạng rất tồi tệ; nay ch�ng ta trở về v� t�nh trạng trở n�n tốt đẹp hơn, v� nh� cầm quyền chẳng những chấp thuận m� c�n khuyến kh�ch; thế th� tại sao rất nhiều văn nghệ sĩ trong nước vẫn c�n bị t� đ�y v� kh�c � thức ch�nh trị với giới cầm quyền? Sự trở về của nh� văn lưu vong mang � nghĩa đồng t�nh với, nếu kh�ng n�i l� ủng hộ ch�nh s�ch của nh� cầm quyền. Văn nghệ sĩ cố gắng trong tuyệt vọng để rời khỏi đất nước, c� phải v� tiếng n�i của họ bị b�p nghẹt? Tại sao nh� văn lưu vong được khuyến kh�ch mang t�c phẩm trở về trong khi rất nhiều văn nghệ sĩ trong nước đang muốn được trở th�nh người lưu vong? Nếu t�nh h�nh ch�nh trị trong nước đ� trở n�n tốt đẹp hơn sao vẫn c� người kh�ng chấp nhận được t�nh trạng sống v� viết hiện nay? C� thật văn nghệ sĩ muốn trở về v� y�u thương qu� nh�, t�m về cội rễ, hay chỉ v� lợi �ch c� nh�n của người viết?

C� lẽ rất thầm k�n, nguyện vọng to lớn nhất của nh� văn l� c� người đọc v� c� chỗ đứng quan trọng nhất trong văn học của nước nh�. Khi bị t�ch ra khỏi quốc gia, nh� văn bị mất nhiều hơn một người b�nh thường. B�n cạnh mất gốc rễ, t�i sản, bản sắc, khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ, c�n một c�i mất lớn lao v� c�ng l� người đọc. Với nh� văn Việt Nam sống ở hải ngoại, số người Việt sống rải r�c khắp nơi, n�n việc xuất bản s�ch tiếng Việt v� c� độc giả Việt l� một chuyện kh� khăn. Nh� văn, nếu phương tiện sinh sống l� tiền b�n s�ch, kh�ng c� người đọc đồng nghĩa với hao m�n sự sống. Một trong những l� do ch�nh đ�ng m� nh� văn Việt ở hải ngoại muốn trở về cố qu�n l� t�m số đ�ng độc giả.

Quan điểm về sự trở về qu� nh� của văn nghệ sĩ lưu vong mỗi người mỗi kh�c. Một số t�c giả t�i đề cập b�n tr�n đ� g�p phần quan trọng v�o việc th�nh h�nh nền văn học miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975. G�p phần, họ chỉ l� đại biểu của một khuynh hướng, một nh�m, trong nền văn học miền Nam vốn rất rộng lớn v� đa dạng. Chỉ mới n�u l�n một số nh� văn m� độc giả đ� nh�n thấy ch�n người mười � n�y, thế th� ai c� thể đứng ra thay mặt tất cả văn nghệ sĩ để n�i l�n nguyện vọng, về hay kh�ng về, của họ? Ai c� thể đ�i hỏi sự trở về cho cả văn học miền Nam trước năm 75. Kh�ng ai cả. Văn nghệ sĩ n�i chung chưa hề b�nh chọn ai l� người l�nh đạo để b�y tỏ nguyện ước, đ�i hỏi, hay than thở thay cho họ. Nh� văn, nhất l� nh� văn, hay tự v�c l�n vai c�i nghĩa cử cao đẹp l� n�i d�m cho những người kh�ng thể n�i. Tuy nhi�n, xin đừng qu�n rằng một trong những l� do người ta trở th�nh nh� văn l� v� người ta muốn được c� tiếng n�i v� được nghe ch�nh tiếng n�i của m�nh. Khi n�i gi�m thi�n hạ, ch�ng ta n�n tự hỏi, liệu những người, ch�ng ta muốn n�i gi�m, c� chấp nhận c�i th�ng điệp của ch�ng ta, v� c� đồng � với người n�i gi�m hay kh�ng.

Trở về hay kh�ng đ� l� sự chọn lựa, dựa tr�n nhu cầu v� lợi �ch của c� nh�n. Nh� văn, nhất l� nh� văn c� nhiều độc giả, thường bị nh� cầm quyền lo ngại, sẽ thuyết phục v� hiệu triệu người d�n chống đối ch�nh quyền. Thu phục được một văn nghệ sĩ nổi tiếng l� thu phục được c�i đ�m đ�ng đồng t�nh với văn nghệ sĩ n�y để phục vụ cho bất cứ mục ti�u ch�nh trị n�o đ�, nếu c�.� Sự ra đi hay trở về của nh� văn chỉ c� gi� trị đối với nh� cầm quyền khi nh� văn đ� th�nh danh v� c� một số lượng độc giả đ�ng kể.

Trở về, cộng t�c với nh� cầm quyền c� thể mang lợi �ch lớn cho người viết. Được viết bằng ng�n ngữ mẹ, b�n cạnh việc c� số lượng người đọc đ�ng đảo, người viết c�n c� hy vọng đạt đến những giải thưởng cao qu�, như giải Nobel. Mặc Ng�n phục vụ cho đảng Cộng sản Trung quốc được giải Nobel văn chương. Lưu Hiểu Ba l�n tiếng chống đối phải đi t� d� được giải Nobel h�a b�nh. Ha Jin cho rằng Joseph Conrad, người Ba Lan, viết tiếng Anh nhưng lu�n tự nhận m�nh l� người Ba Lan, mất giải Nobel v�o tay Wladyslaw Reymont, một nh� văn Ba Lan kh�c k�m t�i v� �t được biết tiếng hơn, chỉ v� Conrad kh�ng đại diện cho quốc gia n�o�(Jin, Writer As Migrant, 2008, p. 34). Tuy nhi�n khi trở về, người viết phải chấp nhận c� thể rơi v�o trường hợp giống như nh� văn V� Phiến, đ� cho ph�p những đứa con tinh thần bị chặt ch�n.

Ng�y nay với t�nh c�ch to�n cầu của internet, nếu chỉ để được c� người đọc, v� thu nhập t�i ch�nh kh�ng phải l� vấn đề sống chết, người viết kh�ng nhất thiết phải trở về Việt Nam tr�n cả hai phương diện thể chất v� t�c phẩm. Bởi v�, s�ch c� thể được xuất bản theo dạng điện tử tr�n mạng, v� c� s�ch in kh�ng c� nghĩa l� c� người đọc. V� c� người đọc kh�ng chắc đ� được người th�ng cảm hay chấp nhận quan điểm của m�nh. N�i cho c�ng, số phận của người viết lu�n lu�n l� số phận bất hạnh. C�i bất hạnh của nh� văn thời hiện đại l� nhiều người viết nhưng �t người chịu đọc. Người chịu đọc th� kh�ng chịu mua s�ch v� c� thể �đọc cọp� tr�n internet.

T�i vẫn nghe một v�i nh� văn tiền bối than thở rằng văn học miền Nam bị bức tử. T�i kh�ng nghĩ thế. Những quyển s�ch kinh điển c� thể đ�ng bụi tr�n kệ, ai cũng nghe n�i nhưng kh�ng ai đọc. S�ch m� kh�ng c� người đọc th� chỉ l� giấy. Truyện của Faulkner v� Mark Twain c� thời cũng bị cấm đo�n, kiểm so�t đục bỏ. Lịch sử thế giới đ� c� biết bao nhi�u cuộc phần thư nhưng những quyển s�ch đ�ng nhớ đ�ng giữ vẫn tồn tại. Cho rằng Văn học miền Nam bị bức tử l� kh�ng đặt đ�ng mức sức thuyết phục ngầm của văn học. T�i cho rằng văn học miền Nam sau năm 1975 như một c�nh rừng bị đốt ch�y. Hạt giống của c�y đ� rơi theo gi� ch�m dưới mặt đất v� gặp l�c thuận tiện lại mọc th�nh c�y. Ngay cả rừng gi� l�u năm cũng cần bị ch�y để c� thể duy tr� luật tiến h�a của c�y. Kh�ng cần chờ lời k�u gọi giữ lại chứ đừng trả lại, đ� từ l�u, thỉnh thoảng ch�ng ta lại thấy một t�c phẩm văn học của miền Nam được chuyển thể th�nh phim. Tủ s�ch Talawas l� chủ trương của một nh� văn ra đời v� lớn l�n trong chủ nghĩa Cộng Sản. Thế hệ sau đ� kh�i phục nhiều t�c phẩm văn học của miền Nam trước khi c� người ch�nh thức k�u gọi kh�i phục t�c phẩm của văn học miền Nam. Đ�i hỏi kh�i phục to�n thể văn học miền Nam l� một đ�i hỏi h�o hiệp nhưng c� vẻ như đ�i chơi cho vui kh�ng thiết thực. Ai l�m? V� tiền đ�u? Kh�i phục kiểu n�o? C� lợi cho ai? Về với h�nh thức n�o? Bằng khua chi�ng giống trống hay k�o d�i th�n cắt ch�n cho đ�ng khu�n mẫu người ta đưa ra. Người muốn về nghe tiếng gọi thơ mộng�Về đ�y nghe em, về đ�y, mặc �o the đi guốc mộc.�[30] Người kh�ng muốn về nghe �m vọng trong đầu �B� th�n về với triều đ�nh. H�ng thần lơ l�o phận m�nh ra sao?�[31]

Bản chất của cuộc đời l� biến chuyển kh�ng ngừng. Bản chất của nh� văn l� phụ bạc. Người đọc t�c phẩm thế hệ trước bắt buộc phải thay đổi, biến h�a, thậm ch� qu�n đi những điều m�nh đ� đọc để t�c phẩm của m�nh c� sự mới lạ. Nh� văn cũng như ca sĩ, bị đ�o thải nhanh ch�ng, thay thế bằng giọng h�t mới v� nhan sắc mới. Thế cuộc c� l�c thay đổi, người kh�ng muốn về b�y giờ c� thể sẽ đổi �. Nh� văn ch�ng ta bản t�nh vốn ương bướng kỳ lạ. Gần chết bỗng nhớ con đường l�ng, kh�m tr�c bờ ao, tiếng g� khan g�y vang b�n đồi, rồi chồm chồm đ�i về qu� để chết. Đ� l� tự do của c� nh�n.

D� t�i rất t�n trọng hai mươi năm văn học miền Nam, t�i cho rằng sự thiệt hại mất m�t đ� xảy ra, kh�ng ngăn cản sự s�ng t�c của thế hệ sau. Nh� văn c� thể r�t kinh nghiệm của cuộc sống m� biến th�nh t�c phẩm. Dẫu sao đ� đến l�c ch�ng ta n�n quan t�m đến một chủ đề kh�c. Nếu kh�ng th� 60 hay 80 hay 100 năm sau ch�ng ta vẫn cứ tưởng nhớ đến hai mươi năm văn học miền Nam. Ch�ng ta kh�ng thể m�i m�i mang t�m trạng của một đứa b� bị thương, ngồi săm soi vết đau, tr�ng đợi một lời an ủi để sụt s�i rơi nước mắt. H�y tự hỏi nhau rằng, đ� bốn mươi năm, gấp hai lần chiều d�i của hai mươi năm văn học miền Nam, với tự do s�ng t�c v� t�i nguy�n phong ph� ở nước ngo�i, ch�ng ta đang c� g� v� sẽ c� g�?

 

[1] Nguyễn Đức Sơn, người viết ghi lại theo tr� nhớ.

[2] T�i kh�ng chắc th�n thế của nh� văn Nguyễn thị Thảo An, rất c� thể nh� văn đi theo diện di d�n nhưng xin gh�p Thảo An v�o nh�m tị nạn cho tiện.

[3] Nh�m nh� văn n�y d�ng ng�n ngữ của xứ sở họ đang sinh sống. N�i chung họ l� người gốc Việt, đ�i khi mang t�m trạng của nh� văn v� xứ theo định nghĩa của nh� văn Đo�n Trung Đạo, b�i đăng tr�n mạng Gi� O.

[4] Jin, Ha, The Writer as Migrant, 2008, Chicago, The University of Chicago Press, p. 63. �Many exiles, emigrants, expatriates, and even some immigrants are possesed with the desire to someday return to their native lands. The nostalgia often deprives them of a sense of direction and prevents them from putting down roots anywhere.�

[5] Jin, Ha, Writer As Migrant, 2008, Chicago, The University of  Chicago Press, p. 65 �Conventionally, a person�s homeland is his country of origin, to which he longs to return no matter where he goes [�]�

[6] http://en.wikipedia.org/wiki/Torna_a_Surriento.

[7] Bản nhạc tựa đề Scarborough Fair d�n ca phi�n bản của Simon and Garfunkel.

[8] Milan Kundera, Wikipedia.

[9] Mai Thảo (Chuyến T�u Tr�n S�ng Hồng, Mưa N�i), Thanh T�m Tuyền (Bếp Lửa, Dọc Đường), Vũ Khắc Khoan (Mơ Hương Cảng, Thần Th�p R�a) Tất cả c�c t�c phẩm n�i tr�n đều ở Tủ s�ch Talawas. Mặc Đỗ (Trưa Tr�n Đảo San H�, Gi� O)

[10] Mai Thảo, Những V� Sao Thứ Nhất. Tuyển tập Chuyến T�u Tr�n S�ng Hồng.

[11] Mai Thảo, Mưa N�i.

[12] Nguyễn Xu�n Ho�ng, Căn Nh� Sau Lưng Tiệm Song Long, Tạp ch� Văn 123&124, Th�ng Ba&Tư, 2007, p. 6

[13] Thanh T�m Tuyền, Bếp Lửa.

[14] Thanh T�m Tuyền, . Tuyển tập Dọc Đường.

[15] Vũ Khắc Khoan, Nhập Thi�n Thai, Tuyển tập Thần Th�p R�a.

[16] Vũ Khắc Khoan, Trương Chi, Tuyển tập Thần Th�p R�a.

[17] Như tr�n (note 16).

[18] Mặc Đỗ, Một Ng�y Như Thường Ng�y, Gi� O. http://www.gio-o.com/Chung/MacDoSanHo2MotNgay.html

[19] http://www.gio-o.com/Chung/NguyenThiHaiHaVoPhien.htm

[20] Procrustes, huyền thoại Hy Lạp, l� một người thợ r�n cấu kết với đảng cướp. Hễ kh�ch đi ngang v�ng hắn ta ở phải trọ trong kh�ch sạn của hắn v� băng đảng lập ra. Để h�nh hạ du kh�ch, hắn bắt người ta phải nằm cho vừa c�i giường sắt do hắn chế tạo. Hễ người kh�ch cao ch�n d�i qu� hắn sẽ chặt ch�n, nếu thấp hắn cho k�o căng người kh�ch cho d�i ra. Kh�ng ai c� thể nằm vừa c�i giường của Procrustes v� hắn b� mật l�m ra hai c�i giường c� k�ch thước kh�c nhau.

[21] Đinh Linh, phần giới thiệu Tiếng N�i của Linda L�. Văn, 2003, trang 8.

[22] �I left Vietnam as a child when communist tanks rolled into Saigon and ignominiously ended the Vietnam War for Americans. That was on April 28, 1975. My family fled, among the first wave of refugees. I was 11 years old. I grew up and became an American citizen and a writer and journalist. But I never forgotten Vietnam, and have returned many times to witness my native land emerge from behind the bamboo curtain.� Andrew Lam, The Glow of Vietnam, National Geographic Traveler, Vol. 32, No. 2, April 2015, p. 65, http://travel.nationalgeographic.com/travel/countries/traveler-vietnam-photos/

[23] Văn H�a Tr� Trệ Nh�n Từ H� Nội Đầu Thế Kỷ 21, http://www.gio-o.com/SachGioOVHTT.html

[24] L� thị Huệ, Tiếng Dỗi Hờn của Th�n X�c, p. 15

[25] id. p. 71

[26] Nguyễn thị Thảo An, Lửa Bạc, Da M�u.

[27] Nguyễn thị Thảo An, Lửa Bạc, Da M�u

[28] Nguyễn thị Thảo An, Lửa Bạc, Da M�u

[29] �only through literature is a genuine return possible for the exile writer. [�]In truth, other than slaking the writer�s nostalgia, the writer�s physical return to his native land has little meaning.�

[30] Nhạc Trần Quang Lộc, thơ của A Khu�.

[31] Nguyễn Du, Kiều

 

Nguyễn thị Hải H�

Th�ng Ba năm 2015

 

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa.html

.

� gio-o.com 2015