ĐÀO TRUNG ĐẠO

Michel Foucault

(1926-1984)

parrêsia = dũng cảm chân thành nói lên sự thật

kỳ 4 (tiếp theo)

kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3

Dân Việt (miền Bắc từ 1955, miền nam từ 1975) bị tước đoạt quyền nói lên Sự Thật. Tâm đắc với bài thuyết/giáo trình của Michel Foucault vào cuối đời tôi thấy nên tóm lược tư tưởng của Foucault về vấn đề này nhằm đặt cơ sở cho những vận động trí thức trong tương lai. Mong lắm thay!

So sánh parrèsiaste với hiền nhân, minh triết (le sage): khác với nhà tiên tri, bậc minh triết phát ngôn nhân danh chính mình. Dù cho sự thông tuệ (la sagesse) có thể được dẫn khởi bởi thần linh hay được lưu truyền từ một truyền thống, một sự dạy bảo ít nhiều riêng tư, bí truyền (ésotérique) bậc minh triết hiện diện, có mặt trong điều mình nói ra. Nói thế khác đó là sự thông tuệ của chính ông ta. Cách thức hiện hữu của bậc minh triết trong chừng mực nào đó nếu như có một chức năng trung gian giữa sự thông tuệ phi thời gian và do truyền thống và với kẻ ông ta phát biểu thì ông ta vẫn cứ không chỉ là người phát ngôn (un porte-voix) như nhà tiên tri. Chính ông ta là bậc hiền nhân, minh triết và đó là cách thế hiện hữu như một cách thế cá nhân qui định ông ta là minh triết, và qui định ông để nói ra diễn ngôn của sự thông tuệ cho nên ông rất gần với parrèsiaste. Trong nền văn chương cổ đại bậc hiền nhân minh triết giữ sự thông tuệ của mình trong ẩn cư, hay ít ra trong một sự bảo lưu thiết yếu nào đó. “Từ căn để, bậc hiền nhân minh triết là thông tuệ trong chính mình và cho chính mình, và ông ta không có nhu cầu nói ra. Ông ta không bắt buộc phải nói, không có cái gì buộc ông ta phân phát sự thông tuệ của ông ta, bằng cách dạy bảo hay biểu lộ. Đó là điều giải thích rằng, nếu như bạn muốn vậy, theo cấu thức, bậc hiền nhân minh triết là người im lặng. Và nếu ông ta nói, đó chỉ vì bị thúc đẩy bởi những câu hỏi của ai đó, hay bởi hoàn cảnh cấp bách của đô thị. Điều này cũng giải thích những câu trả lời của ông ta – thế nên vì vậy. ông ta có thể hoàn toàn giống như nhà tiên tri, và thường bắt chước nhà tiên tri và nói như nhà tiên tri – những câu trả lời của ông ta có thể hoàn toàn bí ẩn và để cho những kẻ ông ta nói với ở trong sự bất tri hay trong sự không chắc thực về điều, quả thực, ông đã nói ra.”[9]

   Diogène Laërce phác họa chân dung Héraclite sống ẩn cư cũng như việc ông đã đoạn giao với dân Éphesus vì họ đã lưu đầy Hermodore người bạn thân thiết của ông với lý do Hermodore thông tuệ hơn kẻ khôn ngoan nhất trong bọn họ. Họ nói: Chúng tôi muốn “chẳng có kẻ nào, giữa chúng tôi, lại giỏi hơn chúng tôi.” Và nếu như có kẻ nào khá hơn, giỏi hơn thì kẻ đó phải sống ở nơi khác, phải bị lưu đầy.Vì vậy dân Éphesus xua đuổi, lưu đầy parrèsiaste kẻ nói lên sự thật. Héraclite từ chối lập ra pháp luật cho đô thị khi được yêu cầu vì theo ông đô thị đã bị cai trị bởi một ponera politeia/một kiểu đời sống chính trị xấu xa, rồi sống ẩn dật trong núi, khinh bỉ nhân gian, và chỉ chơi đùa với trẻ con. Diogène Laërce cũng kể lại chính trong thời gian ẩn cư này Heraclite viết Thơ [10] cố tình tối tăm bí ẩn để chỉ dành cho những người có khả năng đọc ông và như vậy họ không thể coi thường ông đã để thơ của mình cho mọi người đọc, bất kỳ kể kẻ đó là ai.

   Đối nghịch với vai trò và tính chất của bậc minh triết là vai trò của parrèssiaste: trong khi trên căn bản nhà minh triết giữ im lặng hay chỉ nói khi thật sự muốn nói nhưng lại phát ngôn bằng những điều bí ẩn thì parrèssiaste không phải là người có nhiệm vụ nói ra và không thể trốn tránh nhiệm vụ này. Điển hình là Socrate như trong quyển Apologie cho thấy ông đã nhận chức năng này từ thần linh là đặt những câu hỏi với mọi người cho đến hơi thở cuối cùng dù có bị đe dọa mạng sống. Nhà minh triết nói những điều bí ẩn trong khi parrèssiaste phải nói sao cho càng rõ rệt càng tốt. Sau chót, trong khi nhà minh triết nói về cái gì đang hiện hữu dưới hình thức của hữu của các sự vật và thế giới thì parrèssiaste lại tuy cũng nói về những hữu nhưng dưới hình thức cá biệt, về những hoàn cảnh và những cảnh ngộ thật sự như thế nào, nói cho người khác biết sự thật về chính họ mà họ không thấy. “Parrèsiaste không phơi lộ cho người hỏi mình cái đang là. Ông ta vén ra hay giúp người khác nhận thức được mình là gì.”[11]

   Sau hết là mô thức thứ ba về nói sự thật: người có hiểu biết kỹ thuật (technicien) chẳng hạn như y sĩ, nhạc sĩ, thợ sửa giầy, thợ mộc, thầy dạy đánh kiếm, huấn luyện viên thể thao v.v…thường được Platon nhắc tới là những người sở hữu sự hiểu biết về tekhné, nghĩa là biết làm, có kiến thức để thực hành chứ không chỉ là lý thuyết. Những người này nắm vững sự hiểu biết đã học được, và có thể giảng dạy (truyền lại cho) người khác. Nói chung họ là những người nói ra sự hiểu biết và sự thật họ biết, cả hai có liên quan tới tính chất truyền thống. Họ không đối mặt với hiểm nguy khi truyền dạy sự hiểu biết. Thêm nữa họ còn tạo nên mối liên hệ giữa mình với người họ truyền đạt là mối liên hệ của sự hiểu biết chung (le savoir commun), của sự kế thừa, của truyền thống. Mối liên hệ này cũng có thể là sự biết ơn cá nhân hay tình bạn. Khác với parrèsiate khi phát ngôn có thể gặp rủi do, gây tức giận, tạo ác cảm với cộng đồng đô thị, bị trả thù và sự trừng phạt từ vua chúa độc tài độc đoán. “Ngược lại trong trường hợp của việc nói sự thật của kỹ thuật, việc giảng dạy đảm bảo sự hiểu biết được lưu tồn, trong khi chính parrêsia lại hiểm nguy tới tính mạng kẻ thực hành. Việc nói sự thật của technicien của ông thầy đoàn kết và tạo liên hệ.[12] Tuy vậy sự thật parresiate nói ra nếu phía tiếp nhận trước mặt cũng thỏa hiệp và tham dự cuộc chơi parrêsia có thể lúc đó cũng có sự kết liên và thỏa thuận. Nhưng việc này chỉ xảy ra sau khi đã mở rộng một khoảnh khắc thiết yếu, cơ bản: sự khả hữu của thù hận và của băm vằm (déchirement).

   Foucault tóm tắt: parrèsiaste không phải là nhà tiên tri nói sự thật trong khi khai mở một cách bí ẩn số phần nhân danh người khác, cũng không là bậc minh triết nhân danh minh trí nói về hữu (être) hay về thiên/tự nhiên (phusis) khi muốn nói trong khi thường là giữ im lặng, cũng không phải là ông thày giáo giảng dạy, người của sự biết làm (savoir-faire). Parrèsiaste chơi trò chơi diễn ngôn chân lý của cái người Hy Lạp gọi là êthos có sự minh xác (véridiction) trong lời nói của parrèsiaste và trong cuộc chơi parrêsia.

   Parrêsia chính trị là một thứ tự do mà người có quyền lực phải cho parrèsiaste để có thể nói lên sự thật, giúp cho việc cai trị. Nhưng đây không phải là sự chuyển quyền hay tham dự vào quyền lực. có liên hệ với một loại cơ cấu chính trị nào đó của triều đình. Thứ tự do này là một quyền lực đặt trên chính kẻ có quyền lực. Cho mãi tới thế kỷ XVIII trong tư tưởng chính trị Tây Phương parrêsia, vấn đề tự do nói sự thật là một vấn đề chính trị chính yếu. Trong L’herméneutique du sujet/ Thông diễn chủ thể (1981-1982) Foucault đề cập vai trò của parrêsia trong việc thực hành chiều hướng ý thức (direction de la conscience) thời Hy lạp-La mã nhưng sau này cho rằng khái lại cho rằng niệm parrêsia vượt ra ngoài ý nghĩa của chiều hướng ý thức cá nhân cho nên trong giáo trình cuối cùng ở Collège de France Le Courage de la verité (1984) Foucault đã không còn nói tới vấn đề này nữa.

   Làm thế nào để nhận biết một parrèsiaste thực sự với một kẻ nịnh hót? Tiêu chí thứ nhất: Plutarque chỉ ra những biểu hiệu của parrèsiaste: nếu ông ta biểu lộ ra homioitês tês proaireseôs nghĩa là một sự tương đồng trong sự chọn lựa cuộc sống, có ý chí căn bản, v.v…cũng như sự tương đồng của người tìm kiếm với chính parrèsiaste: đó là sự phù hợp căn bản. Tiêu chí thứ nhì: sự thường trực trong phán đoán, theo nghĩa mãi mãi giữ sự chọn lựa của mình, sự yêu ghét. Tiêu chí thứ ba: ông ta phải hướng cuộc đời ông tới cùng một paradeigma/kế hoạch, ý đồ sống. Những tiêu chí này phải có ở cả nơi kẻ đi tìm kiếm parrẻsiaste lẫn parrèsiaste. Tương khí tương thân của tình bạn. Plutarque cho rằng cũng không khó nhận ra kẻ nịnh hót vì hắn có những tính chất trái ngược hẳn với parrèsiate. Kẻ nịnh hót là kẻ khi thì thế này khi thì thế khác, không có những qui tắc cố định để hành xử, hắn không là một cũng không đơn giản mà là sự tập hợp đa phức. giống như nước luôn thay hình đổi dạng tùy theo bình chứa. Thí dụ điển hình: Alcibiade khi sống ở  Athène, khi ở Sicile, khi ở Sparte không cùng là một Alcibiade. Ngược lại Épaminondas tuy sống ở nhiều xứ khác nhau nhưng vẫn mặc cùng một kiểu quần áo, giữ cùng một chế độ ẩm thực. Kẻ nịnh hót không có cá tính, không yêu không ghét, không vui cũng chẳng buồn.

   Những tiêu chí nói trên theo Foucault tạo thành điểm trung tâm của parrêsia. Thật vậy, nếu parrèsiaste là người chỉ có một kiểu sống thì parrêsia chính là sự có mặt của hình thức đời sống được hiển lộ, hiện diện, cảm nhận được và tích cực nơi diễn ngôn. Foucault dẫn chứng những bức thư của Sénèque tuy không nhắc đến từ parrêsia nhưng có thể coi như một diễn giải về parrêsia: thư Sénèque viết hay đàm đạo khi đi dạo cùng bằng hữu không chải chuốt như các nhà hùng biện mà thoải mái, không giả tạo (accersitum nec factum). Viết thư là để thay thế cho chuyện trò bằng chữ nghĩa và đó là cách tốt nhất của parrèsiaste để tránh được nhiều thứ như phải soạn thảo, hùng biện, lập tòa án hay đả kích gây hấn: đưa ý tưởng ra thay vì nói ra, nói điều mình nghĩ, nghĩ về điều mình nói, làm cho ngôn từ đi đôi với hành xử. Như thế trung tâm điểm của parrêsia là có parrêsia khi ông thầy người được tin cậy hướng dẫn tâm hồn, kẻ nói điều mình nghĩ trong sự minh bạch không bị hình thức hùng biện che chắn. Nhưng ông ta nói ra ý kiến của mình, điều ông tin tưởng là sự thật nhưng nói ra điều ông ứ thích, nghĩa là cho thấy proairesis/sự chọn lựa của ông ta. “Tôi phải là chính tôi, như tôi là vậy, ở trong điều tôi nói; tôi phải là chính tôi chứa đựng trong điều tôi nói và điều tôi khẳng định phải cho tôi thấy thực sự đúng với điều tôi khẳng định.”[13] Đó chính là thỏa thuận của parrêsia (pacte parrèsiastique). Ở Euripide thỏa thuận này là thỏa thuận chính trị đúng nghĩa, cấu trúc của thỏa thuận cá nhân, thỏa thuận trực tiếp, chỉ hướng của parrêsia: rằng khi tôi cho anh một lời khuyên mà anh đòi hỏi tôi nói một cahc1 thành thực, tôi không hài lòng nói ra điều tôi cho là sự thật, tôi chỉ nói ra sự thật này trong chừng mực tôi chính là tôi; tôi nằm trong sự thật tôi nói ra. Một cách thật tóm tắt Foucault cho rằng việc ngầm chứa chủ thể (implication du sujet) trong parrêsia này có thể thực hiện theo hai cách điển hình mà chỉ những triết gia tầm vóc có thể làm được, biểu lộ mình là gì ngay chính trong chân ý của cái họ nói, hay parrêsia như một hình thức mở ra của cả hai bên khi người hương dẫn ở trong chính điều mình nói, không phải để xác định ông ta hoàn toàn làm đúng với sự thật nhưng ông ta đã nỗ lực để đi tới sự thật.     

____________________________________________

[9] Michel Foucault, Sđd trang 18: Au fond, le sage est sage en et pour lui-même, et il n’a pas besoin de parler. Il n’est pas constraint à parler, rien ne l’oblige à distribuer sa sagesse, à enseigner ou à manifester. C’est ce qui explique que, si vous voulez, le sage est structurellement silencieux. Et s’il parle, ce n’est que sollicité par les questions de quelqu’un, ou encore par une situation d’urgence pour la cité. C’est ce qui explique aussi que ses réponses – et en cela, alors, il peut parfaitement s’apparenter au prophète, et souvent l’imiter et parler comme lui – peut parfaitement être énigmatiques et laisser ceux auxquels il s’adresse dans l’ignorance ou l’incertitude de ce que, effectivement, il a dit.

[10] Marcel Conche trong bản dịch Héraclite, Fragments (nxb PUF, Collection Epimethée) thu tập được 136 bài thơ đoạn rời của Héraclite, nhưng vấn đề thứ tự những bài thơ vẫn được các học giả tranh luận. Martin Heidegger soạn giáo trình Mùa Hè Heraklik. 1.Der Anfang des abendlädischen Denken (1943) và 2. Logik. Heraclits Lehre vom Logos (1944 in chung vào GA 55) dùng bản dịch của Diels-Kranz nhưng chọn những đoạn thơ của Héraclite rải rác để diễn giải triết học của Héraclite như khởi sinh triết học Tây Phương. Xem: Martin Heidegger, Heraclitus, bản Anh văn của Julia Goesser và S. Montgomery Ewegen, nxb Bloombury Academic 2018. Heidegger không có tham vọng xếp đặt thứ tự cho những đoạn thơ trong tác phẩm của Heraclite mà chọn đoạn thơ số 16 “Từ cái chẳng bao giờ ngủ, làm sao một kẻ nào đó lại có thể trốn lánh?” (Bản dịch của Conche) hay “Kể từ cái chẳng bao giờ chìm (sự vật) làm sao kẻ nào có thể che dấu” theo cách dịch của Heidegger để mở đầu cho chủ đề manh nha triết học của Tư Tưởng Tây Phương (The Ineption of Occidental Thinking) từ Héraclite.

[11] Michel Foucault, Sđd trang 19: Le parrèsiaste ne révèle pas à son interlocuteur ce qui est. Il lui dévoile ou l’aide à reconnaître ce qu’il est.

[12] Michel Foucault, Sđd trang 24: Le dire-vrai du technicien et du professeur unit et lie.

[13] Michel Foucault, La parrêsia trang 54: Il faut que je sois moi-même, tel que je suis, à l’intérieur de ce que je dis; je dois être moi-même impliqué dans ce que je dis et ce que j’affirme doit me montrer effectivement conforme à ce que j’affirme.

(còn tiếp)

đào trung đạo