Roxanna Brown

Chiang Mai University

 

 

CÁC L̉ GỐM TẠI G̉ SÀNH

hay

ĐỒ GỐM CHÀM

 

 

Ngô Bắc dịch

 

(kỳ 2)

 

      (đọc nguyên bài tại đây)

       Giống như tiếng Thái, “Tao-Hai” (sát nghĩa, “các ḷ nung các chiếc b́nh (lọ)”) đă dẫn tới sự khám phá ra hai địa điểm ḷ nung trước đây ở miền bắc Thái Lan sau một cuộc khảo sát môi trường của các ngôi làng mang tên đó, “G̣ Sành”, có thể được phiên dịch là “các g̣ đồ sành”, như tên gọi của một ngôi làng tại miền trung Việt Nam, đă dẫn đến sự khám phá một địa điểm ḷ nung khả hữu ở đó.  Ngôi làng tọa lạc độ 10 cây số tây bắc dọc theo con đường dẫn tới Pleiku, thuộc vùng cao nguyên trung phần Việt Nam, đi từ Qui Nhơn, một thành phố duyên hải thuộc tỉnh B́nh Định.  Được khiuyến khích trong cuộc t́m kiếm của họ bởi một nhà sưu tầm dồ cổ ở Sàig̣n, các cư dân của ngôi làng trong những tháng đầu tiên của năm 1974 đă t́m thấy bằng chứng về một địa điểm ḷ nung trước đây: các bộ phận chống đỡ trong ḷ nung, các sạp nung, rất nhiều mảnh gốm bị bể vỡ, và các phế phẩm của ḷ nung (xem H́nh 25).  Các giới chức trách của Bảo Tàng Viện Quốc Gia Sàig̣n có hay biết về các sự khám phá, nhưng v́ thiếu tài chính và phương tiên di chuyển, họ đă không thể đi thăm viếng địa điểm. 1

H́nh 25: Một sạp và hai ṿng chống đỡ chồng đồ nung h́nh ṿng tṛn từ G̣ Sành

      Bởi vị trí của chúng, điều được suy tưởng rằng các ḷ nung thuộc xứ Chàm, một vương quốc mà theo các tài liệu Trung Hoa, được thành lập vào năm 192 Sau Công Nguyên (SCN) tại vùng Huế.  Nó chiếm cứ duyên hải miền trung Việt Nam từ phía nam Thanh Hóa cho đến các ranh giới phía bắc của vùng Châu Thổ sông Mekong của Khmer, và nó đă thụ hưởng vị thế của một hải cảng dừng chân trên hải lộ mậu dịch Trung Đông – Trung Hoa muộn nhất từ thế kỷ thứ tám (xem Ferrand, 1913-14).  Người dân của nó được tiếng là các người có tài đi biển và là hải tặc thường đánh cướp các làng ven biển Việt Nam ở phía bắc của họ.  Nhưng dưới các cuộc tấn công nhiều lần của láng giềng phương bắc của họ, các vua xứ Chàm đă chứng kiến sự thoái lui biên giới của họ và trong năm 1000 SCN đă bị buộc phải dời kinh đô của họ từ Indrapura tại tỉnh Quang Nam, ngay phía nam của Đà Nẵng, xuống Vijaya (tỉnh B́nh Định), sâu hơn nữa về phía nam, bỏ rơi các khu định cư ở vùng cực bắc của họ, bất kể một sự chiếm đóng ngắn ngủi của Việt Nam trong năm 1446, cho đến khi có sự loại bỏ vĩnh viễn vương quốc bởi Việt Nam trong năm 1471, thời điểm được tường thuật rằng 60,000 người Chàm bị chết và hoàng gia, cùng với 30,000 tù nhân, bị mang đi giam giữ. 2 Về mặt thể loại, đồ gốm của G̣ Sành không vượt quá sự sụp đổ chung cuộc của vương quốc Chàm.

       Bởi v́ địa điểm đă không được khảo sát một cách thích đáng, vẫn chưa có thể đưa ra bất kỳ sự ước lượng nào về số ḷ hay họa đồ xây dựng của chúng.  Bởi các mảnh gốm vỡ và các phế phẩm thu hồi được tương tự với một loại thông thường của các món đồ được t́m thấy ở hải ngoại, đặc biệt tại Phi Luật Tân gần cận, nó hẳn đă phải là một địa điểm có một số tầm vóc quan trọng.  Cho đến nay các món đồ đại diện bởi các mảnh vỡ thu lượm được tại địa điểm tương hợp với ba loại: các đĩa [saucers, để dưới cốc, tách hay dưới chậu hoa, ND] tráng men hơi xanh rêu hay hơi lam xám với các ṿng tṛn chồng lên nhau không được tráng men trên mặt trong đáy đĩa; các đĩa màu ngọc bích (celadon); và các b́nh (lọ) tráng men nâu thuộc nhiều loại.  Không có bằng chứng cho đến nay về các món đồ trang trí dưới lớp men – tất cả đều đơn sắc và phần trang trí hiếm thấy.  Chỉ có các vại (b́nh: jars) đựng đồ lớn tráng men nâu đôi khi có chạm khắc hay có các họa tiết chủ đề được đắp nổi.  Có hai loại đất sét: thứ nhất, điển h́nh cho một số các mảnh gốm vỡ tráng men hơi xám hay xanh rêu hơi lam và màu ngọc bích, có màu hơi xám; thứ nh́, được nhận thấy chính yếu nơi các mảnh gốm tráng men nâu, thường có màu cam đến màu nâu hơi đỏ và có trọng lượng nhẹ một cách đáng ngạc nhiên.  Tất cả các mảnh vỡ đều là đồ sành.

 

H́nh 26: Một phần của một chiếc bát lớn màu ngọc bích và chồng phế phẩm của các đĩa nhỏ tráng men hơi xám từ G̣ Sành

       Các mảnh vỡ và phế phẩm phong phú nhất thu lượm từ địa điểm đại diện cho các đĩa nhỏ tráng men hơi xám (H́nh 26).  Các đĩa này có thân đĩa màu hơi xám và đôi khi màu nâu hơi đỏ hay màu cam, có ṿng chân đế được khoét và cắt xiên góc, và các ṿng tṛn chồng lên trên không được tráng mem mặt trong đáy đĩa.  Men tráng lượn sóng, trông giống như đám mây, hơi trong mờ, và biến đổi đáng kể về sắc màu từ hơi xanh rêu đến xám hơi lam; lớp men thường dừng lại không đều nhau ở bên ngoài khoảng hai phần ba hướng chảy xuống tính từ vành miệng đĩa.  Các chồng phế phẩm của các đĩa cho thấy chúng được xếp chồng lên nhau theo cùng cách thức như một số món đồ miền bắc Việt Nam đă được thảo luận nơi Chương 1 [Đồ Gốm Việt Nam. đă dịch và đăng tải, ND].  Trung tâm được tráng men của các chiếc đĩa, bên trong ṿng tṛn không được tráng men, thường có sắc độ xanh rêu đậm hơn hay đậm hơn phần c̣n lại của chiếc đĩa – một sự phản ảnh không khí ḷ nung hơi khác biệt trên phần được bảo vệ đó của chiếc đĩa.  Các đĩa như thế này được t́m thấy ở nước ngoài, ở cả Phi Luật Tân lẫn Nam Dương, nơi chúng thường được xác định là đồ gốm Việt Nam và được chỉ định thuộc cuối thế kỷ mười ba, thế kỷ mười bốn, và thế kỷ mười lăm, và gần hơn, có lẽ trên một chiếc tàu bị đắm chở đồ gốm tại Vịnh Thái Lan cùng với đồ gốm vùng Sawankhalok và Sukkhothai từ các ḷ gốm Thái Lan. 3 Không có các h́nh dáng khác thuộc lớp men này được đại diện bởi các mảnh gốm vỡ tại Sàig̣n.

       Cũng có các mảnh gốm vỡ từ các chiếc đĩa to hơn với men thủy tinh, trong mờ, màu ngọc bích, và các dấu cựa chân gà chung quanh mặt trong của đáy đĩa, nhưng không đủ để đưa ra bất kỳ sự xác định chắc chắn nào về các món đồ nước ngoài.

       Các mảnh gốm vỡ màu nâu đơn sắc là sự khám phá gây hứng thú nhất, bởi chúng phù hợp với một loại đă được hay biết và thường được xác định là đồ gốm Việt Nam. 4 Phần lớn những mảnh gốm vỡ này có thân gốm màu hơi đỏ, gần giống như màu vàng bí ngô, cả ở mặt ngoài lên ở mặt cắt ngang (thiết diện: cross section).  Khác với màu nâu của đồ gốm miền bắc Việt Nam thường có sắc độ chocolat đậm, lớp men trên mảnh gốm G̣ Sành thường có màu nâu hơi vàng hay vàng kim loại nhạt.  Hơn nữa, lớp men trên các món đồ gốm Việt Nam bao phủ một cách kỹ lưỡng toàn thể mặt ngoài, kể cả mặt ngoài của các ṿng chân đế của món đồ, trong khi lớp men trên vật liệu G̣ Sành ndừng lại ở một nơi nào đó bên trên phần đáy.  Bởi v́ các mảnh gốm vỡ màu ngọc bích tại Sàig̣n quá ít về số lượng, sẽ khó khăn để xác định các đặc tính của chúng, ngoại trừ việc nói rằng men ngọc bích có màu rêu vừa phải, dễ bị rạn, trong mờ, thủy tinh, một loại men ngọc bích cũng đặc trưng cho các món đồ vùng Sawankhalok tại Thái Lan.

       Các đồ tráng men nâu thu hồi đến nay đại diện cho một loạt các h́nh dạng rộng răi nhất, mặc dù các mảnh gốm vỡ như thế được nói là có số lượng ít nhất tại địa điểm.  Các chiếc vại (b́nh) lớn đựng rượu hay chạm khắc, đắp h́nh con rồng (dragon jars) có thể đă được sản xuất nguyên thủy cho sự sử dụng của các bộ tộc miền núi của rặng Trường Sơn Việt Nam, là các kẻ vẫn ưa thích như thế, các loại b́nh, các vại nhỏ, b́nh vôi kiểu Việt Nam 5, tách (cốc), các chai (lọ) h́nh quả lê, các chậu đáy bằng với các vành miệng tṛn dầy được uốn nếp trông khá giống như một vỏ bánh nướng, và các b́nh đựng nước nhỏ (Bảng màu Colour Pt. XV và Các Bảng đen trắng 22 và 23).  Các đặc tính tổng quát bao gồm một lớp men nâu-vàng kim loại chảy xuống, thường bị phá hỏng bởi các bọt không khí, và hiếm khi vươn tới đáy của chiếc b́nh, có vành miệng uốn tṛn, và các đáy phẳng hay được cắt khoét nông không bao giờ được tráng men.  Các vại đựng rượu lớn đôi khi được trang trí với các chủ đề cuộn tṛn mờ nhạt được chạm khắc xuyên qua lớp men tráng chứ không ở bên dưới men, hay các h́nh con rồng được đắp nổi có cổ rồng đôi khi tạo thành các quai cầm ở cổ chiếc vại.  Trên các vại khác, có các tay cầm giống như cầu vai hay quai đắp nổi.  Tất cả đều có cổ vại dầy, hơi nghiêng về phía một vành miệng uốn tṛn.  Nhóm này cũng bao gồm các vại chẳng hạn như vại nơi Bảng 23d được trang trí bằng lớp men bóng màu đỏ đậm trên một thân vại không được tráng men.

       Ngoài các mảnh gốm vỡ và các phế phẩm, các sạp (saggars) và các bộ phận chống đỡ trong ḷ nung được khám phá rất nhiều tại G̣ Sành.  Các sạp được làm bằng một loại đất sét màu nâu hơi đỏ, có hạt đất thô, và có h́nh trụ (cylindrical).  Một sạp tại Sàig̣n đo được 25.0 cm chiều cao và 23.5 cm đường kính; một sạp khác có chiều cao bằng phân nửa.  Bởi các món đồ gốm G̣ Sành có đủ các đặc tính của các món đồ Việt Nam khiến nghĩ rằng chúng đă được khởi sự bởi các thợ gốm của Bắc Kỳ, giống như nhiều thợ thủ công của Trung Hoa, có thể đôi khi cũng nung các món đồ của họ trong các sạp chứa này.  Các bộ phận chống đỡ trong ḷ nung được thu hồi từ G̣ Sành được chế tạo bằng một cuộn đất sét duy nhất tạo thành một ṿng tṛn và có các chân nhỏ được kẹp hay đắp để lại các dấu cựa chân gà khá giống như các món đồ của nhiều đồ gốm vùng Sukhothai và Sawankhalok.

       Các dấu cựa chân gà đặc biệt phổ thông trên các món đồ Việt Nam có niên kỳ từ các thế kỷ mười ba và mười bốn, sau đó chúng trở nên hiếm thấy.  Đây cũng là các thế kỷ mà trong đó các ṿng tṛn chồng lên không được tráng men giống như các ṿng tṛn trên các đĩa nhỏ G̣ Sành, có xuất hiện trên các chiếc bát và đĩa Việt Nam đơn sắc.  Chính các điểm tương đồng này, cùng với h́nh dạng và các sự tương tư trong việc tạo h́nh đồ gốm, chẳng hạn như các dấu vết xoay tṛn trên đáy của các đĩa chạy theo hướng ngược kim đồng hồ, khiến có thể lập thuyết rằng nghệ thuật đồ gốm tráng men 6 đă được du nhập vào xứ Chàm từ Việt Nam hồi cuối thế kỷ mười ba và thế kỷ mười bốn, và đă có một biến cố lịch sử có thể rất liên quan đến niên kỳ này: vào năm 1307, một người em gái của hoàng đế Việt Nam trở thành vợ của quốc vương xứ Chàm (Nguyen, 1969, trang 14).  Một vại giống như lọ (b́nh) thon, miệng nhỏ (potiche-like), với mọi tính chất đến từ các ḷ gốm G̣ Sành, được khai quật tại Santa Ana ở Phi Luật Tân từ một ngôi mộ được ước lượng thuộc thế kỷ thứ mười ba hay đầu thế kỷ mười bốn. 7 Một thí dụ được công bố khác được t́m thấy tại Phi Luật Tân, và có thể đến từ G̣ Sành, là một vại đựng rượu hay đắp h́nh con rồng trong sưu tập của Locsin, theo sự tường thuật được t́m thấy tại Puerto Gatera, và được gán niên kỳ khoảng thế kỷ mười bốn đến mười lăm (Locsin, 1967, Bảng Pl. 110).  Trong thực tế, các vại này, được t́m thấy với số lượng lớn tại Phi Luật Tân, trong khi tại Indonesia chúng tương đối hiếm thấy.

       Cuối thế kỷ mười lăm có thể đă đánh dấu sự kết thúc của ngành sản xuất đồ gốm Chàm.  Bởi không có dấu hiệu của các món đồ trang trí bên dưới lớp men được t́m thấy ở G̣ Sành, điều đáng ngờ vực là liệu sự sản xuất của các ḷ nung có vượt quá cuộc chinh phục năm 1471 hay không.  Một khi xứ Chàm đă bị sáp nhập vào đế quốc Việt Nam, các món đồ trang trí dưới lớp men, đặc biệt đồ màu lam, khi đó phổ thông tại Bắc Kỳ và được xuất cảng ra nước ngoài, chắc chắn sẽ được du nhập vào các ḷ gốm Chàm nếu chúng vẫn c̣n tiếp tục hoạt động./-

 

___

CHÚ THÍCH

1.      Bởi người viết, không may nên không có thể đên thăm địa điểm, chương này được dựa trên sưu tập và thông tin của Hà Đức Cần [?], người đă đên thăm viếng địa điểm này, và trên một sưu tập nhỏ các mảnh vỡ và các phế phẩm tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Sàig̣n.  Kể từ 1975, người viết không thể hay biết bất kỳ điều nào thêm về địa điểm.

 

2.      Coedès (1968), trang 239.  Muốn biết thêm về lịch sử Vương Quốc Chàm, xem Maspero (1928), Coedès (1966 và 1968), và Hall (1968).

 

3.      Brown (1975).  Khoảng 1,000 đĩa tương tự như các đĩa t́m thấy ở G̣ Sành được t́m thấy trong một chiếc tàu bị ch́m đắm ngoài khơi bờ biển miền nam Thái Lan, nhưng bởi không có một sự so sánh bên nhau, sự xác định chắc chắn gặp khó khăn.  Có bằng chứng rằng các đĩa tương tự cũng được chế tác tại miền nam Trung Hoa.  Phán đoán theo cácniên đại khả hữu của đồ gốm Sawankhalok và Sukhothai, hai thứ đều cũng được t́m thấy trên chiếc tàu, con tàu có lẽ đă bị ch́m đắm vào cuối thế kỷ thứ mười bốn hay đầu thế kỷ thứ mười lăm.

 

4.      Chúng cũng được thiết lập danh mục bởi Willetts (1971), và được thử làm như thế bởi Lammers và Ridho (1974).  Một bộ món đồ khác được xác định bởi Willetts trong cùng tập danh mục là đồ gốm Việt Nam, nhưng có một số đặc điểm của gốm Chàm, là lớp men bóng (enamel) trên đồ đất nung không tráng men (biscuit).  Một thí dụ được tŕnh bày nơi đây (trên Bảng 23d) có lớp men màu nâu kim loại, vành miệng uốn tṛn, có tay cầm hai bên cầu vai, điển h́nh cho loại gốm G̣ Sành, kết hợp với men bóng màu đỏ cà chua trên đồ nung không tráng men.  Nghiên cứu kỹ hơn rất có thể chứng minh nó có nguồn gốc Chàm.

 

5.      B́nh đựng vôi th́ nhỏ và có h́nh trái xoan, chiều cao trung b́nh từ 9 đến 13 cm, có một chân đế và hoặc một tay cầm h́nh rồng chih [phiên âm tiếng Hán nhưng không có mặt chữ nên không rơ ư nghĩa, chú của người dịch] uốn lượn như một cành cây nhỏ hay con rồng biến thái trong huyên thoại.  Những h́nh dạng như thế thường được chỉ định thuộc các thế kỷ thứ mười ba và mười bốn.  See Huet (1941).

 

6.      Sự phát biểu này có nghĩa hạn chế đối với từ ngữ “glazed: có tráng men” bởi người Chàm đă trang trí các ngôi đên của họ bằng các đồ trang trí điêu khắc không tráng men, thường có màu vàng cam của đất sét được nung nhanh và các món đồ này, bởi vẫn chưa được ấn định niên đại một cách quả quyết, có thể sớm hơn đồ gốm tráng men.

 

7.      Chiếc vại, được tráng men màu nâu với vành miệng uốn tṛn và bốn tay cầm đắp nổi ở vai vại điển h́nh cho các món đồ đơn sắc của G̣ Sành, được phô bày trong sách của tác giả Locsin (1967, Bảng 93) cùng với phần c̣n lại của đồ được chứa đựng ở Ngôi Mộ Số 25; chiếc vại nằm ở bên trên, góc tay phải của bức ảnh chụp.  Vật mai táng bao gồm cả các đồ màu ngọc bích và các đồ đơn sắc Trung Hoa cùng với một đồng tiền Trung Hoa thế kỷ thứ mười một/- 

 

a.       Bát, nông, thân (xương) gốm màu cam nhạt, lớp men xanh rêu hơi xám chảy xuống dưới, và một vết sẹo từ chân đế của chiếc bát khác h́nh tṛn của bát chồng, không được tráng men trong ḷng bát.  Đường kính: 16.7cm. Sưu tập của Ha Duc Can [?].

b.      Vại, với thân màu cang hơi đỏ, phần trang trí được chạm khắc xuyên qua lớp men nâu lốm đốm chảy từ trên xuống. Chiều cao: 42 cm.  Sưu tập của Ha Duc Can [?]

c.       Vại, với thân màu cam hơi đỏ, phần trang trí được chạm khắc xuyên qua lớp men màu nâu  ánh vàng kim loai.  Chiều cao: 24.5 cm.  Sưu tâp của Ha Duc Can [?]

d.      Chậu, với đáy bằng, thân màu cam da con trâu, bên ngoài phần lớn không tráng men, và có lớp men màu nâu-olive nhạt chảy xuôi xuống.  Đường kính: 41 cm, cao: 23 cm.  Sưu tập của Ha Duc Can [?]

 

a.       B́nh đựng nước uống, h́nh quả lê với một quai cầm h́nh con rồng chih [kư âm chữ Hán trong nguyên bản, không rơ nghĩa, ND], đáy phẳng, hơi lơm, thân màu cam hơi nâu, và men tráng nâu nhạt, mỏng, rạn nứt.  Chiều cao: 11.9 cm.  Từ Quy Nhơn.  Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.  Sưu tập Ha Duc Can [?].

 

b.      Cốc (tách), với chân phẳng, thân màu cam hơi xám; và một lớp men nâu caramel nhạt, [caramel: màu nâu của đường đem thắng, ND], mỏng chảy xuôi xuống dưới,  có vân rạn, với các lỗ đinh ghim (kim châm).  Chiều cao: 8 cm.  Từ Quy Nhơn.  Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.  Sưu tập Ha Duc Can [?].

 

c.       Vại, với năm con rồng có vẩy, dài, với cổ tạo thành tay cầm, phần trang trí chạm khắc những đợt sóng nằm dưới lớp men, thân hơi đỏ, và với một lớp men màu nâu ánh vàng kim loại mỏng, chảy từ trên xuống dưới, lốm đốm các lỗ đinh ghim. Chiều cao: 42 cm.  Từ các bộ tộc miền núi, tỉnh B́nh Định.  Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.  Sưu tập Ha Duc Can [?].

 

 

a, b. Bát, với thân nhẹ màu cam hơi đỏ, ṿng chân đế được cắt xén và đặt xiên góc, ṿng xếp chồng bát không được tráng men trong ḷng bát, và lớp men màu nâu lốm đốm.  Đường kính: 15.3 cm.  Từ Quy Nhơn.  Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.  Sưu tập Ha Duc Can [?].

 

c.B́nh, vại, với ṿng chân đế được cắt xén, thân màu cam hơi đỏ, và lớp men nâu nhạt pha6`n nào bị mờ nhạt.  Chiều cao: 7 cm. Từ Quy Nhơn.  Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.  Sưu tập Ha Duc Can [?].

d.Vại (b́nh), với lớp men nâu ánh vàng kim loại ở pha6`n trên, và họa tiết trang trí bằng men bóng màu đỏ cà chua trên phần c̣n lại của thân b́nh không được tráng men, bị khiếm khuyết bởi một vài vết bỏng giộp gây ra bởi các bọt không khí thoát ra, đáy vại ráp nhám, không tráng men, và hơi lơm.  Muốn có một chiếc b́nh tương tự được xác định là đồ An Nam, xem Van Orsoy de Flines, 1949, Pl. 74.  Chiều cao: 33 cm, Sưu tập SinclairCollection, Museum Seni Asia, Universiti Malaya.

***

THƯ TỊCH

 

Người dịch chỉ ghi lại các tài liệu được trưng dẫn trực tiếp trong hai bài viết bên trên, từ một thư tịch khá dài trong nguyên bản.

 

Adhyatman, Sumarah, Antique Ceramics Found in Indonesia: Various Uses and Origins, Jakarta, Himpunan Keramik Indonesia (The Ceramic Society of Indonesia), 1981.

Beyer, H. Otley, “Southeast Asia Ceramic Wares”, Quezon City, University of the Philippines, 1960 (unpublished manuscript).

Chan Cheung, “The Smuggling Trade between China and Southeast Asia during the Ming dynasty”, trong sách biên tập bởi F. S. Drake, Symposium on Historical, Archaeological and Linguistic Studies on Southern China, South-East Asia and the Hong Kong Region, Hong Kong University Press, 1967, các trang 223-7.

Chang T’ien-Tse, Sino-Portuguese Trade from 1514 to 1644, Leyden, 1969.

D’Argencé, Lefebvre, Les Céramiques à Base Chocolatée, Paris: École Francaise D’Extrême-Orient, 1958.

Deveria, G., Histoire des Relations de la Chine avec L’Annam Vietnam du XVIe au XIXe Siècles, Paris, Librairie de la Société Asiatique de L’École Langues Orientales Vivantes, 1880.

Dumoutier, Jacques, “Lettre au Directeur de L’École Francaise D’Extrême-Orient”, BEFEO (Bulletindu l’École Francaise d’Extrême-Orient), Vol. 3, No. 2, 1903, các trang 365-7.

Ferrand, Gabriel, Relations de Voyages et Textes Geographiques Arabes, Persans et Turks Relatifs à L’Extrême-Orient du VIIIe au XVIIIe Siècles, Paris, Ernest Leroux, 1913-14.

Garner, Sir Harry, Oriental Blue and White, London, Faber & Faber, 1954.

_____, “The Use of Imported and Native Cobalt in Chinese Blue and White”, Oriental Arts, Vol. 2, No. 2, Summer 1956, pp. 48-50.

Gerini, G. E., Researches on Prolemy’s Geography of Eastern Asia, London, Royal Asiatic Society, 1909.

Gillert, Velma, “Collecting Ceramics in Indonesia”, Arts of Asia, March-April 1978, pp. 85-93.

Goloubew, Victor, “La Province de Thanh Hoa et sa Céramique”, Revue des Arts Asiatiques, Vol. 7, 1931-2, các trang 112-16.

Guy, John, Oriental Trade Ceramics in South-East Asia, Ninth to Sixteenth Centuries, Singapore, Oxford University Press, 1986.

_____, “Vietnamese Ceramics and Culotural Identity: Evidence from the Lư and Trần Dynasties”, trong sách biên tập bởi D. G. Marr và A. D. Milner, Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, Singapore, Institute of Southeast Asian Studies, 1986, các trang 255-69.

Hirth, F., China and the Roman Orient, Leipsic & Munich, Georg Hirth, 1885.

Hobson, R.L., “Chinese Porcelain at Constantinople”, TOCS (Transactions of the Oriental Ceramic Society), No. 11, 1933-4, các trang 9-14.

Huet, Clement, “Les Pots à Chaux; Les Pipes à Eau”, BMRAH (Bulletin de l’Musées Royaux d’Art et d’Histoire), No. 4, July-August 1941, các trang 74-84.

_____, “Les Terres Cuites de Thổ Hà; Les Brule-Parfums de Bát Tràng”, BMRAH, No. 1, January-February 1942, pp. 2-9.

_____, “Les Terres Cuites Architecturales de Đại La”, BMRAH, No. 3, May-June 1942, pp. 50-61.

Janse, Olov R.T., Archaeological Research in Indochina, 3 vols., Cambridge, Mass: Harvard University press, Vol. 1: 1947 and Vol. 2, 1951; Bruges, St. Catherine Press, Vol. 3, 1958.

_____, “Rapport Préliminaire D’Une Mission Archéologique en Indo-chine”, Revue des Arts Asiatique, Vol. 9, No. 3, 1935, pp. 144-53; Vol. 4, No. 4, 1935, pp. 209-17; Vol. 10, No. 1, 1936, pp. 42-8.

Jenyns, Soame, Ming Pottery and Porcelain, London, Faber & Faber, 1935.

Joseph, Adrian M., Chinese and Annamese Ceramics Found in the Philippines and Indonesia, London, Hugh Moss Ltd., 1973.

Koyama Fujio và Figgess, John, Two Thousand Years of Oriental Ceramics, London, Thames & Hudson, 1961.

Laufer, Berthold, Chinese Pottery of the Han Dynasty, London, E. J. Brill, 1909.

Lê Thành Khôi, Le Việt Nam: Histoire et Civilization, Paris, Les Éditions de Minuit, 1955.

Locsin, Leandro và Locsin, Cecilla, Oriental Ceramics Discovered in the Philippines, Rutland, Vermont & Tokyo, Charles E. Tuttle Co., 1967.

Madrolle, Guide Madrolle: Indochine du Nord, Paris, Librairie Hachette, 1925.

Maspero, G., Le Royaume de Champa, Paris, 1928.

Melikian, Souren, “Asia’s Hidden Glories”, International Herald Tribune, 26-27, September 1987, Arts/Leisure page.

Mills, J. V, G., The Overall Survey of the Ocean’s Shores, Cambridge, Cambridge University Press, 1970.

Nguyễn Ngọc Linh (chủ biên), An Introduction to Vietnam, Sàig̣n The Vietnam Council of Foreign Relations, 1969.

Okuda Seiichi, Annam Toji Zukan (Annamese Ceramics), Tokyo, Zauho Press, 1954.  (The Oriental Ceramic Society of Hong Kong, South-East Asian and Chinese Trade Pottery, Hong Kong, The Oriental Ceramic Socirty of Hong Kong, 1979.

Patkó, Imre và Rév, Miklos, L’Art du Việt Nam, Paris, Éditions Aimery Somogy, 1967.

Pires, Tome, The Suma Oriental of Tome Pires, 2 quyển, phiên dịch bởi A. Cortesăo, London, Hakluyt Society, 1944, in lại năm 1980.

Pope, John Alexander, Fourteenth Century Blue and White, Washington, DC, Smithsonian Institution, 1952; rev. edn (ấn bản đă tu chỉnh), 1970.

_____, Chinese Porcelains from the Ardebil Shrine, Washington, DC, Smithsonian Institution, 1956; reprinted, Sotheby Parke Bernet, 1981.

Ridho, Abu, “Notes on the Wall Tiles of the Mosque at Demak”, in Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, Singapore, 1982, pp. 36-7.

Schafer, Edward H., The Vermilion Bird, Berkeley & Los Angeles, University of California Press, 1967.

Vlekke, Barnard H. M., Nusantara: A History of Indonesia, The Hague, W. Van Hoeve, 1965, ấn bản lần thứ nhất, 1943.

Volker, T., Porcelain and the Dutch East India Company, Leiden, E. J. Brill, 1954; reprinted 1971.

Vương Hồng Sển, “Les Bleus de Huế à décor Mai Hạc”, BSEI (Bulletin de la Société des Études Indochinois), Vol. 19, No. 1, 1944, các trang 57-70.

Willetts, William, Ceramic Art of Southeast Asia, Singapore, Southeast Asian Ceramic Society, 1971.

_____

Nguồn: Roxanna M. Brown, The Ceramics of South-East Asia, Their Dating and Identification, 2nd Edition, Art Media Resources, Ltd.: Chicago, Il, 2000.  Các phần trích dịch gồm:

Chapter 1: Vietnamese Ceramics, các trang 13-32; Chapter 2: The Go-Sanh Kilns, các trang 36-39; Bản In Màu Đồ Gốm Việt Nam, Plate I – Plate XIV; Bản In Màu Đồ Gốm Chàm, Plate XV; Bản In Đen Trắng Đồ Gốm Việt Nam, Plate 1 – Plate 21; Bản In Đen Trắng Đồ Gốm Chàm, Các Ḷ Nung ở G̣ Sành, Plate 22 – Plate 23.

 

Ngô Bắc dịch và phụ chú

09.10.2017

                                                                                                                                 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

© gio-o.com 2017