Roxanna M. Brown

Chiangmai University

 

ĐỒ GỐM VIỆT NAM

 

Ng� Bắc dịch

 

Bản Đồ 2: Miền bắc Việt Nam

 

Từ thời nh� H�n cho đến thời nh� Đường tại Trung Hoa đ� c� hiện hữu tại c�c bi�n giới t�y nam xa x�i của xứ n�y một l�nh thổ bị chinh phục, được gọi bởi người Trung Hoa l� Nam Việt (Nan Yueh).� L�nh thổ n�y bao gồm c�c tỉnh hiện nay của Trung Hoa l� Quảng Đ�ng (kể cả th�nh phố Quảng Ch�u) v� Quảng T�y, cũng như miền bắc Việt Nam chạy tới Thanh H�a ở ph�a nam (Schafer, 1967, trang 104).� N� được chia th�nh hai khu vực h�nh ch�nh ch�nh yếu: Lĩnh Nam, t�i v�ng đ�ng bắc, v� An Nam, tại v�ng t�y nam.� Sau cuộc chinh phục v�o năm 111 Trước C�ng Nguy�n (TCN), An Nam đ� bị cai trị trực tiếp bởi Trung Hoa cho m�i đến năm 979 Sau C�ng Nguy�n (SCN) v� một lần nữa trong một thời kỳ ngắn ngủi từ 1407 đến 1427.

M�i đến 1803, năm tiếp theo sau sự thiết lập kinh đ� ở Huế thuộc trung phần Việt Nam, khi vị ho�ng đế đầu ti�n của triều đại nh� Nguyễn, vua Gia Long, y�u cầu rằng đất nước của �ng từ đ�y được gọi l� Việt Nam, danh xưng ch�nh thức của Trung Hoa cho nước n�y vẫn c�n gọi l� An Nam (Deveria, 1880, trang i), c� từ nghĩa l� �Miền Nam Đ� Được B�nh Định: Pacified South�.� Ch�nh v� thế đồ gốm Việt Nam đ� bị gọi l� �An Nam�, một lề lối dường như đ� được khởi xướng bởi người Nhật v� sau đ� được sử dụng trong Anh ngữ sau khi c� sự ấn h�nh quyển Annam Toji Zukan hay Đồ Gốm An Nam, t�c phẩm phổ biến đầu ti�n về c�c đồ gốm, bởi Okuda Seiichi (1954). 1 C�c sổ s�ch của C�ng Ty Đ�ng Ấn Thuộc H�a Lan (Dutch East Asian Company), vốn mua b�n c�c đồ g�m trong thế kỷ thứ mười bẩy, gọi ch�ng l� đồ gốm Tongkingese (Volker, 1954), do sự ph�t �m sai t�n của thủ đ� tại H� Nội khi đ� được gọi l� Đ�ng Kinh.

������ V� c�c nguy�n do d�n tộc chủ nghĩa, bản th�n người Việt Nam ưa th�ch gọi xứ sở họ l� Đại Nam, c� nghĩa �Phương Nam Vĩ Đại�; Đại Việt, để chỉ chủng tộc của họ, hay bởi t�n cổ xua của n�, Giao Chỉ.� Ch�nh v� thế danh ph�p được ưa th�ch ở đ�y (cũng như bởi ch�nh c�c ngừi Việt Nam vốn xem t�n gọi �An Nam� l� bất lịch sự) l� Việt Nam hơn l� An Nam, mặc d� c�c từ ngữ c� thể d�ng thay thế lẫn nhau.

������ Đồ gốm Việt Nam tạo th�nh một loại ri�ng biệt của đồ gốm Đ�ng Phương với bản sắc ri�ng của ch�ng đ� được nh�n nhận đầu ti�n trong c�c cuộc khai quật rộng lớn xảy ra ch�nh yếu tại tỉnh Thanh H�a, Việt Nam trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930.� C�c cuộc khai quật đ� thu lượm được h�ng ngh�n đồ vật, ch�nh y�u l� đồ đất nung v� một số đồ đồng, phần lớn từ c�c ng�i mộ ch�n cất thuộc c�c thế kỷ thứ nhất đ�n thứ ba, v� từ thế kỷ thứ mười đ�n thế kỷ thứ mười ba, c�c thời kỳ gần tương đương với nh� Hậu H�n v� triều đại nh� Tống b�n Trung Hoa.� C�c sự kh�m ph� xảy ra như một hậu quả của sự x�y cất đường x�, c�c kinh đ�o tưới ti�u, c�c kiến tr�c v� c�c c�ng tr�nh c�ng ch�nh kh�c của Ch�nh Phủ Ph�p.� C�c m�n đồ cổ đ� mau ch�ng vươn tới c�c cửa h�ng đồ lạ ở H� Nội, Bắc Kinh v� Thượng Hải, nơi đồ đất nung được biết đến l� �đồ gốm Thanh H�a�.� Một cuộc triển l�m một số c�c chế t�c phẩm đ� được tổ chức tại Bảo T�ng Viện Guimet ở Paris ngay từ năm 1931 (Goloubew, 1931-2), v� chỉ một năm sau đ� b�nh c� in chữ Việt Nam sẽ sớm được thảo luận đ� được kh�m ph� ra bởi R. L. Hobson (1933-4) tại Bảo T�ng Viện Topkapi Saray ở Istanbul.

������ C�c sản phẩm đầu ti�n của c�c đồ gốm n�y bắt đầu x�m nhập kh�ng thường xuy�n v�o Bảo T�ng Viện Louis-Finot Museum (b�y giờ l� Bảo t�ng Lịch Sử) tại H� Nội khoảng năm 1915 (D�Argenc�, 1938, trang 1).� Sau đ� trong năm 1924, vi�n chức quan thuế tại Thanh H�a, Louis Pajot, được y�u cầu bởi Leonard Aurousseau của Trường Viễn Đ�ng B�c Cổ (�cole Francaise d�Extr�me-Orient [viết tắt l� EFEO]), đến điều tra, v� nếu c� thể khai quật, c�c nguồn gốc của c�c sản phẩm đ� c�ng c�c đồ vật kh�c kh�m ph� được.� �ng Pajot đầy năng lực vẫn c�n l� một quản đốc kỹ thuật nhiệt th�nh cho c�c cuộc khai quật của Trường ở đ� trong v�i năm.

������ Pajot, một cựu diễn vi�n xiếc trở th�nh thủy thủ, đ� gi�nh đựoc sự bổ nhiệm của �ng ở Thanh H�a sau một cuộc du h�nh mang �ng ta đến thuộc địa Ph�p n�y.� Kh�ng may, c�c khả năng của �ng kh�ng phải l� c�c khả năng của một nh� khảo cổ học, v� �ng đ� kh�ng để lại t�i liệu n�o về c�c sự khai quật của �ng.� Th�ch ứng hơn với sự điều tra c� hệ thống l� Olov Janse, kẻ được bảo trợ bởi c�c bảo t�ng viện Ph�p v� được trợ gi�p bởi Trường EFEO, đ� thực hiện c�c cuộc khai quật giữa c�c năm 1934 v� 1939, tập trung tại c�c địa điểm ở Đ�ng Sơn (thời tiền-Trung Hoa) v� thuộc thời H�n.� C�ng tr�nh ba quyển s�ch của �ng, Archaeological Research in Indochina (1947, 1951, v� 1958), đ� l� một cột mốc, v� nhiều b�i viết kh�c của �ng (xem phần Thư Tịch: Bibliography) đ� l� c�c sự đ�ng g�p giả trị l�m s�ng tỏ cho sụ nghi�n cứu về đồ gốm Việt Nam.

������ V�o năm 1925, sự cướp ph� c�c ng�i mộ cổ xưa qu� lan tr�n đến nỗi Ch�nh Phủ Đ�ng Dương đ� ra một mệnh lệnh trong Th�ng Tư của năm đ� cấm đo�n việc đ�o xới kh�ng được cho ph�p.� R� r�ng quyết định n�y kh� th�nh sự cấm chỉ.� Th� dụ, trước khi rời đi v�o năm 1938, Clement Huet, một thương nh�n nước Bỉ với một c�ng ty xuất-nhập cảng tại Việt Nam, v� cũng l� một nh� khảo cổ t�i tử, đ� c� thể thu thập một sưu tập c� nh�n hơn 5,000 chế t�c phẩm (artefacts).� Ngo�i vịệc đ�ng g�p cho cả Bảo T�ng Viện Louis-Finot ở H� Nội lẫn Bảo T�ng Khải Định ở Huế, �ng c�n c� thể cung cấp nhiều vật phẩm cho cửa h�ng của anh [hay em] �ng, Leon, được mở trong năm 1930 tr�n đường Rue du Rosi�re, Genval, Belgium.� Một nh� sưu tập quan trọng kh�c v�o thời đ� l� Albert Pouyanne, một đại t� Ph�p, kẻ c� nhiều đồ thụ đắc được đưa về Bảo T�ng Viện Guimet, trong khi c�c đồ vật kh�c xuất hiện (với t�n của �ng tr�n nh�n đ�nh k�m) h�ng t� trong c�c thập ni�n trước thập ni�n 1960 trong c�c vụ rao b�n của một nh� đấu gi� Ph�p (Melikian, 1987).� Cũng c� một sưu tập lớn ch�nh yếu l� đồ vật t�m thấy thuộc thời nh� H�n, bso gồm to�n thể đồ vật của một ng�i mộ được khai quật, tại Bảo T�ng Viện Cernuschi, Paris.

������ Cửa h�ng của Leon Huet v� khối lượng của n�, một c�ch may mắn, được nhận biết bởi b� Houyoux, một nh� quản thủ tại c�c� Bảo T�ng Viện Nghệ Thuật v� Lịch Sử Ho�ng Gia (Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire tại Brussels (cũng c�n được biết l� Mus�e Cinquantenaire), kẻ, trong năm 1952, đ� điều đ�nh sự tạo m�i gần 3,000 m�n đồ từ sưu tập c� nh�n Clement Huet [H�nh 9, theo số đ�nh trong nguy�n bản, ch� của người dịch] tuy nhi�n, c�c m�n đồ thiếu bất kỳ giấy tờ lập chứng n�o ngo�i c�c nh�n hiệu bằng giấy x�c định ch�ng hoặc thuộc thời nh� �H�n�, nh� �Tống�, hay nh� �Minh�, v.v�Nhưng điều được hay biết từ tin tức cung cấp bởi người con trai nu�i của �ng Huet, v� được ghi trong t�i liệu tại bảo t�ng viện, rằng tất cả c�c m�n đồ đều ph�t sinh từ Việt Nam, v� rằng một số đ� được khai quật bởi bản th�n �ng Huet trong khi c�c m�n kh�c được mua từ c�c người d�n th�n qu�.� Cũng ch�nh Huet, với tư c�ch một người bạn của Pajot, chắc chắn đ� thường xuy�n tham khảo �ng cũng như c�c nh� đ�ng phuơng học kh�c trong khu vục, chẳng hạn như Aurousseau, George Coed�s, v� Ren� Grousset, về c�c vấn đề chẳng hạn như vịệc x�c định ni�n đại của m�n đồ t�m thấy. 2

 

H�nh 9: Một số đồ gốm tr�ng men hơi trắng hay hơi xanh r�u được khai quật tại miền bắc Việt Nam.� Huet Collection, Mus�es Royauxd�Art et Histoire, Brussels

 

Ngo�i c�c đồ mai t�ng thuộc thời kỳ sớm hơn, c� một số đồ trang tr� m�u xanh da trời trước khi tr�ng men b�ng trong sưu tập của Huet.� Nhiều m�n trong số n�y cũng được đưa v�o trong sưu tập của Bảo T�ng Viện H� Nội trong c�c thập ni�n 1920 v� 1930, nhưng liệu c� bất kỳ m�n n�o đến từ c�c ng�i mộ hay kh�ng th� kh�ng được biết r�.� John Pope (1956, trang 104) c� n�i rằng c�c m�n đ� trong sưu tập của Huet được kh�m ph� tại �c�c nơi cất dấu: cachettes� [tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] ở Phutinh Gia [Phủ Tĩnh Gia?], tỉnh Thanh H�a, v� Lam-Dien [Lam Điền?], tỉnh H� Đ�ng.� Lai lịch nguồn gốc của c�c m�n đồ tại H� Nội, trong đ� c� c�c mảnh gốm bị hư hay vỡ n�t (kiln wasters) (D�Argenc�, 1958) dường như kh�ng được hay biết hay c� chứng liệu.

Ngay cả với sự đ�o sới s�u rộng đặc biệt r� rệt tại miền bắc Việt Nam trước Thế Chiến II, kh�ng c� c�c địa điểm l� nung cổ xưa đ� từng sản xuất ra c�c đồ gốm tr�ng men b�ng được x�c định một c�ch đ�ch x�c v�o l�c đ�.� Janse (1947, c�c trang 60-2) đ� kh�m ph� ra khoảng 20 l� nung h�t sức n�ng xuống cho tho�t ở tầng dưới s�n ph�a b�n kia của ph�ng đốt (cross-draft) tại v�ng Tam tho [?] thuộc Thanh H�a, nơi l� nguồn gốc ph�t sinh đồ c� th�n m�u hơi đỏ mặc d� được nung với lửa cao độ, kh�ng tr�ng men, vốn rất thường c� mặt trong c�c ng�i mộ thời H�n trong khu vực (Xem Bảng In M�u Colour Pl. 1a), nhưng �ng đ� kh�ng t�m thấy c�c l� nung sản xuất ra c�c đồ th�n m�u trắng, được tr�ng men b�ng m�u kem hay hơi xanh l� c�y thời H�n chiếm đa số trong c�c ng�i mộ ở xa hơn về ph�a bắc (Pl. 1a-f).

Tuy nhi�n, c�c sự kh�m ph� ra l� nung của Janse đ� chứng tỏ rằng đồ gốm đ� được sản xuất tại địa phương, v� rằng c�c l� nung thổi v� tho�t hơi n�ng cắt ngang ph�ng đốt (cross-draft) đ� sẵn được sử dụng v�o c�c thế kỷ đầu ti�n Sau C�ng Nguy�n bởi mặc d� c�c l� nung h�t hơi l�n ph�a tr�n (up-draft) được khai quật trong năm 1955 tại địa điểm thời Đ� Mới ở Pan-p�o-ts�un thuộc tỉnh Thiểm T�y (Shenxi), kh�ng c� l� nung n�o thời nh� H�n n�o được t�m thấy tại Trung Hoa.� C� h�nh d�ng gần giống ống trụ, với một bậc thang ngăn c�ch nơi ch�m lửa với ph�ng nung, c�c l� ti�n tiến hơn nhiều ở Tam Tho, hẳn phải đạt tới nhiệt độ cao hơn loại l� nung h�t nhiệt v� cho tho�t hơi ra b�n tr�n, được x�y cất hoặc bằng đất được hun cứng bằng lửa hay một phần bằng gạch.� Ch�ng thay đổi trong chiều d�i từ 5 m�t đến 9 m�t tr�n mặt nghi�ng, v� trong chiều rộng từ 1.4 m�t đến 1.8 m�t, cao trung b�nh 1.8 m�t.

Pope (1956, trang 104) tường thuật rằng Janse c� nghe về sự hiện diện của c�c l� nung thời nh� Minh trong v�ng ch�u thổ ph�a đ�ng H� Nội nhưng kh�ng thể điều tra được ch�ng.� Bản th�n Janse kh�ng đề cập đến điều n�y, nhưng đề nghị t�m kiếm c�c l� nung trong khu vực nằm giữa Uong binh [U�ng B�nh?] v� Van-chai [?] tại Bắc Kỳ nơi �ng n�i c�c mỏ đất s�t trắng (kaolin) được biết c� hiện diện (Janse, 1958, trang 101).� C� lẽ điều Pope đề cập đến l� b�o c�o về một l� nung được t�m thấy bởi Linh Mục D. J. Finn, kẻ sau một cuộc thăm viếng Bắc Kỳ trong c�c năm 1933-4, c� viết một l� thư cho H. Otley Beyer ở Phi Luật T�n n�i rằng �ng c� đi thăm một trung t�m l� nung cổ thời gần Vịnh Hạ Long, kh�ng xa Hải Ph�ng, vốn đ� sản xuất ch�nh yếu c�c đồ tr�ng men m�u ngọc b�ch (celadon).� Nhưng Linh Mục Finn đ� chết trong năm 1936 m� kh�ng để lại một sự m� tả r� r�ng hơn, v� theo như sự hi�u biết của ch�ng t�i, địa điểm n�y chưa hề được t�i thấm định (Beyer, 1960, trang 10).

Trong sưu tập Huet tại C�c Bảo T�ng Viện Ho�ng Gia, c� bốn l� đồ gốm bị hư vỡ từ l� nung; một được ghi tr�n nh�n hiệu �Từ l� nung gần H� Nội�, một m�nh kh�c ghi �Đại La�, v� hai mảnh kia ghi �Sung Đại La: Tống Đại La�.� Về thể loại, ch�ng r� r�ng c� ni�n đại từ thế kỷ thứ mười ba hay mười bốn.� Mỗi l� l� một chồng xếp theo chiều thẳng đứng từ ba đến mười hai b�t tr�ng men m�u xanh l� c�y.� Một l�, c� b�t tr�n c�ng, kh�ng giống như c�c b�t kh�c, c� b�n ngo�i tr�ng men m�u n�u, b�n trong tr�ng men m�u kem, được đ�nh dấu thế kỷ thứ mười bốn, v� loại b�t n�y trong thực tế được khai quật với số lượng nhỏ ở hải ngoại.� C�c b�t của một chồng được ph�n c�ch bởi c�c đệm l�t ở giữa; c�c b�t ở c�c chồng kh�c được xếp chồng thẳng l�n nhau ch�n b�t dựa tr�n một v�ng tr�n kh�ng tr�ng men, được cắt xuy�n qua lớp men tr�n đ�y b�n trong của chiếc b�t nằm dưới.� C�c l� hư vỡ n�y, c�ng với c�c l� hư vỡ tại Bảo T�ng Viện H� Nội (D�Argenc�, 1958, trang 1), trong thực chất ph� b�y c�ng th�n đất s�t như c�c đồ gốm mậu dịch tr�ng men thời H�n, triều L�, v� sau n�y cho đến khoảng thế kỷ thứ mười s�u, cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho sự hiện hữu của một c�ng nghiệp đồ gốm địa phương.� (Hai chồng đồ gốm hư n�t kh�c, một với c�c b�t được vẽ với c�c chủ đề về hoa bằng chất sắt trước khi tr�ng men giống như phần được tr�nh b�y nơi Colour Plate VIIIa, chồng kia bao gồm c�c b�t tr�ng men m�u n�u với c�c v�ng để chồng kh�ng tr�ng men tr�n mặt trong đ�y b�t, cả hai từ Đại La v� trong sưu tập của Huet tại C�c Bảo T�ng Viện Ho�ng Gia, được minh họa bởi Guy, 1986, c�c H�nh 33-4).

 

Khảo Cổ Học Gần Đ�y Tại Việt Nam

������ Như một phần trong chương tr�nh của họ về Đ�ng Nam �, Trung T�m Nghi�n Cứu Đồ Gốm Đ�ng Nam � (Research Centre for Southeast Asian Ceramics) tại Alelaide, �c Đại Lợi, được thiết lập trong năm 1980, đ� tham dự một cuộc hội thảo về đồ gốm được tiếp đ�n bởi Gi�o Sư [Trần Quốc] Vượng, Khoa Khảo Cổ Học, Đại Học H� Nội, được tổ chức trong một tuần tại H� Nội hồi Th�ng Mười 1986. 3 Ngo�i c�c sự tr�nh b�y bởi c�c tham dự vi�n �c Đại Lợi, bao gồm John Guy, hiện phục vụ tại Victoria and Albert Museum, London, Dick Richards thuộc Art Gallery of South Australia, Peter Burns của Đại Học Adelaide University, v� nh� sử học Michael Vickery, một v�i b�i tham luận cũng được đọc bởi c�c nh� nghi�n cứu Việt Nam.� Kh�ng may, c�c b�i kể sau chưa được cung ứng bởi ch�ng vẫn c�n phải chờ đợi bản phi�n dịch v� sau đ� c�c ấn phẩm song ngữ bởi Trung T�m Nghi�n Cứu.�� Tuy nhi�n, c�c mẩu tin chủ điểm của ch�ng c� thể được n�u ra ở đ�y.� Th� dụ, hai l� nung, đ� được khai quật tại v�ng ngoại � của H� Nội, nơi kinh đ� của cả hai triều đại nh� L� (1009-1225 Sau C�ng Nguy�n) v� nh� Trần (1225-1400), Đại La Th�nh, đ� từng được dựng l�n.� Khu vực n�y, chắc chắn l� nguồn cội của c�c phế phẩm trong sưu tập Huet ở c�c Bảo T�ng Viện Ho�ng Gia (Mus�es Royaux), c� ni�n đại khoảng thế kỷ thứ mười ba v� mười bốn, được ch� � đến trước ti�n hồi thập ni�n 1930 trong diễn tr�nh x�y dựng một s�n đua ngựa ở khu vục.� C�c cấu tr�c khai quật theo một b�i tham luận được đọc tại cuộc hội thảo, l� c�c l� nung kiểu rồng ba ph�ng, một loại l� nung, theo c�c nguồn tin Trung Hoa, đ� được du nhập v�o tỉnh Quảng Đ�ng gần cận v�o khoảng thế kỷ thứ mười đến mười một.� Hai phương ph�p đốt l� đ� được n�i đến: chồng b�t được t�ch biệt bởi c�c v�ch ngăn chống đỡ h�nh đĩa, v� chồng b�t �p miệng b�t xuống.� C�c l� nung bổ t�c của thời nh� L� được b�o c�o cũng được t�m thấy tại tỉnh Thanh H�a v� đ�y c� lẽ l� nguồn gốc của c�c đồ gốm mai t�ng được khai quật l�n ở đ� v� tỉnh H� Đ�ng trước Thế Chiến II.� Tỉnh Thanh H�a, trong thực tế, theo ph�a Việt Nam, đ� sản xuất đồ gốm từ những thế kỷ sớm sửa Sau C�ng Nguy�n ch� đến �t nhất thế kỷ thứ mười t�m.

������ Gộp chung, ph�a Việt Nam b�o c�o việc hay biết khoảng s�u khu vực c� l� nung, kể cả Đại La, c� ni�n đại từ thế kỷ thứ nhất đến thứ mười.� Một nh�m với c�c l� nung ở sườn đồi *(bank kiln), nơi c�c sạp (saggars) được d�ng cho việc xếp chồng đồ đem nung, tọa lạc 90 c�y số nam H� Nội.� Ph�a Việt Nam cũng b�o c�o c�c sự kh�m ph� ra c�c l� nung quan trọng, c� ni�n đại l�i đến thế kỷ thứ mười s�u, gần Quảng Uy�n [?] ở bi�n giới Trung Hoa, nhưng n�i rằng địa điểm n�y đ� bị hủy hoại trong cuộc giao tranh với Trung Quốc hồi năm 1979.� C�c đồ gốm m�u ngọc b�ch được tin được sản xuất giữa thế kỷ thứ mười đến mười bốn.� C�c l� nung cũng được biết tại Huế nhưng c�c l� n�y sản xuất ch�nh yếu c�c vật liệu kiến tr�c, kh�ng phải �đồ m�u Lam của Huế: Bleu de Hue� sẽ được m� tả nơi phần cuối của chương s�ch n�y.

������ Từ thế kỷ thứ mười lăm đến thế kỷ thứ mười bẩy, theo một b�i tham luận Việt Nam, đ� c� c�c l� nung được tập trung tại B�t Tr�ng, một địa điểm vẫn c�n hoạt động ng�y nay nơi, theo c�c truyền thống ri�ng của c�c nh� l�m đồ gốm, c�c l� nung uốn lượn h�nh rồng rắn (dragon kilns) đ� được thiết lập giữa khoảng năm 1527 đến 1533 Sau C�ng Nguy�n bởi c�c người l�m đồ gốm đến từ hoặc Thanh H�a hay Ninh B�nh; tại tỉnh Thanh H�a, v� tại Nam S�ch, huyện được n�u t�n trong phần ghi ch� tr�n lọ gốm Việt Nam đề ni�n đại 1450 Sau C�ng Nguy�n tại [Bảo T�ng Viện ở] Istanbul (Bản Chụp M�u Colour Pl. X).� Sự đề cập đến Nam S�ch đặc biệt đ�ng ch� � v� một l� do thứ nh�; n� nằm dọc s�ng Hồng trong tỉnh Hải Dương.� Một trong ba (lịch sử của ch�ng được vẽ lại bởi Willetts, 1971, trang 16) trung t�m sản xuất đồ gốm quan trọng của Việt Nam hoạt động �t nhất cho đến đầu thế kỷ n�y [thứ 20], l�ng Thổ H� (cũng xem Huet, January-February 1942), 4 c�y số từ Bắc Ninh, khoảng 30 c�y số đ�ng bắc H� Nội, được n�i đ� được thiết lập v�o năm 1465 sau C�ng Nguy�n bởi một nh� l�m đồ gốm từ Đậu Kh� [? Chu Đậu], tỉnh Hải Dương, v� ch�nh Đậu Kh�, theo truyền thuyết, đ� l� nơi m� nh� l�m đồ gốm Trung Hoa đầu ti�n đến định cư trong thế kỷ thứ ba Trước C�ng Nguy�n v� dạy cho người Việt Nam nghề của �ng ta.� Trong thực tế, c� một ng�i đền đặc biệt tại Thổ H� để thờ cả người thợ dồ gốm Trung Hoa đầu ti�n đ�, Ho�ng Quang Hưng [hay H�ng?], lẫn người thợ gốm Việt Nam đầu ti�n, Trương Trung �i.� Trung t�m thứ ba c�n hoạt động hồi đầu thế kỷ n�y (trung t�m thứ nh� l� B�t Tr�ng, đ� sẵn được n�i ở tr�n) l� ở Hương Canh [?], 47 c�y số rưỡi t�y bắc H� Nội, tr�n đường đến Việt Tr�.

������ C�c chủ đề kh�c được tr�nh b�y trong c�c b�o c�o của ph�a Việt Nam tại cuộc hội thảo ở H� Nội bao gồm sự đề cập đến c�c sự kh�m ph� rộng lớn cả c�c mảnh gốm vỡ v� gốm nguy�n vẹn tại hải cảng thời nh� L� tr�n đảo V�n Đồn gần Hải Ph�ng; sự du nhập việc vẽ m�u xanh thẫm cobalt trước khi nung, m� ph�a Việt Nam tin rằng đ� xảy ra v�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười bốn; v� việc ấn định ni�n đại cho đồ gốm thờ c�ng trong nh� m�u xanh lam v� trắng.� Trong c�c sưu tập quốc gia của họ, ph�a Việt Nam đ� c� c� mẫu th� dụ của c�c b�nh hoa v� b�nh hương đền ch�a sẽ được thảo luận sau trong chương s�ch n�y, với c�c ni�n đại ghi ch� trong khoảng từ 1578 đến 1590, năm m�n trong đ� được sản xuất bởi c�ng một nh� l�m đồ gốm trong phần tư cuối c�ng của thế kỷ thứ mười s�u; c�c b�nh hoa n�y thường được l�m th�nh c�c phần ri�ng biệt để gắn v�o v�i nhau, v� do đ� được gọi l� đồ gốm �ba phần� bởi người Việt Nam.� Mặc d� c�c b�i viết của H� Nội chứa đựng nhiều dữ liệu gi� trị hơn nữa, đặc biệt về c�c m�n đồ c� biệt v� sự x�y dựng l� nung, c�c th�ng tin sẽ kh�ng được cung ứng trước khi được ấn h�nh.� Cho đến khi đ�, bảng ph�c họa v� sự xếp loại sơ khởi sau đ�y về c�c m�n đồ hay biết c� thể được kết hợp lại v�i nhau từ những th�ng tin được cung ứng hiện nay.

1. Thời Hậu H�n (khoảng thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 3): Đồ gốm c� th�n m�u trắng với men m�u kem trắng đến hơi xanh r�u chủ yếu c� c�c h�nh dạng lấy cảm hứng từ đồ Trung Hoa.

2. Thời Kỳ Trung Gian (khoảng thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 10): C�c m�n đồ linh tinh c� th�n m�u trắng đến hơi x�m với men m�u kem, n�u, v� xanh r�u (xanh lục) gợn s�ng.

3. Thời nh� L� Việt Nam (1009-1225): Đồ c� th�n m�u hơi đen đến x�m trước khi tr�ng men, ch�nh yếu l� c�c b�nh đựng tro cốt c� nắp đậy, c�ng với c�c đồ c� th�n m�u trắng đến hơi x�m với c�c loại men kể sau: khảm m�u n�u sắt; m�u đất son hơi xanh x�m; đơn sắc m�u trắng, đen v� n�u; c�ng hai loại m�u ngọc b�ch (một loại mỏng, sắc nhạt v� trong mờ, loại kia dầy, v� sắc đậm); v� c�c đồ trang tr� m�u đen sắt trước khi tr�ng men.

4. Thời Xuất Cảng Ban Đầu (bao gồm phần lớn thời nh� Trần, 1225-1400; khoảng giữa thế kỷ thứ 13 đến thế kỷ 14): C�c đồ c� th�n hơi trắng v� hơi x�m đến trắng, ch�nh yếu trong c�c h�nh dạng của c�c cốc (ly) vại, b�t, lọ nhỏ, đĩa, v� một số hộp v� b�nh nước c� nắp đậy, thuộc c�c loại men kể sau: đơn sắc ngọc b�ch, xanh chất đồng, n�u, đen v� trắng, c�ng với c�c đồ trang tr� m�u đen sắt trước khi nung.

5. Thời Xuất Cảng Nằm Giữa (khoảng thế kỷ 15 v� 16): C�c đồ c� th�n hơi trắng v� hơi x�m đến trắng được trang tr� bằng m�u xanh lam trước khi nung, đ�i khi với c�c lớp men phủ ngo�i c�ng (enamel) m�u đỏ, xanh r�u hay v�ng tr�n lớp men đ� được nung (overglaze), trong v� số h�nh d�ng.

6. Thời Xuất Cảng Hồi Cuối (khoảng Thế Kỷ Thứ 16-17): C�c m�n đồ, c� lẽ được sản xuất tại B�t Tr�ng, c� th�n xỉn đục hơi trắng v� men rạn nhuốm m�u ng�, được trang tr� bằng sắc m�u lam từ trung b�nh đến đậm trước khi nung (đ�i khi trong l�c tr�ng men: in-glaze), v� c�c chiếc b�nh (lọ) trang tr� bằng men phủ ngo�i c�ng nhiều m�u; kể cả c�c chai, b�nh, lọ nhỏ, b�t v� đĩa.

7. C�c Đồ Thờ C�ng Trong Nh� (khoảng thế kỷ thứ 15 đến 18): (1) C�c đồ m�u lam trước khi tr�ng men được �p h�nh rồng v� c�c khuy (n�t) hoa hồng, được quy kết cho B�t; Tr�ng; (2) c�c đồ kh�ng tr�ng men c� th�n sắc đậm, ch�nh yếu l� c�c b�nh hương, theo c�c kiểu mẫu cầu kỳ, được quy kết cho Thổ H�; (3) c�c đồ tr�ng men m�u trắng, với th�n xỉn đục m�u trắng hay v�ng nhạt, v� c�c men phủ ngo�i c�ng m�u xanh r�u v�/hay m�u đỏ; đ�i khi được gọi l� đồ �ba m�u�, v� (4) c�c đồ tr�ng men mỏng, ch�nh yếu l� c�c b�nh hương, với nước �o (slip) m�u hổ ph�ch v�/hay m�u n�u rỉ, v� c�c đường viền để d�n (hay �p) được đ�c hay chạm khắc tỉ mỉ.

 

Thời nh� H�n

 

H�nh 10: Đồ c� tr�ng men thời nh� H�n.� Mus�e Cesnuschi, Paris

 

Lịch sử đồ gốm men b�ng 2000 năm của Việt Nam khởi đầu v�o khoảng thế ky thứ nhất của kỷ nguy�n ch�ng ta, chắc chắn dưới sự bảo hộ của Trung Hoa, với c�c m�n đồ men b�ng được khai quật bởi Janse (xem Thư Tịch) từ c�c ng�i mộ ở Lạch Trường v� Bỉm Sơn, bắc tỉnh ly Thanh H�a, m� �ng đ� kh�ng thể định vị được nguồn gốc l� nung.� Nhưng c�c m�n đồ n�y đ� sẵn kh�c biệt với đồ gốm Trung Hoa, bởi ch�ng l� c�c đồ gốm c� th�n m�u tr�ng tr�ng men b�ng sớm nhất được hay biết đến nay tại Viễn Đ�ng.� Ch�ng c� ni�n đại được ước lượng từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ ba Sau C�ng Nguy�n.

������ C�c h�nh dạng nằm trong truyền thống H�n Hoa v� chắc chắn được sản xuất dưới sự chỉ đạo của c�c l�nh ch�a Trung Hoa, nếu kh�ng phải bởi c�c nh� sản xuất đồ gốm Trung Hoa di cư.� Sự kh�c biệt n�i bật nhất giữa c�c đồ gốm của hai nước trong thời kỳ n�y nằm nơi m�u sắc của th�n (cốt) gốm v� men b�ng.� Th�n của c�c m�n đồ ban sơ nh� H�n ch�nh danh hay đương thời thường c� m�u n�u hơi đỏ cho đến v�ng nhạt, kh�ng hề c� m�u trắng nhờ (off-white) của đồ gốm Việt Nam.� Cũng vậy, trong khi m�u men Trung Hoa đương đại nổi bật l� một m�u xanh r�u đục ở độ đậm nhạt kh�c nhau của chất oxit ch�, men tro gỗ của đồ gốm Việt Nam c� m�u trắng kem hơi mờ, đ�i khi nhuốm m�u hơi xanh (r�u) x�m.� Một phần l� do của sự kh�c biệt ban sơ n�y của đồ gốm Việt Nam l� c�c mỏ đất s�t c� phẩm chất tốt của miền bắc Việt Nam.� Trong thực tế, ch�nh c�ng th�n đất s�t của đồ gốm s�nh [stoneware, chỉ đồ gốm l�m bằng sa thạch, rất đục, được nung ở nhiệt độ rất cao, ch� của người dịch] hơi trắng rất mịn đặc trưng thực sự cho to�n thể sản lượng đồ gốm của miền bắc Việt Nam. 4

������ C�c đồ gốm thời nh� H�n được nung kỹ v� c� lẽ được quay tr�n một b�n xoay của nh� sản xuất đồ gốm, dường như đ� sẵn được sử dụng tại Trung Hoa (Laufer, 1909, trang 8).� Nước men chịu đựng được sự xoi m�n của thời gian v� được ch�n dấu với �t hay kh�ng bị sứt mẻ, v� kh�ng c� sự ph�n hủy n�o l�m hư c�c men xanh r�u Trung Hoa, vốn gần như ho�n to�n bị ph�n hủy th�nh lấp l�nh �nh v�ng hay bạc.� N�i chung mạnh mẽ v� đơn giản, c�c h�nh dạng bao gồm c�c t�ch (ly) h�nh bầu dục, c�c b�nh hương, c�c lọ, b�t, chậu, vại, v� loại đồ c� ba ch�n (H�nh 10).� Trang tr� gồm c�c dải chạm khắc v� đ�i khi c�c quai được gắn v�o hay c�c phần th�m thắt c� h�nh động vật biến th�i.

������ Một đặc điểm chung của nhiều th� dụ trong c�c đồ gốm n�y l� c�c sự phủ th�m nước men m�u xanh r�u đậm, dầy, đục, v� rạn m� Janse gọi l� �c�c men phồng: blisters� (1947, trang 28).� Đ�i khi ch�ng được nh�n thấy ở mặt tr�n b�n trong đ�y hay c�c đường v�nh miệng dập phẳng nơi m� một nước men c� thể dẽ d�ng hội tụ khi đốt lửa, trong khi ở c�c trường hợp kh�c, ch�ng c� thể l� chất men nhỏ giọt xuống từ c�c m�n đồ được chồng b�n tr�n ch�ng trong l� nung hay từ trần của ch�nh l� nung.� Một th� dụ xuất hiện tr�n vai của một c�i vại tại Bảo T�ng Viện Ho�ng Gia ở Brussels (Pl. Ia).

������ C�c mộ Trung Hoa c� nhiều gạch cầu kỳ tại khu vực Thanh H�a, c� ni�n đại c�c thế kỷ đầu ti�n Sau C�ng Nguy�n, c� thể chỉ dấu cho một trung t�m thương mại với tầm quan trọng trước đ�y.� Điều đ�ng cbh� � rằng G. E. Gerini (1909, trang 304) trong luận �n của �ng về Geographik� Hyphegeis Hy Lạp (một quyển địa dư cổ xưa được bi�n soạn v�o khoảng nửa đầu của thế kỷ thứ nh�) đ� t�nh to�n rằng hải cảng Pagrasa được đề cập bởi Ptolemy hẳn phải nằm ở cửa con s�ng M�, địa điểm của tỉnh lỵ Thanh Hoa gần nơi m� nhiều chế t�c phẩm thời nh� H�n cũng như thời ban sơ Đ�ng Sơn được khai quật.� Bằng chứng trong c�c t�i liệu Trung Hoa (Hirth, 1885, trang 42) cũng n�u v�ng n�y l� địa điểm của hải cảng cực nam của Trung Hoa trong thế kỷ đầu ti�n Sau C�ng Nguy�n.

 

C�c Đồ Gốm Thời Trung Gian

������ Trong những năm giữa thế kỷ thứ ba v� cuối thế kỷ thứ muời, khi vị tr� của Việt Nam như một trung t�m thương mại xuất hiện trong c�c t�i liệu của Ả Rập (xem, th� dụ, Perrand, 1913-4) bị cướp ph� bởi Quảng Ch�u ở ph�a bắc v� Ch�m ở ph�a nam, rất �t đồ gốm xem ra đ� được sản xuất.� Chỉ c� khoảng một t� mẫu được quy cho thời kỳ n�y.� Janse chỉ khai quật hai ng�i mộ m� �ng quy kết cho thời kỳ nh� Đường (thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ thứ mười) 5 (xem Pl. 2a-f).� Ch�ng thu hồi được một loạt c�c ch�n đơn giản c� th�n hơi trắng v� nước men hơi ranh r�u pha m�u kem c� nguồn gốc c� thể địa phương tương tự với Bảng Chụp M�u Colour Plate IIa được tr�nh b�y nơi đ�y, một lọ tương tự với Bản Chụp Pl 2a-b v� một chiếc b�t m�u hơi xanh r�u nhạt, bị ố v�ng (Pl. 2c)�

���������

Thời Nh� L�

V�o l�c khởi lập của một trong c�c triều đại Việt Nam vĩ đại, nh� L� (1009-1225), gần như đương thời với nh� Tống b�n Trung Hoa (960-1279), lịch sử đồ gốm Việt Nam bắt đầu trở n�n r� r�ng hơn.� Được xem bởi c�c sử gia Việt Nam như một thời đại của sự phục hưng nghệ thuật, triều đại nh� L� được đ�nh dấu bởi � thức d�n tộc vĩ đại v� nền độc lập li�n tục tiếp theo sau cuộc nổi dậy th�nh c�ng chống lại sự cai trị của Trung Hoa trong thế kỷ thứ mười.� Về ph�a nam, đ� c� c�c chiến thắng qu�n sự li�n tiếp chống lại xứ Ch�m, l�n bang bị ảnh hưởng Ấn Độ của n�, khởi đầu cho sự s�p nhập tiệm tiến vương quốc đ�, trong khi về mặt đối nội, c�c kỹ thuật canh n�ng được cải tiến, thuế kh�a được thiết định, v� Phật Gi�o vươn tới điểm cực thịnh của m�nh (L�, 1955, trang 145).

������ Cũng thế, trong thời kỳ n�y mậu dịch h�ng hải dường như đ� được t�i lập.� Theo c�c nguồn t�i liệu Việt Nam sử dụng bởi nh� sử học L� Th�nh Kh�i, Việt Nam đ� kh�ng tham gia nghi�m chỉnh v�o thương mại h�ng hải cho đến thời trị v� của Ho�ng Đế L� Anh T�ng (1137-75).� Trước đ�, mậu dịch được thực hiện ch�nh yếu với Trung Hoa, xuy�n qua c�c đường bộ (cũng xem Schafer, 1967, trang 31).� Nhung trong năm 1149 c�c b�nh (lọ) đ� đến từ Java, Lo-lac v� Ziem-la (c� lẽ l� Xi�m La). 6 Ch�ng tiền v�o Hải Đ�ng [?] (Quảng Y�n), v� d�ng tặng phẩm v� đưa ra c�c y�u cầu thực hiện việc mậu dịch.� L� Anh T�ng đ� chấp thuận, mở ra c�c địa điểm mậu dịch tr�n Đảo V�n Đồn gần hải cảng Hải Ph�ng ng�y nay.� Trong một thời gian ngắn, c�c chiếc b�nh (lọ) từ Ph�c Kiến v� miền nam Trung Hoa cũng đ� lợi dụng hải cảng mới n�y.� Nhưng chưa c� bằng cớ rằng c�c đồ gốm đ� được xuất cảng trước cuối thế kỷ thứ mười ba hay đầu thế kỷ thứ mười bốn.� Kh�ng m�n đồ n�o được khai quật từ c�c ng�i mộ ở miền bắc Việt Nam v� được ấn định ni�n đại bởi Janse v� c�c nh� nghi�n cứu kh�c cho thời nh� Tống, ch�nh yếu dựa tr�n tiền đồng v� c�c sự kh�m ph� li�n hệ kh�c, c� đối vật y như thế được khai quật ở hải ngoại, mặc d�, về thể c�ch, c� một sự chuyển tiếp uyển chuyển giữa c�c m�n đồ n�y với c�c h�ng mậu dịch sớm nhất t�m thấy được (tham khảo c�c Bản Chụp Plates 6-7 v� 9).� Kh�ng một trong c�c ng�i mộ Việt Nam n�o của thời kỳ n�y (H�nh 11), c� thể n�i th�m, chứa đựng c�c đồ gốm m�u lam v� m�u trắng Trung Hoa, mặc d� c� c�c đồ Trung Hoa m�u ngọc b�ch.

������ Liệu c�c ng�i mộ thời nh� Tống ở Việt Nam một lần nữa l� n�m mồ của c�c người chủng tộc Trung Hoa, như c�c ng�i mộ của thời nh� H�n được tin tưởng, hay với nhiều x�c xuất hơn, bởi v� xứ sở giờ đ�y độc lập, l� c�c nấm mồ của người thuộc chủng tộc Việt Nam, l� điều chưa được quyết đo�n.� Kh�ng giống như c�c ng�i mộ trước đ�, đ� kh�ng c� c�c cơ cấu bằng gạch v� người chết r� r�ng được đặt nằm trong c�c quan t�i bằng gỗ (Janse, �Rapport Pr�liminair�, 1936, trang 46); c�c ng�i mộ c�ng thời tại Trung Hoa vần c�n d�ng đến gạch (Laufer, 1909, trang 312).� Mặc d� h�ng trăm ng�i mộ hẳn đ� được khai quật l�c đ�, chỉ c� hai ng�i mộ của thời kỳ n�y, cả hai trong tỉnh Thanh H�a, l� được lập hồ sơ kiện chứng bởi Janse l� kẻ quan t�m nhiều đến c�c mộ ch�n cất thời nh� H�n v� Đ�ng Sơn hơn.

������ Tr�i với c�c m� h�nh nh� ở (*Bản Chụp M�u Colour Pl. Ia) của đồ gốm kh�ng tr�ng men v� c�c chiếc b�nh (lọ) loại d�ng trong nghi lễ c� tr�ng men được bao gồm trong c�c ng�i mộ thời nh� H�n, c�c m�n đồ thời nh� Tống bao gồm nhiều loại h�nh dạng hơn, chăng hạn như c�c chiếc đĩa v� b�t, c� thể được d�ng trong sinh hoạt gia đ�nh h�ng ng�y, c�ng với c�c đồ đựng nước uống v� thức ăn c� nắp đậy c� thể chỉ c� mục đ�ch mai t�ng duy nhất.� C�c h�nh dạng, nhiều dạng trong ch�ng c� t�nh chất chuy�n độc của Việt Nam, bao gồm c�c b�nh (lư, vạc) c� nắp đậy (xem H�nh 11), c�c lọ c� nắp đậy, c�c c�i chậu, b�nh rượu, ly to (vại), c�c đĩa v� b�t.� C�c loại men b�ng bao gồm men chạm khắc m�u n�u, m�u kem, m�u n�u, m�u trắng, ngọc b�ch rạn, v�, v�o khoảng đầu thế kỷ thứ mười ba, c�c đồ gốm trang tr� m�u đen trước khi tr�ng men.� (Xem Bảng Chụp M�u Colour Pls. I-IV, v� c�c Bảng Pls. 3-8).

������ Tất cả c�c đồ n�y l� đồ s�nh (gốm sa thạch), v� tr�i với c�c đồ sứ đất s�t trắng (kaolin) được nung ở nhiệt độ cao hơn nhiều của Trung Hoa, ch�ng thụ đắc từ sự ch�n cất l�u d�i một m�i hương nhất định được thẩm định một c�ch th�ch hợp bởi một nh� cựu quản thủ cua Bảo T�ng Viện Quốc Gia ở S�ig�n, �ng Vương Hồng Sển đ� qu� cố, với �m�i của trận mưa xu�n đầu m�a�.� Cũng l� một đặc t�nh của nhiều đồ gốm sau n�y, m�i vị được nhận thấy r� trong một gian ph�ng chứa đầy c�c m�n đồ, v� c� thể l�m tăng m�i vị của một m�n đồ duy nhất bằng việc tẩm ướt bất kỳ phần th�, kh�ng tr�ng men n�o.

 

Ni�n Biểu Thời Nh� L� (1009-1225 Sau C�ng Nguy�n)

 

Ảnh chụp đồ mai t�ng thời nh� L�, miền bắc Việt Nam.�

Huet Collection, Mus�es Royaux d�Art et Histoire, Brussels

������ Kh�ng c� m�n đồ được ghi nh�n hiệu n�o của Huet tại Mus�es Royaux hay hai vụ khai quật thời nh� Tống của Janse 8 cung cấp bất kỳ manh mối n�o cho một sự x�c định ni�n đại ch�nh x�c hơn nh�n hiệu �nh� Tống� đơn thuần.� Pajot, trong c�c bức thư gửi về Trường Viễn Đ�ng B�c Cổ được lưu giữ tại Bảo T�ng Viện S�ig�n viết về c�c đồng tiền thời Tống li�n hệ; v� Janse đ� đặt việc ấn định ni�n đại của m�nh một phần tr�n sự kh�m ph� hai vi�n gạch x�y mộ hay b�i vị c� khắc chữ trong khi x�y dựng cầu H�m Rồng gần đ� ở tỉnh Thanh H�a, nơi m� nhiều m�n đồ tương tự với c�c m�n lộ ra tại c�c vụ khai quật địa điểm mai t�ng của �ng được đ�o bới bởi người d�n địa phương.� Một trong c�c khoản ghi khắc bao gồm một ni�n kỳ tương đương với ng�y 6 Th�ng Mười Một năm 1177.� Tuy nhi�n, một ni�n biểu thử nghiệm v� tổng qu�t c� thể được kiến tạo từ sự khảo s�t thể c�ch của c�c m�n đồ. Với việc giả định rằng c�c m�n đồ muộn nhất của Thanh H�a phải l� những m�n đồ giống nhất c�c m�n đồ mậu dịch sớm nhất của thời kỳ tiếp theo, chiều hướng tổng qu�t hợp thời nghi�ng về một sự tiến h�a từ c�c chiếc b�nh (lọ) độc đ�o địa phương đến c�c h�nh dạng, sự trang tr�, v� c�c men b�ng ng�y c�ng bị ảnh hưởng của Trung Hoa nhiều hơn.� Khuynh hướng n�y đ� vươn đến một cao điểm với c�c đồ gốm m�u xanh lơ (lam) v� trắng thế kỷ thứ mười lăm của Việt Nam, sau đ� c�c sự x�m nhập thể c�ch Trung Hoa hơn nữa kh�ng đ�ng kể mấy cho đến thế kỷ thứ mười bẩy.

������ Trong số c�c m�n sớm nhất của đồ gốm men b�ng thời nh� L� Việt Nam c� lẽ l� c�c đồ m�u n�u chạm khắc 9 (xem C�c Bảng Chụp M�u Colour Pls. I v� II, v� Bảng Pl. 3), một nh�m c� lẽ g�y cảm hứng bởi c�c sự tương phản sắc m�u đậm nhạt của c�c loại đồ gốm Cizhou của Trung Hoa, vốn sẵn phổ biến tại Trung Hoa v�o l�c khởi đầu của triều Bắc Tống (960-1126 Sau C�ng Nguy�n).� C�c h�nh dạng được hạn chế v�o c�c b�nh đựng cốt c� nắp đậy, một số với ch�n đứng thẳng rỗng kh�ng; c�c b�nh đựng h�nh ống, cao; c�c chậu cứng c�p rộng miệng; v� c�c lọ thấp với v�nh miệng loe ra.� C�c h�nh trang tr� được chạm khắc với c�c đường n�t của c�c c�i dao (lưỡi) cạo rộng bản, v� khoảng trống giữa ch�ng c� m�u n�u được tr�ng men.� Phần c�n lại của chiếc b�nh (lọ) sau đ� được phủ bằng một nước men thường nhỏ giọt, trong suốt hay hơi xanh r�u.� Trong một số trường hợp hiếm c�, sự phối hợp m�u sắc n�y bị đảo ngược; tr�n c�c m�n đồ kh�c ch�nh c�c n�t khắc được phủ men m�u n�u (th� dụ, Goloubew, 1931-2, Pl. XXXVII).� Đ�i khị một lớp mỏng nước �o m�u trắng c� thể được ph�t hiện b�n dưới men b�ng.� C�c đ�y lu�n lu�n kh�ng tr�ng men v� thường phẳng, v� cốt đất s�t c� m�u trắng nhờ hay x�m nhạt.

������ C�c mẫu trang tr� phần lớn l� hoa l� c�nh, với d�y leo v� nụ hoa đơn giản, thường hoa sen trổi bật, nhưng cũng c� h�nh c�c đ�m m�y, h�nh người chiến sĩ, c�c con chim đu�i d�i, c�, v� c�c động vật kh�c như hổ, khỉ, v� voi (Xem Colour Pls. Ib v� IIb-c; Pl. 3a-d; H�nh 12).� Ngo�i ra, một b�nh đựng di cốt c� nắp đậy tại Bảo T�ng Viện Mus�es Royaux c� c�c H�n tự cho �b�nh (lọ) rượu được viết bằng nước �o m�u n�u tr�n mặt trong kh�ng tr�ng men của nắp đậy.

������ Ch�nh với nh�m đồ vật n�y m� bộ phận chống đỡ l� nung h�nh đĩa c� cựa g� (spurred) xuất hiện lần đầu ti�n tại Việt Nam� C�c dấu vết để lại bởi c�c b�n ch�n nhỏ của gi� chống đất s�t chịu lửa cao (fire clay) thường được nh�n thấy tr�n đ�y b�n trong của cả c�c chậu lẫn b�nh đựng cốt, cho thấy rằng c�c chậu (b�nh, th�ng) n�y đ� đ�ng vai tr� sạp nung đồ gốm (saggar) hay th�ng đựng đồ để nung, tại l� nung với c�c m�n nhỏ được chồng l�n nhau b�n trong.� Sự sử dụng gi� chống đỡ tiếp tục phổ biến với c�c nh� l�m đồ gốm Việt Nam cho tới khi c� sự du nhập đồ gốm m�u lam trước khi tr�ng men, khi c�c vết sẹo trở n�n hiếm c�.

 

H�nh 12: C�c đề t�i tranh tr� chạm khắc đồ gốm m�u n�u của Việt Nam

 

������ Bởi c�c đồ m�u n�u chạm khắc kh�ng bao gồm đĩa, b�t, hay ly to (vại), c�c h�nh dạng đ�nh dấu sự tiến h�a đến c�c h�ng xuất cảng, nh�m n�y rất c� thể nhiều phần bị ngưng sản xuất v�o l�c c�c đồ gốm bắt đầu được xuất cảng ra khỏi xứ sở.� Mặc d� � tưởng về sự trang tr� hai m�u c� thể đến từ Trung Hoa, kh�ng kỹ thuật chạm khắc n�o hay c�c h�nh dạng n�o đ� được t�m thấy trong đồ gốm Trung Hoa.� Trong khi c�c đề t�i hoa l� tương tự được nh�n thấy nơi đồ gốm Trung Hoa thời nh� Tống (cuối thế kỷ thứ mười v� thế kỷ thứ mười một), c�c h�nh ảnh con người v� th� vật tương tự như c�c h�nh tren đồ gốm m�u n�u chạm khắc kh�ng c� nguy�n mẫu như thế. 10 Mặc d� một mảnh gốm vỡ của nh�m chạm khắc m�u n�u đ� được khai quật tại Sarawak, 11 nhiều phần c� vẻ l� phần lớn nh�m gốm m�u n�u chạm khắc v� c�c h�nh dạng đặc trưng của n�, khi ch�ng xuất hiện trong c�c nh�m men b�ng kh�c, thuộc ho�n to�n phạm vi của triều đại nh� L�.

������ Chia sẻ h�nh dạng của b�nh đựng [cốt] c� nắp đậy, h�nh dạng th�ng thường nhất trong số th� dụ m�u n�u chạm khắc c�n lại ng�y nay, l� c�c m�n đồ đơn sắc với c�c nước men m�u kem-hơi xanh r�u (xanh lục) mỏng hay m�u thổ ho�ng (ochre) hơi xanh r�u, m�u xanh r�u đậm hơn, m�u trắng v� m�u n�u.� Nhung c�c nh�m n�y cũng bao gồm c�c đĩa b�t, v� đ�i khi c�c chiếc vại (ly, cốc to), c�c h�nh dạng, phần lớn thuộc thế kỷ thứ mười ba b�o trước c�c đồ gốm mậu dịch sớm nhất.� Một nh�m th�n đậm kh�ng tr�ng men chỉ bao gồm c�c b�nh đựng cốt c� nắp đậy v� c�c lọ nhỏ c� nắp đậy (xem Colour Pl. Id) c� lẽ thuộc ho�n to�n thời ban sơ nh� L�.� C�c chiếc b�nh (lọ) được tạc khắc hay đ�c với sự trang tr� nhiều h�nh kỷ h� học (geometric), v� một số c� mặt trong được tr�ng lớp nước �o m�u n�u.� C�c đồ đơn sắc m�u kem-hơi xanh r�u, đối khi được nung đến một m�u c� thể được m� tả đ�ng hơn như m�u thổ ho�ng (mầu đất v�ng nhạt), bao gồm b�nh đựng c� nắp đậy, mặc d� lu�n lu�n với một đ�y phăng hơn l� loại gi� chống (stand-type), c�ng với c�c h�nh dạng li�n hệ, chăng hạn như b�nh uống h�nh củ h�nh với c�c v�i t� hon v� cổ b�nh h�nh c�nh hoa sen v� c�c b�nh c� nắp đậy h�nh trụ, đơn giản, nhỏ.� C�c h�nh dạng sau n�y khả hữu bao gồm c�c b�nh h�nh cầu l�n, c�c b�nh đựng rượu, v� c�c b�t, thường với v�ng ch�n được chạm khắc. (Xem Colour Pls Ic, IIIb-c, IV, Vd, v� Pl. 4a-c).

������ C�c đồ tr�ng men m�u n�u, tương đối hiếm trong số đồ vật t�m thấy ở Thanh H�a v� th�ng thường đơn sắc, c� lẽ khởi sự trong thế kỷ thứ mười hai.� Ch�ng bao gồm một số lượng nhỏ c�c b�nh c� nắp đậy, c�c b�nh chứa nhỏ, c�c chiếc vại, v� b�t.� C�c b�t thường c� đ�y m�u �chocolat: m�u b� trầu� hay nước �o m�u n�u, một đặc điểm th�ng thường của c�c đồ mậu dịch sau n�y.� Song c�c m�n đồ tr�ng men m�u n�u duy nhất được khai quật ngo�i nước l� c�c chiếc b�t với b�n ngo�i m�u n�u v� b�n trong tr�ng men m�u kem (Pl. 12a-b); c�c b�t n�y lu�n lu�n c� một v�ng chồng l�n kh�ng tr�ng men b�n trong đ�y b�t.� Mẫu tr�ng men tương tự duy nhất trong số c�c đồ kh�m ph� tại Thanh H�a được nh�n thấy bởi t�c giả n�y l� một b�t miệng rộng trong bộ sưu tập nghi�n cứu của Hiệp Hội Percival David Foundation (h�nh vẽ nơi H�nh 13, thứ ba b�n dưới).� N� c� c�c dấu c�o cấu b�n trong, v� giống như phần lớn c�c b�t v� vại từ Thanh H�a, c� một đ�y mặt trong được ph�n ranh: quanh chu vi của l�ng b�t nơi mối nối của c�c th�nh b�t l� một vết l�m h�nh tr�n kh�ng s�u.� C�c b�t m�u n�u đơn sắc được t�m thấy ở Việt Nam (giống như b�t được chụp ảnh trong Colour Pl. Vc) dường như đ� được nung �p ngược miệng b�t ngay ngắn, được bạt phẳng, v� kh�ng tr�ng men.� C�c m�n đồ gốm Việt Nam kh�c duy nhất c� thể đ� được nung theo c�ch n�y l� c�c đĩa lớn m�u xanh lam v� m�u trắng sau n�y, c� một gờ nh� l�n kh�ng tr�ng men quanh miệng đĩa bạt phẳng.

������ C�c đồ đơn sắc m�u trắng v� m�u xanh ngọc b�ch xem ra đ� tồn tại xuy�n qua thời nh� L� v� k�o d�i đến thế kỷ thứ mười bốn.� Cả hai bao gồm c�c h�nh dạng li�n hệ đến c�c m�n đồ m�u n�u chạm khắc (Colour Pl. Ic), cũng như với c�c đồ gốm mậu dịch ban sơ, mặc d� ch�ng xem ra đ� l� c�c m�n được ưa chuộng nhất trong c�c thế kỷ thứ mười ba v� mười bốn.� C�c b�t v� vại từ Thanh H�a (Pls. 6 v� 7), thường ph� b�y một lớp men l�t m�u �b� trấu, với nước �o m�u n�u, như được l�m trong c�c phi�n bản về sau của c�c h�nh dạng n�y vốn được kh�m ph� ra ở hải ngoại.� Một đặc t�nh chung kh�c nối kết c�c m�n đồ mới nhất trong c�c kh�m ph� ở Thanh H�a với c�c m�n đồ đầu ti�n của c�c h�ng mậu dịch l� một v�nh miệng được l�m tr�n.� Đặc điểm n�y c� thể được nh�n thấy nơi b�nh đựng rượu c� thể thuộc thế kỷ thứ mười ba v� tr�n b�nh nhỏ, cả hai được chụp ảnh trong Bảng Chụp M�u (Colour Plate) III (so s�nh với b�nh nhỏ của Colour Plate VIId).� Một nguy�n mẫu của c�c chiếc hộp c� nắp đậy xuất cảng sau n�y, kh� phổ th�ng, c� thể được nh�n thấy nơi Bảng Chụp M�u Colour Plate IIIb.� Một h�nh dạng bất thường v� kh�ng phổ th�ng trong số c�c kh�m ph� ở Thanh H�a đ�i khi c� c�c vết của một nước men hơi xanh r�u, mỏng l� khay hay hộp đựng đồ trang điểm được tr�nh b�y nơi Bảng 5 (Plate 5).� Một th� dụ đựoc t�m thấy được đi k�m bởi một nấp đậy vừa kh�t (Janse, 1958, Pls. 82-3).

H�nh 13: Một số h�nh dạng đồ gốm Việt Nam thế kỷ thứ mười ba

 

 

������ Trong số c�c đồ kh�m ph� sau n�y ở Thanh H�a, c�c m�n đồ thuộc c�c thế kỷ thứ mười hai v� mười ba, l� hai loại đồ c� m�u ngọc b�ch, cả hai cũng c� thể được t�m thấy trong c�c h�ng mậu dịch ban sơ.� Kh�ng giống với nước men kem-hơi xanh r�u nhạt, mỏng xuất hiện tr�n c�c m�n đồ sớm hơn, cả hai thứ n�y c� m�u xanh ngọc b�ch r� r�ng hơn. 12 Một loại thường xuất hiện nơi c�c b�t tương đối đơn giản, cỡ trung, xương gốm dầy (heavily potted), với v�nh miệng được lộn mặt trong ra ngo�i v� v�ng ch�n đế được chạm trỗ.� N� c� m�u xanh olive đậm, tối, đục, dầy v� thường phủ l�n một lớp nước �o trắng nhờ cũng c� thể kh� dầy (Pl. 72-d).� Nhiều m�n của c�c đồ n�y c� một lớp men �m�u b� trầu� (nước �o m�u n�u), v� phần lớn c� hoặc vết c�o ở mặt trong hay một v�ng tr�n chồng chất kh�ng tr�ng men.� Loại n�y �t khi c� một m�u xanh r�u kh� quyến rũ.

������ Loại thứ nh� của đồ m�u ngọc b�ch c� m�u xanh r�u rất nhạt v� mờ hay xanh r�u hơi v�ng.� Loại n�y được t�m thấy trong c�c đồ sau n�y ở Thanh H�a cũng như tr�n c�c b�t được t�m thấy trong số kh�m ph� đồ mai t�ng ở Tak�Omkoi, Th�i Lan (xem, Phần Dẫn Nhập, C�c Bảng Chụp M�u IV, v� VIIa, v� c�c Bảng 6a-c, 9c).

������ Thực ra, đồ m�u ngọc b�ch trong số h�ng gốm mậu dịch Việt Nam l� một c�u đố.� Loại được t�m thấy ở c�c địa điểm Tak�Omkoi th� rất r� n�t, nhưng c� c�c m�n đồ bất chợt kh�c, ph�n đo�n từ h�nh dạng của ch�ng, c� ni�n đại ở v�o nhiều thời điểm kh�c nhau trong thế kỷ thứ mười bốn v� c� thể thuộc thế kỷ thứ mười lăm, song chưa tạo th�nh một nh�m r� rệt.� C�c b�nh nhỏ v� đĩa c� đường g�n nổi của Bảng Plate 12c-e l� c�c th� dụ.� M�u ngọc b�ch th� đục (v� c� lẽ được l�m như thế bằng việc d�ng nước �o dưới nước men, điều hiện r� tr�n một b�nh nhỏ) nhưng m�u sắc l� một m�u xanh r�u hấp dẫn, kh�ng phải m�u xanh olive (quả tr�m) u �m của c�c b�t Thanh H�a sau n�y.� V�o thế kỷ thứ mười lăm, l� thời điểm muộn nhất, kh�ng c�n bằng chứng n�o nữa về đồ m�u ngọc b�ch của Việt Nam.� Tại sao n� lại biến dạng như thế?� Người ta thắc mắc l� liệu c�c nh� sản xuất đồ gốm Việt Nam đ� từ bỏ kh�ng sản xuất n� khi đối diện với sự cạnh tranh từ c�c đồ m�u ngọc b�ch hấp dẫn hơn khi đ� đang đổ v�o thị trường, hay liệu, c� lẽ, c� c�c đồ m�u ngọc b�ch Việt Nam vẫn chưa được x�c định.

������ Một m�n đồ chỉ được ph�t triển ngắn ngủi trước khi c�c đồ gốm bắt đầu được xuất cảng l� loại được trang tr� bằng sắt trước khi tr�ng men, ảnh hưởng m� giờ n�y ch�ng ta biết rằng đến từ c�c đồ gốm Quảng Đ�ng (xem phần Dẫn Nhập).� Nh�m trước khi tr�ng men n�y (xem Colour Pl. VId v� Pl. 8a-d) bao gồm một loạt c�c b�t, một số trong ch�ng th� lớn v� c� nắp đậy, v� c�c b�nh (lọ) nhỏ.� Nước men tr�n c�c m�n đồ n�y thường l� m�u trắng sữa, che lấp sự trong s�ng của phần trang tr� trước khi tr�ng men tr�n một số mẫu, một vấn đề c� lẽ được giải quyết tr�n c�c m�n đồ kh�c bằng việc vẽ tr�n nước men (th� dụ, Bảng Pl. 8a?), một kỹ thuật, theo Sir Harry Garner (1954, trang 3), hiển nhi�n được sử dụng tr�n một số đồ Trung Hoa m�u lam-v�-trắng ban đầu.� C�c v�ng ch�n b�t được chạm trỗ, chứ kh�ng phải c�c đ�y bằng, bắt đầu trở n�n phổ th�ng như ch�ng cũng như thế trong c�c đồ kh�m ph� Thanh H�a kh�c, chẳng hạn như c�c chiếc b�nh (lọ) tr�ng men m�u ngọc b�ch, trắng v� n�u được giả định c� ni�n đại của c�c năm ngay trước c�c vụ xuất cảng đầu ti�n.� Nhưng trong khi phần lớn c�c kh�m ph� Thanh H�a sau n�y kh�c c� c�c dấu c�o tr�n mặt trong đ�y, một số b�t m�u đen trước khi tr�ng men c�, thay v�o đ�, c�c v�ng tr�n kh�ng tr�ng men được ch�n b�n trong để chồng b�t l�n nhau.� C�c sự trang tr� m�u đen trước khi tr�ng men kể cả c�c đồ l�e s�ng như �nh mặt trời (sunbursts) được nhin thấy sau n�y tr�n c�c đồ gốm Sukhothai v� Sawankhalok của Th�i Lan, c�c đề t�i hoa l� c�ch điệu, c�c dải đơn giản tr�n một b�nh (lọ) đơn sắc c�ch n�o kh�c m�u trắng, hay c�c nh�m với n�t b�t to v� định h�nh (Colour Pl. VId).� Một b�t h�nh n�n tại C�c Bảo T�ng Viện Ho�ng Gia, Brussels, c� h�nh một con rồng d�i, uốn kh�c ở mặt ngo�i của n�.

 

C�c H�ng Gốm Xuất Cảng Ban Đầu

Thời điểm ch�nh x�c khi Việt Nam lần đầu bước v�o c�ng cuộc mậu dịch đồ gốm xuất cảng kh�ng được biết chắc chắn, nhưng bằng chứng về thể c�ch khiến ta nghĩ v�o cuối thế kỷ thứ mười ba hay đầu thế kỷ thứ mười bốn khi, dưới thời nh� Trần Việt Nam (1225-1400), c�c người tỵ nạn Trung Hoa c� đầu �c thương mại chạy trốn qu�n M�ng Cổ x�m lăng đang x�m chiếm c� thể đ� định cư trong nước v� trợ lực v�o việc lưu th�ng c�c đồ gốm địa phương ra hải ngoại.� Tuy nhi�n, mậu dịch ban sơ nhất thiết c�n thưa thớt, nhưng đ� phơi b�y c�c dấu hiệu của sự b�nh trướng trong cuối thế kỷ thứ mười bốn, c� thể như một hậu quả của vị Ho�ng Đế nh� Minh đầu ti�n, H�ng Vũ (1368-98), cố gắng cấm đo�n c�c cuộc du h�nh hải ngoại của người Trung Hoa (Chan Cheung, 1967, trang 223), v� đ� l�n đến đỉnh cao của n� trong c�c thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u.� Ngay d� thế, n� kh�ng hề thực hiện bất kỳ sự truy k�ch lớn lao n�o trong c�c người ti�u thụ đồ gốm mậu dịch Trung Hoa.� Chỉ c� một số ước lượng 2.4 phần trăm c�c đồ gốm ngoại quốc từ thế kỷ thứ mười lăm đến thế kỷ thứ mười s�u được khai quật tại Phi Luật T�n l� của Việt Nam, trong khi c�c đồ của Th�i Lan bao gồm từ 20 đến 40 phần trăm tổng số trong c�ng thời kỳ. 13 Tại Indonesia (Nam Dương), c�c nh� khảo cổ tin tưởng rằng tỷ lệ đồ gốm Việt Nam th� cao hơn số ở Phi Luật T�n, mặc d� ch�ng nhất quyết �t hơn về số lượng so với c�c đồ của Th�i Lan.� C� lẽ, thị trường quan trọng nhất cho Việt Nam tại Indonesia l� kinh đ� của vương quốc Majapăhit (1292 � khoảng 1500), nơi được tin đ� tọa lạc gần l�ng Trowulan ng�y nay tại Đ�ng Java.� Kinh đ� n�y dường như c�n đặt h�ng đặc biệt về ng�i gờ tường, c�c mảnh vỡ của ch�ng vẫn c�n c� thể t�m thấy ở v�ng phụ cận của Trowulan, một nh�m trong ch�ng được trưng b�y tại Bảo T�ng Viện Museum Pusat, Jakarta (c�ng xem Guy, 1986, H�nh 26 v� Pl. 119).� C�c mẫu to�n vẹn, kh�ng bể vỡ c� lẽ đ� được di chuyển từ c�c địa điểm nguy�n thủy của ch�ng tại c�c kiến tr�c thế tục sau khoảng năm 1500, song trong thực tế, trang tr� cho một số đền Hồi gi�o tại miền Đ�ng v� Trung Java, c�c đồ nổi tiếng nhất trong ch�ng ở tại Demak (Ridho, 1982, trang 36).� �t nhất một h�nh nh�n đồ gốm do Việt Nam chế tạo theo đơn mua h�ng đặc biệt, c� lẽ c� ni�n đại trong thế kỷ thừ mười s�u, ph� b�y một người bản xứ với một dao ngắn kiểu Java (kris Java) cũng được hay biết từ Indonesia (H�nh được tr�nh b�y trong s�ch của Gillert, 1978, trang 89 v� Adhyatman, 1981, Pl. 362).

������ Sự chuyển tiếp từ thời cuối Thanh H�a đến đồ mậu dịch ban sơ, dường như kh�ng c�n được ch�n c�ng với người chết tại Việt Nam mặc d� ch�ng vẫn c�n được d�ng như c�c vật mai t�ng bởi d�n bản xứ của Phi Luật T�n v� c�c phần của Indonesia, th� kh� �m thắm.� C�c h�nh thể li�n tục bao gồm c�c b�t với v�nh miệng được lộn từ trong ra ngo�i; c�c b�t h�nh n�n, thường với men xanh r�u nhạt, trong mờ v� phần trang tr� ph� đi�u thấp; v� c�c vại c� th�nh ngo�i trơn hay khắc vạch kh�c với c�c b�t c� g�n nổi của c�c mẫu sớm hơn.� Cả hai sự sử dụng c�c bộ phận chống đỡ l� nung c� h�nh đĩa, thường để lại c�c dấu c�o, h�nh tam gi�c hay c� h�nh c�i ch�m (wedge) lẫn, ngoại trừ c�c đồ m�u đen trước khi nung, c�c v�ng để chồng b�t đĩa l�n kh�ng tr�ng men tr�n c�c b�t, được giữ lại.� C�c v�nh miệng được m�i tr�n, xuất hiện tr�n một số b�nh (lọ) thời cuối Thanh H�a, cũng ti�u biểu cho nhiều lọ nhỏ mậu dịch ban sơ.� Ngo�i ra, c�c đ�y phẳng, sau n�y biến mất, song kh�ng hiếm.� Tuy nhi�n, kh�ng thể giải th�ch được, trong thực tế tất cả c�c h�nh dạng m�u đen trước khi nung sớm hơn ho�n to�n bị từ bỏ, v� v�nh miệng hoa l� c�nh tr�n c�c b�t trở n�n một thứ khan hiếm.� Tất c� c�c loại sớm hơn (ngoại trừ chạm khắc m�u n�u) được tiếp tục cho đến thế kỷ thứ mười bốn khi một men đơn sắc mới đưa ra một sự xuất hiện ngắn ngủi � xanh đồng (copper green) (xem Colour Pl. VIIb).�������

������ C�c h�ng xuất cảng c� thể được ph�n chia một c�ch thuận tiện th�nh ba nh�m.� Những m�n h�ng thuộc nh�m đầu ti�n hay ban sơ, được tin l� thuộc v�o cuối thế kỷ thứ mười ba v� thế kỷ thứ mười bốn; ch�ng bao gồm c� lẽ đa số c�c đồ đơn sắc v� c�c đồ đen sắt trước khi tr�ng men m� Beyer (1947, trang 251) cho hay thường được thấy đi liền với c�c đồ Trung Hoa xưa hơn đồ g�m lam-v�-trắng.� Những m�n đồ thuộc nh�m thứ nh� th� được trang tr� gần như chuy�n độc bằng m�u lam trước khi tr�ng men (đ�i khi, v�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười lăm, c�ng với c�c men b�ng (enamels) phủ ngo�i c�ng m�u đỏ, xanh r�u, v� m�u v�ng v� được t�m thấy tại Indonesia v� Phi Luật T�n đi c�ng với c�c đồ Trung Hoa c� ni�n đại từ thế kỷ thứ mười lăm đến mười s�u, v� với c�c đồ gốm Sawankhalok Th�i lan.� Nh�m thứ ba, bao gồm c�c đồ lam-v�-trắng c�ng với c�c đồ phủ men b�ng ngo�i c�ng nhiều m�u, với ni�n đại ch�nh yếu l� thế kỷ thứ mười bẩy, với v�i m�n tr�ng men b�ng thuộc v�o thế kỷ thứ mười t�m.

 

H�nh 14: B�nh đựng nước trang tr� sắt den b�n dưới lớp men của Việt Nam.�

Cao: 11 cm.� Thế kỷ thứ mười bốn

 

H�nh 15: Một số chủ đề trang tr� m�u đen b�n dưới lớp men của đồ gốm Việt Nam.�

Thế kỷ thứ mười bốn

 

������ C�c m�n đồ dồi d�o nhất từ cuối thế kỷ thứ mười ba đến thế kỷ thứ mười bốn l� những m�n được trang tr� bằng sắt trước khi tr�ng men, theo sau bởi c�c m�n tr�ng men m�u xanh r�u.� C�c đồ tr�ng men m�u n�u chỉ gồm c�c b�t với v�nh miệng được lộn từ trong ra ngo�i v� mặt ngo�i m�u n�u, với mặt trong tr�ng men m�u kem (Bảng Pl. 12a-b) một trong ch�ng l� b�t tr�n c�ng của một chồng phế phẩm bị ch�y x�m của c�c b�t tr�ng men xanh r�u từ Th�nh Đại La trong sưu tập Huet tại Mus�es Royaux.� K�m theo chồng b�t l� một mẩu giấy viết tay x�c định n� thuộc thế kỷ thứ mười bốn.� C�c đồ đơn sắc m�u trắng cũng được xuất cảng, nhưng ch�ng kh�c biệt cả về mặt h�nh dạng lẫn chất men so với c�c đồ trước đ�, với h�nh dạng phổ th�ng nhất l� một lọ nhỏ đ�y bằng kh�ng được hay biết trước đ�y.�

������ C�c h�nh dạng mới của thế kỷ thứ mười bốn bao gồm c�c b�t nhỏ như cốc (t�ch) c�c đĩa thuộc nhiều k�ch thước kh�c nhau, c�c hộp c� nắp đậy h�nh bầu dục, c�c lọ nhỏ đ�y bằng, v� đ�i khi c�c b�nh đựng nước uống nhỏ h�nh tr�i bầu v� c�c c�i chai (xem H�nh 14).� Nhiều thứ c� v�ng ch�n đế được chạm trỗ, phần lớn trong ch�ng rộng v� n�ng một c�ch kh�c thường (xem Colour Pl. VIIIb), một loại đ� biến mất với sự du nhập của đồ m�u lam-v�-trắng.� Tr�n những m�n đồ kh�c, v�ng ch�n đế th� thẳng ở mặt ngo�i v� xi�n g�c ở mặt trong.� Cốt (th�n) của c�c m�n đồ vẫn c� đặc điểm ri�ng biệt của Việt Nam: đất được xay th�nh bột mịn, hơi c� bọt (bị rỗ nhẹ), v� thường trắng nhờ hay, �t thường xuy�n hơn, m�u x�m nhạt.� (Xem Colour Pls., VIIa-c v� C�c Bảng PLs. 9-12).

������ C�c hoa văn m�u đen sắt trước khi tr�ng men tương đối bị hạn chế (H�nh 15), họa kiểu phổ biến nhất l� hoa nở uốn kh�c xum xu�, c� lẽ một hoa c�c thường được v�ng quanh v� đ�i khi với ba c�nh l�.� C�c họa kiểu kh�c bao gồm đ�i hoa sen v� c�c dải của một cuộn giấy cổ điển giản lược.� Tren một số c�c m�n đồ kh�c, đặc biệt khi c� nước men mỏng, c�c họa kiểu trước khi tr�ng men c� thể c� sắc xanh olive hay hơi n�u; tr�n c�c đồ mẫu Thanh H�a chất ox�t sắt của họa kiểu được vẽ dường như l�c n�o cũng được nung th�nh một m�u đen đậm.

������ Đ�y m�u b� trầu, được du nhập đầu ti�n trong c�c đồ thời cuối Thanh H�a, trở n�n th�ng dụng trog thế kỷ thứ mười bốn, mặc d� xem ra chưa phải l� ti�u chuẩn theo đ� ti�n đo�n cho sự hiện diện hay vắng mặt của n�; n� gồm c� một nước �o m�u n�u c� thể được �p dụng cho hoặc c�c b�nh (lọ) đ�y bằng hay c�c m�n đồ c� v�ng ch�n đế chạm trỗ. �Tr�n c�c m�n đồ thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u, nơi c�c v�ng tr�n ốc của n�t b�t thường r� r�ng, như Adrian Joseph đ� ghi nhận (1973, trang 138) ch�ng thường vươn ra từ trung t�m theo chiều ngược kim đồng hồ -- ngược với c�c dấu tr�ng men tr�n đ�y c�c m�n đồ Trung Hoa.� Tr�n c�c m�n đồ thế kỷ thứ mười bốn, nước �o thường qu� đậm để cho thấy chiều của c�c n�t b�t.� Chiều quay, Jooseph giải th�ch, cho thấy rằng b�n quay của nh� l�m đồ gốm Việt Nam quay theo một hướng ngược với b�n quay của Trung Hoa.� D�Argence; (1958) đ� phỏng đo�n rằng nước �o c� thể đ� được thiết kế ra c�c m�n đồ d�nh ri�ng cho sự sử dụng của đền miếu, nhưng mặc d� n� tức thời c� thể c� một � nghĩa biểu trưng như thế, n� th� phổ th�ng trong c�c m�n h�ng xuất cảng như trong c�c m�n đồ được thu hồi tại Việt Nam, v� c�c m�n đồ c� phẩm chất tương tự c� thể c� hay kh�ng c� nước �o.� C� lẽ n� đ� chỉ được th�m v�o t�y � th�ch của nh� l�m đồ gốm hay như một loại c�ng cụ để đếm.� Trong bất kỳ trường hợp n�o,� điều đ� khiến cho một đồ gốm tr�ng �ho�n chỉnh� hơn, v� như sẽ được ghi nhận sau n�y, đ�i khi được sao ch�p lại tr�n c�c m�n đồ ở Sawankhalok v� Kalong, Th�i Lan.��������

 

Sự Du Nhập Đồ Gốm M�u Lam-v�-Trắng

������ Kh�c ngoặt trong sự ph�t triển của đồ gốm Việt Nam trong thế kỷ thứ mười lăm c� thể l� một kết quả của cuộc x�m lăng của nh� Minh v�o nước n�y trong năm 1407 v� sự chiếm đ�ng Việt Nam bởi người Trung Hoa cho đến 1428.� Một lần nữa, xứ sở bị phơi b�y trước t�c động trọn vẹn của văn minh Trung Hoa v� c� lẽ, cũng thế, trước sự nhập cảnh của c�c nh� l�m đồ gốm Trung Hoa.� M�n nợ m� c�c đồ gốm m�u lam-v�-trắng của Việt Nam trong c�c thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u phải chịu đối với c�c đồ gốm m�u lam-v�-trắng Trung Hoa thế kỷ thứ mười bốn th� hiển hiện khi tho�ng nh�n qua (xem Pope, 1952 v� 1956).� Hơn nữa, bảy chuyến du h�nh của Trịnh H�a giữa 1405 v� 1433 (Mills, 1970) ngo�i việc thiết lập một Văn Ph�ng Dương Thuyền Mậu Dịch Trung Hoa (Chinese Bureau of Trading Junks) tại Bắc Kỳ kh�ng l�u sau cuộc x�m lăng (Chang, 1969, trang 29), cho thấy một sự ch� � t�i sinh của Trung Hoa �t nhất đến mậu dịch ch�nh thức tại v�ng Nam Hải (South Seas).� Hậu quả, c�c m�n đồ được mậu dịch từ Việt Nam sau l�c khởi đầu thế kỷ thứ mười lăm th� dồi d�o hơn nhiều ở hải ngoại so với c�c m�n đồ của thời kỳ trước đ�. 14 Ch�ng bao gồm, c� lẽ chỉ ri�ng v�o thế kỷ thứ mười lăm, đồ gốm m�u lam-v�-trắng, c� v� kh�ng c� c�c lớp men b�ng phủ ngo�i c�ng.

������ Với sự du nhập chất cobalt [sinh ra chất nhuộm m�u xanh thẫm cho đồ gốm, ch� của người dịch] cho sự trang tr� được vẽ trước khi tr�ng men, c�c đồ đơn sắc v� đen sắt trước khi tr�ng men đ� mau ch�ng bắt đầu biến mất, mặc d� thoạt đầu sự x�m nhập của m�u lam trong danh mục đồ gốm Việt Nam th� kh� nh�n thấy.� Khởi thủy n� bắt đầu thay thế cho sắt trước khi tr�ng men trong việc trang tr� v� tr�n c�c h�nh dạng vẫn chưa thay đổi với c�c m�n đồ được chỉ danh ở tr�n thuộc thế kỷ thứ mười bốn; c�c m�n đồ chuyển tiếp, dần d� bắt đầu bao gồm nhiều đề t�i Trung Hoa hơn chẳng hạn như c�c bảng vẽ hoa sen, cuộn giấy hoa sen, một số đề t�i h�nh động vật, c�c đ�m m�y, v� c�c dải vẽ c�nh hoa chồng l�n tr�n, được biểu thị bởi một m�u lam nhạt hay phơn phớt x�m đẹp xinh trước khi tr�ng men.� Đ�i khi m�u lam c�n hiện ra tr�n c�ng một m�n đồ với sắt trước khi tr�ng men, do đ� cung cấp bằng chứng rằng cả hai m�n đồ đ� được sản xuất c�ng l�c �t nhất trong một thời gian (th� dụ, Colour Pl. VIIc v� Pl. 13a).

������ Tuy nhi�n, thời điểm ch�nh x�c khi chất cobalt bắt đầu được sử dụng th� bất định.� Bản th�n ph�a Việt Nam, theo c�c tham dự vi�n tại cuộc hội thảo đồ gốm năm 1985 tại H� Nội đ� sẵn được n�i tới, tin tưởng rằng n� đ� được du nhập trong nửa sau của thế kỷ thứ mười bốn, v� gần đ�y một số bằng chứng hậu thuẫn cho quan điểm của họ đ� xuất hiện tại Nhật Bản.� Theo t�c giả John Guy (1986, trang 47), mảnh vỡ một b�t m�u lam-v�-trắng với đề t�i hoa l� sơ s�i rất nổi tiếng tr�n c�c đồ gốm trang tr� bằng sắt trước khi tr�ng men được t�m thấy trong năm 1980 tại đảo Ryukyus c� thể đ� vươn tới địa điểm ngay từ 1363 nhưng kh�ng muộn hơn năm 1416.� Một kh�m ph� trước đ� tại Nhật Bản, cũng được b�o c�o bởi t�c giả Guy (1986, trang 46, H�nh 18), cung cấp một ni�n đại an to�n l� năm 1330 cho một mảnh vỡ của một đĩa trang tr� bằng sắt trước khi tr�ng men với c�ng hoa văn chủ đề.� Như thế, trong khi c� thể rằng nhiều đồ gốm chuyển tiếp m�u lam trước khi tr�ng men (v� c� lẽ c�ng với một số mẫu trang tr� bằng sắt trước khi tr�ng men, chẳng hạn như hộp c� nắp đậy được chụp h�nh tr�n Bảng Plate 11a) c� ni�n đại v�o khoảng một phần tư đầu ti�n của thế kỷ thứ mười lăm, c�c m�n đồ đ� tương tự nhiều nhất với c�c m�n đồ trước ch�ng c� thể c� ni�n đại trước khi xảy ra cuộc x�m lăng của Trung Hoa.

 

C�c Thế Kỷ Thứ Mười Lăm v� Mười S�u

H�nh 16: Chủ đề C� từ c�c đĩa khổ lớn.

C�c thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u.

������ Tuy nhi�n, c�c đồ gốm m�u lam-v�-trắng c�n lại đ�nh dấu một sự đoạn tuyệt gần như ho�n to�n với qu� khứ.� C� một sự phong ph� c�c h�nh dạng cảm hứng từ Trung Hoa v� to�n thể một loạt c�c đề t�i v� c�c sự b�i tr�; trang tr� mới.� C�c vết cạo v� c�c khoanh tr�n xếp chồng l�n nhau kh�ng tr�ng men của c�c m�n đồ trước đ� thực tế biến mất; c�c v�ng ch�n đế n�ng, rất rộng, ti�u biểu cho nhiều m�n đồ thế kỷ thứ mười bốn kh�ng c�n được nh�n thấy; v� gần như mọi h�nh dạng trước đ�y đ� thay đổi hay bị loại bỏ.� H�ng loạt đồ c� h�nh dạng mới thuộc thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u ho�n to�n g�y kinh ngạc.

������ Những thứ tốt nhất của c�c m�n đồ m�u lam-v�-trắng c� lẽ đều được sản xuất khoảng giữa thế kỷ thứ mười lăm, ni�n đại của b�nh (lọ) được ghi ch� tại Bảo T�ng Viện Topkapi Saray Museum ở Istanbul (Colour Pl. X) l� sản phẩm m� phần lớn c�c m�n đồ ho�n hảo nhất d�ng để so s�nh.� Tuy nhi�n, ngay l�c bắt đầu thế kỷ thứ mười s�u c�c m�n đồ vẫn c�n giữ được tiếng tốt.� Tome Pires, trong thực tế, c� n�i về Bắc Kỳ trong quyển Suma Oriental của �ng ta (1944, Quyển I, trang 115), được viết giữa năm 1512 v� 1515 tại Malacca, rằng �họ c� đồ sứ v� đồ gốm � một số c� gi� trị lớn lao -- v� c�c h�ng n�y được di chutyển từ đ� sang Trung Hoa để b�n. 15

������ Mặc d� họ đ� ph�t triển c�c biến thể ri�ng biệt của ch�nh họ tr�n c�c h�nh dạng v� thiết kế, c�c nh� l�m đồ gốm của Việt Nam, một khi đ� giao tiếp với c�c thể điệu m�u lam-v�-trắng Trung Hoa thế kỷ thứ mười bốn, đ� kh�ng mạnh mẽ tự khẳng định lại nữa.� C�c h�nh dạng v� c�c chủ đề trang tr� hẳn đ� được hấp thụ v� th�ch ứng v�o khoảng giữa thế kỷ thứ mười lăm trong thực chất vẫn giữ nguy�n, kh�ng thay đổi cho m�i đến thế kỷ thứ mười bảy.� Song c�c đồ gốm Việt Nam hiếm khi l� c�c bản sao ch�p một c�ch qu� lệ thuộc v�o h�ng Trung Hoa.� Trong khi c�c mẫu chẳng hạn như cuộn vẽ hoa sen, d�y leo với hoa mẫu đơn, v� con c� trong cỏ nước [ell-grass trong nguy�n bản, chỉ một loại cỏ sống dưới nước, ch� của người dịch] được vay mượn từ sự trang tr� đồ gốm Trung Hoa (xem Pope, 1952), ch�ng kh�ng bao giờ l� c�c sự sao ch�p ch�nh x�c (xem C�c H�nh 16-18).� Nơi đặt để sự trang tr� cũng kh�c biệt.� Hoa mẫu đơn với c�nh l� th� th�ng dụng tr�n khu�n ở giữa của đĩa lớn của Việt Nam (th� dụ Pl. 16a) lại thường chiếm một khoản nằm ngang tr�n c�c b�nh Trung Hoa.� Tương tự, cuộn cổ điển tr�n miệng v�nh của c�c đĩa Việt Nam được nh�n thấy ở chỗ kh�c tr�n c�c m�n đồ Trung Hoa tương tự, tr�n đ� một đường viền h�nh thoi được t� điểm th�ng thường nhất miệng v�nh.

������ C�c h�nh dạng Việt Nam, trong sự biến thể xem ra v� chừng, bao gồm c�c c�i chai, lọ, đĩa, đĩa lớn, b�t, hộp c� nắp đậy, b�nh (chai) nhỏ đựng nước kiểu M� Lai, cổ thắt lại để uống [kendi, tiếng M� Lai trong nguy�n bản, ch� của người dịch], lọ nhỏ, ống nhỏ giọt nước h�nh th� vật,mv� c�c mẫu vật thu nhỏ.� Sự bổ t�c lớp men b�ng phủ ngo�i c�ng m�u đỏ v� xanh r�u v� đ�i khi m�u v�ng r� r�ng c� t�nh chất t�y � tr�n bất kỳ m�n n�o trong ch�ng v� đ� được thực hiện trong suốt phần lớn thời kỳ từ giữa thế kỷ thứ mười lăm đến thế kỷ mười s�u; một m�n đồ ngoại lệ được chụp nơi Colour Plate VIIIf chỉ c� c�c men b�ng.

 

H�nh 17: C�c đề t�i trang tr� m�u lam b�n dưới lớp men, c�c thế kỷ mười lăm v� mười s�u

 

������ Cốt gốm vẫn giữ nguy�n kh�ng thay đổi từ cốt của c�c m�n đồ trước đ�, mặc d� đ�i khi n� được nung tới độ rắn nhiều hơn.� C�c đ�y thường được phủ bằng một nước men trong, mỏng, v� với một nước �o m�u b� trầu tr�n c� lẽ một phần ba của c�c m�n đồ.� C�c v�ng ch�n đế thường đổ xi�n ở ph�a trong, mặc d� ch�ng c� thể hoặc cao, mỏng, hay thẳng (Colour Pl. VIIIc); thấp v� vu�ng, hay thấp v� tr�n.� C�c đ�y bằng th� hiếm.� C�c gờ b�n ngo�i nh� cao kh�ng tr�ng men tr�n v�nh miệng của c�c đĩa lớn khiến li�n tưởng rằng c�c m�n đồ n�y hoặc được chống �p ngược tr�n c�c th�nh của c�c sạp xếp đồ nung hay xếp mặt đối mặt, đ�y đối đ�y theo một c�ch tương tự với c�c m�n đồ ở Sankampaeng sẽ được thảo luận nơi Chương 5 [của nguy�n bản, ch� của người dịch].� Số c�n lại của c�c m�n đồ c� lẽ được nung hướng l�n tr�n v�ng ch�n đế của ch�ng, c�c v�nh miệng của ch�ng kh�ng được tr�ng men.

������ Kh�ng may, bởi v� sự đồng nhất nội bộ của c�c m�n đồ v� sự khan hiếm c�c dữ liệu khảo cổ, thật l� cực kỳ kh� khăn l�c n�y để đặt ch�ng v�o một tr�nh tự theo ni�n biểu c� t�nh chất thuyết phục. 16 Trong khi một số đồ gốm n�o đ� c� thể được ấn định ni�n đại một c�ch an to�n thuộc đầu thế kỷ thứ mười lăm v� c�c l� do vể thể c�ch, chẳng hạn như c� c�c h�nh dạng v�/hay sự trang tr� tương tự như c�c đồ đơn sắc v� được trang tr� bằng sắt m�u đen trước khi tr�ng men của thế kỷ thứ mười bốn, hay thuộc giữa thế kỷ thứ mười lăm bởi c�c sự giống nhau về thể c�ch với b�nh (lọ) ở Istanbul, phần lớn số c�n lại th� kh� khăn để ấn định ni�n đại ngoại trừ việc n�i trong v�ng 200 năm của c�c thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u.� V� c�c l� do lịch sử, tức sự khan hiếm c�c đồ gốm Trung Hoa bởi v� c� sự ngăn cấm của Trung Hoa về việc mậu dịch hải ngoại được hạ chiếu chỉ trong năm 1371 v� một sự đ�nh chỉ thực sự c�c l� nung �t nhất ở Jingdezhen (Cảnh Đức trấn) giữa c�c năm 1436 v� 1465 (thời kỳ �tạm ngưng: interregnum� trong đồ gốm Trung Hoa), đa số c�c đồ gốm mậu dịch m�u lam-v�-trắng của Việt Nam c� lẽ thuộc v�o thế kỷ thứ mười lăm khi c�c l� nung của Th�i Lan chắc chắn cũng t�ch cực nhất.� Song khi được t�m thấy tại c�c địa điểm nơi m� đồ gốm m�u lam-v� trắng của Trung Hoa c� mặt � điều dường như lu�n lu�n sẽ xảy ra, cho đến nay kh�ng c� địa điểm n�o được biết l� chỉ c� ri�ng đồ gốm Việt Nam v� Th�i Lan � c�c m�n đồ Trung Hoa được ph�n c� ni�n đại thuộc thế kỷ thứ mười s�u hay, sớm nhất, �v�o khoảng 1500 sau C�ng Nguy�n� bởi phần lớn c�c chuy�n vi�n, 17 mặc d� kh�ng c� việc trưng dẫn n�o kh�c ngo�i � tưởng chưa được chứng minh về �sự chậm trễ c� tinh chất địa phương�, một l� thuyết cho rằng c�c h�ng gốm mậu dịch địa phương sẽ c� ni�n đại chậm hơn một thế kỷ hay sẽ được sản xuất sau một trăm năm hay l�u hơn bất kỳ m�n đồ đế quốc n�o m� ch�ng c� thể na n� giống nhau.� Thời kỳ trong l� thuyết n�y, trong thực tế, dựa tr�n chiếc b�nh (lọ) Việt Nam ghi ni�n đại 1450 Sau C�ng Nguy�n tại Istanbul, m�n đồ được n�i c� kiểu c�ch gần nhất với c�c m�n đồ Trung Hoa giữa thế kỷ thứ mười bốn.� Nhưng tất cả điều n�y lệ thuộc v�o một sự nghi�n cứu ho�n hảo hơn về c�c đồ gốm mậu dịch Trung Hoa thế kỷ thứ mười lăm, đặc biệt c�c m�n đồ tại Đ�ng Nam �.� Cho đến khi c�c đồ gốm mậu dịch Trung Hoa (hay ngay cả của Th�i Lan) c� thể được xếp loại một c�ch r� r�ng hoặc thuộc thế kỷ thứ mười lăm hay mười s�u, kh�ng c� nhiều hy vọng rằng điều n�y c� thể được l�m với c�c đồ gốm Việt Nam, n�i chung c� số lượng �t hơn.

 

 

 

H�nh18: Loại hoa văn được x�c định ni�n kỳ thuộc đầu thế kỷ thứ mười lăm

�bởi Robert P. Griffing, Jr. (1976)

 

������ Một nỗ lực của việc ấn định ni�n đại một c�ch ch�nh x�c hơn li�n quan đến c�c sự x�t nghiệm ph�p đo quang phổ ph�t quang bằng tia X-ray tại Ph�ng Th� Nghiệm Nghi�n Cứu Khảo Cổ Học tại Oxford (Oxford Research Laboratory for Archaeology), trong đ� dung lượng chất manganese của sắc tố cobalt được x�c định.� C�c cuộc khảo s�t trước đ�y đồ m�u lam-v�-trắng Trung Hoa cho thấy rằng c�c m�n đồ được sản xuất trước thời trị v� Xuan De [Tuy�n Đức] (1426-35) đ� sử dụng chất cobalt nhập cảng kh�ng th�i, vốn c� một dung lượng chất manganese thấp, v� c�c m�n đồ bắt đầu từ thời trị v� đ� hoặc c� quặng bản xứ (với một dung lượng manganese cao) hay quặng bản xứ hỗn hợp với h�a chất nhập cảng (Garner, 1956).� C�c kết quả đối với c�c mẫu Việt Nam (Joseph, 1973, trang 137) cho thấy rằng c�c m�n đồ được trang tr� với c�c n�t b�t thẳng h�ng thanh mảnh bằng m�u lam nhạt hay trong s�ng đ� sử dụng loại quặng Trung Đ�ng, trong khi c�c m�n đồ với kiểu tranh vẽ bằng b�t l�ng (wash-type brushwork) một m�u lam đậm hơn hay hơi đen đ� sử dụng loại quặng bản xứ của Trung Hoa. 18 Ch�nh v� thế, nếu người ta giả định người Việt Nam đ� sử dụng c�ng c�c nguồn t�i nguy�n cobalt địa phương như người Trung Hoa, phần lớn quặng n�y rất gần cận, trong tỉnh V�n Nam, khi đ� c�c mẫu gốm với kiểu tranh vẽ bằng b�t l�ng m�u lam đậm hay hơi đen phải c� ni�n đại kh�ng sớm hơn năm 1426 Sau C�ng Nguy�n.� C�c m�n đồ d�ng chất cobalt Trung Đ�ng c� thể hoặc sớm hơn, trước khi c� sự x�m nhập của quặng địa phương hay Trung Hoa, hay sau đ�, khi loại quặng nhập cảng, sản xuất ra một m�u xanh đẹp hơn nhiều, c� thể được d�nh ri�ng cho c�c m�n đồ tốt hơn.� Trong thực tế, tất cả c�c m�n đồ gốm m�u lam-v�-trắng sớm nhất, dựa tr�n h�nh dạng v� kiểu trang tr�, c� ph� b�y một m�u lam trong, nhạt, đẹp đẽ m� t�c giả Joseph m� tả như l� kết quả của việc sử dụng quặng Trung Đ�ng, một đặc t�nh chứng thực một ni�n đại sớm sủa, phần tư đầu ti�n của thế kỷ thứ mười năm.� T�c giả Joseph cũng ghi nhận một số m�n đồ Việt Nam được khảo s�t c� sử dụng cả hai loại quặng một c�ch ri�ng rẽ tr�n c�ng một chiếc b�nh (lọ). 19

������ Một nh�m đồ gốm vừa g�y thắc mắc lẫn th� vị gồm c�c b�t giống như c�i ch�n [hay t�ch: cup trong Anh ngữ, ch� của người dịch] với v�ng ch�n đế chạm trỗ, thẳng v� cao một c�ch kh�c thường, thường với một lớp nước �o n�u �b� trầu� kh� đậm phủ l�n đ�y cũng như mặt trong của v�ng ch�n đế.� Bởi v� ch�ng thường c� hoặc c�c vết x�y x�t tr�n mặt trong đ�y b�t hay một v�ng để chồng b�t l�n nhau kh�ng tr�ng men, ch�ng hẳn phải c� ni�n đại rất sớm trong c�c loạt đồ m�u lam-v�-trắng thế kỷ thứ mười lăm cho đến thế kỷ thứ mười s�u hay rất trễ, bởi hai đặc t�nh n�y của sự sản xuất h�ng loạt chỉ xuất hiện tr�n đồ gốm B�t Tr�ng thuộc thế kỷ thứ mười bốn v� thuộc cuối thế kỷ thứ mười s�u cho đến thế kỷ thứ mười bảy.� Tuy nhi�n, bởi v� sự trang tr� tr�n phần lớn mẫu th� muộn m�ng về mặt thể c�ch, thời kỳ kể sau nhiều phần l� giải đ�p ch�nh x�c.� Phần trang tr� trước khi tr�ng men của ch�ng c� thể hoặc l� m�u lam nhạt nhỏ giọt, giống như m�n đồ được t�m thấy sau n�y tr�n c�c lọ hoa thờ c�ng trong nước thế kỷ thứ mười s�u cho đến thế kỷ thứ mười bẩy (Colour Pl. XIa-b) hay m�u lam đậm hơn của chất cobalt Trung Hoa nội địa.� Một th� dụ trong sưu tập của Bảo T�ng Viện Tokugawa Museum, Nagoya, chỉ với c�c men b�ng phủ l�n tr�n men thủy tinh, được n�i đ� c� mặt tại Nhật Bản kể từ cuối thế kỷ thứ mười s�u (Koyama and Figgess, 1961, Pl. 150).� Trong thực tế, c�c h�nh dạng của ch�ng khiến người ta thắc mắc l� liệu c�c chiếc b�t như c�c m�n đồ n�y c� bao gồm sự chuy�n chở c�c �ch�n Bắc Kỳ� được n�i đến trong c�c Sổ Đăng K� Dagh Registers năm 1672 sẽ sớm được thảo luận sau đ�y hay kh�ng; từ những g� được hay biết ng�y nay về đồ gốm Việt Nam, thường c� vẻ rằng c�ng loại sản phẩm đ�i khi đ� được sản xuất trong một thế kỷ hay l�u hơn.

 

 

H�nh19: H�nh vẽ chim tr�n c�c đĩa khổ lớn của Việt Nam, c� thể c� ni�n kỳ thuộc thế kỷ thứ mười s�u, được trang tr� bằng m�u lam dưới c�c lớp men m�u đỏ v� xanh lục.� Museum Pusat, Jakarta

 

������ Ti�u mốc quan trọng nhất trong sự nghi�n cứu v� ấn định ni�n đại đồ gốm m�u lam-v�-trắng Việt Nam l� một b�nh (lọ) lớn tại Bảo T�ng Viện Topkapi Saray Museum, Istanbul (Colour Pl. 10), m� sự hiện hữu được b�o c�o đầu ti�n bởi R. L. Hobson (1933-4).� N� mang tr�n vai c�c chữ H�n ghi lại một ni�n đại tương ứng với năm 1450 Sau C�ng Nguy�n. 20 Mặc d� �ng kh�ng c�ng bố c�c chữ H�n c�ng với c�c nhận x�t của �ng về chiếc b�nh, Hobson đ� cung cấp bản phi�n dịch như sau: �Được vẽ cho vui bởi Chuang, một người thợ gốm, của Nan T�se-chou trong năm thứ 8 thời Ta Ho�.� Ta Ho, một biến thể của T�ai Ho, l� một thời trị v� Việt Nam của triều đại nh� L� k�o d�i từ 1443 đến 1454.� C�c chữ H�n, mang lại một s� tin tức th� vị, như sau: ��Th�i H�a B�t Ni�n tượng nh�n Nam S�ch Ch�u, B�i thị h� b�t 年 南 䇲 州 裴 氏 戲 筆 ��[dịch nghĩa: Năm Thứ T�m Ni�n Hiệu Th�i H�a (triều vua L� Nh�n T�ng, năm 1450 Dương lịch), người thợ l�m đồ gốm họ B�i, ch�u Nam S�ch, vẽ chơi]

������ Khi t�i khảo s�t, chữ chỉ t�n họ con người, chữ thứ mười tr�n khoản minh văn, được thấy l� P�ei chứ kh�ng phải l� Chuang. 21 Chữ đi liền sau n� l� một từ ph�n loại trong tiếng H�n chỉ c� nghĩa �người�, kh�ng ph�n biệt giới t�nh.� Tuy nhi�n, khi dịch sang tiếng Việt, từ ph�n loại l� �Thị�, ng�y nay chỉ �p dụng cho một người đ�n b�. 22 Nếu c�ch d�ng xưa kia cũng thế, điều n�y c� nghĩa rằng �t nhất một người đ�n b� l�nh nghề c� tham gia v�o ng�nh sản xuất đồ gốm tại Việt Nam.� Hơn nữa, c�c chữ để chỉ địa danh (chữ thứ năm, s�u v� bảy) (trở th�nh Nam S�ch Phủ trong tiếng Việt, xuất hiện tr�n c�c bản đồ Bắc Kỳ thế kỷ thứ mười lăm � thuộc tỉnh Hải Dương, giữa đường H� Nội v� Hải Ph�ng. 23 Huyện n�y (�phủ� c� nghĩa huyện, quận) cũng xuất hiện tr�n c�c bản đồ hiện đại với địa danh kh�ng thay đổi, v� ch�nh nơi đ�y, như được đề cập trước đ�y, m� Việt Nam giờ đ�y được tường thuật c� một số bằng chứng về một địa điểm l� nung cổ xưa. [v� t�c giả kh�ng biết đọc chữ H�n v� phải nhờ người kh�c đọc hộ, như được ghi lại trong cước ch� số 22 của nguy�n bản, n�n c� v�i sự nhầm lẫn ở đ�y: chữ Chuang: Tượng l� chữ thứ 8, đi c�ng với chữ thứ 9: Nh�n, c� nghĩa l� người thợ l�m đồ gốm l�nh nghề, c�n chữ thứ 10: P�ei c� nghĩa l� họ B�i, chứ kh�ng phải thay thế cho chữ Chuang: Tượng; chữ thứ 11: Thị: c� nghĩa d�ng họ, sau n�y rất thường được d�ng l�m t�n l�t để chỉ người đ�n b�, ch� của người dịch].�

������ Một đĩa tại Đền Thờ Ardebil Shrine (Pl. 16a), với c�c phần tử trang tr� tương tự như chiếc b�nh ở Topkapi, hẳn đ� được đưa v�o sưu tập l�c n�o đ� nằm giữa c�c năm 1350 v� 1610, những năm giữa ch�ng sưu tập đ� được thu thập.� T�c giả John Pope (1956) phỏng đo�n n� cũng thuộc v�o giữa thế kỷ thứ mười lăm dựa tr�n căn bản của thể c�ch trang tr� chung bằng lối vẽ n�t thanh, ph�c họa h�nh d�ng bằng n�t bao quanh v� kỹ thuật t� m�u chồng l�n nhau, v� c�c chiếc l� c� vẽ g�n l�.

������ Ở noi kh�c, c�c đồ gốm v� mảnh gốm m�u lam-v�-trắng Việt Nam c�n được thu lượm từ địa điểm của cố đ� Majapahit tr�n đảo Java đ� n�i ở tr�n, một địa điểm được n�i được chiếm ngụ ch�nh yếu giữa c�c năm 1292 v� 1500, mặc d� c�c đồ gốm mậu dịch c� ni�n đại thế kỷ thứ mười s�u cũng được n�i l� được t�m thấy ở đ�.� C�c mảnh gốm vỡ Việt Nam, đặc biệt c�c chiếc hộp c� nắp đậy được t�m thấy trong c�c phế t�ch của vương quốc Th�i Lan ở Sukhothai, 24 v� một lọ nhỏ với một cổ h�nh ống cao, cũng được tường thuật từ Sukhothai, c� thể được nh�n thấy tại Bảo T�ng Viện British Museum (Jenyns, 1935, Pl. 38A).� C�c mảnh gốm vỡ cũng đươc thu lượm tại Fostat, địa điểm trước đ�y của th�nh phố Cairo ở Ai Cập; một trong c�c mảnh gốm n�y được bao gồm trong sưu tập của Percival David Foundation.� C�c kh�m ph� ra c�c m�n đồ ở c�c sự khai quật tại Kampong Pareko, Sulawesi, v� tại Calatagan thuộc Phi-Luật-T�n đ� sẵn được n�i tới.� Thực sự, đ�ng thực l� mọi địa điểm [khai quật] hay biết tại Đ�ng Nam � c� ni�n đại thuộc thế kỷ thứ mười lăm hay mười s�u đều c� một số sự hiện diện của đồ gốm Việt Nam � với một ngoại lệ quan trọng, v� đ� l� c�c địa điểm mai t�ng ở Tak�Omkoi, thuộc miền t�y Th�i Lan đ� được tr�nh b�y nơi phần Dẫn Nhập.� Trong khi tại c�c địa điểm đ� (v� c�c địa điểm kh�c tại miền bắc Th�i Lan), c�c đồ gốm Việt Nam trang tr� bằng sắt đen dưới lớp men v� đơn sắc, với một lượng nhỏ c�c m�n đồ m�u lam-v�-trắng rất sớm, được t�m thấy, v� c�c loạt gốm m�u lam-v�-trắng sau n�y lại vắng mặt một c�ch nổi bật.� Sự giải đ�p cho điều huyền b� n�y c� thể rằng c�c đồ gốm Việt Nam đ� đến nơi bằng đường bộ, c�ng với một con đường mậu dịch xuy�n qua L�o, v� rằng con đường n�y v� một số l� do, bị gi�n đoạn v�o thời gian c� sự chiếm đ�ng của Trung Hoa tại Bắc Phần Việt Nam từ 1407 đ�n 1428.

 

C�c Thế Kỷ Thứ Mười Bẩy v� Mười T�m

Trong suốt thế kỷ thứ mười bẩy, H�a Lan đ� trở th�nh, �t nhất trong c�c nước �u Ch�u, nh� cung cấp quan trọng nhất đồ gốm Đ�ng Phương tại v�ng Viễn Đ�ng.� Ngo�i trụ sở ch�nh của họ tại Batavia (Jakarta) C�ng Ty Đ�ng Ấn của H�a Lan (Dutch Easdt Undia Company) c�n c� văn ph�ng tại Nhật Bản, Cochin-China (Nam Kỳ, Đ�ng Trong), Căm Bốt, Xi�m La (Th�i Lan), B�n Đảo M� Lai, v� Miến Điện.� Họ cũng thiết lập một văn ph�ng tại Đ�ng Ngo�i (Tonkin) trong năm 1640, nhưng kh�ng c� sự đề cập n�o về đồ gốm Việt Nam được ghi trong c�c hồ sơ C�ng Ty, như được thu thập bởi T. Volker, cho tới năm 1663, khi �một thuyền buồm từ Tongking [sic] đ�n [Batavia] với 10,000 b�t sứ th� thiển� (Volker, 1954, trang 206).� B�t k� chỉ ra hai điều: chuyến h�ng sơ khởi lớn lao như thế �m chỉ sự hiện hữu trước đ� một trung t�m đồ gốm đ�ng kể tại Đ�ng Ngo�i, v� bởi v� kh�ng sự đề cập n�o được đưa ra về n� như một sự kinh doanh của C�ng Ty, ph�a Việt Nam hẳn phải c� khả năng chuy�n chở đồ gốm bằng t�u thuyền bản xứ.

������ Sự tham chiếu đầu ti�n trong c�c sổ s�ch li�n quan đến mậu dịch của C�ng Ty về c�c m�n đồ gốm Việt Nam xuất hiện trong Th�ng T�m 1672 khi một trong c�c chiếc t�u của họ l�i đi từ Batavia đến Arakan (bờ biển ph�a t�y của Miến Điện tr�ng ra Vịnh Bengal) với một chuyến h�ng chở c�c ch�n Đ�ng Ngo�i.� C�c tham chiếu tiếp theo về c�c số lượng lớn lao �đồ sứ th� thiển� từ Đ�ng Ngo�i xảy ra trong c�c năm 1669, 1670, v� 1672.� Trước khi c� c�c sự xuất cảng n�y, Đ�ng Ngo�i được k� nhu một nước nhập cảng đồ sứ Trung Hoa trong sổ s�ch đăng k� của C�ng Ty.� Th� dụ, trong năm 1665, c� ghi nhận rằng mậu dịch của C�ng Ty với Đ�ng Ngo�i th� yếu k�m trong năm, một trong c�c nguy�n do đưa đ�n việc s�u thuyền buồm Trung Hoa, một thuyền buồm từ Manila, v� một navet [? kh�ng r� nghĩa, phỏng đo�n l� một loại t�u (thuyền), ch� của người dịch] từ Macao đ� chuy�n chở đồ sứ đến đ�.

������ L� do cho sự khai trương mậu dịch của H�a Lan về đồ gốm Đ�ng Ngo�i, t�c giả Volker giải th�ch (trang 193), l� v� sự khan hiếm c�c đồ gốm Trung Hoa loại tốt trong thời chuyển tiếp kh� khăn từ nh� Minh sang nh� Thanh, v� sự ph� hủy g�y ra bởi phe nổi loạn Ng� Tam Quế (Wu San-kuei) tại Cảnh Đức Trấn, trung t�m đồ gốm miền Nam Trung Hoa, giữa c�c năm 1673 v� 1681.� T�c giả Volker (trang 184) tr�nh b�y c�c đồ gốm Đ�ng Ngo�i biến đổi từ đồ sứ sa thạch đến đồ sứ kh� tốt với trang tr� dưới lớp men m�u lam v� th�ch hợp cho sự sử dụng h�ng ng�y.� Để l�m mẫu cho loại n�y được giả định thuộc thế kỷ thứ mười bẩy, �ng minh họa hai m�n đồ được t�m thấy tại Sulawesi v� hiện đang ở Bảo T�ng Viện Quốc Gia về D�n Tộc Học (National Museum for Ethnology) tại Leiden; nhưng cả hai l� c�c loại nhất thiết điển h�nh của c�c thế kỷ thứ mười lăm đ�n mười s�u.

������ Tr�n căn bản một nh�m đồ gốm tại Bảo T�ng Viện Quốc Gia ở S�ig�n, đ� x�c minh ch�ng như c�c đồ gốm B�t Tr�ng v� quy kết thuộc c�c thế kỷ thứ mười bảy v� mười t�m (Colour Pl. XIc), v� khi x�t đến bằng chứng được ph�c họa ở tr�n cho sự x�c định c�c m�n đồ thuộc v�o hai thế kỷ trước đ�, giả thuyết của Volker rằng c�c loại đồ gốm m�u lam-v�-trắng của Việt Nam n�y muộn hơn c�c thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u, phải được cải ch�nh.� Bởi c� một nh�m đồ gốm ri�ng biệt tại Indonesia, được nh�n thấy tại c�c cửa h�ng v� sưu tập tư nh�n được nh�n thấy bởi người viết, c� thể li�n quan với nh�m đồ gốm của Bảo T�ng Viện Quốc Gia ở S�ig�n.

������ Cũng c� một sưu tập ho�n hảo hơn 100 m�n đồ, một số trong ch�ng được trưng dẫn h�nh ảnh nơi đ�y, tại Bảo T�ng Viện Sulawesi, v� những m�n đồ n�y, theo vị quản thủ của bảo t�ng viện, Lucas Chin, được mang về từ c�c sưu tập gia truyền cổ xưa hơn l� được khai quật. 25 Kh�ng m�n n�o trong c�c loại n�y được x�c minh cho đến nay tại Phi Luật T�n nơi m� mậu dịch được độc quyền bởi người T�y Ban Nha v�o thời điểm đ�; người H�a Lan kh�ng c� c�c trạm mậu dịch ở đ�.

������ Nh�m bao gồm cả c�c đồ gốm m�u lam-v�-trắng, c� lẽ thuộc thế kỷ thứ mười bẩy, lẫn c�c đồ phủ men b�ng ngo�i c�ng nhiều m�u c� thể c� ni�n đại cuối thế kỷ thứ mười bẩy cho đ�n thế kỷ thứ mười t�m.� C�c đồ kể sau n�y cung cấp một sự nối kết với c�c m�n đồ trang tr� bằng men b�ng phủ ngo�i đương thời của Việt Nam.� M�u lam trước ti�n l� một m�u lam b�n dưới lớp men, sau đ� n� dường như biến th�nh một m�u lam trong lớp men [in-glaze: một phương ph�p trang tr� đồ gốm, theo đ� hoa văn trang tr� được đặt tr�n mặt nước men trước lần nung đầu ti�n, khiến họa tiết trang được nung ch�n c�ng l�c với nước men, ch� của người dịch] c� thể kh� dầy.� Nước men tr�n c�c m�n đồ về sau n�y của Việt Nam bị rạn nhiều v� nhuốm m�u trắng ng�.� C�c đ�y c� thể phẳng v� kh�ng tr�ng men nhưng th�ng thường hơn c�c m�n đồ c� một v�ng ch�n đế dầy, tr�n trịa, v� một đ�y l�m, c� tr�ng men cẩn thận.� Đất s�t rất giống như c�c m�n đồ trước đ�y, ngoại trừ n� tr�ng trắng nhờ �nhuốm bẩn�.

������ C�c chủ đề nối liền c�c m�n đồ cuối thế kỷ thứ mười s�u với nh�m thế kỷ thứ mười bẩy bao gồm một hoa mẫu đơn v� hoa được đơn giản h�a kiểu hoa hồng.� Cũng c� �t nhất ba họa kiểu vay mượn trực tiếp từ c�c m�n đồ Trung Hoa: �tam hữu� (three friends) (hoa mẫu đơn, tre v� th�ng) (với một h�n đ� trang tr�, được t�m thấy tr�n c�c chiếc b�nh (lọ) nhỏ (jarlets); con nai được chấm họa bởi Wan Liu (1573-1619) trong phong cảnh (so s�nh H�nh 20 với Pl. 19c), cũng được t�nh thấy tr�n c�c chiếc b�nh (lọ) nhỏ (jarlets); con rồng �ch�n g� đuổi xẻ l�m hai, t� điểm cho c�c chiếc b�nh, lọ (jars) cỡ trung.� Điều th� vị để ghi nhận rằng sự sao ch�p n�y đ�i khi cũng đi ngược chiều như được ph� b�y bởi một đĩa lớn của Swatow: Sơn Đầu [một th�nh phố tr�n bờ biển ph�a đ�ng của tỉnh Quảng Đ�ng, Trung Quốc, ch� của người dịch] trong sưu tập của Đại Học University of Singapore (H�nh 21), v� trong thực tế, trong trường hợp c�c b�nh (lọ) vẽ h�nh rồng kh�ng c� bằng chứng vững chắc l� nước n�o đ� sản xuất ra ch�ng trước ti�n.

 

 

H�nh 20: B�nh nhỏ thời Wan Li b�n Trung Hoa (1573-1619) với họa kiểu h�nh �con nai đốm trong cảnh thi�n nhi�n, được sao ch�p lại bởi c�c thợ gốm thế kỷ thứ mười bẩy tại Việt Nam.� Sưu tập của Anders Normann

 

H�nh 21: Đĩa ở Swatow (Sơn Đầu) bắt chước một họa kiểu của Việt Nam.� Cuối thế kỷ thứ mười s�u hay đầu thế kỷ thứ mười bẩy.�

Sưu tập của Đại Học University of Singapore, National Museum, Singapore.

 

������ C�c b�nh vẽ h�nh rồng ch�n g� rất giống với c�c b�nh của v�ng Swatow đến nỗi đ�i khi kh� c� thể ph�n biệt được c�i n�y với c�i kia, đặc biệt tr�n ảnh chụp (H�nh 22)� Tuy nhi�n, c� c�c sự kh�c biệt r� rệt: c�c b�nh Việt Nam được chế tạo một mảnh nguy�n chiếc, men của ch�ng bị rạn nhiều v� nh�m m�u ng�, m�u lam cho thấy c�c sự thay đổi r� rệt về đồ dầy, v�ng ch�n đế th� tr�n trịa, v� đ�y thường l�m, được tr�ng men trọn vẹn v� cẩn thận.� C�c b�nh của Swatow được nung với lửa ở nhiệt độ cao hơn, được chế tạo từ hai m�nh, với chỗ nối nh�n thấy r� quanh phần giữa, c� nước men trắng sữa tr�n m�u lam nằm dưới nước men, v� chỉ c� c�c vệt men rời tr�n đ�y của ch�ng c�ng với hạt c�t l� nung đặc trưng của ch�ng (characteristic kiln grit).�

 

H�nh 22: Chiếc b�nh b�n tr�n, bị vỡ (bể) ở cổ, l� sự sao ch�p của Việt Nam b�nh ở Swatow, được chụp h�nh b�n dưới.� Cả hai thuộc sưu tập của Mirta Kartohadiprodio

 

Ngo�i Sarawak, c�c m�n đồ n�y cũng được t�m thấy tại Sulawesi, nhưng ở đ� cũng thế, c�c nh� bu�n n�i rằng ch�ng đến từ c�c sưu tập tư nh�n xa xưa hơn l� từ c�c địa điểm ch�n cất.� Về kh�a cạnh n�y, điều đ�ng kể rằng t�n ngưỡng Hồi gi�o, vốn kh�ng cổ vũ tục đem ch�n đồ đạc c�ng với người chết, được du nhập v�o Sulawesi năm 1605 (Vickke, 1965, trang 106).� It đồ gốm, nếu c�, thuộc v�o c�c năm tiếp theo sau sự cải đạo tập thể được khai quật trong số c�c b�i ch�n cất thường trải rộng tr�n h�n đảo.

������ Trong số đồ gốm B�t Tr�ng tại Bảo T�ng Viện Quốc Gia ở S�ig�n c� một số m�n đồ tr�ng rất giống như đồ gốm Nhật Bản thế kỷ thứ mười bẩy. 26 Về kh�a cạnh n�y, điều c� thể kh� th� vị để ghi nhận rằng trong năm 1882, một người Ph�p t�n B�c Sĩ Maget c� n�i với B�c Sĩ Geets, người H�a Lan, kẻ sau đ� c� sống tại Nhật Bản, rằng tại Bắc Kỳ, c� c�c l�ng �nơi d�n ch�ng c� c�c đường n�t giống d�n Nhật, chỉ kết h�n trong họ với nhau.� Họ khẳng định rằng tổ ti�n của họ đến từ Nhật Bản � C�c l�ng n�y c� đặc quyền sản xuất một thứ đồ sứ m�u lam tr�ng giống hệt như c�c m�n đồ Hizen m�u lam�. 27 Ch�nh trong thế kỷ thứ mười bẩy c�c t�n đồ Thi�n Ch�a Gi�o Nhật Bản bị ngược đ�i v� nhiều người trong họ ra sinh sống ở hải ngoại tại c�c nước thuộc Đ�ng Nam �, v� thế c� thể c� phần n�o sự thực trong c�u chuyện n�y.

 

C�c Đồ Thờ C�ng Trong Nước

Trong năm 1903, Trường EFEO c� thụ đắc một nh�m mười lăm b�nh hoa v� b�t hương b�n thờ bằng gốm.� Một cặp b�nh hoa, cao khoảng gần 1 m�t, c� một minh văn ghi một ni�n đại tương đương với năm 1575 Sau C�ng Nguy�n, c�ng với danh t�nh của c�c người tặng dữ, một �ng ho�ng v� vợ �ng ta vốn l� em (hay chị) của vị ho�ng đế trị v�.� C�c b�nh hoa được trang tr� một c�ch sơ s�i bằng m�u lam nhạt dưới lớp men, c�ng sắc như c� được từ chất nhuộm m�u cobalt nhập cảng, với c�c họa kiểu đ�m m�y.� Trong số c�c đ�m m�y, quấn quanh th�n của c�c chiếc b�nh, l� một h�nh rồng d�i, uốn kh�c, được gắn [tr�n mặt b�nh].� Con rồng, c�ng với c�c phần trang tr� được gắn kh�c tr�n chiếc b�nh, được chạm trỗ hay đ�c sẵn, c� m�u trắng nhờ, v� kh�ng tr�ng men.� Một b�t hương kh�c trong nh�m được ghi ni�n đại năm 1665.

������ �ng G. Dumoutier (1903, c�c trang 265-6), kẻ đ� mua c�c di vật từ c�c đền thờ tại c�c x� Cao X� [?] v� H�a M� [?], tin tưởng rằng c�c m�n đồ được chế tạo tại B�t Tr�ng, đ� từng qua nhiều thế kỷ l� một trung t�m sản xuất đồ gốm, c� tr�ng men hay kh�ng, được l�m với một thứ đất s�t c� phẩm chất tốt đặc biệt.� Bởi v� sự hiếm c� c�c m�n đồ tương tự, Dumoutier phỏng đo�n rằng sự sản xuất được chuy�n biệt h�a v� giới hạn trong triều đại nh� Mạc ở Việt Nam (khoảng 1527-1677).� N�i chung to lớn, xương gốm dầy, trang điểm c�ng phu, v� với c�c phần trang tr� đắp ngo�i mặt chạm trỗ hay đ�c sẵn, một số trong c�c m�n đồ sưu tập bởi Dumoutier được t� điểm bằng một m�u lam nhạt, nhỏ giọt dưới nước men, trong khi c�c m�n đồ kh�c c� một nước men hơi xanh r�u (xanh lục) trong suốt c�ng với c�c khu vực chỉ c� lớp l�t (nước �o) m�u hơi n�u v�/hay hổ ph�ch (xem Colour Pl. Xia-b).

������ Một v�i b�t hương thuộc một loại tương tự từ Việt Nam được bao gồm trong sưu tập Huet tại Brussels (Huet, January-February 1942, C�c H�nh 12-14), một m�n trong đ� ghi t�n người tặng dữ, �B�i Thị Vinh[?], ở B�t Tr�ng� v� một ni�n đại tương đương với năm 1660.� Một lư hương kh�c đặc biệt đẹp đẽ được trang tr� bằng m�u lam b�n dưới nước men, được n�i đ� được mang sang Nhật Bản hồi cuối thế kỷ thứ mười s�u hay đầu thế kỷ thứ mười bẩy, nay tại Bảo T�ng Viện Tokugawa Museum, Nagoya (Koyama and Figgess, 1961, Pl. 156).� C�c m�n đồ tương tự rất c� thể nằm trong c�c lư hương được n�i đ� được cống tiến như c�c tặng phẩm đến nh� M�n Chu [nh� Thanh] của Trung Hoa khi Việt Nam nằm trong hệ thống triều cống của họ hồi năm 1662 (Deveria, 1880, trang 6).

 

H�nh 23: B�nh v�i kiểu Việt Nam: c�c b�nh b�n phải v� b�n tr�i được chế tạo tại Trung Hoa để xuất cảng sang Việt Nam, v�o khoảng thế kỷ thứ mười t�m, v� b�nh ở giữa được chế tạo tại Việt Nam, v�o khoảng c�c thế kỷ thứ mười s�u v� mười bẩy.�

Huet Collection.� Mus�es Royaux d�Art et Histoire, Brussels.

 

������ M6t. nh�m kh�c c�c đồ thờ c�ng trong nước đ� được sản xuất tại Thổ H�, 4 c�y s� t�y bắc Bắc Ninh, ph�a bắc H� Nội.� C�c người l�m đồ gốm ở đ�, c�c kẻ trong thời hiện đại chỉ chế tạo c�c đồ gốm gia dụng v� c�c b�nh gốm đựng cốt nhỏ cho c�c vụ cải t�ng, truy t�m sự thiết lập c�c l� nung của họ l�i về năm 1465 khi, theo họ, c�c tổ ti�n của họ di chuyển đến từ Đậu-Kh�, tỉnh Hải Dương, một l�ng kh�ng c�n c� thể x�c minh được (Huet, January-February, 1942).� Trong c�c thế kỷ thứ mười s�u v� mười bẩy, c�c l� nung Thổ H� được nổi tiếng nhơ c�c lư hương thờ c�ng kh�ng tr�ng men, th�n đậm, ch�nh yếu trang tr� c�ng phu, đ�i khi l�e loẹt (Pl. 20c).

������ Một nh�m kh�c của c�c đồ nội địa l� loại đồ �ba m�u� (Patk� and R�v, 1967, c�c Bảng Pls. 38-9), được quy kết bởi Bảo T�ng Lịch Sử, H� Nội, thuộc c�c thế kỷ thứ mười lăm v� mười s�u.� Ch�ng ph� b�y c�c men m�u trắng v� m�u r�u thường với men b�ng m�u đỏ (Colour Pl. XIVb) v�, giống như c�c đồ thờ c�ng thu thập bởi Dumoutier, được t� điểm c�ng phu với c�c hoa hồng nổi được chạm trỗ hay đ�c sẵn hoặc c�c chủ đề nhỏ kh�c.� Nh�m cũng bao gồm c�c b�nh đựng v�i (limepots) trang tr� �t c�ng phu hơn (Colour Pl. XIVa v� H�nh 23) của một loại ri�ng biệt của Việt Nam (huet, 1941).� Lần lượt trong c�c thế kỷ thứ mười t�m v� mười ch�n, h�nh dạng n�y với quai x�ch to bản cũng được sản xuất tại Trung Hoa, v� ngay tại Ph�p, chuy�n để xuất cảng sang Việt Nam.

 

Thời Hiện Đại

 

H�nh 24: Chậu đựng c�y cảnh trong vườn m�u xanh lam v� trắng tại một lăng ho�ng gia thế kỷ thứ mười ch�n ở Huế, ảnh chụp năm 1972.� C�c chậu n�y được dặt h�ng đặc biệt từ Trung Hoa bởi triều đ�nh Việt Nam.

 

C�c đồ gốm Việt Nam sau thế kỷ thứ mười t�m đến nay chưa được x�c định r� r�ng, mặc d� c�c l� nung ở B�t Tr�ng, th� dụ, hoạt động li�n tục �t nhất từ thế kỷ thứ mười s�u.� Quyển Hướng Dẫn [Du Lịch] Madrolle (1925) tường thuật một c�ng nghiệp đồ gốm c�n lớn lao ở đ� trong thập ni�n 1920, v� đại diện mậu dịch của Bắc Việt tại Singapore c� đoan chắc với người viết rằng sự sản xuất chưa bị đ�nh chỉ.� Tuy nhi�n, trong suốt thế kỷ thứ mười ch�n, triều đ�nh ở Huế, một kinh đ� mới được thiết lập bởi nh� Nguyễn trong năm 1802, đ� c� c�c bộ đồ gốm đặc biệt được chế tạo theo đơn đặt h�ng tại Trung Hoa. 28 Được gọi phổ th�ng l� �Blue de Huế: m�u Lam Huế�, ch�ng bao gồm c�c bộ đồ tr� thanh nh�, v� c�c đĩa nhỏ với phong cảnh thường được k�m bởi c�c b�i thờ ngắn bằng �chữ n�m� của Việt Nam, được n�i đ� được viết bởi Nguyễn Du (1765-1820), một nh� thơ Việt Nam nổi tiếng cũng l� t�c giả quyển truyện bằng thơ d�n tộc [national, sic] của Việt Nam, quyển Kim V�n Kiều.� C�c đĩa nhỏ đ�y bằng, thường c� v�nh m�p kh�ng tr�ng men được phủ bằng một giải kim loại, thường c� hai chữ H�n tr�n đ�y của ch�ng đuợc phi�n dịch l� �Bibeloy of Jade�; đ�y dường như l� t�n của một l� nung tư nh�n trước đ�y gần Quảng Ch�u, Trung Hoa (xem Pl. 21a-b).

������ Cũng c� c�c chiếc b�t, thường với c�c họa kiểu h�nh con rồng, mang c�c dấu hiệu trị v� của c�c vị ho�ng đế Việt Nam kh�c nhau thuộc thế kỷ thứ mười ch�n tr�n đ�y của ch�ng; c�c m�n đồ n�y cũng vậy, thường c� c�c giải kim loại nơi m�p v�nh của ch�ng.� C�c b�nh hoa b�n thờ cỡ lớn với h�nh rồng cũng được biết đ�n, cũng như c�c chậu vườn hoa, một số trong ch�ng vẫn c�n được đặt b�n ngo�i c�c đ�nh tạ của c�c lăng tẩm ho�ng đế gần Huế trong năm 1972.

������ Gần đ�y hơn, v�o l�c bắt đầu thế kỷ n�y [thứ 20, ch� của người dịch], một nh�m c�c người l�m đồ gốm Trung Hoa từ Ph�c Kiến di cư xuống Đ�ng Dưong.� Một �t gia đ�nh đ� định cư tại Căm Bốt, ở Kompong Cham, v� c�c gia đ�nh kh�c tại L�i Thi�u, nam Việt Nam, 11 c�y số bắc S�ig�n.� Những người mở l� nung tại Căm Bốt đ� đ�ng cửa ch�ng khoảng năm 1945 v� cũng đ� di cư sang Nam Việt Nam. 29 C�c m�n đồ sớm nhất của cả hai nh�m l� nung n�y bao gồm c�c đĩa thực dụng v� c�c b�t ăn cơm, nhưng trong đ� điều được đặc trưng l� một h�nh c� m�u lam dưới nước men tr�n mặt trong đ�y tr�ng na n� như c�c đồ gốm Ph�c Kiến c� thể mua được tại c�c chợ T�u ở Singapore v� Hồng K�ng ng�y nay.� Con c� vẫn c�n l� một họa kiểu phổ th�ng của c�c đồ gốm L�i Thi�u, nhưng giờ đ�y thường được l�m nổi bật l�n với sự bổ t�c c�c men b�ng m�u đỏ v� m�u xanh r�u (xanh lục).� Một họa tiết phổ th�ng kh�c l� h�nh con g� trống.� Ngo�i c�c đồ gốm cho b�n ăn, c�c thứ sản xuất kh�c hiện nay bao gồm c�c con voi phủ men b�ng to lớn, c�c chậu vườn hoa, v� c�c b�nh hoa, c�ng với c�c con rắn thần (naga) uốn lượn cho đỉnh m�i nh� của c�c ng�i ch�a Phật Gi�o (th� dụ, Bảng Pl. 21)./-������������

_____

CH� TH�CH

1. Như được ghi nhận bởi William Willetts (1971, trang 11), chỉ khoảng một phần ba c�c h�nh ảnh minh họa của Okuda c� vẻ l� của Việt Nam.� Nhưng, trong khi Okuda c� thể nhầm lẫn nhiều m�n của c�c đồ gốm kh�c với đồ gốm Nam Trung Hoa, một số c� thể đại diện cho đồ gốm được chế tạo đặc biệt cho thị trường Nhật Bản v� ch�nh v� thế kh�ng được biết đến ở những nơi kh�c (Guy, 1986, trang 56).� C�c m�n đồ n�y c� thể c� ni�n đại từ cuối thế kỷ thứ mười s�u cho đến năm 1638 khi c�c nh� cai trị thời Tokugawa cấm đo�n mậu dịch hơn nữa.� Một nh�m c�c đồ gốm kh�c biệt n�y, theo Guy, được trưng b�y tại Bảo T�ng Viện Quốc Gia Kyoto.

2. C�c mẩu tin nhỏ nhặt về c�c cuộc khai quật, về Pajot, v� về Huet, đ� được thu thập từ một cước ch� trong b�i viết của Janse (Arch. Research, 1947, trang xxxiii), một cước ch� của Pope (1956, trang 104), một hồ sơ tại văn khố của Mus�es Royaux d�Art and d�Histoire được cung cấp cho t�c giả xuy�n qua sự tử tế của B� J. P. Schotsmans, một số thư từ của Pajot gửi cho Trường EFEO được xếp trong một hồ sơ tại thư viện của Bảo T�ng Viện Quốc Gia ở S�ig�n, v� một phần giới thiệu ngắn bởi Jean Capart cho b�i đầu ti�n trong ba b�i được viết bởi Huet cho tạp ch� Bulletin de l�Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire (Huet, 1941).� Muốn c� một cuộc nghi�n cứu gần đ�y hơn về sưu tập của Huet, xem Morimoto (1979-83).

3.� Tất cả c�c tin tức về kỳ hội thảo n�y đến từ c�c cuộc thảo luận c� nh�n với Tiến Sĩ Dick Richards.

4. Kể từ ấn bản nguy�n thủy của quyển s�ch n�y được ấn h�nh, người viết c� y�u cầu một nh� l�m đồ gốm chuy�n nghiệp, Jean Fahrni tại Vancouver, kẻ cũng l� chủ tịch cuộc triển l�m Within the Potter�s House (Vancouver Centennial Museum, 1976) cố gắng nung một b�t Việt Nam nhỏ, trang tr� m�u đen trước khi tr�ng men với đất s�t hơi trắng n�y ở nhiệt độ nung đồ sứ [porcelain, thường mỏng, b�ng, dễ vỡ, với th�nh phần đất s�t trắng dưới 50%, ch� của người dịch].� B� đ� đập vỡ chiếc b�t th�nh bốn mảnh, lần lượt nung mỗi mảnh với nhiệt độ mỗi l�c mỗi cao hơn.� Kh�ng mảnh n�o trở n�n trong mờ (transculent), một trong hai điều kiện của đồ sứ như được định nghĩa tại Phương T�y (điều kiện kia l� phải c� �m vang (resonance).� Như thế, ch�nh th�nh phần đặc biệt của đất s�t chứ kh�ng phải sự v� khả năng để sản xuất nhiệt độ cao đ� l�m hỏng sự sản xuất đồ sứ tại Việt Nam.� C�c kết quả của cuộc th� nghiệm n�y đ� được tr�nh b�y tại Kỳ Hội Thảo về Đồ Gốm Mậu Dịch tại Đ�ng v� Đ�ng Nam � Ch�u (Symposium on Trade Pottery in East and South-East Asia), Hong Kong, 4-8 Th�ng Ch�n 1978.���

5. Xem Janse, Illustrated London News, 28 Th�ng Mười Hai 1935, H�nh 4; Arch. Research, 1958, C�c Bảng: Pls. 76 v� 78; v� �Rapport Preliminair�, 1936, Pl. XVc.

6. Địa điểm thứ nh�, kh�ng được x�c định bởi L�, c� lẽ l� một vương quốc tr�n B�n Đảo M� Lai được gọi l� �Lo-cac� m� Marco Polo đ� đến thăm viếng v�o cuối thế kỷ thứ mười ba (Yule, 1929, II, c�c trang 276-80).� Ở thời điểm sớm sủa n�y, Siam (Xi�m La) c� thể l� vương quốc tại Lopburi.

7. Một được lập chứng trong Arch. Research, 1958, c�c trang 101-2; phần kia ở trong �Rapport Preliminair�, 1936, trang 46.

8. Một (lố) bao gồm một b�t h�nh n�n tr�ng men trắng với ch�n b�t được chạm đục; một b�t men ngọc b�ch xanh l� c�y với phần trang tr� chạm nổi tương tự như Bản Chụp M�u Colour Plate VIb được tr�nh b�y nơi đ�y; hai b�t tr�ng men m�u kem với c�c v�nh b�t được lộn từ trong ra ngo�i v� cao, ch�n b�t chạm đục; một b�nh nhỏ (jarlet) tr�ng men m�u n�u; một b�nh nhỏ tr�ng men m�u kem với c�c c�nh hoa sen được nặn tr�n một v�ng đai ở miệng b�nh; ba hũ rượu tr�ng men m�u kem tương tự như Bản Chup M�u Colour Plate IIIa; v� một khay đồ trang sức tương tư như khay được trưng b�y nơi Bản Chụp Plate 5a, b.� Xem Arch. Research, 1958, C�c bản Chụp Pls. 80-2, v� c�c trang 101-2.� Một ng�i mộ kh�c l� ở N�ng Cống, tỉnh Thanh H�a (�Rapport Preliminair�, 1936, trang 46, H�nh 5).� Ở cả hai địa điểm, c�c đồ vật được xếp th�nh một h�ng, phần lớn �p lộn ngược.

9. Muốn c� th�m c�c h�nh ảnh c�c m�n đồ, xem B. Grosslier (1966, C�c bản Chụp 86-8), l� người đ� đưa ra, m� kh�ng x�c định cụ thể c�c l� luận của �ng, c�c ni�n đại từ thế kỷ thứ mười đến thế kỷ thứ mười một; Goloubew (1931-2, Pl. XXXVII, c�c trang 16-19); cũng xem Hejzlar (1973, Pls. 72-5); v� Patk� v� R�v (1967, Pls. 32-4), cả hai đều sư dụng c�c mẫu từ Bảo T�ng Viện Lịch Sử, H� Nội.

10. Một h�nh dạng con người, Goloubew (1931-2, Pl. XXXVII) c� n�u � kiến, l� một người bản xứ Việt Nam cầm một c�i cung (xem nơi đ�y, H�nh 12) v� con chim đu�i d�i (H�nh 12), c� lẽ l� con vật th�ng thường nhất được ph�c họa, c� thể tượng trưng cho chim trĩ c� đ�m h�nh con mắt (Rheinartia ocellata), một loại chim bản địa của Việt Nam m� người Việt Nam tin tưởng (White and Garrett, trang 471) l� mẫu nguy�n thủy cho con chim phượng trong huyền thoại Trung Hoa, một biểu tượng của phương Nam.

11. Mảnh gốm vỡ n�y, được khai quật bởi Bảo T�ng Viện Sarawak Museum ở Kalaka, được li�n kết với c�c mảnh gốm vỡ Việt Nam kh�c c� m�u đen trước khi tr�ng men b�ng v� m�u xanh da trời trước khi tr�ng men b�ng.

12. Trong những năm gần đ�y, c� một phong tr�o trong số một số học giả (th� dụ, Guy, 1986) muốn thay từ ngữ �celadon: đồ tr�ng men m�u ngọc bich� bằng từ �greenware: đồ men m�u xanh r�u (xanh lục)�, v� l� do cho sự thay thế n�y c� lẽ được lập luận vũng chắc nhất bởi Lu Yaw trong thư mục triển l�m Giới Thiệu Hội Đồ Gốm Đ�ng Nam �: Introduction to a Southeast Asian Ceramic Society, Singapore (1979, trang 13).� Nhưng, trong khi từ �celadon� l� một từ ngữ T�y Phương (được d�ng đầu ti�n bởi Jacquemart, 1983) kh�ng được hay biết bởi người Trung Hoa, người viết b�i n�y vẫn ưa th�ch n� hơn từ �greenware�, trong thực tế chỉ phi�n dịch một phần từ ngữ từ H�n tự, qing ci (�đồ sứ men m�u xanh r�u (xanh lục): green porcelain�) m� người Trung Hoa chỉ �p dụng cho một nh�m đồ gốm rất cụ thể, đồ gốm Longquan tại tỉnh Chiết Giang.� Chắc chắn n� sẽ kh�ng được �p dụng bởi người Trung Hoa để chỉ c�c đồ gốm men ngọc b�ch của Việt Nam hay Sawankhalok bởi hỗn hợp đất s�t (claybody) rất kh�c biệt của ch�ng.� Từ ngữ �đồ gốm m�u xanh r�u (xanh lục)� cũng mang một � nghĩa rộng r�i trong Anh ngữ hơn � nghĩa chủ định của từ ngữ trong H�n tự bởi nhất thiết bao gồm c�c đồ m�u xanh r�u (xanh lục) c� được cả từ nước men của chất ch� lẫn đồng (cả hai đều được t�m thất trong c�c đồ gốm Đ�ng Nam �), ngo�i c�c đồ thuờng được gọi l� đồ men ngọc b�ch, trong bản chất l� một nước men bằng tro củi.� Ngo�i ra, từ ngữ �greenware� trong Anh ngữ đ� sẵn c� một � nghĩa quan trọng trong l�nh vực đồ gốm: n� chỉ đồ gốm th� bằng đất (pottery) đ� được chế tạo nhưng chưa nung.� Do đ�, phải nh�n nhận trong khi sự sử dụng từ ngữ �đồ men ngọc b�ch: celadon�c� g�y ra một số vấn đề, t�c giả b�i viết n�y nhận thấy n� hữu �ch hơn, �t g�y nhầm lẫn hơn từ ngữ �greenware� trong việc đề cập đ�n một loại nuớc men tro củi c� m�u hơi xanh r�u (xanh lục).����

13. Th� dụ, tại Calatagan (Fox, 1959), chỉ c� ch�n trong số 510 m�n đồ gốm đ�o l�n được x�c nhận bởi Beyer l� đồ gốm Việt Nam; tỷ lệ tại Kampong Pareko (xem phần Dẫn Nhập cho ấn bản đầu ti�n) dường như cũng �t tương tự như thế.

14. Dĩ nhi�n, Văn Ph�ng Dương Thuyền Mậu Dịch Trung Hoa (Chinese Bureau of Trading Junks)Trung Hoa đ� l� một nỗ lực giữ độc quyền thị trường của ch�nh phủ; trong phần lớn thế kỷ thứ mười lăm, Ch�nh Quyền Trung Hoa đ� cố gắng x�a bỏ mậu dịch tư nh�n.� Tuy nhi�n, một khi vi�n ch�c Trung Hoa rời khỏi Việt Nam, c�c nh� mậu dịch Trung Hoa tư nh�n đ� mau ch�ng k�o đến.� Trong suốt thế kỷ thứ mười lăm, mậu dịch Trung Hoa kh�ng hề đ�nh chỉ ho�n to�n, bất kể c�c biện ph�p n�o m� ch�nh phủ đ� thực hiện; c�c thương nh�n chỉ sử dụng nhiều hơn c�c sản phẩm v� trạm ngoại vi ở Đ�ng Nam �.� Bắc Kỳ, v� gần cận, hẳn phải thực sự quan trọng đối với họ.� Muốn biết th�m về ch�nh s�ch mậu dịch của Trung Hoa trong thời kỳ n�y, xem, Guy, Oriental Trade Ceramics, 1986, Chương 5.

15. C�c vụ mua b�n như thế c� thể đ� xảy ra sớm hơn nữa.� Trong nh�m khoảng 40 m�n đồ gốm thời Hậu Tống được đưa từ Hồng K�ng đến Singapore hồi gần đ�y, v� trong số m�n được n�i bởi c�c nh� bu�n l� đ� được khai quật từ c�c ng�i mộ tại miền bắc Trung Hoa, c� một t� m�n đồ Việt Nam, c� lẽ c� ni�n đại thuộc thế kỷ thứ mười ba.� Xem C�c Bản Chụp M�u số II, IV, v� VI v� Bản 5. Trong khi phẩm chất tốt đặc biệt của nh�m n�y v� sự li�n kết của ch�ng với c�c m�n đồ Trung Hoa của c�ng thời kỳ khiến g�y thắc mắc l� liệu người Trung Hoa c� thể đ� thực sự nhập cảng ch�ng như đồ qu� hiếm ngoại quốc chăng, c�c con bu�n th� lu�n lu�n kh�ng thể tin tưởng được.� C�c m�n đồ n�y c� thể đ� dễ d�ng đến từ Việt Nam, xuy�n qua Trung Hoa.� Nhiều m�n đồ gốm Thanh H�a, được mang sang trực tiếp từ Việt Nam, đ� xuất hiện tại c�c cửa h�ng ở Bangkok trong những năm gần đ�y, nhưng điều kh�ng được hay biết l� ch�ng đến từ c�c sưu tập cũ từ c�c thập ni�n 1920 v� 1930 hay l� từ việc đ�o bới bất hợp ph�p thời nay.

16. Cố t�c giả Robert P. Griffing, Jr. (trong b�i �Dating Annamese Blue and Whit�, Orientations, May, 1976) đ� đưa ra một nỗ lực để ấn định ni�n đại ch�ng theo thể loại (stylistically), d�ng c�c m�n đồ mang đặc t�nh của c�c m�n một m�u (đơn sắc: monochrome) như đại diẹn cho đồ gốm m�u xanh da trời v� m�u trắng sớm nhất, v� chiếc b�nh (lọ) tại Bảo T�ng Viện Topkapi (xem Bản Chụp M�u số X) để x�c định c�c m�n đồ thuộc thế kỷ thứ mười lăm.� C�c � tưởng của �ng xem ra vững chắc, v� người viết đ� sủ dụng một số sự ấn định ni�n đại của �ng trong c�c ch� th�ch của quyển s�ch n�y.

17. Th� dụ, Fox trong khi sử dụng một hệ thống ấn định niện đại thừa hưởng từ H. Otley Beyer (được t�m lược bởi Robb, 1930), đ� quy kết địa điểm ở Calatagan cho thế kỷ thứ mười lăm trong bản b�o c�o sơ bộ của �ng về cuộc khai quật của �ng ở đ�, nhưng về sau, bị ảnh hưởng bởi c�c � tưởng của c�c học giả đồ gốm thỉnh giảng, đặc biệt c�c học giả đ� tham dự cuộc Hội Thảo Đồ Gốm Mậu Dịch ở Manila năm 1968 (được điểm tin bởi Tregear, 1968), đ� ph�t biểu � kiến (trong Locsin, 1967, trang 105) rằng địa điểm bao gồm cả c�c m�n đồ thuộc �t nhất nửa đầu của thế kỷ thứ mười s�u, một sụ ấn định ni�n đại cũng được ủng hộ sau n�y bởi Watt (1971).� Một số chuy�n vi�n, kể cả Adrian Joseph, trong c�c cuộc đ�m thoại ri�ng với người viết n�y, đ� b�y tỏ một sự ho�i nghi về việc hiện hữu của bất kỳ đồ gốm mậu dịch m�u lam v� trắng n�o của Trung Hoa thuộc thế kỷ thứ mười lăm tại Đ�ng Nam �.� Nhung trong khi c�c ng�i mộ của thời kỳ n�y nhất định chứa �t đồ gốm hơn c�c địa điểm mai t�ng trước đ� (c� lẽ với số trung b�nh từ 2-3 m�n mỗi ng�i mộ so với c�c địa điểm thời nh� Nguy�n chẳng hạn như Santa Ana (xem Locsin, 1967), nơi nửa t� hay hơn c�c m�n đồ gốm mỗi ng�i mộ kh�ng phải l� kh�c thường), điều cũng đ�ng rằng c�c m�n đồ được biết thuộc thế kỷ thứ mười lăm c� trị gi� cao hơn v� do đ� đ� mau ch�ng �biến mất� một c�ch lặng lẽ tối đa v�o c�c sưu tập tư nh�n hay c�c thị trường nước ngo�i.

18. Adrian Joseph c� th�ng b�o cho người viết n�y rằng khi �ng tr�nh c�c đồ gốm Việt Nam cho sự kh�m nghiệm ph�n t�ch quang phổ (spectrometry), �ng cũng đ� y�u cầu ch�ng được x�t nghiệm bằng ph�p ph�t l�n quang bằng nhiệt (thermoluminescence), nhưng kh�m ph� ra rằng ch�ng đ� kh�ng đ�p ứng với phương ph�p ấn định ni�n đại đ�.

19. Người viết thắc mắc l� liệu một số sự kh�c biệt về m�u sắc n�y c� thể bị g�y ra bởi b�u kh�ng kh� của l� nung.� Tr�n v�i bản chụp khổ lớn tại Bảo T�ng Viện Museum Pusat, Jakarta, th� dụ, m�u sắc được m� tả bởi Joseph như l� kết quả của quặng bản địa trang tr� mặt trong, trong khi loại quặng du nhập kh�c nhau được nhận thấy ở mặt ngo�i tường đối kh�ng quan trọng.� Tr�n c�c m�n đồ kh�c, tuy nhi�n, cả hai loại đều c� th� được nh�n thấy ở mặt trong.

20. H�n tự v� chữ n�m Việt Nam dựa tr�n H�n tự được d�ng chuy�n biệt để k� tự ng�n ngữ Việt Nam, �t nhất cho đến thế kỷ thứ mười bẩy khi Alexandre de Rhodes giới thiệu c�ch viết dựa tr�n mẫu tự T�y Phương được sử dụng ng�y nay.� Chữ n�m tiếp tục được d�ng cho c�c t�c phẩm nghệ thuật v� học thuật ngay cả cho đến l�c khởi đầu thế kỷ thứ hai mươi.

21. Minh văn được phi�n dịch một c�ch �n cần cho người viết n�y bởi Gi�o Sư D. C. Lau, Trường School of Oriental and African Studies, University of London, từ c�c ảnh chụp c�c từ ngữ được cung cấp bởi Topkapi Saray Museum.

22. C�c H�n tự được dịch sang tiếng Việt cho người viết n�y trong năm 1974 với sụ trợ gi�p của một quyển từ điển của John Harding, gi�m đốc c�c chương tr�nh Việt ngữ của đ�i BBC, London.

23. Xem Bửu C�n [hay Cần, Cấn, Cẩn?] v� c�c t�c giả kh�c, c�c trang 32, 194, v� 211.� Về sự tham khảo n�y, người viết c�m ơn Tiến Sĩ Ralph Smith của Trường School of Oriental and African Studies, University of London.

24. C�c mảnh gốm vỡ được nh�n thấy bởi t�c giả hồi đầu thập ni�n 1970 giữa c�c th�ng đựng c�c mảnh gốm vỡ thu thập được cất giữ tại Bảo T�ng Viện Old Sukhothai Museum.

25. Xem Brown, �Seventeenth-Eighteenth Centuries Vietnamese Wares in the Sarawak Muse�m, Sarawak Museum Journal (đang in).

26. Ch�nh John Guy (Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, 1982, trang 34) đ� lưu � người viết n�y đến sự kiện n�y qua việc n�u � kiến l� hai ảnh m�u, Plate F, Nos 2 & 3, trong ấn bản nguy�n thủy của quyển s�ch n�y (1077 v� 1978) m� người viết đ� nhận dạng l� Việt Nam c� lẽ đ�ng hơn l� của Nhật Bản.� Người viết đ� viết cho Tiến Sĩ Oliver Impey về vấn đề n�y, v� �ng, trong thực tế đ� x�c định đĩa của Bản Chụp Plate F2 l� đồ gốm mậu dịch của Nhật Bản v�o khoảng 1680-1710.� Thoạt nh�n qua c�c ảnh chụp, người viết n�y cũng nhận thấy rằng nền men tr�ng của đĩa đ� c� ba dấu phẩy như cựa g� � một đặc điểm của đồ gốm Nhật Bản thế kỷ thứ mười bẩy; hai b�ng cố � m�u lam c�ng thế, được d�ng để trang tr�, biện luận cho một nguồn gốc Nhật Bản.� Ngay d� Tiến Sĩ Impey đ� kh�ng cảm thấy rằng chiếc b�nh của Bản Chụp Plate F3 l� của Nhật Bản, n� cũng đ� được loại bỏ ra khỏi ấn bản n�y bởi người viết đ� kh�ng thể thăm viếng lại S�ig�n để t�i khảo s�t m�n đồ n�y.� Muốn c� một mẫu về c�c đồ gốm mậu dịch Nhật Bản trong thế kỷ thứ mười bảy tại Đ�ng Nam �, xem Adhyatman, Rehfuss and Shindo (1979).

27. C�u chuyện n�y được tr�ch dẫn bởi T. Volker (Porcelain and the Dutch East India Company, 1971, trang 185), trong The Transactions of the Asiatic Society of Japan, Vol. 11, trang 182).

28. Xem Vương Hồng Sển (1944) để c� một sự tr�nh b�y r� hơn về c�c m�n đồ.� Bằng ch�ng bổ chứng cho việc ch�ng đ� được sản xuất tại Trung Hoa được cung cấp bởi một th�n hữu của người viết l� kẻ đ� b�o c�o c� nh�n thấy một số mẫu được trưng b�y tại một bảo t�ng viện ở Quảng Ch�u (Canton) vốn được m� tả như đồ được sản xuất tại Trung Hoa cho triều đ�nh Việt Nam tại Huế.

29. T�c giả đ� t�m thấy trước ti�n bằng chứng cho sự sản xuất của Căm Bốt ở Conservation D�Angkor tại Siem Reap.� H�ng s�nh (crockery) tại nh� của Bernard Groslier bao gồm cả một bộ c�c đĩa cổ với chủ đề c� m� �ng n�i đ� được mua hồi trước Thế Chiến II.� Sau n�y, một trong c�c gia đ�nh người Hoa tại L�i Thi�u c� n�i với người viết l� họ trước đ�y c� sinh sống tại Căm Bốt./-����

 

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

***

_____

Nguồn: Roxanna M. Brown, The Ceramics of South-East Asia, Their Dating and Identification, 2nd Edition, Art Media Resources, Ltd.: Chicago, Il, 2000.� C�c phần tr�ch dịch gồm:

Chapter 1: Vietnamese Ceramics, c�c trang 13-32; Chapter 2: The Go-Sanh Kilns, c�c trang 36-39; Bản In M�u Đồ Gốm Việt Nam, Plate I � Plate XIV; Bản In M�u Đồ Gốm Ch�m, Plate XV; Bản In Đen Trắng Đồ Gốm Việt Nam, Plate 1 � Plate 21; Bản In Đen Trắng Đồ Gốm Ch�m, C�c L� Nung ở G� Sanh, Plate 22 � Plate 23.

 

 

Roxanna Brown

Chiang Mai University

 

 

C�C L� GỐM TẠI G� S�NH

hay

ĐỒ GỐM CH�M

 

 

 

������ Giống như tiếng Th�i, �Tao-Hai� (s�t nghĩa, �c�c l� nung c�c chiếc b�nh (lọ)�) đ� dẫn tới sự kh�m ph� ra hai địa điểm l� nung trước đ�y ở miền bắc Th�i Lan sau một cuộc khảo s�t m�i trường của c�c ng�i l�ng mang t�n đ�, �G� S�nh�, c� thể được phi�n dịch l� �c�c g� đồ s�nh�, như t�n gọi của một ng�i l�ng tại miền trung Việt Nam, đ� dẫn đến sự kh�m ph� một địa điểm l� nung khả hữu ở đ�.� Ng�i l�ng tọa lạc độ 10 c�y số t�y bắc dọc theo con đường dẫn tới Pleiku, thuộc v�ng cao nguy�n trung phần Việt Nam, đi từ Qui Nhơn, một th�nh phố duy�n hải thuộc tỉnh B�nh Định.� Được khiuyến kh�ch trong cuộc t�m kiếm của họ bởi một nh� sưu tầm dồ cổ ở S�ig�n, c�c cư d�n của ng�i l�ng trong những th�ng đầu ti�n của năm 1974 đ� t�m thấy bằng chứng về một địa điểm l� nung trước đ�y: c�c bộ phận chống đỡ trong l� nung, c�c sạp nung, rất nhiều mảnh gốm bị bể vỡ, v� c�c phế phẩm của l� nung (xem H�nh 25).� C�c giới chức tr�ch của Bảo T�ng Viện Quốc Gia S�ig�n c� hay biết về c�c sự kh�m ph�, nhưng v� thiếu t�i ch�nh v� phương ti�n di chuyển, họ đ� kh�ng thể đi thăm viếng địa điểm. 1

H�nh 25: Một sạp v� hai v�ng chống đỡ chồng đồ nung h�nh v�ng tr�n từ G� S�nh

����� Bởi vị tr� của ch�ng, điều được suy tưởng rằng c�c l� nung thuộc xứ Ch�m, một vương quốc m� theo c�c t�i liệu Trung Hoa, được th�nh lập v�o năm 192 Sau C�ng Nguy�n (SCN) tại v�ng Huế.� N� chiếm cứ duy�n hải miền trung Việt Nam từ ph�a nam Thanh H�a cho đến c�c ranh giới ph�a bắc của v�ng Ch�u Thổ s�ng Mekong của Khmer, v� n� đ� thụ hưởng vị thế của một hải cảng dừng ch�n tr�n hải lộ mậu dịch Trung Đ�ng � Trung Hoa muộn nhất từ thế kỷ thứ t�m (xem Ferrand, 1913-14).� Người d�n của n� được tiếng l� c�c người c� t�i đi biển v� l� hải tặc thường đ�nh cướp c�c l�ng ven biển Việt Nam ở ph�a bắc của họ.� Nhưng dưới c�c cuộc tấn c�ng nhiều lần của l�ng giềng phương bắc của họ, c�c vua xứ Ch�m đ� chứng kiến sự tho�i lui bi�n giới của họ v� trong năm 1000 SCN đ� bị buộc phải dời kinh đ� của họ từ Indrapura tại tỉnh Quang Nam, ngay ph�a nam của Đ� Nẵng, xuống Vijaya (tỉnh B�nh Định), s�u hơn nữa về ph�a nam, bỏ rơi c�c khu định cư ở v�ng cực bắc của họ, bất kể một sự chiếm đ�ng ngắn ngủi của Việt Nam trong năm 1446, cho đến khi c� sự loại bỏ vĩnh viễn vương quốc bởi Việt Nam trong năm 1471, thời điểm được tường thuật rằng 60,000 người Ch�m bị chết v� ho�ng gia, c�ng với 30,000 t� nh�n, bị mang đi giam giữ. 2 Về mặt thể loại, đồ gốm của G� S�nh kh�ng vượt qu� sự sụp đổ chung cuộc của vương quốc Ch�m.

������ Bởi v� địa điểm đ� kh�ng được khảo s�t một c�ch th�ch đ�ng, vẫn chưa c� thể đưa ra bất kỳ sự ước lượng n�o về số l� hay họa đồ x�y dựng của ch�ng.� Bởi c�c mảnh gốm vỡ v� c�c phế phẩm thu hồi được tương tự với một loại th�ng thường của c�c m�n đồ được t�m thấy ở hải ngoại, đặc biệt tại Phi Luật T�n gần cận, n� hẳn đ� phải l� một địa điểm c� một số tầm v�c quan trọng.� Cho đến nay c�c m�n đồ đại diện bởi c�c mảnh vỡ thu lượm được tại địa điểm tương hợp với ba loại: c�c đĩa [saucers, để dưới cốc, t�ch hay dưới chậu hoa, ND] tr�ng men hơi xanh r�u hay hơi lam x�m với c�c v�ng tr�n chồng l�n nhau kh�ng được tr�ng men tr�n mặt trong đ�y đĩa; c�c đĩa m�u ngọc b�ch (celadon); v� c�c b�nh (lọ) tr�ng men n�u thuộc nhiều loại.� Kh�ng c� bằng chứng cho đến nay về c�c m�n đồ trang tr� dưới lớp men � tất cả đều đơn sắc v� phần trang tr� hiếm thấy.� Chỉ c� c�c vại (b�nh: jars) đựng đồ lớn tr�ng men n�u đ�i khi c� chạm khắc hay c� c�c họa tiết chủ đề được đắp nổi.� C� hai loại đất s�t: thứ nhất, điển h�nh cho một số c�c mảnh gốm vỡ tr�ng men hơi x�m hay xanh r�u hơi lam v� m�u ngọc b�ch, c� m�u hơi x�m; thứ nh�, được nhận thấy ch�nh yếu nơi c�c mảnh gốm tr�ng men n�u, thường c� m�u cam đến m�u n�u hơi đỏ v� c� trọng lượng nhẹ một c�ch đ�ng ngạc nhi�n.� Tất cả c�c mảnh vỡ đều l� đồ s�nh.

 

H�nh 26: Một phần của một chiếc b�t lớn m�u ngọc b�ch v� chồng phế phẩm của c�c đĩa nhỏ tr�ng men hơi x�m từ G� S�nh

������ C�c mảnh vỡ v� phế phẩm phong ph� nhất thu lượm từ địa điểm đại diện cho c�c đĩa nhỏ tr�ng men hơi x�m (H�nh 26).� C�c đĩa n�y c� th�n đĩa m�u hơi x�m v� đ�i khi m�u n�u hơi đỏ hay m�u cam, c� v�ng ch�n đế được kho�t v� cắt xi�n g�c, v� c�c v�ng tr�n chồng l�n tr�n kh�ng được tr�ng mem mặt trong đ�y đĩa.� Men tr�ng lượn s�ng, tr�ng giống như đ�m m�y, hơi trong mờ, v� biến đổi đ�ng kể về sắc m�u từ hơi xanh r�u đến x�m hơi lam; lớp men thường dừng lại kh�ng đều nhau ở b�n ngo�i khoảng hai phần ba hướng chảy xuống t�nh từ v�nh miệng đĩa.� C�c chồng phế phẩm của c�c đĩa cho thấy ch�ng được xếp chồng l�n nhau theo c�ng c�ch thức như một số m�n đồ miền bắc Việt Nam đ� được thảo luận nơi Chương 1 [Đồ Gốm Việt Nam. đ� dịch v� đăng tải, ND].� Trung t�m được tr�ng men của c�c chiếc đĩa, b�n trong v�ng tr�n kh�ng được tr�ng men, thường c� sắc độ xanh r�u đậm hơn hay đậm hơn phần c�n lại của chiếc đĩa � một sự phản ảnh kh�ng kh� l� nung hơi kh�c biệt tr�n phần được bảo vệ đ� của chiếc đĩa.� C�c đĩa như thế n�y được t�m thấy ở nước ngo�i, ở cả Phi Luật T�n lẫn Nam Dương, nơi ch�ng thường được x�c định l� đồ gốm Việt Nam v� được chỉ định thuộc cuối thế kỷ mười ba, thế kỷ mười bốn, v� thế kỷ mười lăm, v� gần hơn, c� lẽ tr�n một chiếc t�u bị đắm chở đồ gốm tại Vịnh Th�i Lan c�ng với đồ gốm v�ng Sawankhalok v� Sukkhothai từ c�c l� gốm Th�i Lan. 3 Kh�ng c� c�c h�nh d�ng kh�c thuộc lớp men n�y được đại diện bởi c�c mảnh gốm vỡ tại S�ig�n.

������ Cũng c� c�c mảnh gốm vỡ từ c�c chiếc đĩa to hơn với men thủy tinh, trong mờ, m�u ngọc b�ch, v� c�c dấu cựa ch�n g� chung quanh mặt trong của đ�y đĩa, nhưng kh�ng đủ để đưa ra bất kỳ sự x�c định chắc chắn n�o về c�c m�n đồ nước ngo�i.

������ C�c mảnh gốm vỡ m�u n�u đơn sắc l� sự kh�m ph� g�y hứng th� nhất, bởi ch�ng ph� hợp với một loại đ� được hay biết v� thường được x�c định l� đồ gốm Việt Nam. 4 Phần lớn những mảnh gốm vỡ n�y c� th�n gốm m�u hơi đỏ, gần giống như m�u v�ng b� ng�, cả ở mặt ngo�i l�n ở mặt cắt ngang (thiết diện: cross section).� Kh�c với m�u n�u của đồ gốm miền bắc Việt Nam thường c� sắc độ chocolat đậm, lớp men tr�n mảnh gốm G� S�nh thường c� m�u n�u hơi v�ng hay v�ng kim loại nhạt.� Hơn nữa, lớp men tr�n c�c m�n đồ gốm Việt Nam bao phủ một c�ch kỹ lưỡng to�n thể mặt ngo�i, kể cả mặt ngo�i của c�c v�ng ch�n đế của m�n đồ, trong khi lớp men tr�n vật liệu G� S�nh ndừng lại ở một nơi n�o đ� b�n tr�n phần đ�y.� Bởi v� c�c mảnh gốm vỡ m�u ngọc b�ch tại S�ig�n qu� �t về số lượng, sẽ kh� khăn để x�c định c�c đặc t�nh của ch�ng, ngoại trừ việc n�i rằng men ngọc b�ch c� m�u r�u vừa phải, dễ bị rạn, trong mờ, thủy tinh, một loại men ngọc b�ch cũng đặc trưng cho c�c m�n đồ v�ng Sawankhalok tại Th�i Lan.

������ C�c đồ tr�ng men n�u thu hồi đến nay đại diện cho một loạt c�c h�nh dạng rộng r�i nhất, mặc d� c�c mảnh gốm vỡ như thế được n�i l� c� số lượng �t nhất tại địa điểm.� C�c chiếc vại (b�nh) lớn đựng rượu hay chạm khắc, đắp h�nh con rồng (dragon jars) c� thể đ� được sản xuất nguy�n thủy cho sự sử dụng của c�c bộ tộc miền n�i của rặng Trường Sơn Việt Nam, l� c�c kẻ vẫn ưa th�ch như thế, c�c loại b�nh, c�c vại nhỏ, b�nh v�i kiểu Việt Nam 5, t�ch (cốc), c�c chai (lọ) h�nh quả l�, c�c chậu đ�y bằng với c�c v�nh miệng tr�n dầy được uốn nếp tr�ng kh� giống như một vỏ b�nh nướng, v� c�c b�nh đựng nước nhỏ (Bảng m�u Colour Pt. XV v� C�c Bảng đen trắng 22 v� 23).� C�c đặc t�nh tổng qu�t bao gồm một lớp men n�u-v�ng kim loại chảy xuống, thường bị ph� hỏng bởi c�c bọt kh�ng kh�, v� hiếm khi vươn tới đ�y của chiếc b�nh, c� v�nh miệng uốn tr�n, v� c�c đ�y phẳng hay được cắt kho�t n�ng kh�ng bao giờ được tr�ng men.� C�c vại đựng rượu lớn đ�i khi được trang tr� với c�c chủ đề cuộn tr�n mờ nhạt được chạm khắc xuy�n qua lớp men tr�ng chứ kh�ng ở b�n dưới men, hay c�c h�nh con rồng được đắp nổi c� cổ rồng đ�i khi tạo th�nh c�c quai cầm ở cổ chiếc vại.� Tr�n c�c vại kh�c, c� c�c tay cầm giống như cầu vai hay quai đắp nổi.� Tất cả đều c� cổ vại dầy, hơi nghi�ng về ph�a một v�nh miệng uốn tr�n.� Nh�m n�y cũng bao gồm c�c vại chẳng hạn như vại nơi Bảng 23d được trang tr� bằng lớp men b�ng m�u đỏ đậm tr�n một th�n vại kh�ng được tr�ng men.

������ Ngo�i c�c mảnh gốm vỡ v� c�c phế phẩm, c�c sạp (saggars) v� c�c bộ phận chống đỡ trong l� nung được kh�m ph� rất nhiều tại G� S�nh.� C�c sạp được l�m bằng một loại đất s�t m�u n�u hơi đỏ, c� hạt đất th�, v� c� h�nh trụ (cylindrical).� Một sạp tại S�ig�n đo được 25.0 cm chiều cao v� 23.5 cm đường k�nh; một sạp kh�c c� chiều cao bằng ph�n nửa.� Bởi c�c m�n đồ gốm G� S�nh c� đủ c�c đặc t�nh của c�c m�n đồ Việt Nam khiến nghĩ rằng ch�ng đ� được khởi sự bởi c�c thợ gốm của Bắc Kỳ, giống như nhiều thợ thủ c�ng của Trung Hoa, c� thể đ�i khi cũng nung c�c m�n đồ của họ trong c�c sạp chứa n�y.� C�c bộ phận chống đỡ trong l� nung được thu hồi từ G� S�nh được chế tạo bằng một cuộn đất s�t duy nhất tạo th�nh một v�ng tr�n v� c� c�c ch�n nhỏ được kẹp hay đắp để lại c�c dấu cựa ch�n g� kh� giống như c�c m�n đồ của nhiều đồ gốm v�ng Sukhothai v� Sawankhalok.

������ C�c dấu cựa ch�n g� đặc biệt phổ th�ng tr�n c�c m�n đồ Việt Nam c� ni�n kỳ từ c�c thế kỷ mười ba v� mười bốn, sau đ� ch�ng trở n�n hiếm thấy.� Đ�y cũng l� c�c thế kỷ m� trong đ� c�c v�ng tr�n chồng l�n kh�ng được tr�ng men giống như c�c v�ng tr�n tr�n c�c đĩa nhỏ G� S�nh, c� xuất hiện tr�n c�c chiếc b�t v� đĩa Việt Nam đơn sắc.� Ch�nh c�c điểm tương đồng n�y, c�ng với h�nh dạng v� c�c sự tương tư trong việc tạo h�nh đồ gốm, chẳng hạn như c�c dấu vết xoay tr�n tr�n đ�y của c�c đĩa chạy theo hướng ngược kim đồng hồ, khiến c� thể lập thuyết rằng nghệ thuật đồ gốm tr�ng men 6 đ� được du nhập v�o xứ Ch�m từ Việt Nam hồi cuối thế kỷ mười ba v� thế kỷ mười bốn, v� đ� c� một biến cố lịch sử c� thể rất li�n quan đến ni�n kỳ n�y: v�o năm 1307, một người em g�i của ho�ng đế Việt Nam trở th�nh vợ của quốc vương xứ Ch�m (Nguyen, 1969, trang 14).� Một vại giống như lọ (b�nh) thon, miệng nhỏ (potiche-like), với mọi t�nh chất đến từ c�c l� gốm G� S�nh, được khai quật tại Santa Ana ở Phi Luật T�n từ một ng�i mộ được ước lượng thuộc thế kỷ thứ mười ba hay đầu thế kỷ mười bốn. 7 Một th� dụ được c�ng bố kh�c được t�m thấy tại Phi Luật T�n, v� c� thể đến từ G� S�nh, l� một vại đựng rượu hay đắp h�nh con rồng trong sưu tập của Locsin, theo sự tường thuật được t�m thấy tại Puerto Gatera, v� được g�n ni�n kỳ khoảng thế kỷ mười bốn đến mười lăm (Locsin, 1967, Bảng Pl. 110).� Trong thực tế, c�c vại n�y, được t�m thấy với số lượng lớn tại Phi Luật T�n, trong khi tại Indonesia ch�ng tương đối hiếm thấy.

������ Cuối thế kỷ mười lăm c� thể đ� đ�nh dấu sự kết th�c của ng�nh sản xuất đồ gốm Ch�m.� Bởi kh�ng c� dấu hiệu của c�c m�n đồ trang tr� b�n dưới lớp men được t�m thấy ở G� S�nh, điều đ�ng ngờ vực l� liệu sự sản xuất của c�c l� nung c� vượt qu� cuộc chinh phục năm 1471 hay kh�ng.� Một khi xứ Ch�m đ� bị s�p nhập v�o đế quốc Việt Nam, c�c m�n đồ trang tr� dưới lớp men, đặc biệt đồ m�u lam, khi đ� phổ th�ng tại Bắc Kỳ v� được xuất cảng ra nước ngo�i, chắc chắn sẽ được du nhập v�o c�c l� gốm Ch�m nếu ch�ng vẫn c�n tiếp tục hoạt động./-

 

___

CH� TH�CH

1.      Bởi người viết, kh�ng may n�n kh�ng c� thể đ�n thăm địa điểm, chương n�y được dựa tr�n sưu tập v� th�ng tin của H� Đức Cần [?], người đ� đ�n thăm viếng địa điểm n�y, v� tr�n một sưu tập nhỏ c�c mảnh vỡ v� c�c phế phẩm tại Bảo T�ng Viện Quốc Gia S�ig�n.� Kể từ 1975, người viết kh�ng thể hay biết bất kỳ điều n�o th�m về địa điểm.

 

2.      Coed�s (1968), trang 239.� Muốn biết th�m về lịch sử Vương Quốc Ch�m, xem Maspero (1928), Coed�s (1966 v� 1968), v� Hall (1968).

 

3.      Brown (1975).� Khoảng 1,000 đĩa tương tự như c�c đĩa t�m thấy ở G� S�nh được t�m thấy trong một chiếc t�u bị ch�m đắm ngo�i khơi bờ biển miền nam Th�i Lan, nhưng bởi kh�ng c� một sự so s�nh b�n nhau, sự x�c định chắc chắn gặp kh� khăn.� C� bằng chứng rằng c�c đĩa tương tự cũng được chế t�c tại miền nam Trung Hoa.� Ph�n đo�n theo c�cni�n đại khả hữu của đồ gốm Sawankhalok v� Sukhothai, hai thứ đều cũng được t�m thấy tr�n chiếc t�u, con t�u c� lẽ đ� bị ch�m đắm v�o cuối thế kỷ thứ mười bốn hay đầu thế kỷ thứ mười lăm.

 

4.      Ch�ng cũng được thiết lập danh mục bởi Willetts (1971), v� được thử l�m như thế bởi Lammers v� Ridho (1974).� Một bộ m�n đồ kh�c được x�c định bởi Willetts trong c�ng tập danh mục l� đồ gốm Việt Nam, nhưng c� một số đặc điểm của gốm Ch�m, l� lớp men b�ng (enamel) tr�n đồ đất nung kh�ng tr�ng men (biscuit).� Một th� dụ được tr�nh b�y nơi đ�y (tr�n Bảng 23d) c� lớp men m�u n�u kim loại, v�nh miệng uốn tr�n, c� tay cầm hai b�n cầu vai, điển h�nh cho loại gốm G� S�nh, kết hợp với men b�ng m�u đỏ c� chua tr�n đồ nung kh�ng tr�ng men.� Nghi�n cứu kỹ hơn rất c� thể chứng minh n� c� nguồn gốc Ch�m.

 

5.      B�nh đựng v�i th� nhỏ v� c� h�nh tr�i xoan, chiều cao trung b�nh từ 9 đến 13 cm, c� một ch�n đế v� hoặc một tay cầm h�nh rồng chih [phi�n �m tiếng H�n nhưng kh�ng c� mặt chữ n�n kh�ng r� � nghĩa, ch� của người dịch] uốn lượn như một c�nh c�y nhỏ hay con rồng biến th�i trong huy�n thoại.� Những h�nh dạng như thế thường được chỉ định thuộc c�c thế kỷ thứ mười ba v� mười bốn.� See Huet (1941).

 

6.      Sự ph�t biểu n�y c� nghĩa hạn chế đối với từ ngữ �glazed: c� tr�ng men� bởi người Ch�m đ� trang tr� c�c ng�i đ�n của họ bằng c�c đồ trang tr� đi�u khắc kh�ng tr�ng men, thường c� m�u v�ng cam của đất s�t được nung nhanh v� c�c m�n đồ n�y, bởi vẫn chưa được ấn định ni�n đại một c�ch quả quyết, c� thể sớm hơn đồ gốm tr�ng men.

 

7.      Chiếc vại, được tr�ng men m�u n�u với v�nh miệng uốn tr�n v� bốn tay cầm đắp nổi ở vai vại điển h�nh cho c�c m�n đồ đơn sắc của G� S�nh, được ph� b�y trong s�ch của t�c giả Locsin (1967, Bảng 93) c�ng với phần c�n lại của đồ được chứa đựng ở Ng�i Mộ Số 25; chiếc vại nằm ở b�n tr�n, g�c tay phải của bức ảnh chụp.� Vật mai t�ng bao gồm cả c�c đồ m�u ngọc b�ch v� c�c đồ đơn sắc Trung Hoa c�ng với một đồng tiền Trung Hoa thế kỷ thứ mười một/-�

 

a.       B�t, n�ng, th�n (xương) gốm m�u cam nhạt, lớp men xanh r�u hơi x�m chảy xuống dưới, v� một vết sẹo từ ch�n đế của chiếc b�t kh�c h�nh tr�n của b�t chồng, kh�ng được tr�ng men trong l�ng b�t.� Đường k�nh: 16.7cm. Sưu tập của Ha Duc Can [?].

b.      Vại, với th�n m�u cang hơi đỏ, phần trang tr� được chạm khắc xuy�n qua lớp men n�u lốm đốm chảy từ tr�n xuống. Chiều cao: 42 cm.� Sưu tập của Ha Duc Can [?]

c.       Vại, với th�n m�u cam hơi đỏ, phần trang tr� được chạm khắc xuy�n qua lớp men m�u n�u ��nh v�ng kim loai.� Chiều cao: 24.5 cm.� Sưu t�p của Ha Duc Can [?]

d.      Chậu, với đ�y bằng, th�n m�u cam da con tr�u, b�n ngo�i phần lớn kh�ng tr�ng men, v� c� lớp men m�u n�u-olive nhạt chảy xu�i xuống.� Đường k�nh: 41 cm, cao: 23 cm.� Sưu tập của Ha Duc Can [?]

 

a.       B�nh đựng nước uống, h�nh quả l� với một quai cầm h�nh con rồng chih [k� �m chữ H�n trong nguy�n bản, kh�ng r� nghĩa, ND], đ�y phẳng, hơi l�m, th�n m�u cam hơi n�u, v� men tr�ng n�u nhạt, mỏng, rạn nứt.� Chiều cao: 11.9 cm.� Từ Quy Nhơn.� Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.� Sưu tập Ha Duc Can [?].

 

b.      Cốc (t�ch), với ch�n phẳng, th�n m�u cam hơi x�m; v� một lớp men n�u caramel nhạt, [caramel: m�u n�u của đường đem thắng, ND], mỏng chảy xu�i xuống dưới,� c� v�n rạn, với c�c lỗ đinh ghim (kim ch�m).� Chiều cao: 8 cm.� Từ Quy Nhơn.� Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.� Sưu tập Ha Duc Can [?].

 

c.       Vại, với năm con rồng c� vẩy, d�i, với cổ tạo th�nh tay cầm, phần trang tr� chạm khắc những đợt s�ng nằm dưới lớp men, th�n hơi đỏ, v� với một lớp men m�u n�u �nh v�ng kim loại mỏng, chảy từ tr�n xuống dưới, lốm đốm c�c lỗ đinh ghim. Chiều cao: 42 cm.� Từ c�c bộ tộc miền n�i, tỉnh B�nh Định.� Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.� Sưu tập Ha Duc Can [?].

 

 

a, b. B�t, với th�n nhẹ m�u cam hơi đỏ, v�ng ch�n đế được cắt x�n v� đặt xi�n g�c, v�ng xếp chồng b�t kh�ng được tr�ng men trong l�ng b�t, v� lớp men m�u n�u lốm đốm.� Đường k�nh: 15.3 cm.� Từ Quy Nhơn.� Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.� Sưu tập Ha Duc Can [?].

 

c.B�nh, vại, với v�ng ch�n đế được cắt x�n, th�n m�u cam hơi đỏ, v� lớp men n�u nhạt pha6`n n�o bị mờ nhạt.� Chiều cao: 7 cm. Từ Quy Nhơn.� Thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười lăm.� Sưu tập Ha Duc Can [?].

d.Vại (b�nh), với lớp men n�u �nh v�ng kim loại ở pha6`n tr�n, v� họa tiết trang tr� bằng men b�ng m�u đỏ c� chua tr�n phần c�n lại của th�n b�nh kh�ng được tr�ng men, bị khiếm khuyết bởi một v�i vết bỏng giộp g�y ra bởi c�c bọt kh�ng kh� tho�t ra, đ�y vại r�p nh�m, kh�ng tr�ng men, v� hơi l�m.� Muốn c� một chiếc b�nh tương tự được x�c định l� đồ An Nam, xem Van Orsoy de Flines, 1949, Pl. 74.� Chiều cao: 33 cm, Sưu tập SinclairCollection, Museum Seni Asia, Universiti Malaya.

***

THƯ TỊCH

 

Người dịch chỉ ghi lại c�c t�i liệu được trưng dẫn trực tiếp trong hai b�i viết b�n tr�n, từ một thư tịch kh� d�i trong nguy�n bản.

 

Adhyatman, Sumarah, Antique Ceramics Found in Indonesia: Various Uses and Origins, Jakarta, Himpunan Keramik Indonesia (The Ceramic Society of Indonesia), 1981.

Beyer, H. Otley, �Southeast Asia Ceramic Wares�, Quezon City, University of the Philippines, 1960 (unpublished manuscript).

Chan Cheung, �The Smuggling Trade between China and Southeast Asia during the Ming dynasty�, trong s�ch bi�n tập bởi F. S. Drake, Symposium on Historical, Archaeological and Linguistic Studies on Southern China, South-East Asia and the Hong Kong Region, Hong Kong University Press, 1967, c�c trang 223-7.

Chang T�ien-Tse, Sino-Portuguese Trade from 1514 to 1644, Leyden, 1969.

D�Argenc�, Lefebvre, Les C�ramiques � Base Chocolat�e, Paris: �cole Francaise D�Extr�me-Orient, 1958.

Deveria, G., Histoire des Relations de la Chine avec L�Annam Vietnam du XVIe au XIXe Si�cles, Paris, Librairie de la Soci�t� Asiatique de L��cole Langues Orientales Vivantes, 1880.

Dumoutier, Jacques, �Lettre au Directeur de L��cole Francaise D�Extr�me-Orient�, BEFEO (Bulletindu l��cole Francaise d�Extr�me-Orient), Vol. 3, No. 2, 1903, c�c trang 365-7.

Ferrand, Gabriel, Relations de Voyages et Textes Geographiques Arabes, Persans et Turks Relatifs � L�Extr�me-Orient du VIIIe au XVIIIe Si�cles, Paris, Ernest Leroux, 1913-14.

Garner, Sir Harry, Oriental Blue and White, London, Faber & Faber, 1954.

_____, �The Use of Imported and Native Cobalt in Chinese Blue and White�, Oriental Arts, Vol. 2, No. 2, Summer 1956, pp. 48-50.

Gerini, G. E., Researches on Prolemy�s Geography of Eastern Asia, London, Royal Asiatic Society, 1909.

Gillert, Velma, �Collecting Ceramics in Indonesia�, Arts of Asia, March-April 1978, pp. 85-93.

Goloubew, Victor, �La Province de Thanh Hoa et sa C�ramique�, Revue des Arts Asiatiques, Vol. 7, 1931-2, c�c trang 112-16.

Guy, John, Oriental Trade Ceramics in South-East Asia, Ninth to Sixteenth Centuries, Singapore, Oxford University Press, 1986.

_____, �Vietnamese Ceramics and Culotural Identity: Evidence from the L� and Trần Dynasties�, trong s�ch bi�n tập bởi D. G. Marr v� A. D. Milner, Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, Singapore, Institute of Southeast Asian Studies, 1986, c�c trang 255-69.

Hirth, F., China and the Roman Orient, Leipsic & Munich, Georg Hirth, 1885.

Hobson, R.L., �Chinese Porcelain at Constantinople�, TOCS (Transactions of the Oriental Ceramic Society), No. 11, 1933-4, c�c trang 9-14.

Huet, Clement, �Les Pots � Chaux; Les Pipes � Eau�, BMRAH (Bulletin de l�Mus�es Royaux d�Art et d�Histoire), No. 4, July-August 1941, c�c trang 74-84.

_____, �Les Terres Cuites de Thổ H�; Les Brule-Parfums de B�t Tr�ng�, BMRAH, No. 1, January-February 1942, pp. 2-9.

_____, �Les Terres Cuites Architecturales de Đại La�, BMRAH, No. 3, May-June 1942, pp. 50-61.

Janse, Olov R.T., Archaeological Research in Indochina, 3 vols., Cambridge, Mass: Harvard University press, Vol. 1: 1947 and Vol. 2, 1951; Bruges, St. Catherine Press, Vol. 3, 1958.

_____, �Rapport Pr�liminaire D�Une Mission Arch�ologique en Indo-chine�, Revue des Arts Asiatique, Vol. 9, No. 3, 1935, pp. 144-53; Vol. 4, No. 4, 1935, pp. 209-17; Vol. 10, No. 1, 1936, pp. 42-8.

Jenyns, Soame, Ming Pottery and Porcelain, London, Faber & Faber, 1935.

Joseph, Adrian M., Chinese and Annamese Ceramics Found in the Philippines and Indonesia, London, Hugh Moss Ltd., 1973.

Koyama Fujio v� Figgess, John, Two Thousand Years of Oriental Ceramics, London, Thames & Hudson, 1961.

Laufer, Berthold, Chinese Pottery of the Han Dynasty, London, E. J. Brill, 1909.

L� Th�nh Kh�i, Le Việt Nam: Histoire et Civilization, Paris, Les �ditions de Minuit, 1955.

Locsin, Leandro v� Locsin, Cecilla, Oriental Ceramics Discovered in the Philippines, Rutland, Vermont & Tokyo, Charles E. Tuttle Co., 1967.

Madrolle, Guide Madrolle: Indochine du Nord, Paris, Librairie Hachette, 1925.

Maspero, G., Le Royaume de Champa, Paris, 1928.

Melikian, Souren, �Asia�s Hidden Glories�, International Herald Tribune, 26-27, September 1987, Arts/Leisure page.

Mills, J. V, G., The Overall Survey of the Ocean�s Shores, Cambridge, Cambridge University Press, 1970.

Nguyễn Ngọc Linh (chủ bi�n), An Introduction to Vietnam, S�ig�n The Vietnam Council of Foreign Relations, 1969.

Okuda Seiichi, Annam Toji Zukan (Annamese Ceramics), Tokyo, Zauho Press, 1954.� (The Oriental Ceramic Society of Hong Kong, South-East Asian and Chinese Trade Pottery, Hong Kong, The Oriental Ceramic Socirty of Hong Kong, 1979.

Patk�, Imre v� R�v, Miklos, L�Art du Việt Nam, Paris, �ditions Aimery Somogy, 1967.

Pires, Tome, The Suma Oriental of Tome Pires, 2 quyển, phi�n dịch bởi A. Cortes�o, London, Hakluyt Society, 1944, in lại năm 1980.

Pope, John Alexander, Fourteenth Century Blue and White, Washington, DC, Smithsonian Institution, 1952; rev. edn (ấn bản đ� tu chỉnh), 1970.

_____, Chinese Porcelains from the Ardebil Shrine, Washington, DC, Smithsonian Institution, 1956; reprinted, Sotheby Parke Bernet, 1981.

Ridho, Abu, �Notes on the Wall Tiles of the Mosque at Demak�, in Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, Singapore, 1982, pp. 36-7.

Schafer, Edward H., The Vermilion Bird, Berkeley & Los Angeles, University of California Press, 1967.

Vlekke, Barnard H. M., Nusantara: A History of Indonesia, The Hague, W. Van Hoeve, 1965, ấn bản lần thứ nhất, 1943.

Volker, T., Porcelain and the Dutch East India Company, Leiden, E. J. Brill, 1954; reprinted 1971.

Vương Hồng Sển, �Les Bleus de Huế � d�cor Mai Hạc�, BSEI (Bulletin de la Soci�t� des �tudes Indochinois), Vol. 19, No. 1, 1944, c�c trang 57-70.

Willetts, William, Ceramic Art of Southeast Asia, Singapore, Southeast Asian Ceramic Society, 1971.

_____

Nguồn: Roxanna M. Brown, The Ceramics of South-East Asia, Their Dating and Identification, 2nd Edition, Art Media Resources, Ltd.: Chicago, Il, 2000.� C�c phần tr�ch dịch gồm:

Chapter 1: Vietnamese Ceramics, c�c trang 13-32; Chapter 2: The Go-Sanh Kilns, c�c trang 36-39; Bản In M�u Đồ Gốm Việt Nam, Plate I � Plate XIV; Bản In M�u Đồ Gốm Ch�m, Plate XV; Bản In Đen Trắng Đồ Gốm Việt Nam, Plate 1 � Plate 21; Bản In Đen Trắng Đồ Gốm Ch�m, C�c L� Nung ở G� S�nh, Plate 22 � Plate 23.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

09.10.2017

                                                                                                                                 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html