YU INSUN

Sookmyoung Women�s University, South Korea

 

CUỘC CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT 1979

 

NH�N TỪ �C�C QUAN HỆ LỊCH SỬ

 

GIỮA HAI NƯỚC

 

 

Ng� Bắc dịch

*****

 

Lời Người Dịch

������ B�i nghi�n cứu được dịch nơi đ�y đưa ra một c�i nh�n từ lịch sử bang giao hai nước Việt � Trung của một vị gi�o sư H�n Quốc 32 năm sau về cuộc chiến tranh bi�n giơi Việt � Trung năm 1979, l� một trong những khảo luận gần đ�y nhất về cuộc chiến 16 ng�y đẫm m�u n�y.� T�c giả, Gi�o Sư Yu Insun, l� học giả h�ng đầu về Việt Nam tại H�n Quốc.

������ Như trong phần giới thiệu b�i viết của Gi�o sư Masashi Nishihara nhan đề CUỘC CHIẾN TRANH TRUNG � VIỆT NĂM 1979: Mới Chỉ L� Hiệp Thứ Nhất?� (đ� được đăng tải tr�n Gi� O), một trong những b�i nghi�n cứu sớm nhất về cuộc chiến tranh bi�n giới Việt � Trung 1979,� t�c giả Nishihara đ� c� một c�i nh�n s�u sắc hơn về mặt lịch sử � Ch�u, khi cho rằng �bản chất b�n dưới của sự rạn nứt nằm ở sự th� hận lịch sử giữa hai d�n tộc, hay sự tức giận của Trung Quốc trước sự th�ch thức của một nuớc yếu hơn trong lịch sử đối với khu vực ảnh hưởng truyền thống của ch�nh Trung Quốc�.� � kiến n�y được triển khai một c�ch chi tiết hơn trong bản dịch b�i viết dưới đ�y bởi Gi�o Sư Yu Insun, khi ph�n t�ch cuộc chiến từ quan điểm lịch sử bang giao giữa hai nước Việt-Trung,

������ Với c�i nh�n trường kỳ, t�c giả Masashi Nishihara đ� kết luận: �Đặt trong quan điểm lịch sử, sự căng thẳng như thế đ�nh dấu một ti�u chuẩn b�nh thường, chứ kh�ng phải l� ngoại lệ -- c�c quan hệ hợp t�c được duy tr� trong cuộc chiến tranh ba mươi năm chống lại �chủ nghĩa đế quốc T�y Phương�, đ�ng ra, đ� chỉ l� một kh�c đệm bất thường chen v�o giữa, v� đ� đặt c�u hỏi như trong tựa đề: c� phải trận chiến tranh bi�n giới Việt-Trung 1979 mới chỉ l� hiệp thứ nhất?�

������ Tương tự, t�c giả Yu Insun c�ng đ� cho rằng,� �từ một c�i nh�n rộng r�i, � thực sự, cuộc chiến tranh đ� c� căn nguy�n trong c�c sự xung đột c�c quyền lợi giữa Trung Quốc � vốn theo đuổi trật tự thế giới tập trung về Trung Hoa cổ truyền � v� Việt Nam, nước sẽ chống lại Trung Quốc� v� đ� kết luận rằng: �Nhưng một điều th� r� r�ng: kh�ng c� t�nh huống n�o người Việt Nam sẽ nhượng bộ trước �p lực của Trung Quốc v� họ sẽ đứng ngang h�ng với Trung Quốc�.

������ Lời kết luận quả quyết n�y của t�c giả Yu Insun khiến ta nhớ đến lời nhắc nhở của t�c giả Olivier Wolters khi nhận x�t về ch�nh s�ch ngoại giao nhu nhược đối với nh� Minh v�o cuối thời nh� Trần, một triều đại m� mới chỉ một thế kỷ trước đ�, đ� anh dũng đ�nh bại ba cuộc x�m lăng của qu�n M�ng Nguy�n, rằng �ho�ng đế Việt Nam ngang h�ng với ho�ng đế Trung Hoa�.

Thực tế cho thấy sự kiện chi�n tranh bi�n giới Việt - Trung l� ch�nh l� một trong hai bước khởi đầu cho cuộc chiến tranh l�u d�i hơn, m� ở một số kh�a cạnh vẫn c�n tiếp diễn đến ng�y nay, được c�c học giả thế giới đặt t�n l� Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Thứ Ba.� Như t�c giả Yu Insun đ� đề cập đến trong b�i viết, cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Thứ Ba n�y đ� được mở rộng ra đến Biển Đ�ng với sự tấn c�ng v� chiếm đ�ng đảo Gạc Ma v� một số đảo kh�c thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam bởi hải qu�n Trung Cộng từ Th�ng Ba năm 1988 v� c�n tiếp tục t�m c�ch l�n chi�m hơn nữa cho đến nay.�

Cuộc Chi�n Tranh Bi�n Giới Việt-Trung năm 1979 cũng đ�nh dấu m�n đấu tranh qu�n sự c�ng khai giữa c�c nước thuộc khối Cộng Sản, sự bắt đầu suy yếu của Li�n Bang S� Viết v� sự tan r� của khối C�ng Sản Nga S� v� Đ�ng �u một thập ni�n sau đ�.� Chủ ngh�a cộng sản kh�ng tưởng đ� chỉ l� một sự xuất hiện bất thường v� bất hạnh trong khoảnh khắc của lịch sử nh�n loại, v� Việt Nam, kh�ng may mắn, ở v�o t�nh trạng �bất thường của sự bất thường� khi vẫn c�n l� một trong v�i nước cộng sản s�t lại, với điều ngh�ch l� hơn nữa, rằng Việt Nam hiện chỉ c� một �đồng minh � thức hệ� duy nhất ch�nh l� kẻ kh�ng ngừng lấn chiếm l�nh thổ Việt Nam trong ch�nh s�ch b�nh trướng l�u đời của chủ nghĩa Đại H�n..� Như t�c giả Yu Insun đ� viết, �d�n tộc chủ nghĩa đứng trước � thức hệ đ� l� một t�c nh�n quan trọng trong cuộc chiến tranh n�y� v� trong bất kỳ sự xung đột khả hữu n�o trong tương lai.

Một m�u thuẫn quan trọng kh�c cần được n�u ra, chủ ngh�a quốc tế của M�c-x�t trong thực tế, ngo�i việc phủ nhận, tự bản chất, d�n tộc chủ nghĩa, đ� chỉ được lợi dụng bởi c�c nước c�ng sản lớn như một chi�u b�i nhằm khuyến dụ v� khống chế c�c nước đ�n em, v� khi c� sự đụng chạm đến c�c quyền lợi d�n tộc của c�c nước cộng sản đ�n anh, c�c nước nhỏ lu�n lu�n l� con cờ th�.� Hiệp ước bất tương x�m giữa Li�n Bang S� Viết v� chế độ Đức Qu�c X� hồi năm 1939 l� một th� dụ điển h�nh.

Từ c�i nh�n trường kỳ của lịch sử, những g� m� c�c t�c giả Yu Insun l� Masashi Nishihara n�i về Việt Nam, xin hiểu đ� l� n�i về d�n tộc Việt Nam với �� ch� độc lập v� nghị lực sinh tồn trong nhiều ngh�n năm, b�n cạnh một l�ng giềng khổng lồ kh�ng ngừng t�m c�ch b�nh trướng./-

*****

B�i viết n�y t�m c�ch khảo s�t cuộc Chiến Tranh Trung-Việt Th�ng Hai 1979 kh�ng chỉ trong khung cảnh hiện thời m� c�n từ quan điểm của c�c quan hệ lịch sử giữa hai nước.� C�c nguy�n do trực tiếp l� c�c vấn đề l�nh thổ v� c�c sự tranh chấp bi�n giới, sự trục xuất người Hoa tại Việt Nam, c�c quan hệ hữu nghị giữa Li�n Bang S� Viết v� Việt Nam, v� cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt hồi Th�ng Mười Hai 1978.� Tuy nhi�n, từ một c�i nh�n rộng r�i, c�c biến cố tr�n đ� chỉ phục vụ như c�c chất x�c t�c; thực sự, cuộc chiến tranh đ� c� căn nguy�n trong c�c sự xung đột c�c quyền lợi giữa Trung Quốc � vốn theo đuổi trật tự thế giới tập trung về Trung Hoa cổ truyền � v� Việt Nam, nước sẽ chống lại Trung Quốc.� Đ� kh�ng c� kẻ chiến thắng hay bị khuất phục trong cuộc chiến tranh n�y, bởi cuộc xung đột đ� được giải quyết kh�ng nghi�ng về b�n n�o.� Trung Quốc v� Việt Nam đ� b�nh thường h�a c�c quan hệ ngoại giao của họ trong năm 1991; về mặt lịch sử v� địa dư, tuy nhi�n, c� mọi x�c xuất rằng c�c vấn đề chưa được giải quyết giữa hai nước sẽ xuất hiện ngay h�ng đầu bất kỳ khi n�o thời đại thay đổi.� Kh� m� ti�n đo�n c�c t�nh huống n�y sẽ ph�t triển ra sao.��

 

I. Dẫn Nhập



������ V�o ng�y 17 Th�ng Hai 1979, c�c binh sĩ Trung Quốc đ� ph�ng ra một cuộc x�m lăng to�n diện v�o Việt Nam với việc băng qua bi�n giới Trung-Việt.� Sau khi đ� chiếm cứ tỉnh lỵ Lạng Sơn gi�p bi�n giới, một h�nh lang tiến xuống Ch�u Thổ S�ng Hồng v�o ng�y 5 Th�ng Ba, họ đ� tuy�n bố r�t qu�n, khởi sự lui binh, v� thực sự kết th�c cuộc chiến tranh k�o d�i 16 ng�y.� Cả thế giới sững sờ v� Trung Quốc, nước đ� h�nh sử quyền lực qu�n sự của n� đối với nước x� hội chủ nghĩa anh em, Việt Nam.

������ Trung Quốc đ� đưa ra sự biện minh ch�nh thức cho cuộc chiến, c� nghĩa, đ� l� một cuộc ho�n k�ch tự vệ, nhưng c� n�i r� rằng mục đ�ch thực sự của n� l� để �trừng phạt� Việt Nam v� c�c sự khi�u kh�ch của họ dọc bi�n giới Trung Quốc v� v� cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt.

������ C�ch n�i của Trung Quốc về cuộc x�m lăng của họ v�o nước kh�c để trừng trị nước n�y c� thể nghe lạ tại với ch�ng ta, song n� ho�n to�n tự nhi�n để Trung Quốc phải n�i như thế, �t nhất đối với những ai c� một �t hiểu biết về lịch sử Trung Quốc.� Sự trừng phạt l� một từ ngữ hiện đại; tuy nhi�n, trong thế giới tiền hiện đại, từ ngữ �accusation: 問罪: vấn tội [hỏi tội] � đ� được sử dụng.� Điều th�ng thường cho nhiều triều đại Trung Hoa li�n tiếp � nếu ph�a Việt Nam kh�ng v�ng lời họ -- huy động binh sĩ của họ để �hỏi tội� Việt Nam.� Trong năm 1400, khi Hồ Qu� Ly so�n ng�i nh� Trần (1225-1400), Ho�ng đế Yongle (Vĩnh Lạc) nh� Minh (1403-1424) đ� ph�i một đo�n viễn chinh đại quy m� trong m�a đ�ng 1406.� Trong năm 1527, khi Mạc Đăng Dung chiếm ng�i nh� L� (1428-1788), vốn được chỉ định bởi ph�a Trung Hoa, triều đ�nh nh� Minh một lần nữa ph�i c�c lực lượng trừng phạt v�o năm 1540.� Tương tự, trong năm 1788 khi chế độ T�y Sơn đe dọa triều đ�nh nh� L�, Ho�ng Đế C�n Long nh� Thanh (1736-1795) cũng gửi một đo�n viễn chinh sang cứu gi�p.� C�c triều đại Trung Hoa đ� nh�n bất kỳ sự so�n ng�i m� họ đ� chấp thuận như một sự th�ch đố thẩm quyền của� họ.� Trong khung cảnh n�y, điều tự nhi�n l� Trung Quốc phải trừng phạt Việt Nam, nước đ� x�m lăng chế độ Pol Pot vốn được ủng hộ bởi Trung Quốc.

������ Tuy nhi�n, nh�n từ quan điểm của Việt Nam, đ� l� c�u chuyện kh�c.� Theo Gi�o Sư Phan Huy L�, Chủ Tịch Hội Sử Học Việt Nam, Việt Nam đ� bị x�m lăng bởi c�c nước ngo�i 15 lần kể từ khi c� sự lập quốc cho đến năm 1975; 11 trong 15 lần n�y l� bởi Trung Hoa (Phan Huy L�, 1998, c�c trang 495-497). 2� V� thế, khi ch�ng ta n�i về c�c đặc t�nh của lịch sử Việt Nam, c�c th�nh ngữ thường được d�ng như �� ch� bất khuất v� độc lập�, �cuộc chiến đấu kh�ng khoan nhượng chống lại qu�n ngoại x�m�, v� �sự ki�n cường v� độc lập d�n tộc�, chị em b� Trưng được t�n thờ như c�c nữ anh h�ng của lịch sử, Trần Hưng Đạo, L� Lợi, Nguyễn Văn Huệ v.v� tất cả đề nhấn mạnh đến tinh thần kh�ng cự sự thống trị v� x�m lăng của Trung Hoa (Chesneaux, 1969, c�c trang 33-38; Văn Tạo, 1979, trang 4).

������ Ph�a Việt Nam chưa bao giờ nhượng bộ trước c�c cuộc x�m lăng của Trung Hoa với sự đồng � của ch�nh họ, ngoại trừ Mạc Đăng Dung như đ� n�u ở tr�n. 3 Họ đ� chiến đấu đến c�ng bất kể mọi loại kh� khăn v� đ� đ�nh đuổi qu�n x�m lược ngoại trừ hai thời kỳ, tức H�n Vũ Đế v�o năm 111 Trước C�ng Nguy�n, v� Ho�ng Đế Vĩnh Lạc nh� Minh v�o năm 1407 Sau C�ng Nguy�n.� Kh�ng chỉ thế, c�c nh� vua kế tiếp đ� triều cống Trung Hoa v� tiếp nhận sự chỉ định v� chấp thuận của Trung Hoa.� Tuy nhi�n, về mặt đối nội, họ tư xưng l� c�c ho�ng đế giống như c�c ho�ng đế Trung Hoa, d�ng c�c ni�n hiệu trị v� của m�nh v� từ Bang Giao [邦交: c�c quan hệ quốc tế] thay v� Triều cống [朝貢:tribute] trong c�c quan hệ ngoại giao của họ, ch�nh từ đ� biểu tỏ tư thế ngang h�ng với c�c đối nhiệm Trung Hoa của họ. 4 Hơn� nữa, như sẽ đề cập đến sau n�y, họ đ� t�m c�ch trị v� tr�n c�c nước chung quanh tại b�n đảo Đ�ng Dương bằng c�ch x�y dựng một trật tự đế quốc thuộc thẩm quyền của ch�nh họ.

������ Nếu ch�ng ta cứu x�t sự kiện rằng Việt Nam đ� h�nh động như một nước ngang h�ng với Trung Hoa, vốn h�nh xử thẩm quyền tuyệt đối trong trật tự quốc tế Đ�ng Nam � thời tiền hiện đại, thật kh� c� l� do cho Bắc Việt Nam phải c�i đầu trước Trung Quốc trong suốt thời kỳ 1960-1970, khi Li�n Bang S� Viết xuất hiện như một quyền lực v� đ� cung cấp sự trợ gi�p kinh tế v� qu�n sự.� Nh�n trong khung cảnh n�y, điều tất nhi�n khiến Trung Quốc (Mio, 1988, c�c trang 229-267) � nước theo đuổi �Chủ Nghĩa Quyền Lực Nước Lớn Đại H�n: 大漢民族大國主義, Great Han Power Chauvinism�� ng�y nay y như trong kỷ nguy�n tiền hiện đại, v� Việt Nam, 5 nước đứng thẳng v� từ khước kh�ng chịu �khấu đầu: kowtow� trước Trung Quốc, sẽ đụng dộ với nhau, kết quả như được biểu thị trong cuộc Chiến Tranh Trung-Việt năm 1979. 6 N�i c�ch kh�c, d�n tộc chủ nghĩa đứng trước � thức hệ đ� l� một t�c nh�n quan trọng trong cuộc chiến tranh n�y.

������ Từ c�c quan điểm n�y, b�i viết n�y nhắm trước ti�n v�o việc t�m hiểu c�c đặc t�nh của c�c quan hệ Trung-Việt truyền thống ra sao v� khảo s�t đ�u l� những nguy�n do của cuộc Chiến Tranh Trung-Việt năm 1979.� Sau đ�, b�i viết n�y ph�t hiện việc Trung Quốc đ� chuẩn bị cuộc x�m lăng ra sao v� ph�a Việt Nam nhận thức về việc n�y như thế n�o.� Cuối c�ng, chiến tranh đ� kết th�c như thế n�o v� đ�ch x�c những g� m� hai nước đ� nhận được từ cuộc chiến sẽ được thảo luận. Một điều xin n�i th�m, bởi Trung Quốc đ� tuy�n bố một cuộc chiến tranh hạn chế từ l�c khởi đầu v� cuộc chiến tranh thực sự đ� chấm dứt trong 16 ng�y, việc đề cập một c�ch ngắn gọn tiến tr�nh cũng kh� đầy đủ cho sự sử dụng.

 

II. C�C ĐẶC T�NH CỦA

C�C QUAN HỆ TRUNG-VIỆT TRUYỀN THỐNG:

TRIỀU CỐNG V� BANG GIAO

������

Việt Nam c� một lịch sử 2,700 năm, nhưng thời kỳ th�nh lập của một quốc gia Việt Nam cổ đại như được tr�nh b�y trong Lịch Sử H�n Quốc c� thể được n�i đ� bắt nguồn tại Nam Việt vốn được s�ng lập bởi Triệu Đ� v�o năm 207 Trước C�ng Nguy�n.� Trong hai ngh�n năm từ sự th�nh lập Nam Việt cho đến khi c� sự suy tho�i của n� th�nh một thuộc địa của Ph�p trong thập ni�n 1880, Việt Nam đ� ở v�o một mối quan hệ bất khả ph�n chia với Trung Hoa.�� Trước ti�n, Triệu Đ� được chỉ định bởi nh� H�n l�m vua kh�ng l�u sau khi th�nh lập Nam Việt.� Sau đ�, Nam Việt bị hủy diệt (111 Trước C�ng Nguy�n) bởi H�n Vũ Đế, kể từ đ� cho đến khi độc lập v�o năm 939 l� thời kỳ được đ�nh dấu bởi sự đ� hộ ch�nh trị một ngh�n năm của Trung Hoa.� Một ngh�n năm n�y c� thể được đặc trưng bởi cuộc tranh đấu kh�ng ngừng của người Việt Nam chống lại sự cai trị của Trung Hoa.� Cuộc tranh đấu ti�u biểu l� cuộc khởi nghĩa được thực hiện bởi Chị Em b� Trưng (40-43 Sau C�ng Nguy�n).

������ Được n�u ra như một trong những phong tr�o kh�ng chiến t�ch cực nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam, phong tr�o n�y đ� được ch�m ng�i bởi sự bắt giữ v� h�nh quyết bởi T� Định (Su Ding), người khi đ� l� huyện lệnh của Giao Chỉ, �ng Thi S�ch, chồng của người chị t�n Trưng Trắc, về tội vi phạm luật lệ của triều đại.� Phản đối sự việc n�y, b� Trưng Trắc đ� tấn c�ng trung t�m của Giao Chỉ c�ng với em g�i l� Trưng Nhị, kết quả l� sự thất trận của T� Định v� kẻ n�y đ� chạy trốn về phương bắc.

������ Nghe tin về một cuộc nổi dậy, nh� H�n sau đ� đ� cử M� Viện (Ma Yuan) chỉ huy một cuộc viễn chinh để dập tắt cuộc khởi nghĩa.� Binh sĩ của M� Viện đ� đ�nh đuổi đo�n qu�n kh�ng chiến của Trưng Trắc, bắt giữ hai chị em l�m t� binh trong Th�ng Một năm 43, chặt đầu họ v� mang đầu về d�ng l�n triều đ�nh ho�ng gia tại Luoyang (Lạc Dương) (Hou han Shu: Hậu H�n Thư, 1996, trang 838; B�i Quang Tung, 1961, trang 77). Tr�i lại, c�c s�ch lịch sử Việt Nam m� tả Chị Em b� Trưng đ� bị giết chết trong khi h�nh động v� niềm tự h�o d�n tộc, kh�ng nh�n nhận sự lăng nhục chị em b� Trưng (TT, 1984, trang 127; L� Tế Xuy�n, 1960, trang 11).

������ Trong một ngh�n năm kh�c sau khi Việt Nam đ� tự giải ph�ng m�nh ra khỏi sự cai trị của Trung Hoa, một mối quan hệ triều cống, c� nghĩa, c�c quan hệ hữu nghị, đ� được duy tr� giữa hai nước như một quốc gia chủ tể v� một quốc gia chư hầu, với nhau.� N�i c�ch kh�c, Trung Hoa ch�nh thống h�a Việt Nam khi một triều đại được thiết lập tại Việt Nam hay một nh� vua mới l�n ng�i, trong khi nh� vua Việt Nam tu�n theo lịch của ho�ng đế Trung Hoa v� triều cống theo c�c sự quy định.� Một th� dụ điển h�nh giữa hai nước c� thể được t�m thấy trong sự ban h�nh danh xưng Việt Nam, t�n của nước hiện được d�ng tại Việt Nam.� Danh xưng Việt Nam đ� được ban h�nh bởi Nguyễn Ph�c �nh (sau n�y l� Ho�ng Đế Gia Long, trị v� từ 1802-1819), người s�ng l�p ra triều đại cuối c�ng (nh� Nguyễn, 1802-1945) của Việt Nam sau nhiều hiệp thương thảo với nh� Thanh v� sau c�ng với sự chấp thuận của nh� Thanh (Đại Nam thực lục ch�nh bi�n [ĐNTL] I, 1963, Tập 23, c�c trang 1b-2a; LT, 1962, Tập 1, trang 2a; Suzuki, 1966, c�c trang 353-358).� Sự kiện rằng Việt Nam bị buộc phải c� được sự chấp thuận từ Trung Hoa trong việc ban h�nh danh xưng của một nước r� r�ng cho thấy địa vị của Trung Hoa trong mối quan hệ của n� với Việt Nam thời tiền hiện đại.

������ Như đ� đề cập b�n tr�n, một trong c�c l� do quan trọng tại sao c�c triều đại li�n tiếp tại Việt Nam đ� chấp nhận hệ thống triều cống Trung Hoa, tr�n hết, l� nhằm bảo tồn sự ổn định của triều đại bằng việc n� tr�nh sự đối đầu v� ph�t huy c�c quan hệ th�n hữu với Trung Hoa. 7 Trong thực tế, Trung Hoa đ� toan t�nh x�m lăng Việt Nam mọi khi c� thời cơ.� Th� dụ, lợi dụng sự tranh chấp nội bộ của triều đại nh� Đinh (966-980), nh� Tống đ� t�m c�ch chinh phục Việt Nam bằng việc huy động c�c lực lượng lục v� hải qu�n.� Bởi sự kiện n�y, L� Hoan [Ho�n?] (980-1005), người s�ng lập triều đại Tiền L� (980-1009), lợi dụng c�c động lực như thế, đ� đẩy lui cuộc x�m lăng của binh sĩ nh� Tống trong năm sau đ� v� đ� lập tức gửi một ph�i đo�n sang Trung Hoa để t�m kiếm c�c quan hệ th�n hữu (TT, 1984, trang 190; Kawahara, 1977, c�c trang 22-23).� Với c�ng l� do đ� m� L� Lợi đ� gửi ph�i đo�n của m�nh sang Trung Hoa để c� được sự chấp thuận của Trung Hoa ngay d� �ng đ� đ�nh bại qu�n Minh sau 10 năm giao tranh dữ dội chống lại họ (TT, 1985, c�c trang 562-563; Fujiwara, 1977, c�c trang 256-259).� Trong thực tế, đ� kh�ng c� lợi cho Việt Nam đứng ra chống Trung Hoa.� Về mặt diện t�ch v� d�n số, Việt Nam rất nhỏ so với Trung Hoa.� Ch�nh v� thế, một cuộc đ�nh nhau vũ trang với Trung Hoa c� thể l�m phương hại đến ch�nh sự tồn vong của triều đại.� Sự hủy diệt chế độ Hồ Qu� Ly bởi cuộc x�m lăng của nh� Minh l� một trường hợp vững chắc th�ch hợp.� Ngược lại, Mạc Đăng Dung lựa chọn sự th�n hữu với Trung Hoa v� đề nghị d�ng tr�nh c�c sổ s�ch của m�nh l�n ph�a qu�n Minh, hậu quả �ng ta đ� được bổ l�m An Nan Du Thong Shi (An Nam Đ� Thống Sứ: 安南都統使, người cai quản An Nam).� �ng ta đ�nh mất tư thế ch�nh thức quốc gia độc lập của xứ sở nhưng đ� duy tr� quyền chủ tể tối cao trong nước.� Hơn nữa, nhờ ở sự bảo vệ ban cấp cho nh� Mạc bởi c�c triều đại nh� Minh v� nh� Thanh, ngay d� sau khi �ng ta bị đ�nh bật ra khỏi kinh đ� Đ�ng Kinh (H� Nội ng�y nay) bởi c�c lực lượng trung hưng nh� L�, �ng đ� c� thể tồn tại với cơ sở đặt tại khu vực bi�n giới ở Cao Bằng (Ming Shi (Minh Sử), 1997, trang 14638; TT, trang 917).� L� do tại sao c�c triều đại Truung Hoa đ� cung cấp sự bảo vệ như thế cho nh� Mạc l� v� sự hiện hữu của một triều đại Việt Nam h�ng mạnh kh�ng được xem l� điều đ�ng mong ước đối với họ.� Như sẽ đề cập đến sau n�y, Trung Hoa vẫn kh�ng muốn c� một Việt Nam h�ng mạnh ngay trong thời đại n�y.

������ Việc duy tr� c�c quan hệ th�n hữu với Trung Hoa c�n quan trọng hơn khi đang xung đột với c�c lực lượng th� nghịch nội địa.� L� do tại sao Nguyễn Văn Huệ đ� chấp nhận đề nghị h�a đ�m của nh� Thanh ngay d� �ng đ� đ�nh đuổi c�c lực lượng viễn chinh nh� Thanh l� v� �ng đ� cứu x�t đến sự xung đột của �ng với người anh cả Nguyễn Văn Nhạc đặt căn cứ tại Quy Nh�n (Nhơn) v� c�c sự đe dọa từ Nguyễn Ph�c �nh v� qu�n Xi�m La (Th�i Lan ng�y nay) được ph�i sang theo lời y�u cầu của Nguyễn Ph�c �nh (Qing Shi Gao, 1998, trang 14638; Suzuki, 1977, trang 451; Trương Bửu L�m, 1968, c�c trang 173-174).� Cuộc đầu h�ng của Mạc Đăng Dung trước c�c lực lượng nh� Minh bị g�y ra bởi sự xuất hiện của c�c lực lượng phục hưng nh� L�.� Trong thực tế, triều đại nh� Minh đ� kh�ng c� nguồn lực để huy động c�c lực lượng qu�n sự đại quy m� hầu chinh phục Việt Nam.� V� thế, đ� c� cuộc tranh luận s�i nổi giữa c�c thượng thư, vốn được chia th�nh hai phe: một phe lập luận rằng Việt Nam phải bị khuất phục bằng vũ lực để tu�n thủ nghi�m ngặt với Chủ Nghĩa Tập Trung V�o Trung Hoa (Sinocentrism), v� ph�i kia chống lại một cuộc viễn chinh đại quy m� dựa tr�n chủ nghĩa thực tế.� Sau c�ng, như một sự dung h�a, nguy�n tắc chiến tranh v� h�a b�nh đ� được chấp nhận (Osawa, 1977, c�c trang 343-356).� Nếu Mạc Đăng Dung đứng vững tại mặt trận nội địa lắng đọng, nh� Minh c� thể n� tr�nh một sự đối đầu to�n lực với �ng ta v� phải thừa nhận thẩm quyền của �ng.

������ Một sự khảo s�t kỹ c�ng mối quan hệ triều cống giữa c�c triều đại Việt Nam với Trung Hoa cho thấy n� kh�ng phải c� t�nh chất lệ thuộc một chiều.� C� thể th�ch đ�ng để hiểu điều đ� kh�ng g� kh�c hơn một phương thức thực tiễn để đạt được sự an to�n của ch�ng.� Trong thực tế, c�c nh� vua Việt Nam v� tầng lớp cai trị đ� t�m c�ch duy tr� một mối quan hệ b�nh đẳng với Trung Hoa đến mức tối đa m� họ c� thể l�m được.� Đinh Bộ Lĩnh đ� bổ nhiệm con trai của �ng l� Đinh Liễn l�m Nam Việt Vương [南越王, vua nước Nam Việt] v� đ� ph�i một sứ giả dưới danh nghĩa của người con, với chủ � kh�ng l�m tổn hại đến thẩm quyền của �ng như một vị ho�ng đế (Yamamoto, 1943, trang 116).� Hơn nữa, trong năm 990, nh� Tống đ� gửi một ph�i đo�n sang L� Ho�n để ban phong một tước cao qu� cho �ng, nhưng L� Ho�n được n�i đ� n� tr�nh kh�ng khấu đầu khi tiếp nhận sắc dụ ho�ng triều.� �ng đưa ra l� cớ kh�ng thể xuống ngựa bởi �ng bị đau ch�n khi giao tranh với qu�n man rợ, nhưng thực ra �ng đ� kh�ng muốn mang vẻ phục t�ng của một chư hầu (Song Shi: Tống Sử, 1995, trang 14061; TT, 1984, c�c trang 192-193; Wolters, 1979, trang 74).� Ch�ng ta c� thể c� một cảm nhận của một th� dụ nền tảng hơn trong sự bi�n soạn quyển Đại Việt Sử K� [大越史記, Lịch Sử Đại Việt] bởi L� Văn Hưu.

������ Trong năm 1257, khi nh� Trần trị v�, qu�n M�ng Cổ đ� x�m lăng v� chiếm cứ kinh đ� Thăng Long (H� Nội ng�y nay); tuy nhi�n, dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo, c�c lực lượng Việt Nam đ� đẩy lui ch�ng.� Tuy thế, sự đe dọa của qu�n M�ng Cổ vẫn tiếp tục, v� ch�ng c� thể quay trở lại bất kỳ khi n�o.� Trong t�nh trạng n�y, L� Văn Hưu, theo lệnh của vị ho�ng đế thứ nh�, Th�nh T�ng (1258-1278), đ� bi�n soạn quyển Đại Việt Sử K� trong ăn 1272 để tr�nh l�n ho�ng đế.� Như một quan chức v� một học giả, tất cả những g� �ng c� thể l�m được v�o l�c đ� l� soạn thảo một quyển s�ch lịch sử (Sử K�) để gi�p nh� Trần duy tr� sự độc lập của triều đại đang đối diện với sự x�m lăng ngoại lai.� V� thế, sau sự cứu x�t nghi�m chỉnh, �ng đ� đặt việc bi�n soạn theo quyển Zi Zhi Tong Jian [ 資治通鑑, Comprehensive Mirror for Aid in Government ] được viết bởi Si Ma Guang [Tư M� Quang?] v� đ� bi�n soạn chủ đề trung t�m của Đại Việt Sử K� chung quanh sự độc lập của c�c triều đại Việt Nam v� sự b�nh đẳng với Trung Hoa.� Kết quả, �ng đ� viết lịch sử Việt Nam bắt nguồn từ Nam Việt của Triệu Đ� v� quy kết sự độc lập khỏi sự thống trị của Trung Hoa kh�ng phải cho Triều Đại nh� Ng� (939-963) của Ng� Quyền l� kẻ đ� mang tước hiệu quốc vương, m� cho Triều Đại nh� Đinh của Đinh Bộ Lĩnh.� L� do: cả Triệu Đ� lẫn Đinh Bộ Lĩnh đều tuy�n x�c sự b�nh đẳng với ho�ng đế Trung Hoa bằng việc mang tước hiệu ho�ng đế (Yu, 2006, c�c trang 48-50).

������ Một th� dụ kh�c về cảm nhận của Việt Nam về sự b�nh đẳng với Trung Hoa c� thể được t�m thấy trong bản B�nh Ng� Đại C�o [平吳大誥, Great Proclamation upon Laying Low the Ngo] bởi Nguyễn Tr�i, kẻ đ� đ�ng vai tr� phụ t� th�n cận khi L� Lợi chiến đấu chống lại nh� Minh v� gi�nh được độc lập.� Phần đầu ti�n như sau (Nguyễn Tr�i, 1972, trang 319; O�Harrow, 1979, c�c trang 159-174):

Duy ng� Đại Việt chi quốc,

Thực vi văn hiến chi bang.

Sơn xuy�n chi phong vực k� th�,

Nam bắc chi phong tục diệc dị.

Tự Triệu Đinh L� Trần chi triệu tạo ng� quốc,[1]

Dữ H�n Đường Tống Nguy�n nhi c�c đế nhất phương.

 

[Bản dịch của Ng� Tất Tố, do người dịch sao lục v� bổ t�c]

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đ� l�u

N�i s�ng bờ c�i đ� chia

Phong tục Bắc Nam cũng kh�c

Từ Triệu, Đinh, L�, Trần bao đời x�y nền độc lập

C�ng H�n, Đường, Tống, Nguy�n mỗi b�n h�ng cứ một phương

 

{Bản dịch sang Anh ngữ trong nguy�n bản, ch� của người dịch}

 

Now think about this Dai Viet land of ours,

�Truly it is a cultured nation.

As mountain and river make for various lands,

�So must our Southern ways differ from the North.

It was the Trieu, the Dinh, the Ly, and Tran

�Who in succession built this country.

Even as the Han, the Tang, and the Sung and the Yuan,

�Each was sovereign in its own domain.

 

������ Nguyễn Tr�i nhấn mạnh rằng Nam [Việt Nam] v� Bắc [Trung Hoa] l� c�c xứ sở ho�n to�n kh�c nhau về mặt địa dư v� phong tục, tập qu�n.� V� thế, y như đ� c� c�c triều đại nh� H�n, Đường, v� Tống ở Trung Hoa, cũng đ� c� c�c đế quốc nh� Triệu, Đinh, L�, Trần như thế.� Hơn nữa, bằng việc chiếu s�ng Việt Nam như một �quốc gia văn minh�, �ng nhấn mạnh rằng Việt Nam kh�ng phải l� một nước man rợ ở phương nam.� Điều n�y �m chỉ sự ngang bằng văn h�a của Việt Nam với Trung Hoa (O�Harrow, 1979, trang 168).

������ Khi lục địa Trung Hoa bị cai trị bởi c�c sắc d�n ngoại quốc, cảm nghĩ Việt Nam về sự b�nh đẳng đi đến mức xem m�nh cao hơn người [nội địa] Trung Quốc.� Ch�nh v� thế, dưới thời nh� Nguyễn, Việt Nam được gọi l� Trung Quốc [ 中國, Vương Quốc Trung T�m], người Việt Nam được gọi l� H�n nh�n [ 漢人, người H�n] hay H�n d�n [漢民, d�n H�n], v� người Trung Hoa l� Đường nh�n [唐人, người [nh�] Đường, hay Thanh nh�n [ 淸人, người [nh�] Thanh] (ĐNTL I, 1963, Tập 26, trang 22a; Tập 38, trang 12a; Tập 44, trang 19a; Woodside, 1971, c�c trang 18-19).� Nh�n nh� Thanh của người M�n Ch�u như d�n man rợ, điều n�y về mặt biểu trưng chỉ cho thấy rằng họ [Việt Nam] thực sự l� một d�n tộc văn h�a.� Sự tự h�o văn h�a của vị ho�ng đế thứ nh�, Minh Mạng (trị v� 1820-1840) th� lớn lao đến nỗi �ng đ� chỉ tr�ch quy luật y phục của c�c quan chức trong triều trong quyển Qing Hui Dian [淸會典, Thanh Hội Đỉển] về việc tu�n theo một c�ch n�ng nỗi quy luật của c�c d�n man rợ v� đ� cảnh gi�c họ đừng l�m như thế (ĐNTL II, 1973, Tập 70, trang 2a; Takeda, 1977, c�c trang 539-540).� Kh�ng chỉ thế, Ho�ng Đế Minh Mạng đ� chọn Đại Nam [ 大南, Great Nam: Nước Nam Vĩ Đại] l�m t�n nước thay cho Việt Nam trong năm 1838 v� đ� sử dụng n� trong năm kế đ� (ĐNTL II, 1975, Tập 190, c�c trang 1a-2a; Tập 200, c�c trang 8a-b).� C� lẽ �ng bực dọc khi thấy nh� Thanh, kh�ng phải l� triều đ�nh �ng ưa th�ch, tự xưng l� �Đại Thanh� v� �ng đ� l�m như thế từ t�m l� kh�ng cự.� Giống y như như c�c ho�ng đế Trung Hoa, �ng cho l�m Ấn của Ho�ng Đế Đại Nam [ 大南天子之璽: Đại Nam Thi�n Tử Chi Ấn] bằng ngọc thạch v� đ� d�ng n� trong mọi loại văn kiện trong nước v� ngoại giao kh�c ngoại trừ cho nh� Thanh (ĐNTL II, 1976, Tập 200, c�c trang 16a-b).� Trong khi đ�, ch�nh trong thời nh� Nguyễn m� từ ngữ Bang Giao [ , international relations: c�c quan hệ quốc tế] đ� ch�nh thức được sử dụng.� Với vấn đề danh xưng của xứ sở trong thời kỳ trước tiếp theo sau sự th�nh lập của n� được giải quyết với nh� Thanh, điều được tuy�n bố trong lịch sử ch�nh thức của nh� Nguyễn [rằng] ��Đại Nam� [ 大南寔錄] theo �nghi lễ ngoại giao� đ� được ấn định từ năm n�y (1803) (ĐNTL I, 1963, Tập 23, trang 3a).

������ Cảm nhận về sự b�nh đẳng như thế đ� đặt nền tảng cho tinh th�n chiến đấu đến c�ng.� Một trường hợp điển h�nh th�ch đ�ng sẽ l� sự kh�ng cự m�nh liệt chống qu�n Nguy�n.� Trong năm 1284, c�c lực lượng qu�n Nguy�n đ� dễ d�ng chiếm cứ kinh đ� Thăng Long với qu�n số �p đảo của họ, nhưng c�c binh sĩ nh� Trần chỉ huy bởi Trần Hưng Đạo đ� tấn c�ng c�c lực lượng qu�n Nguy�n từ mọi hướng v� cuối c�ng đ� đẩy lui ch�ng trong năm kế đ�.� Tức giận v� sự thất trận, Kubilai của nh� Nguy�n đ� ra lệnh binh sĩ �ng ta tấn c�ng Việt Nam lần nữa.� Trận chiến đ� mở ra trong một cung c�ch tương tự với trận chiến hai năm trước đ�.� Trần Hưng Đạo đ� triệt tho�i c�c lực lượng của �ng khỏi Thăng Long, do đ� c�c lực lượng qu�n Nguy�n đ� chiếm cứ kinh đ� một c�ch dễ d�ng.� Song, hạm đội tiếp tế qu�n lương của nh� Nguy�n đ� kh�ng đ�ng c�n sức với hải qu�n của nh� Trần; c�c lực lượng qu�n Nguy�n đ� phải r�t lui, v� c�c binh sĩ của Trần Hưng Đạo đ� đuổi theo qu�n Nguy�n v� đ� gi�ng một đ�n nặng nề l�n ch�ng.� Trong khi đ�, nh� Nguyễn, dự kiến một �trật tự thế giới Đại Nam� độc lập (Yu, 1994, c�c trang 81-87) rập khu�n theo một trật tự thế giới với Trung Hoa l�m trung t�m đối với c�c nước l�ng giềng, trị v� tr�n c�c quốc gia nhỏ ở ngoại vi với ưu thế văn h�a v� ch�nh trị, mệnh danh mối quan hệ với c�c nước ngoại vi n�y l� �nhu viễn: 柔遠] (s�t nghĩa, đối xử nhu h�a, tử tế với nước ở xa�), -- c� nghĩa, dỗ d�nh c�c nước xa v� khiến ch�ng tu�n phục.� Sự ưu việt văn h�a của Việt Nam tr�n c�c nước l�ng giềng nhỏ đ� sẵn khởi sự từ thời kỳ ti�n khởi của nền độc lập khỏi Trung Hoa.� L� Ho�n được n�i đ� khước từ sự triều cống từ xứ Ch�m v�o năm 994 v� c�c l� do c� sự vi phạm nghi lễ ngoại giao (TT, 1984, trang 194).� Hơn nữa, s�ch sử cho biết rằng xứ Ch�n Lạp (Căm Bốt ng�y nay) đ� triều cống trong năm đầu ti�n l�n ng�i của vua Th�i Tổ (1010-1028) nh� L� (TT, 1984, trang 120).� Từ ban đầu, Việt Nam đ� �p đặt mối quan hệ triều cống đặc biệt tr�n xứ Ch�m.� Ch�nh v� thế, điều rất thường để khuất phục xứ Ch�m bằng việc huy động c�c binh sĩ nếu xứ Ch�m kh�ng chịu triều cống Việt Nam.� Một th� dụ tốt về sự ưu việt văn h�a của Việt Nam tr�n Ch�m l� th�i độ của giới tr� thức nh� Trần, nguy�n l� c�c kẻ đ� phản đối cuộc h�n nh�n của vị c�ng ch�a hồi đầu thế kỷ thứ 14.� V�o l�c đ�, th�i thượng ho�ng Nh�n T�ng, trong sự tham lam muốn thụ đắc ch�u � v� Ch�u L� thuộc xứ Ch�m, nằm ở ph�a bắc th�nh phố Huế ng�y nay, đ� gả em [hay chị] g�i của vua Anh T�ng (1293-1314) cho vua xứ Ch�m với điều kiện rằng hai khu vực đ� được d�ng cho �ng.� Chống đối cuộc h�n nh�n n�y, c�c văn gia thời đ� đ� so s�nh sự việc n�y với C�ng Ch�a Wang Zhao được gửi đến vua Hung n� (Kawamoto, 1967, c�c trang 168-169).

������ Một th� dụ tốt về sự ưu việt văn h�a của Việt Nam tr�n c�c v�ng l�n cận trong thời nh� Nguyễn l� sự thay đổi từ ngữ tiếng H�n Gao Mian [ 高綿: Cao Mi�n], c� nghĩa Căm Bốt, th�nh Cao man [ 高蠻 ] m� người Việt Nam nh�n như d�n man rợ (LT, 1962, Tập 31, trang 1a).� C�c nước mục ti�u cho mối quan hệ nhu viễn bao gồm kh�ng chỉ L�o, Th�i Lan, Miến Điện ng�y nay ngo�i Căm Bốt, m� c�n cả Anh Quốc v� Ph�p Quốc, song c�c quốc gia triều cống thực sự được giới hạn v�o Căm Bốt v� L�o.� Việt Nam vẫn cảm nhận theo c�ng cung c�ch về c�c xứ sở n�y như trước đ�y, điều nằm đ�ng sau đế xướng của Việt Nam để tổ chức v� cầm đầu Li�n Bang Đ�ng Dương.� Cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt v�o cuối Th�ng Mười Hai 1978, ch�m ng�i cho sự trừng phạt của Trung Quốc, c� li�n hệ đến loại tư tưởng n�y.� Điều c� thể đ�ng để n�i rằng cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt đ� l� một sự biểu lộ cơn thịnh nộ của Việt Nam đối với việc Căm Bốt t�m c�ch đứng b�nh đẳng với Việt Nam c�ng với th�i độ thiếu niềm nở của Căm Bốt trước đề xướng của Việt Nam về việc tổ chức một Li�n Bang Đ�ng Dương.

 

III Nguy�n Do Trực Tiếp Của

Cuộc Chiến Tranh Trung-Việt



������ To�n thể thế giới đ� sững sờ bởi cuộc tấn c�ng của Trung Cộng v�o Việt Nam l�c rạng s�ng ng�y 17 Th�ng Hai, 1979.� Ngạc nhi�n hơn nữa, n� đ� kh�ng chỉ l� một cuộc chiến tranh giữa c�c đồng minh cộng sản, m� Trung Quốc c�n cung cấp viện trợ kinh tế v� qu�n sự cho Việt Nam khi nước kể sau đ� ph�t động chiến tranh với Ph�p v� Hoa Kỳ từ 1950.� V� thế, điều g� đ� g�y ra chiến tranh?

������ Nh�n D�n Nhật B�o [ 人民日報 ] đề ng�y 19 Th�ng 3, 1979 liệt k� 4 nguy�n do sau đ�y: 1) c�c kh�t vọng b� quyền được theo đuổi bởi ch�nh phủ H� Nội trong phạm vi Đ�ng Nam �; 2) c�c tranh chấp dọc theo bi�n giới Trung Quốc v� c�c sự x�m lăng l�nh thổ ph�t sinh; 3) sự đ�n �p người Hoa b�n trong Việt Nam, v�; 4) c�c quan hệ th�n hữu chặt chẽ với Li�n Bang S� Viết, nước c� khuynh hướng mở rộng ảnh hưởng của n� tại Đ�ng Nam �.

������ Tuy nhi�n, cần ghi nhận rằng ch�nh phủ Việt Nam đ� nh�n c�c mục đ�ch x�m lăng của Trung Quốc nhằm: 1) chiếm đ�ng c�c tỉnh dọc bi�n giới Việt Nam, 2) di chuyển một c�c lực lượng Việt Nam đồn tr� tại Căm Bốt l�n bi�n giới ph�a bắc, 3) ph� hủy nền tảng kinh tế của Việt Nam, 4) đẩy ch�nh trị Việt Nam v�o sự hỗn loạn bằng việc x�i giục sự nổi loạn bởi c�c phần tử phản c�ch mạng, v.v� 8

������ Trong khi đ�, c�c nh� ph�n t�ch ngoại quốc kh�ng lu�n lu�n nh�n sự việc theo c�ch đ�.� Theo t�c giả Hood (1992, c�c trang 50-57), Trung Quốc đ� x�m lăng Việt Nam để ph�n t�n c�c lực lượng Việt Nam khỏi cuộc x�m lăng v�o Căm Bốt.� Ngược lại, t�c giả Ross (1988, c�c trang 240-246) đ� nh�n n� như một phản ứng trước cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt v� trước sự cộng t�c của Việt Nam với Li�n Bang S� Viết, nhằm toan t�nh bao v�y Trung Quốc ra khỏi v�ng Đ�ng Nam �.� Trong thực tế, c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc đ� cảm nhận được c�c sự đe dọa của S� Viết sau c�c cuộc tranh chấp bi�n giới Trung Quốc � S� Viết hồi Th�ng Ba 1969.� Khi c�c binh sĩ Hoa Kỳ khởi sự triệt tho�i khỏi Việt Nam kh�ng l�u sau khi c� c�c sự đụng độ bi�n giới Trung Quốc � S� Viết, Mao Trạch Đ�ng đ� tin tưởng rằng kẻ th� tiềm năng của Trung Quốc đ� chuyển hướng từ miền nam Trung Quốc l�n miền bắc Trung Quốc (K. C. Chen, 1979, trang 19).

������ Tuy nhi�n, như đ� được đề cập d�i d�ng trước đ�y, từ một khung cảnh rộng lớn hơn, chiến tranh c� thể được n�i l� hậu quả của sự xung đột c�c quyền lợi giữa Trung Quốc � vốn theo đuổi trật tự thế giới lấy Trung Hoa l�m t�m điểm truyền thống của n� � v� Việt Nam, nước kh�ng cự trong sự chống đối n�.� Mao Trạch Đ�ng đ� thừa kế di sản của Trung Hoa như thế trong khi thực sự l� kẻ theo chủ nghĩa M�c-x�t L�-nin-n�t.� Ch�nh v� thế, �ng ta đ� tức giận rằng cộng sản Việt Nam đ� kh�ng đi theo đường lối của �ng ta trong c�c cuộc tranh chấp Nga-Hoa sau năm 1965 (Zhai, 2000, c�c trang 219-220).� Tương tự, Việt Nam ng�y nay kh�ng qu�n sự cai trị v� c�c cuộc x�m lăng trong qu� khứ của Trung Hoa v�o đất nước của họ, hay, như được ph�t biểu một c�ch ch�nh x�c bởi Hồ Ch� Minh khi �ng ta n�i với c�c kẻ chống đối trong năm 1946 về sự r�t lui khỏi c�c cuộc thương thảo đang được thực hiện giữa �ng ta v� đại diện qu�n đội Quốc D�n Đảng Trung Hoa đến tr� đ�ng để giải giới c�c lực lượng Nhật Bản sau khi kết th�c Thế Chiến Thứ II, ��ng kh�ng biết những g� sẽ xảy ra nếu người Trung Hoa quyết định ở đ�y ư?� Mọi lần họ đến, họ ở đ�y cả ngh�n năm.� Mặt kh�c, người Ph�p sẽ chỉ ở lại đ�y một l�c, v� sau c�ng họ sẽ rời đi� (Duiker, 2000, trang 361).� C�c nh� l�nh đạo H� Nội kế tiếp �ng ta nghĩ rằng chủ nghĩa Mao �kh�ng g� kh�c hơn Chủ Nghĩa Đại H�n Cường Quyền Nước Lớn tho�i h�a th�nh Chủ Nghĩa B�nh Trướng Đại Chủng Tộc v� Chủ nghĩa B� Quyền Trung Quốc Vĩ Đại� (Mio, 1988, trang 253), ch�nh v� thế, sự căng thẳng với Trung Quốc � hay ngay cả đụng độ với n� � đ� l� điều kh�ng tr�nh khỏi.

������ Trong c�c phần tiếp theo, b�i viết n�y sẽ t�i duyệt nguy�n do trực tiếp của cuộc chiến tranh 1979 dựa tr�n những g� đ� được thảo luận cho đến nay.� C� c�c sự bất đồng giữa c�c học giả về mức độ quan trọng của một v�i nguy�n do; tuy nhi�n, n�i chung, r� r�ng c� sự đồng � rằng 4 nguy�n do � c�c vấn đề l�nh thổ v� c�c tranh chấp bi�n giới, sự trục xuất người Hoa tại Việt Nam, sự cộng t�c th�n hữu giữa Li�n Bang S� Viết v� Việt Nam, v� cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt h�m 25 Th�ng Mười Hai 1978 � đều c� li�n can.

������ C�c vấn đề l�nh thổ v� c�c sự tranh chấp bi�n giới n�i đến 3 khu vực giữa Trung Quốc v� Việt Nam: Paracel Islands, Spratly Islands ( 西沙群島: T�y Sa Quần Đảo) v� 南沙群島: Nam Sa Quần Đảo trong tiếng H�n; Ho�ng Sa v� Trường Sa trong tiếng Việt), 9 v� ranh giới tr�n biển v� bi�n giới đất liền dọc theo 1,287 c�y số của Vịnh Bắc Việt.

������ Sau Thế Chiến II, Trung Quốc cũng như ch�nh quyền Nam Việt Nam lần luợt tuy�n nhận chủ quyền tr�n Quần Đảo Paracel v� Quần Đảo Spratly; v�o đầu năm 1959, ch�nh quyền S�ig�n cho đổ bộ c�c binh sĩ l�n bờ, bắt c�c c�c ngư phủ Trung Hoa, v� đặt to�n thể c�c h�n đảo thuộc v�o tỉnh Quảng Nam trong năm 1961.� Trong Th�ng Bảy 1973, ch�nh quyền S�ig�n đ� trao c�c quyền khai th�c dầu hỏa tại khu vực bao quanh Quần Đảo Spratly cho một c�ng ty ngoại quốc v� đặt n� trực thuộc tỉnh Phước Tuy (tỉnh B� Rịa � Vũng T�u ng�y nay) trong Th�ng Ch�n, ch�m ng�i cho c�c sự phản đối dữ dội của Trung Quốc. Sau đ�, trong Th�ng Một 1974, qu�n si Trung Quốc đ� chiếm cứ Quần Đảo Paracel bằng vũ lực.� Ch�nh phủ H� Nội tỏ lập trường rằng vấn đề phải được giải quyết giữa c�c b�n li�n hệ tr�n căn bản tương k�nh v� tinh thần hữu nghị; H� Nội kh�ng ủng hộ Trung Quốc (Chang Pao-min, 1980, c�c trang 136-137; Chanda, 1986, trang 21), điều cho thấy rằng chủ nghĩa d�n tộc đứng h�ng đầu khi li�n quan đến l�nh thổ.� Trong khi đ�, H� Nội đ� gửi c�c binh sĩ trong Th�ng Tư năm sau ngay trước khi c� sự sụp đổ của S�ig�n v� chiếm đ�ng s�u đảo trong Quần Đảo Spratly.� Chủ đ�ch r� r�ng của n� để bảo to�n quyền sở hữu c�c h�n đảo n�y trước khi Trung Quốc toan t�nh chiếm đoạt ch�ng.� Sự tranh gi�nh dữ dội tr�n hai quần đảo n�y được th�c đẩy bởi c�c mỏ dầu phong ph� ở đ�y biển v� tầm quan trọng của ch�ng nối liền Ấn Độ Dương với Biển Nam Trung Hoa (South China Sea).

������ Khởi điểm của sự tranh chấp giữa Trung Quốc v� Việt Nam l� việc đ�nh dấu to�n thể hai quần đảo n�y bởi nước kể sau như thuộc về Việt Nam tr�n một bản đồ được c�ng bố trong nửa sau của năm 1975.� Hai lần, trong Th�ng S�u v� Th�ng T�m 1976, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc minh định rằng tất cả c�c h�n đảo tại Biển Nam Trung Hoa l� c�c l�nh thổ thi�ng li�ng bất khả tranh c�i của Trung Quốc.� Đối ph� với việc n�y, ch�nh quyền H� Nội đ� c� một lập trường cứng rắn trong Th�ng Mười Hai 1978 rằng bất kỳ sự khai th�c hay chiếm đ�ng ngoại quốc n�o tr�n hai quần đảo n�y v� c�c đảo l�n cận l� bất hợp ph�p (Chang Pao-min, 1980, trang 141, 152).� Cuối c�ng đ� kh�ng c� chỗ cho sự thương thảo giữa hai nước, v� c�c quan hệ trở n�n tồi tệ hơn.

������ Ranh giới tr�n biển tại Vịnh Bắc Phần v� bi�n giới đất liền đ� kh�ng được vẽ r� r�ng trong lịch sử cho đến khi Hiệp Ước Thi�n T�n được k� kết trong năm 1887 như một hậu quả của Cuộc Chiến Tranh Trung-Ph�p (1884-1885), dựa tr�n đ�, c�c ranh giới được ph�n định (Fourniau, 1981, c�c trang 114-149). 10 Ch�nh v� thế, sự tranh chấp giữa Trung Quốc v� Việt Nam li�n can đến ranh giới được ấn định bởi Hiệp Ước Thi�n T�n.� Cuộc tranh chấp ph�t xuất từ ch�nh phủ H� Nội khi n� đ� biểu lộ � định của m�nh về sự khai th�c dầu hỏa tại Vịnh Bắc Việt trong năm 1973 v� tranh luận trong c�c cuộc n�i chuyện giữa hai nước trong năm 1974 rằng ranh giới được vạch ra bởi Hiệp Ước Thi�n T�n l� ở 108 độ đ�ng kinh tuyến.� Như thế, 2/3 Vịnh Bắc Việt thuộc về Việt Nam, v� vậy Trung Quốc tuy�n bố lập trường của n� rằng sự điều tra bởi một nước thứ ba th� ho�n to�n kh�ng thể chấp nhận được, đ� n�i khi trả lời rằng Hiệp Ước Thi�n T�n đ� kh�ng ph�n chia hải phận m� chỉ ph�n định ranh giới c�c h�n đảo (Chang pao-min, 1980, trang 132 & 137; K. C. Chen, 1979, trang 48; White Paper (Bạch Thư), 1979, trang 85). 11 Trong Th�ng Mười 1977, phi�n đ�m ph�n thứ nh� đ� được tổ chức, nhưng đ� kh�ng c� chỗ cho sự thỏa hiệp bởi khoảng c�ch rộng lớn giữa c�c sự tuy�n x�c của hai b�n.� Trong Th�ng Năm trước kỳ họp n�y, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đ� đơn phương tuy�n bố V�ng Độc Quyền Kinh Tế (Exclusive Economic Zone: EEZ) 200 dậm (K. C. Chen, 1979, trang 48; Chang Pao-min, 1980, trang 144); lập trường căn bản của H� Nội rằng ranh giới được ấn định bởi Hiệp Ước Thi�n T�n phải được t�n trọng.� Cuối c�ng, cảc hai b�n đồng � thảo luận n� một lần nữa, với mỗi b�n vẫn b�m chắc quan điểm của m�nh; tuy nhi�n, sau đ�, đ�m thoại đ� sụp đổ do sự phức tạp của t�nh h�nh.� C�n như cho rằng Việt Nam trong thời tiền hiện đại đ� nhượng bộ Trung Hoa như Mạc Đăng Dung mỗi khi Trung Hoa c� một sức mạnh ưu việt, nay tuyệt đối kh�ng cần phải l�m như thế bởi quyền lực thế giới đ� trở th�nh đa cực; ch�nh v� thế, Việt Nam đ� kh�ng nh�c nh�ch một ph�n tr�n b�n thương thảo.

������ Li�n hệ trực tiếp đến Chiến Tranh Trung-Việt nhiều hơn hai quần đảo v� Vịnh Bắc Việt n�i tr�n l� ranh giới tr�n đất liền.� Theo truyền thống, c� c�c d�n tộc �t người sinh sống tại c�c khu vực n�y, v� thế c�c sự tranh chấp k�o d�i giữa hai nước về sự cai trị c�c d�n tộc n�y.� Một th� dụ điển h�nh l� cuộc đụng độ to�n lực giữa nh� Tống v� nh� L� trong c�c năm 1075-1076 (TT, 1984, c�c trang 248-249); Việt Sử Lược, 1936, trang 39).� Mặc d� Hiệp Ước Thi�n T�n đ� ph�n định bi�n giới, c�c d�n tộc �t người vẫn băng qua bi�n giới để sinh sống.� Trong cuộc chiến tranh Đ�ng Dương 30 năm, c�c đồ cứu trợ của Trung Quốc thường được chở qua bi�n giới; ch�nh v� thế l�m cho c�c sự ph�n chia h�nh ch�nh được vạch vẽ một c�ch r� rệt trở n�n điều kh�ng thực sự hiện hữu.� Hơn� nữa, phần lớn trong số 333 cột mốc dựng l�n v�o thờI Hiệp Ước Thi�n T�n đ� bị biến mất.

������ Vấn đề bi�n giới đầu ti�n khởi ph�t trong năm 1974 với c�u hỏi về địa điểm của đường ranh giới của Ải H� Nội � Youri [Ải Hữu Nghị, tức Ải Nam Quan, ch� của người dịch] nằm giữa hai nước.� Ch�nh quyền H� Nội đ� đề nghị điều chỉnh lại đường ranh giới, lập luận rằng trong năm 1954 c�c c�ng nh�n Trung Quốc đ� ấn định n� một c�ch nhầm lẫn, lấn hơn 300 m�t s�u b�n trong bi�n giới Việt Nam; tuy nhi�n, đề nghị như thế đ� bị b�c bỏ thẳng thừng bởi c�c nh� cầm quyền Bắc Kinh.� C�c cuộc c�i cọ tiếp diễn cho đến khi c�c cuộc đụng độ bi�n giới xảy ra, được n�i l�n tới hơn 100 vụ trong năm 1974, khoảng 400 vụ trong năm 1975, v� hơn 900 vụ trong năm 1976 (Chang Pao-min, 1980, trang 143).� Sau c�ng, trong Th�ng Năm 1977, một vụ đẫm m�u đ� xảy ra tại Hữu Nghị Quan.� Theo c�c lời tuy�n bố của ph�a Việt Nam, con số c�c cuộc đung độ đ� tăng cao một c�ch r� rệt l�n tới 2,175 vụ trong năm 1978 do c�c sự x�m nhập l�nh thổ của Trung Quốc. 12

������ Trong c�c cuộc n�i chuyện Th�ng Mười n�u tr�n, Trung Quốc đ� đề nghị việc k� kết một hiệp ước bi�n giới Trung-Việt mới thay thế cho Hiệp Ước Thi�n T�n; Việt Nam đ� kh�ng chỉ b�c bỏ n�, m� c�n khởi sự điều đuợc gọi l� �chiến dịch thanh lọc khu vực bi�n giới� v�i th�ng trước khi xua đuổi c�c d�n tộc �t người, ngoại trừ những người thuộc d�ng giống Trung Hoa v� Việt Nam (Chang Pao-min, 1980, trang 150).� H�nh vi như thế nhằm loại bỏ c�c nguồn cội của sự tranh chấp bằng việc kiểm so�t ho�n to�n khu vực bi�n giới.� Giữa một loạt c�c sự phản đối bởi ph�a Trung Quốc v� một sự gia tăng r� rệt c�c sự tranh chấp bi�n giới cộng với sự trục xuất người Hoa tại Việt Nam, sự căng thẳng giữa Trung Quốc v� Việt Nam tất nhi�n đ� vươn tới đỉnh điểm của n�.

������ Theo c�c dữ liệu từ ch�nh phủ H� Nội, con số người Hoa tại Việt Nam trong năm 1978 v�o khoảng 1.2 triệu, 1 triệu trong đ� sống tại miền nam v� khoảng 200,000 c� cư sở tại miền bắc (White Paper, 1979, trang 96). Li�n quan đến quốc tịch của những người gốc Hoa n�y, Trung Quốc v� Việt Nam đ� đồng � rằng ch�nh phủ Việt Nam sẽ c� thẩm quyền t�i ph�n tr�n c�c người Hoa tại miền bắc Việt Nam, v� rằng họ sẽ thụ hưởng c�ng quyền hạn v� dần dần thụ đắc quốc tịch Việt Nam t�y theo � muốn tự do của ch�nh họ. 13 Trong l�c đ�, khi Trung Quốc phản đối sự cưỡng b�ch của ch�nh quyền S�ig�n buộc mọi người Hoa tại miền nam phải nhập quốc tịch Việt Nam trong c�c năm 1956 v� 1957, ch�nh quyền H� Nội đ� ủng hộ Trung Quốc. (Chang Pao-min, 1982, c�c trang 198-199).� V�o l�c đ�, t�nh h�nh ch�nh trị ở v�o thế buộc H� Nội phải l�m như thế để c� được sự trợ gi�p của Trung Quốc, nhưng kh� nghĩ rằng H� Nội đ� thực sự muốn đứng về ph�a Trung Quốc như được tr�nh b�y dưới đ�y.

������ Sau khi t�i thống nhất trong năm 1975, ch�nh phủ H� Nội đ� c� c�c biện ph�p quyết liệt để hội nhập người Hoa tại miền nam hầu đ�p ứng c�c nhu cầu kiểm so�t ch�nh trị tại miền nam v� thỏa m�n c�c như cầu ch�nh s�ch x� hội chủ nghĩa.� Trước khi c� sự kiện n�y, v�o tối ng�y 30 Th�ng Tư 1975 khi th�nh phố S�ig�n bị chiếm cứ, đ� c� một cuộc biểu t�nh đại quy m� tại khu định cư người Hoa ở Chợ Lớn bởi c�c cư d�n trương cờ Trung Quốc v� c�c ảnh ch�n dung Mao Trạch Đ�ng; một số người Hoa đ� lợi dụng sự bất ổn x� hội l�m trầm trọng hơn t�nh trạng kinh tế bằng c�ch �p gi� thị trường (FEER, 16 Th�ng S�u, 1978, trang 20; Chanda, 1986, trang 233, 239).

������ Trong Th�ng Một 1976, ch�nh quyền Việt Nam đ� ra lệnh tất cả c�c người Hoa tại miền nam phải đăng k� quốc tịch của họ v� buộc họ phải chấp nhận quốc tịch Việt Nam trong Th�ng Hai.� Kh�ng tu�n h�nh biện ph�p n�y khiến họ phải chịu sự t�i định thuế kh�a nặng nề v� sự kỳ thị trong sự ph�n phối thực phẩm.� Trong Th�ng Hai năm kế tiếp, ch�nh quyền H� Nội đ� hạn chế c�c cơ hội t�m việc l�m v� quyền tự do đi lại đối với c�c người Hoa từ chối kh�ng chấp nhận quốc tịch Việt Nam v� lập kế hoạch để ho�n trả họ về xứ sở theo � muốn tự do của họ (Chang Pao-min, 1982, trang 200, 203).� Điều n�y l�m nhớ đến vua Hy T�ng (1675-1705) thời nh� L� (1428-1788), kẻ đ� ban h�nh một chỉ dụ buộc người Hoa v�o đất Việt Nam phải thay đổi kiểu t�c v� y phục theo lối Việt Nam (Fujiwara, 1970, c�c trang 52-53).� Chỉ dụ n�y dường như c� chủ định Việt Nam h�a người Hoa nhằm cắt đứt c�c quan hệ của họ với Trung Hoa.

������ Ch�nh quyền Trung Quốc đ� phản đối H� Nội, nhưng Việt Nam � phản ứng một c�ch lạnh l�ng � đ� thực sự ph�t động c�c phong tr�o t�ch cực b�i Hoa tr�n to�n quốc được th�c đẩy bởi c�c sự th� gh�t quyền lực kinh tế của người Hoa tại Việt Nam v� đ� kh�ng phải l� phong tr�o đầu ti�n được tổ chức v�o thời đại n�y.� Đ� từng c�, đảng Lập Hiến (Constitutionalist party) vốn được th�nh lập tại miền nam trong nửa sau của thập ni�n 1910, với mục đ�ch chủ yếu l� ph�ng ra một chiến dịch để kết �n sự gi�u c� kinh tế của người Hoa (Duiker, 1976, c�c trang 136-137).

������ Sau c�ng, v�o ng�y 24 Th�ng Ba 1978, cảnh s�t, binh sĩ, v� sinh vi�n học sinh Việt Nam mang băng tay m�u đỏ đ� tr�n v�o Chợ Lớn (khu định cư người Hoa tại S�ig�n) v� lục so�t c�c cửa h�ng người Hoa để tịch thu v�ng v� đ� la cất giấu v� đ� quốc hữu h�a c�ng ngăn cấm mọi sản phẩm của họ.� Dưới c�c t�nh huống n�y, một cuộc di cư ồ ạt đ� khởi sự, với số người chạy trốn l�n tới 160,000 người v�o cuối Th�ng Bảy 1978.� Phần lớn trong họ l� c�c cư d�n tại miền bắc; tuy nhi�n, tại miền nam, đ� c� những người được gọi l� �boat people: thuyền nh�n� đi tới mọi nước thuộc Đ�ng Nam �, con số của họ l�n tới 30,000 người trong 8 th�ng đầu ti�n của 1978 v� 100,000 v�o cuối năm (Chang Pao-min, 1982, c�c trang 207-208, 222).� Trung Quốc v� Việt Nam trao đổi c�c lời phỉ b�ng, Trung Quốc kết �n c�c sự t�n bạo của Việt Nam v� Việt Nam phủ nhận ch�ng, song kh�ng b�n n�o c� thể đưa ra bằng chứng r� rệt.� Tuy nhi�n, cứu x�t sự kiện rằng 95% những người vượt trốn về ph�a bắc v� 85% thuyền nh�n l� người Hoa, họ hẳn đ� cố gắng để gỡ bỏ sự h�nh hạ, kh�ng thể chịu đựng được chiến dịch b�i Hoa c� tổ chức của ch�nh phủ Việt Nam (FEER, 22 Th�ng Mười Hai, 1978, c�c trang 8-12).

������ Trung Quốc đ� đ�nh chỉ mọi sự trợ gi�p kinh tế trong Th�ng Bảy 1978 để l�m �p lực tr�n Việt Nam v� đ� r�t về c�c kỹ sư của họ tại Việt Nam.� Song Việt Nam đ� kh�ng l�i bước bởi họ chẳng c� g� để mất.� Họ kh�ng c� l� do để quan t�m đến sự ra đi cho 160,000 người gốc Hoa đ�, những kẻ m� l�ng trung th�nh kh�ng chỉ bị nghi ngờ m� sự gi�u c� kinh tế cũng kh�ng c�n cần thiết nữa.� Ch�m l�n đầu sự kiện đ�, ch�nh phủ Việt Nam c� thể thu h�i lợi lộc đ�ng kể bởi việc cho ph�p một c�ch c� hệ thống sự ra đi của người Hoa với gi� từ $2,000 - $3,000 mỹ kim hay số v�ng tương đương tr�n mỗi đầu người (s�ch đ� dẫn, c�c trang 9-10).

������ Trong khi đ�, khi c�c nh� cầm quyền Trung Quốc kh�a cổng bi�n giới miền bắc, phần lớn c�c kẻ vượt trốn ra đi sau n�y thường được dẫn đường bởi l�nh g�c Việt Nam để sử dụng c�c lối đi xuy�n qua rừng n�i, tạo ra c�c vấn đề an ninh bi�n giới cho Trung Quốc.� Như biện ph�p đối ph�, l�nh tuần cảnh bi�n giới Trung Quốc đ�i khi băng qua bi�n giới được tuy�n x�c bởi ph�a Việt Nam, dẫn đến c�c vụ đụng độ ở bi�n giới: việc n�y giống như đổ th�m dầu v�o lửa khi n�i đến c�c sự tranh chấp bi�n giới căng thẳng sẵn c� (Chang Pao-min, 1982, trang 224).

������ Một nguy�n do quan trọng kh�c của cuộc Chiến Tranh Trung-Việt l� sự hợp t�c th�n hữu giữa Li�n Bang S� Viết v� Việt Nam.� Như đ� n�i trước đ�y, Trung Quốc hiển nhi�n nh�n Li�n Bang S� Viết như một mối đe dọa tiềm năng cho n� sau khi c� c�c cuộc tranh chấp bi�n giới Nga-Hoa hồi Th�ng Ba 1969.� Tr�n bối cảnh n�y, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ Henry Kissinger trong Th�ng Bảy 1971 v� Tổng Thống Nixon trong Th�ng Hai năm kế tiếp đ� c� thể sang thăm Trung Quốc xuy�n qua điều được gọi l� �ngoại giao b�ng b�n�.� Song, khi c� khoảng trống quyền lực tại Đ�ng Nam � với sự t�i thống nhất của Việt Nam hồi Th�ng Tư 1975, Trung Quốc đ� lo sợ sự can thiệp của Li�n Bang S� Viết.� Khi Li�n Bang S� Viết đ�nh tiếng cổ vũ một hệ thống an ninh tập thể cho � Ch�u giống như tại �u Ch�u tiếp theo sau sự k� kết C�c Thỏa Ước Helsinki h�m 1 Th�ng T�m, 1975, Trung Quốc đ� tức thời tố c�o n� như một mưu toan của Li�n Bang S� Viết nhằm thiết lập b� quyền tại Đ�ng Nam � thay thế cho Hoa Kỳ (Ross, 1988, trang 57).

������ Thực sự, Li�n Bang S� Viết c� quan t�m đặc biệt đến một mối quan hệ với Việt Nam.� V�o dịp kỷ niệm lần thứ 30 ng�y độc lập của Việt Nam (Th�ng Ch�n 1975), Thủ Tướng Aleksei Kosygin đ� nhấn mạnh đến tầm quan trọng của c�c quan hệ chặt chẽ với Việt Nam.� Đ�p lại, Việt Nam đ� đi đến việc ủng hộ Li�n Bang S� Viết trong c�c vấn đề giữa S� Viết v� Trung Quốc.� Trong cuộc thăm viếng của �ng tại Moscow hồi Th�ng Mười 1975, B� Thư Thứ Nhất L� Duẩn đ� loan b�o một th�ng c�o chung với Brezhnev, nhấn mạnh rằng cuộc thăm viếng của �ng l� một bước tiến quan trọng cho sự ph�t tri�n li�n tục c�c quan hệ hữu nghị (Ross, 1998, trang 60).� Trong kỷ nguy�n tiền hiện đại, Việt Nam sẽ d�ng đến h�nh thức triều cống để đối ph� với sự đe dọa của Trung Hoa; tuy nhi�n, giờ đ�y L� Duẩn đ� thay thế phương ph�p đ� bằng việc s�p gần lại Li�n Bang S� Viết.

������ Ho�n to�n l� điều tự nhi�n để Trung Quốc quan ngại về sự ph�t triển mối quan hệ giữa hai nước; điều n�y được minh chứng bởi sự kiện rằng, trong khi trả lời sự y�u cầu của Việt Nam về viện trợ kinh tế, Trung Quốc đ� tranh luận về c�c ch�nh s�ch của họ.� D� thế Trung Quốc đ� kiềm chế kh�ng n�u c�c sự ph�n n�n của m�nh với Việt Nam một c�ch trực ti�p � �t nhất trong nhất thời.� V�o l�c đ�, Đặng Tiểu B�nh c� n�i rằng viện trợ kinh tế l� một việc, nhưng sự đụng độ bi�n giới lại l� một việc kh�c.

������ Trong khi đ�, Li�n Bang S� Viết tiếp tục l�n �n �Tập Đo�n họ Mao� trong khi ủng hộ Việt Nam về vấn đề tranh chấp tr�n c�c quần đảo Paracel v� Spratly giữa Trung Quốc v� Việt Nam.� Kh�ng chỉ thế, Li�n Bamg S� Viết đ� loan b�o c�c kế hoạch của n� nhằm x�y dựng c�c cơ sở cung cấp dầu hỏa cho c�c t�u ngầm của họ v� c�c cơ xưởng sửa chữa gần hải cảng Hải Ph�ng.� Trong Th�ng Mười Hai 1976, Đại Hội Đảng Lao Động Việt Nam Lần Thứ 4 được tổ chức lần đầu ti�n sau Chiến Tranh đ� chứng kiến mọi đảng vi�n th�n Trung Quốc trong ban chấp h�nh bị mất chức (K. C. Chen ,1979, c�c trang 25-26). 14 Sự việc như thế đặt ra một vấn đề nghi�m trọng cho Trung Quốc.

������ Trong năm 1977, Việt Nam đ� kh�ng c� lựa chọn n�o ngo�i việc nghi�ng về ph�a Li�n Bang S� Viết giữa cuộc khủng hoảng kinh tế g�y ra bởi c�c sự th�m thủng mậu dịch v� nạn hạn h�n.� Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đ� thăm viếng v�i nước �u Ch�u, nhưng kh�ng nước n�o đ�p ứ ng với c�c y�u cầu của H� Nội.� Trung Quốc cũng b�c khước lời y�u cầu của Việt Nam tr�n căn bản rằng nền kinh tế nội bộ của Việt Nam [? Trung Quốc] th� kh�ng mấy khả quan.� Kh�ng c� lựa chọn n�o kh�c, Việt Nam đ� c� bước tiến đầu ti�n trong Th�ng Tư trong việc gia nhập tổ chức kinh tế Đ�ng �u (khối COMECON) đứng đầu bởi Li�n Bang S� Viết, đ� trở th�nh hội vi�n ch�nh thức trong Th�ng S�u 1978.� Brezhnev tức thời hứa hẹn sự ủng hộ ho�n to�n của �ng ta cho ph�a Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền bất khả chuyển nhượng của họ, n�i rằng �ng ta k�nh phục d�n tộc Việt Nam (Ross, 1988, trang 189).� Sự đ�nh chỉ của Trung Quốc mọi loại viện trợ cho Việt Nam như được n�i tr�n c� li�n hệ một c�ch chặt chẽ với sự ph�t triển n�y.

������ Kh�ng l�u sau sự việc n�y, Li�n Bang S� Viết đ� di chuyển một số t�u thuộc hạm đội Th�i B�nh Dương xuống ph�a nam, thả neo ch�ng tại hải phận quốc tế kh�ng mấy xa bờ biển Phi Luật T�n.� N� cũng đ� quyết định cải thiện phẩm chất của c�c binh sĩ đối diện với c�c lực lượng Trung Quốc v� bố tr� c�c vũ kh� tinh vi, kể cả c�c hỏa tiễn gắn đầu đạn tầm trung cũng như c�c chiến đ�u cơ mới nhất.� Trong Th�ng Tư, Nga S� đ� thực hiện một cuộc thao diễn qu�n sự phối hợp hải lục kh�ng qu�n dọc bi�n giới Trung Hoa với sự tham dự của Brezhnev v� Bộ Trưởng Quốc Ph�ng (Ross, 1988, trang 175).

������ Cảm nhận được �p lực gia tăng từ Li�n Bang S� Viết, Trung Quốc nghĩ rằng một ch�nh s�ch bao v�y họ đ� hiện thực bởi n� đối diện với Li�n Bang S� Viết ở phương bắc v� Việt Nam ở phương nam.� Dưới c�c t�nh huống n�y, Trung Quốc đ� phải t�m một sự khai th�ng tại phương nam, nh�n Việt Nam như một �Cuba của � Ch�u� (Chanda, 1986, trang 354; Ross, 1988, trang 176, 189).� Ch�nh cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt đ� chứng minh cho một sự khai th�ng như thế.

������ Theo truyền thống, Trung Quốc kh�ng h�i l�ng với sự hiện hữu của một lực lượng h�ng mạnh chung quanh n�, như được chứng minh bởi c�c cuộc viễn chinh của c�c triều đại li�n tiếp chống lại một chủng tộc phương bắc.� Trong một t�nh trạng kh�ng thể n�o tấn c�ng Li�n Bang S� Viết, Trung Quốc c� thể n�i đ� toan t�nh một c�ch gi�n tiếp để tự giải tho�t m�nh ra khỏi sự đe dọa của Li�n Bang S� Viết bằng việc x�m lăng Việt Nam.

������ Về mặt lịch sử, c�c cuộc xung đột giữa Trung Quốc v� Việt Nam tr�n vấn đề Căm Bốt c� thể được định nghĩa như một sự đối đầu giữa Đại B� Quyền � trật tự thế giới xem Trung Hoa l� trung t�m truyền thống � v� Tiểu B� Quyền, tức trật tự Đại Việt Nam.� Thực sự, Trung Quốc đ� kh�ng nh�n một c�ch bất động trong kỷ nguy�n tiền hiện đại khi Việt Nam can thiệp v�o c�c nước chung quanh.� Như một th� dụ điển h�nh, người ta c� thể c� được một cảm nhận về v�i trong số 20 l� do khiến Ho�ng Đế Vĩnh Lạc đ� ph�i c�c binh sĩ của �ng sang chinh phục Việt Nam, c� nghĩa, Hồ Qu� Ly đ� x�m lăng một nước triều cống của Ho�ng Đế, xứ Ch�m (Yamamoto, 1950, c�c trang 333-334).� Trong thập ni�n 1970, sự đối đầu giữa hai nước đ� bị tăng cường độ một c�ch tất nhi�n bởi Li�n Bang S� Viết đang cung cấp sự ủng hộ t�ch cực cho Việt Nam.

������ Căm Bốt l� một quốc gia triều cống của Trung Hoa nhưng c�ng l�c c� triều cống Việt Nam trước khi trở th�nh một thuộc địa của Ph�p trong thập ni�n 1860.� Tuy nhi�n trong khi Trung Quốc đ� kh�ng can thiệp qu� nhiều v�o c�c vấn đề của Căm Bốt, Việt Nam kh�ng chỉ chiếm cứ nhiều l�nh thổ của Căm Bốt m� c�n x�m lăng n� v�i lần trong tiến tr�nh của điều được gọi l� Cuộc Nam Tiến (Southward Movement).� V� l� do n�y, cảm thức d�n tộc chủ nghĩa của Căm Bốt đối với Việt Nam thực sự rất xấu.� Đ� l� l� do tại sao Căm Bốt lo sợ rằng n� c� thể bị rơi v�o khu vực ảnh hưởng của Việt Nam sau khi c� sự kết th�c Chiến Tranh Việt Nam (Kenny, 2003, trang 219; FEER, 1979, c�c trang 19-20).

������ Khmer Đỏ l�nh đạo bởi Pol Pot đ� chiếm cứ Phnom Penh h�m 17 Th�ng Tư 1975 ngay trước khi c� sự cộng sản h�a Việt Nam.� Trước đ�, Pol Pot đ� nhận sự gi�p đỡ từ Việt Nam; tuy nhi�n, trong năm 1970, Đảng Cộng Sản Căm Bốt đ� chấp nhận một nghị quyết tuy�n bố rằng n� sẽ kh�ng chịu bị ảnh hưởng bởi bất kỳ nước ngo�i n�o, c�ng l�c tuy�n bố rằng Việt Minh đ� phản bội phong tr�o cộng sản Căm Bốt trong thập ni�n 1950. 15 Điều n�y được quy kết cho cảm nhận của người Căm Bốt như đ� n�i ở tr�n.� Tuy nhi�n, trong thời Chiến Tranh Việt Nam, Khmer Đỏ đ� cung cấp một nơi ẩn n�u cho phe cộng sản Việt Nam trong khi Việt Nam đ� trợ lực Khmer Đỏ trong cuộc chiến đấu của n� chống lại chế độ Lon Nol.� Ch�nh v� thế đ� kh�ng c� c�c vấn đề đặc biệt giữa họ.� Dĩ nhi�n, phe Khmer Đỏ đ� kh�ng qu�n rằng Việt Nam l� �kẻ th� số 1� của họ (Sihanouk, 1980, trang 18).

������ Khi Chiến Tranh Việt Nam đi dần đến hồi kết cuộc, phe Khmer Đỏ, đang cố gắng tự giải tho�t m�nh ra khỏi khu vực ảnh hưởng của Việt Nam, đ� xem Trung Quốc sẽ l� đồng minh h�ng mạnh nhất.� Trong khi đ�, Trung Quốc bắt đầu bị l�i k�o v�o Căm Bốt v� trợ gi�p t�ch cực Căm Bốt để nước n�y kiềm chế ch�nh s�ch b� quyền của Việt Nam tại b�n đảo Đ�ng Dương.� Tr�n bối cảnh n�y, trong Th�ng T�m 1975, Trung Quốc đ� k� kết một hiệp ước trợ gi�p kinh tế v� kỹ thuật với phe Khmer Đỏ.

������ Trong khi đ�, từ 1975 đến 1978, chế độ Khmer Đỏ đ� tiếp tục y�u cầu Việt Nam triệt tho�i binh sĩ của n� đồn tr� tại khu vực miền đ�ng từ thời Chiến Tranh Việt Nam.� Việt Nam đ� miễn cưỡng di chuyển c�c binh sĩ đến đồn tr� tại bi�n giới ph�a t�y gần Căm Bốt, nơi c�c sự xung đột thường trực ph�t sinh giữa hai b�n.� V�o ng�y 30 Th�ng Tư, 1977, sự việc đ� đi đến mức c�c binh sĩ của Pol Pot ph�ng ra một cuộc tấn c�ng đại quy m� v�o tỉnh An Giang của Việt Nam.� Trong cơn lốc xo�y n�y, Việt Nam đ� k� kết một hirệp ước hợp t�c th�n hữu với L�o trong Th�ng S�u 1977 v� đ� y�u cầu Căm Bốt c�ng k� như thế, nhưng Căm Bốt lại nhấn mạnh đến một hiệp ước kh�ng x�m lược.� Ch�nh v� thế, c�c cuộc thương nghị đ� thất bại (K. C. Chen, 1979, trang 34).� Nguy�n do của sự thất bại l� sự kh�ng chấp nhận của H� Nội th�i độ của Căm Bốt đ�i ngang h�ng với Việt Nam v� ước muốn của Căm Bốt về việc duy tr� sự độc lập.� Như đ� n�i trước đ�y, Việt Nam theo truyền thống đ� nh�n Căm Bốt như một quốc gia man rợ, coi Căm Bốt như một nước triều cống của m�nh.

������ Trong Th�ng Hai 1978, ch�nh phủ Việt Nam sau c�ng đ� quyết định loại trừ chế độ Pol Pot v�o Th�ng Mười Hai (Turley & Race, 1980, trang 98).� Chẳng cần n�i, đ�ng sau quyết định n�y l� chủ định nhằm chặn trước kế hoạch của Trung Quốc muốn d�ng Căm Bốt tạo �p lực tr�n Việt Nam.� Th�ng Mười Hai đ� l� một thời điểm th�ch hợp để tấn c�ng bởi n� khởi đầu m�a kh�.� Vấn đề l� Trung Quốc sẽ đ�p ứng ra sao.� V�o l�c đ�, Trung Quốc đ� kh�ng chỉ mở rộng sự trợ gi�p qu�n sự cho Phnom Penh; khoảng 6,000 cố vấn qu�n sự v� nhiều kỹ sư hơn số người đ� từng được ph�i sang Căm Bốt (Duiker, 1986, trang 80) cũng đ� được gửi đi.� Sau nhiều sự suy t�nh, c�c nh� cầm quyền H� Nội đ� dựng l�n một mặt trận thống nhất, ph�n đo�n rằng Trung Quốc sẽ kh�ng can thiệp trực tiếp tại Căm Bốt khi nh�n thấy hiệp ước hữu nghị giữa Việt Nam v� Li�n Bang S� Viết v� sự tăng cường binh sĩ Li�n Bang S� Viết tại khu vực bi�n giới ph�a bắc Trung Quốc (FEER, 22 Th�ng Mười Hai, 1978, trang 17).� C�ng l�c, Việt Nam đ� sắp xếp Heng Samrin để dựng l�n một Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia Kampuchea Cứu Nguy D�n Tộc v�o ng�y 3 Thz�ng Mười Hai.� Huy động hơn 100,000 binh sĩ với một số lượng đ�ng kể c�c xe tăng v� xe chuy�n chở bọc sắt, h�m 25 Th�ng Mười Hai, H� Nội đ� ph�ng ra một �trận đ�nh chớp nho�ng: blitzkrieg) v�o Căm Bốt v� đ� chiếm Phnom Penh h�m 7 Th�ng Một, 1979. 16

 

IV. Tiến Tr�nh Cấu Tạo Quyết Định

Cuộc X�m Lăng �Trừng Phạt� Của Trung Quốc



������ V�o ng�y 13 Th�ng Mười Hai, 1978, một th�ng trước khi c� cuộc tấn c�ng của Việt Nam v�o Căm Bốt, Trung Quốc đ� cảnh c�o Việt Nam rằng sự th� nghịch tiếp tục sẽ đẩy Trung Quốc đến giới hạn của sự ki�n nhẫn, v� rằng Việt Nam phải �đ�i diện với c�c hậu quả� (Duiker, 1986, trang 83). 17 C�c nước kh�c cũng như Việt Nam đ� kh�ng chờ đợi rằng sự cảnh c�o n�y sẽ dẫn dắt đến cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam (Kenny, 2003, trang 228).� Ch�nh phủ H� Nội, mặc d� lo sợ cuộc x�m lăng khả hữu của Trung Quốc v� nh�n nhận rằng sự việc như thế thường khả dĩ, đ� tin tưởng rằng sự kiện như thế sẽ dẫn đến kh�ng g� nhiều hơn một sự đụng độ cấp nhỏ ở� bi�n giới khi nh�n về c�c quan hệ th�n hữu với Trung Quốc trong thời Chiến Tranh Việt Nam.� Thực sự, một ng�y trước khi c� sự sụp đổ của Phnom Penh, Ph� Thủ Tương đưong thời Đặng Tiểu B�nh c� n�i rằng cuộc x�m lăng v�o Căm Bốt l� một bộ phận của ch�nh s�ch b�nh trướng của S� Viết cũng như một sự đe dọa từ Li�n Bang S� Viết v� Việt Nam đối với Trung Quốc, đ� gạt bỏ khả t�nh của sự can thiệp qu�n sự tức thời (K. C. Chen, 1979, trang 37).� Tuy nhi�n, v�o l�c n�y, Trung Quốc, ngược với những g� �ng ta n�i, đ� sẵn sắp đặt phạm vi, thời khoảng, chiến lược v� mục đ�ch của cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam.

������ Nh�n từ một quan điểm rộng lớn, cuộc đụng độ Trung-Việt nhất định sẽ xảy ra, với c�c biến cố tr�nh b�y ở tr�n chỉ t�c dụng như c�c chất x�c t�c; sự kiện như thế c� thể hiểu được một c�ch dễ d�ng với �t sự khảo s�t về c�c quan hệ giữa hai nước trước khi c� sự b�ng nổ của chiến tranh.� Trong thực tế, d� ch�nh phủ H� Nội c� tuy�n bố, �Cuộc (x�m lăng của Trung Quốc) n�y kh�ng hề l� một sự thay đổi đột ngột, m� l� một th�nh quả tất nhi�n của Chủ Nghĩa B�nh Trướng Đại Chủng Tộc v� Ch�nh S�ch B� Quyền Nước Lớn� của Trung Quốc trong 30 năm qua�. (Bạch Thư, 1979, trang 8).

������ Đảng Cộng Sản Trung Quốc, phe đ� th�nh c�ng trong việc cộng sản h�a lục địa Trung Hoa hồi Th�ng Mười 1949, đ� ch�nh thức thừa nhận Việt Nam D�n Chủ Cộng H�a đang l�m chiến với Ph�p h�m 18 Th�ng Một 1950 v� đ� hứa hen trợ gi�p qu�n sự cho Việt Nam c�ng l�c đ�.� Theo sau Trung Quốc, Li�n Bang S� Viết, gần như thờ ơ với ch�nh phủ Hồ Ch� Minh nhưng cũng kh�ng muốn c� c�c quan hệ th� nghịch với Ph�p tại �u Ch�u, đ� ch�nh thức thừa nhận Việt Nam D�n Chủ Cộng H�a h�m 30 Th�ng Một, v� đ� thiết lập c�c quan hệ ngoại giao với Việt Nam.� C� thể an to�n để n�i rằng sự tranh gi�nh S� Viết � Trung Quốc tr�n Việt Nam đ� khởi sự từ điểm n�y.� Trong bất kỳ trường hợp n�o, H� Nội đ� nhận được nhiều viện trợ từ Trung Quốc hơn Li�n Bang S� Viết trong cuộc chiến tranh với Ph�p; H� Nội nh�n nhận rằng chiến thắng Điện Bi�n Phủ năm 1954 c� thể tạo được nhờ sự trợ gi�p qu�n sự của Trung Quốc (Bạch Thư, 1979, trang 31). 18 Sau n�y, Trung Quốc đ� cung cấp sự ủng hộ ho�n to�n cho H� Nội trong việc ph�t động một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ.� Trong thực tế, khi c�c quan hệ th�n hữu giữa hai nước l�n đến đỉnh điểm, Hồ Ch� Minh c� n�i, �ch�ng ta kh�ng chỉ l� c�c đồng ch� m� c�n l� anh em�.

������ Tuy nhi�n, một c�ch mỉa mai, sau khi Hiệp Định Geneva được k� kết trong Th�ng Bảy tiếp theo sau chiến thắng tại Điện Bi�n Phủ, một sự rạn nứt v� h�nh đ� sẵn được ph�t triển.� Bất kể sự kiện rằng H� Nội được giả định sẽ thu gặt được c�c th�nh quả của cuộc chiến thắng của m�nh, Việt Nam đ� bị ph�n chia tr�i với � muốn của H� Nội dọc theo bắc vĩ tuyến 17 độ bởi �p lực của S� Viết v� Trung Quốc, vốn c� khuynh hướng theo đuổi c�c quyền lợi li�n hệ của ch�ng.� Hơn nữa, kế hoạch của H� Nội nhằm gi�nh đạt được một v�ng tự trị cho Pathet L�o tại miền bắc L�o đ� kh�ng diễn ra như chủ định. 19

������ Trung Quốc đ� đặt �p lực tr�n H� Nội thuần t�y v� c�c quyền lợi d�n tộc của ri�ng Trung Quốc.� Trước ti�n, n� quan t�m đến kế hoạch ph�t triển kinh tế 5 năm vốn đ� được cứu x�t từ năm 1953 v� đ�n sự giải ph�ng Đ�i Loan.� Thứ nh�, n� lo sợ sự can thiệp qu�n sự trực tiếp của Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh Đ�ng Dương tiếp diễn.� Trung Quốc đ� kh�ng muốn Hoa Kỳ tiến gần đến bi�n giới n� hơn nữa.� Thứ ba, Trung Quốc muốn c� một luồng li�n lạc sắp sẵn cho c�c cuộc n�i chuyện với c�c nước t�y phương cũng như với Ph�p v� Anh Quốc bằng c�ch chấp nhận lập trường chung sống h�a b�nh tại c�c cuộc đ�m ph�n ở Geneva (Chen Jian, 1993, c�c trang 107-108).� Ngo�i ra, Trung Quốc đ� kh�ng bằng l�ng với sự kiện rằng H� Nội sẽ dựng l�n một li�n bang Đ�ng Dương v� kh�ng chế n�.� Như đ� n�i trước đ�y, Trung Quốc đ� kh�ng muốn Việt Nam hiện l�n như một quyền lực trong v�ng.

������ Thứ nh�, ch�ng ta c� thể c� được một cảm nhận của th� dụ về sự bất h�a Trung-Việt trong sự can thiệp của Trung Quốc v�o Chiến Tranh Việt Nam hồi giữa thập ni�n 1960.� Khi� c�c binh sĩ Trung Quốc tiến v�o Việt Nam năm 1965, c�c nh� cầm quyền Việt Nam đ� từ chối kh�ng để họ tiếp x�c với người Việt Nam v� c�n cấm cả việc đeo c�c huy hiệu c� h�nh họ Mao.� Ngo�i ra, tạp san h�n l�m Việt Nam hay nhất �Nghi�n Cứu Lịch Sử� đ� đăng tải một loạt c�c luận đề thảo luận về việc người Việt Nam đ� kh�ng cự c�c cuộc x�m lăng của c�c triều đại Trung Hoa trong qu� khứ như thế n�o (Chen Jian, 1995, trang 380).� C�c b�i viết n�y đ� tr�nh b�y lịch sử Việt Nam về mặt c�c cuộc đấu tranh gi�nh độc lập, điều, kh�ng cần n�i ra, l� chống lại Trung Quốc.

������ Sau n�y, Trung Quốc kh�ng h�i l�ng với c�c cuộc thương thảo của H� Nội với Hoa Kỳ, nhưng điều đ� l�m trầm trọng hơn c�c quan hệ đ� sẵn tồi tệ giữa hai nước l� kết quả của c�c sự tranh chấp bi�n giới Nga-Hoa.� Như đ� n�i trước đ�y, Trung Quốc, cảm nhận một sự đe dọa từ Li�n Bang S� Viết, đ� nỗ lực cải thiện c�c quan hệ với Hoa Kỳ xuy�n qua cuộc thăm viếng của Kissinger tại Trung Quốc hồi Th�ng Bảy 1971, được tiếp nối bởi cuộc thăm viếng của Tổng Thống Nixon trong Th�ng Hai năm sau đ�.� V�o l�c đ�, Chiến Tranh Việt Nam đ� ph�t triển thuận lợi cho c�c lực lượng cộng sản, v� thế c�c nh� cầm quyền Bắc Việt tin tưởng rằng họ sẽ ở v�o vị thế thuận lợi tại b�n thưong thuyết h�a b�nh ở Paris.� Tuy nhi�n, cảm thấy rằng vị thế thưong thảo của họ với Hoa Kỳ đ� bị ph� hủy bởi sự h�a ho�n giữa Trung Quốc v� Hoa Kỳ, H� Nội đ� tố c�o Trung Quốc về việc t�m kiếm một c�ch v� li�m sỉ một sự thỏa hiệp với Hoa Kỳ cho c�c quyền lợi ri�ng của Trung Quốc (Mio, 1988, trang 247).� Nơi đ�y cũng vậy, ch�ng ta c� thể c� một cảm nhận về Việt Nam kh�ng đơn phương đi theo c�c ch�nh s�ch của Trung Quốc m� đ� b�m chặt lấy lập trường độc lập của m�nh.

������ Trong khi đ�, Trung Quốc nghĩ rằng Việt Nam đ� mắc nợ n� bởi Trung Quốc đ� cung cấp 2 [ sic, ?20, xem đoạn văn ph�a dưới, ch� của người dịch] tỷ mỹ kim viện trợ cho Việt Nam trong hơn 20 năm chiến tranh của Việt Nam chống lại Ph�p v� Hoa Kỳ.� V�o ng�y 22 Th�ng Mười 1985, Hồ Diệu Bang, Tổng B� Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc, c� n�i trong cuộc n�i chuyện với Honecker, B� Thư Thứ Nhất của Đảng Cộng sản Đ�ng Đức, �Ch�ng t�i đ� ph�i hơn 100,000 binh sĩ v� nh�n vi�n điều h�nh cho cuộc Chiến Tranh Việt Nam.� Ch�ng t�i đ� cung cấp 20 tỷ mỹ kim viện trợ kinh tế v� qu�n sự.� Hơn 10,000 binh sĩ ch�ng t�i đ� bị chết trong khi c�ng t�c.� Đ�y l� một sự kiện lịch sử�. 20 Ngo�i ra, Trung Quốc đ� nh�n như sự kiện c�n quan trọng hơn rằng cuộc chiến thắng của H� Nội trong Cuộc Chiến Tranh đ� trở th�nh khả dĩ xuy�n qua sự trợ gi�p v� viện trợ của Trung Quốc, khiến cho Hoa Kỳ tin rằng một cuộc tấn c�ng tr�n đất liền bởi Hoa Kỳ v�o Bắc Việt sẽ ch�m ng�i cho sự can thiệp của Trung Quốc (Kenny, 2003, trang 234).� D� vậy, H� Nội đ� v� ơn trước sự trợ gi�p v� viện ttợ như thế, điều l�m cho Trung Quốc tức giận.

������ Về sau, c�c quan hệ tồi tệ giữa hai nước c�n leo thang hơn nữa cho đ�n, v�o năm 1975, khi c�c nh� l�nh đạo Việt Nam trở n�n tin tưởng rằng Trung Quốc đ� kh�ng t�m kiếm sự t�i thống nhất của Việt Nam. 21 Về mặt lịch sử, đ� l� một sự kiện minh bạch, bởi một Việt Nam thống nhất h�ng mạnh chắc chắn kh�ng c� c�ch n�o c� lợi cho Trung Quốc; thay v�o đ�, n� sẽ đ�i hỏi đuợc đối xử tr�n căn bản đồng đẳng.� Nguyễn Văn Huệ của ch�nh quyền T�y Sơn, kẻ đ� đ�nh bại c�c binh sĩ nh� Thanh hồi đầu năm 1789, đ� thiết lập c�c quan hệ th�n hữu với nh� Thanh xuy�n qua nền ngoại giao triều cống; tuy nhi�n, như một kẻ chiến thắng, �ng ta kh�ng chịu mang một th�i độ thần phục.� Sau khi đ�nh bại c�c lực lượng nh� Thanh, �ng đ� đưa ra lời y�u cầu được phong l�m An Nam Quốc Vương [An Nan Guo Wang: 安南國王 ] trong một văn thư ngoại giao gửi đến ho�ng đế nh� Thanh, nhưng nếu bị từ chối, sẽ kh�ng c� sự lựa chọn n�o kh�c hơn l� dựa v�o vũ lực (LT, 1962, trang 37a).� Nh� Nguyễn, triều đại đầu ti�n lập ra l�nh thổ Việt Nam ng�y nay, đ� ban h�nh quốc hiệu Việt Nam xuy�n qua sự thương thảo với Trung Quốc, nhưng đ� kh�ng d�ng n�.� Thay v�o đ�, n� đ� thiết lập trật tự thế giới ri�ng n� tại b�n đảo Đ�ng Dương như đ� sẵn n�i ở tr�n.

������ C�c nh� l�nh đạo Việt Nam đạt được sự t�i thống nhất tr�i với c�c ước muốn của Trung Quốc, đ� nhận thức Trung Quốc như một mối đe dọa cho họ trong tương lai.� B� Thư Đảng L� Duẩn, kẻ đ� đến Phi Trường S�ig�n trong Th�ng Năm 1975 với một trạng th�i h�n hoan của sự t�i thống nhất, được n�i đ� c� nhận x�t: �Giờ đ�y ch�ng ta đối diện với hai kh� khăn: nạn đ�i v� c�c kẻ phản động Trung Quốc� (Chanda, 1986, trang 238).

������ Trong thực tế, trong cuộc chiến tranh với Ph�p v� Hoa Kỳ, c�c thương thuyết gia Việt Nam lu�n lu�n bất m�n với mặc cảm tự t�n của Trung Quốc.� C�c nh� l�nh đạo Trung Quốc, đặc biệt Mao Trạch Đ�ng đ� nhiều lần nhấn mạnh rằng �ng sẽ đối xử với Việt Nam �tr�n căn bản đồng đẳng�, song bản th�n sự ph�t biểu lại sặc m�i mặc cảm tự t�n của Trung Quốc.� Chủ Tịch Đảng Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ, được thăm viếng bởi L� Duẩn hồi Th�ng Tư 1965, c� n�i, �Nguy�n tắc của ch�ng t�i l� sẽ cung cấp bất kỳ những g� Việt Nam muốn c� với khả năng tối đa của ch�ng t�i, nhưng nếu �ng kh�ng muốn, ch�ng t�i sẽ l�m y như thế� (Zhai, 2000, trang 133).� Hiển nhi�n sự ph�t biểu n�y l�m li�n tưởng đến sự ưu việt của Trung Quốc đối với Việt Nam.� Thực ra, Trung Quốc đ� kh�ng đặc biệt t�m c�ch thống trị Việt Nam về mặt ch�nh trị v� kinh tế, nhưng n� đ� muốn Việt Nam phỉa nh�n nhận điều g� đ� to lớn hơn thế: sự ưu việt về đạo l� của Trung Quốc.� Đ�y l� phi�n bản hiện đại của mối quan hệ giữa Trung Quốc như một quốc gia b� chủ tối cao v� Việt Nam như một quốc gia chư hầu.� V� l� do n�y, khi Trung Quốc cắt giảm viện trợ v� c�c vấn đề đối ngoại v� đối nội, Việt Nam kh�ng c� thể l�m g� ngo�i việc nh�n Trung Quốc một c�ch ngờ vực v� cằn nhằn Trung Quốc.� Cảm nhận về sự gh� tởm n�y đ� ph�t triển th�nh sự th� nghịch bằng việc kh�ng cự lại Trung Quốc sau khi c� sự t�i thống nhất (Chen Jian, 1995, c�c trang 386-387).� Ch�nh v� thế, như đ� n�i trước đ�y, c�c nguy�n do của cuộc x�m lăng của Trung Quốc chỉ t�c dụng như c�c chất x�c t�c.

������ V� vậy, người ta c� thể thắc mắc về thời điểm khi Trung Quốc đ� nghĩ đến việc �trừng phạt� Việt Nam.� Nayan Chanda (1986), ba năm sau cuộc Chiến Tranh, đ� tr�ch dẫn một vi�n chức Trung Quốc c� n�i rằng ch�nh trong Th�ng Bảy 1978 c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc đ� quyết định �trừng phạt� Việt Nam �ngạo mạn v� v� ơn� (trang 601). 22 Trong khi đ�, t�c giả Tretiak (1979), kh�ng n�i đến thời gian ch�nh x�c, đ� nh�n cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam như đỉnh điểm của c�c quan hệ căng thẳng giữa hai nước trong v�i th�ng, với sự trục xuất người Hoa tại Việt Nam, li�n minh giữa Li�n Bang S� Viết v� Việt Nam, c�c vụ đụng độ bi�n giới v� cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt, v.v� như c�c yếu tố trợ lực (c�c trang 740-742, 749-750).� Tuy nhi�n, kh�ng giống với t�c giả tr�n, Lawson (1981) n�i rằng bối cảnh đ�ng sau c�c quan hệ chua ch�t giữa hai nước, từ 1964 đến 1974 cộng với c�c quan hệ căng thẳng ph�t sinh từ c�c vấn đề l�nh thổ v� c�c vụ đụng độ bi�n giới sau khi c� sự t�i thống nhất của Việt Nam� trong năm 1976, v.v�n�i c�ch kh�c, c�c vấn đề t�ch lũy trong v�i năm, chứ kh�ng phải v�i th�ng, đ� dẫn đến c�c sự đụng độ (trang 691)..

������ Gần đ�y, Zhang (2005), trưng dẫn t�i liệu Trung Quốc mới được tiếp cận, m� tả tiến tr�nh x�m lăng với chi tiết (c�c trang 856-860).� Theo sự ph�n t�ch của �ng, cuộc x�m lăng đ� kh�ng được quyết định tại một phi�n họp n�o đ� nhưng đ� được thảo luận từ từ xuy�n qua v�i phi�n họp, trong đ� phạm vi của chiến tranh được sửa đổi từ mức độ một cuộc đụng độ bi�n giới th�nh một cuộc tấn c�ng to�n diện.� �ng n�i rằng lần đầu ti�n cuộc x�m lăng Việt Nam được đề cập một c�ch trực tiếp l� trong Th�ng Ch�n 1978, v� rằng n� đ� được thực hi�n gần như chắc chắn bởi đề nghị của họ Đặng v�o cuối Th�ng Mười Hai.

������ Tuy nhi�n, cần ghi nhận rằng họ Đặng r� r�ng đ� quyết định x�m lăng Việt Nam từ l�u trước đ�.� C�c cuộc thăm viếng của �ng ta tại Th�i Lan, M� Lai, v� Singapore trong 9 ng�y từ đầu Th�ng Mười Một c� chủ � xoa dịu c�c sự lo sợ của c�c nước n�y đối với Trung Quốc.� V�o năm 1975, Trung Quốc đ� thiết lập c�c quan hệ ngoại giao với c�c nước kh�c thuộc khối ASEAN ngoại trừ Indonesia, nhưng c�c nước n�y vẫn c�n lạnh nhạt.� Họ Đặng c� n�i với Thủ Tướng M� Lai, �L� do tại sao Trung Quốc đang trợ gi�p c�c phe cộng sản bất hợp ph�p tại M� Lai v� Th�i Lan l� v� nếu Trung Quốc phủi tay, Việt Nam v� Li�n Bang S� Viết sẽ cố gắng b�nh trướng ảnh hưởng của họ bằng việc sử dụng ch�ng thay ch�ng t�i� (Ross, 1988, trang 221).� Mặc d� c�c lời lẽ của �ng ta kh�ng c� vẻ nhiều t�nh chất thuyết phục, �ng đ� đoạt được một phần thưởng bất ngờ bởi Li�n Bang S� Viết v� Việt Nam đ� k� kết một hiệp ước hợp t�c th�n hữu kh�ng l�u trước đ� v�o ng�y 3 Th�ng Mười Một.� Họ Đặng đ� n�i với Thủ Tướng Th�i Lan rằng Phnom Penh nhiều phần sẽ bị chiếm đoạt bởi c�c binh sĩ Việt Nam, trong trường hợp đ� Trung Quốc sẽ c� c�c biện ph�p th�ch đ�ng (Chanda, 19836, trang 325).� Thủ Tướng Th�i Lan đ� đưa ra sự ủng hộ ho�n to�n cho Trung Quốc v� đ� đồng � để kh�ng vận c�c vũ kh� của Trung Quốc cho Căm Bốt xuy�n qua Th�i Lan từ sự lo sợ rằng Việt Nam c� thể vươn đến tận bi�n giới Th�i Lan.

������ � định của họ Đặng để x�m lăng Việt Nam đ� được biểu lộ trong một c�ch thẳng thừng hơn khi họ Đặng gặp gỡ Thủ Tướng Singapore, L� Quang Diệu.� �ng gọi Việt Nam l� �wang ba dan [王八蛋, Vương B�t Đản: a son of a bitch: đồ ch� đẻ]� [in đậm để l�m nổi bật, ch� của người dịch].� �ng n�i tiếp rằng nếu Việt Nam tấn c�ng Căm Bốt, Trung Quốc sẽ trừng phạt Việt Nam v� sẽ g�y ra một gi� đắt tr�n đ�, v� rằng Li�n Bang S� Viết sẽ bỏ cuộc bởi n� sẽ cảm thấy việc trợ gi�p Việt Nam sẽ qu� nặng nề (Lee, 2000, trang 595, 601).� L� Quang Diệu đ� kh�ng trả lời họ Đặng nhiều.� Tuy nhi�n, khi thăm viếng Th�i Lan hồi đầu Th�ng Mười Hai kh�ng l�u sau khi c� sự th�nh lập của Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia Kampuchea Cứu Nguy D�n Tộc [do H� Nội dựng l�n, ch� của người dịch], �ng đồng � chống đối Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Kampuchea Cứu Nguy D�n Tộc v� tiếp tục thừa nhận chế độ Pol Pot như ch�nh phủ hợp ph�p tại Căm Bốt (Ross, 1988, trang 222).� Nh�n trong c�ch n�y, c�c cuộc thăm viếng của họ Đặng tại Đ�ng Nam � c� thể được n�i l� đ� đạt được mục đ�ch của n�.

������ Như đ� n�i b�n tr�n, thời điểm chiến dịch qu�n sự đ� kh�ng được quyết định bất kể kế hoạch x�m lăng � điều gần như được ấn định sẽ l� trong Th�ng Mười Hai 1978 � do v�i sự cứu x�t.� Trước ti�n, liệu S� Viết sẽ ph�ng ra một sự trả đũa đ�nh v�o Trung Quốc từ phương bắc hay kh�ng? Thứ nh�, Hoa Kỳ sẽ đ�p ứng ra sao, v� c�ng luận thế giới sẽ l� g�?� Liệu chiến tranh sẽ kh�ng k�o l�i kế hoạch hiện đại h�a kinh tế đang được theo đuổi bởi Trung Quốc hay kh�ng?

������ Giới l�nh đạo Trung Quốc kể cả Đặng Tiểu B�nh tin tưởng rằng Li�n Bang S� Viết sẽ kh�ng can thiệp trong một cuộc chiến tranh ngắn hạn đ�nh v�o Việt Nam bởi n� đ� kh�ng c� c�c binh sĩ c� khả năng cho c�c cuộc h�nh qu�n đại quy m� đồn tr� dọc bi�n giới Trung Quốc.� Trong khi đ�, họ Đặng mong muốn hay biết sự đ�p ứng của Hoa Kỳ bằng việc đ�ch th�n thăm viếng Hoa Kỳ từ giữa cuối th�ng Một đến đầu Th�ng Hai (Segal, 1985, c�c trang 213-214). 23 Dường như �ng ta đ� c� thể tăng cường c�c li�n hệ với Hoa Kỳ trong cuộc thăm viếng của �ng ta, v� Hoa Kỳ sẽ kh�ng c�o buộc Trung Quốc nếu n� tấn c�ng Việt Nam trong một cung c�ch th�ch hợp.� Ch�nh v� thế, họ Đặng đ� lập luận một c�ch mạnh mẽ với Tổng Thống Carter về t�nh ch�nh đ�ng của việc trừng phạt Việt Nam trong cuộc thăm viếng của �ng, sao cho một cuộc tấn c�ng v�o Việt Nam được chấp nhận như một sự kiện được định sẵn.� Điều �ng ta kh�ng n�i ra l� khi n�o cuộc tấn c�ng sẽ được ph�ng ra (Brzezinski, 1983, c�c trang 408-414; Tretiak, 1979, trang 747).� Tr�n đường về, �ng đ� dừng ch�n tại Nhật Bản, v� c� lập lại với Thủ Tướng Ohira những g� �ng đ� n�i tại Hoa Kỳ.� Hoa Kỳ v� Nhật Bản đ� đề nghị sự giải quyết h�a b�nh xuy�n c�c c�c sự thương thảo li�n quan đến cuộc tấn c�ng của Trung Qu�c v�o Việt Nam, nhưng cả hai nước đ� kh�ng c�ng khai kết �n Trung Quốc.

������ Quyết định sau c�ng tr�n cuộc tấn c�ng đ� được đưa ra trong phi�n họp mở rộng của Bộ Ch�nh Trị h�m 11 Th�ng Hai, 1979, hai ng�y sau c�c cuộc thăm viếng của họ Đặng tại Hoa Kỳ v� Nhật Bản.� Họ Đặng n�i r� c�c nguy�n do cho cuộc tấn c�ng, v� ng�y được ấn định l� ng�y 17 Th�ng Hai (Zhang, 2005, trang 869).� C�c t�nh trạng thời tiết c� t�nh c�ch quyết định trong việc ấn định nhật kỳ (Jencks, 1979, trang 805).� M�a mưa bắt đầu trong Th�ng Tư tại Bắc Việt phải được cứu x�t đến bởi n� c� thể l�m việc chiến đấu trở n�n kh� khăn.� Trong thực tế, l� do tại sao qu�n Nam H�n đ� bị đ�nh bại bởi Ng� Quyền trong năm 938 l� v� họ đ� ph�ng ra một cuộc tấn c�ng kh�ng thực tiễn khi kh�ng cứu x�t đến m�a mưa.� Trong khi đ�, Trung Quốc ph�n đo�n rằng mặc d� Li�n Bang S� Viết c� thể ph�ng ra một cuộc tấn c�ng sơ khởi một c�ch dễ d�ng bởi c�c con s�ng Amur v� Ussuri đ�ng băng dọc bi�n giới Nga-Hoa, bắt đầu trong Th�ng Tư, họ sẽ gặp kh� khăn cho c�c cuộc h�nh qu�n bởi băng tuyết bắt đầu tan.��������

 

Bản đồ �Cuộc Ho�n K�ch� Của Trung Quốc h�m 17 Th�ng Hai, 1979

Nguồn: (Far Eastern Economic Review, March 2, 1979, p. 11)

 

������ V�o ng�y 17 Th�ng Hai, 19790, trước b�nh minh, qu�n Trung Quốc với qu�n số 8,500 người c� sự trợ lực khoảng 200 xe tăng đ� tr�n v�o Việt Nam xuy�n qua 26 địa điểm ở bi�n giới (Zhang, 2005, trang 865). 26 Sau đ�, c�c binh sĩ đ� mau ch�ng� tập họp tại 5 điểm ch�nh dẫn tới c�c thị trấn dọc theo bi�n giới Việt Nam v� triệt hạ c�c tiền đồn.� Tuy nhi�n, chiến lược biển người được chứng tỏ hữu hiệu một c�ch mạnh mẽ trong chiến tranh Triều Ti�n đ� thất bại bởi c�c đường hầm v� chiến h�o phức tạp bất ngờ được dựng l�n bởi c�c qu�n sĩ Việt Nam, sự kh�ng quen thuộc với địa h�nh n�i non, v� sự kh�ng cự của qu�n đồn tr� địa phương v� d�n qu�n; ch�nh v� thế g�y ra cả ngh�n sinh mạng tổn thất về ph�a họ. 25 V� vậy, Trung Quốc đ� thay thế Xu Shi You (Hứa Thế Hữu) bằng Yang De Zhi (Dương Đắc Ch�) l�m t�n tư lệnh, th� nhận một c�ch k�n đ�o sự thất bại của họ.� Thay đổi c�c chiến thuật, vi�n tư lệnh mới đ� ph�ng ra c�c cuộc h�nh qu�n qu�n sự hỗn hợp với ph�o binh v� c�c đơn vị thiết gi�p v� bộ binh tiến bước dần dần; họ đ� c� thể chiếm cứ 4 th�nh phố kể cả Lai Ch�u, L�o Cai, H� Giang, v� Cao Bằng sau sự giao tranh dữ dội.� V�o ng�y 27 Th�ng Hai, c�c xe tăng v� ph�o binh đ� ph�ng ra c�c sự ph�o k�ch nặng nề v�o th�nh phố c�n lại cuối c�ng, Lạng Sơn, tr�n bi�n giới, v� c�c binh sĩ Trung Quốc đ� ph�ng ra một cuộc tấn c�ng to�n lực cho đến khi Lạng Sơn ho�n to�n nằm dưới sự kiểm so�t của ch�ng.� V�i giờ sau đ�, ch�nh phủ Bắc Kinh, tuy�n bố rằng n� đ� đạt được mục đ�ch của m�nh, đ� ra lệnh triệt tho�i, v� do đ� kết th�c cuộc chiến tranh. 26

������ Cuộc chiến tranh đ� kết th�c trong một thời gian ngắn, song c�c th�nh phố ph�a bắc của Việt Nam đ� bị ph� hủy ho�n to�n bởi c�c binh sĩ Trung Quốc.� C�c khu vực n�y đ� kh�ng bị đụng chạm tới bởi c�c vụ oanh tạc của kh�ng qu�n Hoa Kỳ trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam bởi c� sự lo sợ rằng l�nh thổ Trung Quốc c� thể bị khi�u kh�ch một c�ch nhầm lẫn (Chanda, 1986, trang 357).� N�o c� ai biết được số phận của lịch sử sẽ ra sao.

������ Bất kể cuộc chiến tranh ngắn ngủi, cả hai ph�a phải chịu đựng c�c sự tổn thất nặng nề.� Đ�i ph�t thanh H� Nội loan b�o rằng c�c sự tổn thất của Trung Quốc l�n tới 42,000 người, nhưng ph�a Trung Quốc tường thuật rằng Việt Nam phải chịu tổn thất 50,000 người, v� rằng số tổn thất của họ l� 20,000 người.� Tuy nhi�n, cần ghi nhớ rằng phần lớn c�c học giả T�y Phương � theo thống k� của K. C. Chen � phần n�o đồng � rằng c�c binh sĩ Trung Quốc v� Việt Nam lần lượt g�nh chịu số tổn thất l� 26,000 v� 30,000 người chết, v� rằng số bị thương lần lượt l� 37,000 v� 32,000 người (K. C. Chen, 1979, c�c trang 113-114; Zhang, 2005, trang 866).� L� do tại sao qu�n đội Trung Quốc phải g�nh chịu c�c tổn thất nặng nề rằng họ thiếu sự tập luyện v� chuẩn bị cho sự giao tranh hiện đại với c�c lực lượng Việt Nam, c� kinh ngjiệm chiến đấu được t�ch lũy trong 25 năm.� Tuy thế, c�c nh� l�nh đạo Trung Quốc đ� lập luận rằng con số bị tổn thất kh�ng quan trọng bởi họ đ� chủ động cuộc chiến từ l�c khởi sự cho đến khi kết th�c, v� rằng v� thế họ l� c�c kẻ chiến thắng.� Tr�i với c�c lời tuy�n bố của Trung Quốc, ph�a Việt Nam n�i rằng họ đ� chỉ trải thảm đỏ cho binh sĩ Trung Quốc, c�c kẻ nhịp bước cho một sự lui qu�n vội v� bởi c� c�c sự tổn thất qu�n sự nặng nề (Kenny, 2003, trang 232).

 

V. Kết Luận



������ Liệu cuộc x�m lăng �trừng phạt� của Trung Quốc đ� th�nh c�ng như xứ n�y tuy�n bố hay kh�ng? Hay n� đ� thất bại như Việt Nam tranh luận? Trong thập ni�n 1980, c�c ph�n t�ch gia T�y Phương n�i chung c� khuynh hướng nh�n rằng ch�nh Việt Nam đ� thắng lợi, chứ kh�ng phải Trung Quốc.� Th� dụ, Segal đ� lập luận rằng cuộc x�m lăng đ� l� một sự thất bại bởi Trung Quốc đ� phải g�nh chịu nhiều sự tổn thất, v� rằng n� đ� kh�ng chỉ thất bại để buộc c�c lực lượng Việt Nam phải r�t ra khỏi Căm Bốt m� � tr�n hết -- đ� phải chịu sự tổn hại kh�ng thể x�a bỏ được cho uy t�n của n� (Segal, 1985, trang 211, c�c trang 226-227).� Chanda (1986) vạch ra rằng cuộc x�m lăng của Trung Quốc đ� đặt g�nh nặng qu�n sự v� kinh tế khổng lồ l�n Việt Nam, nhưng c�c thắng lợi th� khi�m tốn.� Thăm viếng c�c khu vực ngoại vi của cả hai nước trong thời sau chiến tranh v� nh�n c�c cảnh tượng khốn khổ, �ng ta kết luận rằng đ� l� một cuộc chiến tranh kh�ng c� b�n n�o thắng lợi (Chanda, 1986, trang 361).� T�c giả King C. Chen (1979) cũng n�i rằng Trung Quốc v� Việt Nam cả hai đều tuy�n bố chiến thắng, nhưng đặc biệt Trung Quốc đ� kh�ng đạt được mục đ�ch của n� (c�c trang 114-117).

������ Tuy nhi�n, trong thập ni�n 1990, c�c quan điểm về cuộc chiến thay đổi.� Th� dụ t�c giả Gilks (1992) đ� kết luận rằng mặc d� cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam kh�ng thể c� t�c động tức thời tr�n Việt Nam như được chủ định ban đầu, n� đ� rất th�nh c�ng về mặt chiến lược chiến tranh k�o d�i l�m kiệt quệ của Trung Quốc.� N�i c�ch kh�c, n� �p đặt một g�nh nặng qu�n sự khổng lồ tr�n Việt Nam bằng việc khiến dẫn Việt Nam phải bố tr� c�c lực lượng quy m� lớn dọc khu vực bi�n giới (Gilks, 1992, trang 223).� Gần đ�y, Zhang (2005) cũng n�i rằng cuộc x�m lăng của Trung Quốc đ� đạt được mục đ�ch của n� (c�c trang 867-868) .� Đ�ng l� Trung Quốc đ� lộ ra nhiều lỗi lầm trong trận chiến, nhưng n� đ� ở thế thượng phong từ l�c khởi đầu cho đến khi chấm dứt.� C�c lực lượng Trung Quốc đ� kh�ng chỉ gi�ng cho Việt Nam một trận đ�nh bằng việc ph�ng ra một cuộc tấn c�ng ồ ạt; n� cũng đ� kh�ng bị l�n v�o vũng lầy chiến tranh bằng việc triệt tho�i mau lẹ.� �ng cũng ước lượng rằng n� th�nh c�ng, chứng tỏ sự ti�n đo�n của Trung Quốc l� đ�ng rằng Li�n Bang S� Viết sẽ kh�ng ủng hộ Việt Nam.� Trong khi đ�, Hoa Kỳ đưa ra một sự kết �n bao tr�m cuộc x�m lăng của Việt Nam v�o Căm Bốt v� cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam.� Song, n� chỉ n�i su�ng; Hoa Kỳ c� cảm t�nh với Trung Quốc, nước đ� kiềm giữ ảnh hưởng của Li�n Bang S� Viết tại Đ�ng Nam � (Chanda, 1986, trang 360). 27 Như một � nghĩ hậu thi�n, điều quan trọng nhất l� Việt Nam bị l�m cho chảy m�u bởi cuộc chiến tranh.� V� c� chiến tranh tr�n cả hai mặt trận, Căm Bốt ở ph�a t�y v� Trung Quốc ở ph�a bắc, Việt Nam đ� kh�ng thể n� tr�nh sự mất m�t kinh tế nặng nề nhất chưa từng c�.� Giới l�nh đạo Trung Quốc c� thể kh�ng nghĩ rằng Việt Nam sẽ tức thời triệt tho�i ra khỏi Căm Bốt; trong bất kỳ trường hợp n�o, Việt Nam đ� kh�ng c� sự lựa chọn n�o ngo�i việc triệt tho�i ho�n to�n ra khỏi Căm Bốt v�o Th�ng Ch�n 1989.

������ L�m sao hai sự lượng định đối nghịch nhau n�i tr�n c� thể được giải th�ch?� Từ quan điểm ngắn hạn, cuộc x�m lăng của Trung Quốc hẳn phải l� một sự thất bại.� Kh�ng c� việc phủ nhận điều đ�, trước ti�n, chiến lược qu�n sự của Trung Quốc phải bị quy tr�ch cho số tổn thất 26,000 người bị chết trong 16 ng�y giao chiến.� Trung Quốc đ� ước lượng thấp sức mạnh qu�n sự của Việt Nam v� đ� kh�ng c� sự hiểu biết về địa h�nh n�i non của c�c khu vực bi�n giới.� Ngo�i ra, sự truyền tin giữa c�c đơn vị kh�ng hoạt động một c�ch th�ch hợp, v� sự tiếp vận v� đồ tiếp tế bị cắt đứt, ch�nh v� thế tạo ra sự kh� khăn cho c�c sự di chuyển binh sĩ, điều kế đ� dẫn đến c�c sự tranh luận từ một số qu�n nh�n trong qu�n đội Trung Quốc cho sự hiện đại h�a triệt để của qu�n đội.

������ Kế tiếp, điều c� thể được n�u ra rằng c�c lực lựong Việt Nam l�n đến 200,000 người đ� kh�ng được r�t ra khỏi Căm Bốt g� hết, m� c�n tr� đ�ng ở đ� trong 10 năm sau đ�.� Mọi việc đ� xảy ra như thường lệ đối với Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, kẻ đang thăm vi�ng Căm Bốt v�o l�c c� cuộc x�m lăng của Trung Quốc, tiếp tục c�ng việc của �ng ta như đ� tr� liệu chứ kh�ng n�i đến việc quay về trong nước (Chanda, 1986, trang 361).� C� thể đ� l� chủ định c� c�n nhắc của �ng ta để phớt lờ vuộc x�m lăng.� Thứ ba, c�ng luận thế giới trở n�n chua ch�t đối với Trung Quốc kh�ng l�u sau cuộc x�m lăng của Trung Quốc, đặc biệt g�y ra sự kh�ng thoải m�i cho c�c nước Đ�ng Nam �, Indonesia v� M� Lai, c�c nước thường lo sợ về sự b�nh trướng của Trung Quốc.� Sau c�ng, như đ� n�i trước đ�y, đ� l� sự mất m�t uy t�n quốc gia cho một nước lớn như Trung Quốc lại bị đ�nh bại bởi một nước nhỏ như Việt Nam, ch�nh v� thế bị mang tiếng l� �con hổ giấy�.

������ Song, đ� c� v�i điều Trung Quốc thu gặt được từ cuộc x�m lăng.� Như Xiaoming Zhang đ� n�u ra, Trung Quốc đ� chủ động cuộc chiến tranh như đ� hoạch định bằng việc ph�t động n� trong khu�n khổ kh�ng v� thời gian hạn chế.� Việt Nam, đọc � định của Trung Quốc một c�ch sai lầm, đ� nh�n cuộc x�m lăng như một kh�c mở m�n cho sự chế ngự bởi chủ nghĩa tập trung v�o Trung Hoa truyền thống.� V� thế, d� sau khi Trung Quốc đ� tuy�n bố một cuộc triệt tho�i ch�nh thức, Việt Nam đ� chuyển hướng d�n tộc sang một hệ thống nằm trong t�nh trạng khẩn cấp, đặt g�nh nặng tinh thần v� vật chất to lớn l�n tr�n d�n ch�ng (Kenny, 2003, c�c trang 234-235; Chanda, 1986, trang 360).� Hơn nữa, Trung Quốc đ� kh�ng từ bỏ sự l�nh đạo chiến lược của n� bằng việc tạo �p lực qu�n sự bất chợt l�n Việt Nam, ngay d� n� đ� kh�ng thể giải quyết c�c tranh chấp bi�n giới. 28

������ Trong khi đ�, tạo được sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho chế độ Pol Pot sẽ được nh�n như sự thắng lợi ngoại giao của Trung Quốc bất kể cuộc x�m lăng v�o Việt Nam.� Mặt kh�c, sự kiện rằng Li�n Bang S� Viết đ� kh�ng can thiệp v�o l�c c� cuộc x�m lăng của Trung Quốc chứng tỏ rằng Li�n S� kh�ng phải l� một đồng minh đ�ng tin cậy cho Việt Nam.� Ch�nh v� thế, Việt Nam đ� nhận thức được rằng n� kh�ng n�n lệ thuộc v�o c�c quyền lực thế giới (Kenny, 2003, trang 236), song n� đ� duy tr� c�c quan hệ chặt chẽ với Li�n Bang S� Viết cho đến khi c� sự sụp đổ của Li�n S� trong năm 1991 bởi mối quan hệ kh�ng thoải m�i của n� với Trung Quốc.

������ Kết luận, điều được tin đ� kh�ng c� kẻ chiến thắng hay người chiến bại từ cuộc x�m lăng của Trung Quốc v�o Việt Nam hồi Th�ng Hai 1979, trong � nghĩa rằng đ� kh�ng c� điều g� được giải quyết đặc biệt c� lợi cho b�n n�o từ cuộc tranh chấp giữa hai nước.� Song, kh�ng c� b�n n�o ở v�o vị thế để tiếp tục trạng th�i đối đầu ngo�i sự chiến thắng hay thất trận trong chiến tranh.� Việt Nam, nhận thức một lần nữa chủ nghĩa lấy Trung Hoa l�m t�m điểm truyền thống xuy�n qua cuộc chiến, đ� học được một b�i học � rằng n� đ� kh�ng c� sự lựa chọn n�o ngo�i việc đạt đến một sự thỏa hiệp cho vấn đề l�m sao để c�ng hiện hữu với Trung Quốc trong khi đối diện với c�c sự đe dọa khả dĩ ti�n đo�n được từ Trung Quốc (Kenny, 2003, trang 236).� Hơn nữa, n� bị buộc phải t�i duyệt ch�nh s�ch ngoại giao của n� với Trung Quốc khi c�c quan hệ Trung Quốc-S� Viết trở n�n th�n hữu v� c�c nước x� hội chủ nghĩa Đ�ng �u bắt đầu bị sụp đổ sau giữa thập ni�n 1990.� Trung Quốc cũng cảm thấy nhu cầu h�a giải với Việt Nam bởi c�c quan hệ chua ch�t của n� với Việt Nam bị lo sợ đưa đến sự căng thẳng li�n tục với c�c nước Đ�ng Nam � v� sự c� lập quốc tế n� phải đối diện sau vụ t�n s�t tại Thi�n An M�n hồi Th�ng S�u 1989.� Sau c�ng, đ� c� một sự thỏa thuận về c�c quyền lợi của cả hai nước.� Ch�nh v� thế, trong Th�ng Mười Một 1991, c�c quan hệ ngoại giao đ� được t�i lập giữa hai nước.� Tuy nhi�n kh�ng phải mọi vấn đề giữa Trung Quốc v� Việt Nam đ� được giải quyết một c�ch ho�n to�n.

������ Sau cuộc chiến, ph�a Việt Nam đ� củng cố d�n tộc chủ nghĩa của n� nhiều hơn nữa.� Sự kiện rằng khẩu hiệu �Kh�ng g� qu� hơn độc olập v� tự do� được gửi đi từ Hồ Ch� Minh về Việt Nam từ Trung Quốc hồi Th�ng Bảy 1966 (Hồ Ch� Minh, 1977, trang 308) được chấp nhận ng�y nay bởi ph�a Việt Nam như một quy luật bằng v�ng kh�ng phải l� kh�ng li�n hệ đến hiện tượng n�y.� �ng ta thường được tin rằng đ� c� một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ trong đầu khi n�i điều n�y; tuy nhi�n, thực ra n� bắt nguồn từ sự tin tưởng của �ng rằng Trung Quốc kh�ng thể được noi gương khi �ng ngắm nh�n Cuộc C�ch mạng Văn H�a mở ra v�o l�c đ�.� Hơn nữa, sau khi b�nh thường h�a c�c quan hệ trong Th�ng Mười Một 1991, Việt Nam đ� kh�ng vồn v� với c�c sự đầu tư của Trung Quốc nhưng đ� chấp nhận c�c khoản đầu tư từ Hồng K�ng v� Đ�i Loan tr�n một quy m� lớn.� L� do l�, tr�n hết Việt Nam đ� ngần ngại cho ph�p ngay cả một khoản đầu tư Trung Quốc ở quy m� nhỏ bởi sự sợ h�i của Việt Nam về sự chế ngự kinh tế của Trung Quốc (Womack, 2006, trang 216).� Một trường hợp rất th�ch đ�ng l� vụ trong Th�ng Tư 2009, Tướng V� Nguy�n Gi�p đ� gửi đến Thủ Tướng v� hội đồng li�n hệ một bức thư b�y tỏ sự chống đối mạnh mẽ của �ng với việc chấp thuận cho một c�ng ty Trung Quốc li�n can c�c quyền khai th�c quặng mỏ b�-x�t (bauxite) tại cao nguy�n ph�a t�y Việt Nam (VN Express, 10 Th�ng Tư, 2009).� Điều n�y chứng minh trong đầu �c của người Việt Nam, Trung Quốc lu�n lu�n l� một mối đe dọa với họ.� Hơn nữa, sự kiện rằng Việt Nam lo sợ một c�ch nghi�m trọng c�c sự th�m thủng mậu dịch khổng lồ đang gia tăng mỗi năm với Trung Quốc c� thể được cứu x�t trong c�ng khung cảnh. 29

������ Trong khi đ�, trong năm 2010, một gi�o sư ảnh hưởng tại Viện Đại Học Quốc Gia H� Nội đ� tuy�n x�c một lần nữa trong tập san Nghi�n Cứu Lịch Sử rằng c�c Quần Đảo Paracel v� Spratly thuộc Việt Nam bằng c�ch tr�ch dẫn quyển Phủ Bi�n Tạp Lục được viết bởi học giả nổi ti�ng trong thế kỷ thứ 18, �ng L� Qu� Đ�n (Nguyễn Quang Ngọc, 2001, c�c trang 30-38). (Vấn đề cai trị tr�n c�c h�n đảo nhiều phần kh�ng dễ để giải quyết; bởi n� li�n can đến sự tự h�o d�n tộc của cả hai nước v� c�c mỏ dầu hỏa.� Gần đ�y, ph�t ng�n vi�n cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam đ� th�c giục Trung Quốc ngừng tức thời việc vi phạm chủ quyền của Việt Nam tr�n quần đảo Ho�ng Sa[Paracel Islands] (Thanh Ni�n, 18 Th�ng Hai, 2011).

������ D� thế, một vẻ bề ngo�i của �c�c quan hệ th�n hữu v� sự tiện lợi� được duy tr� ng�y nay giữa hai nước.� Tổng B� Thư L� Khả Phi�u của Việt Nam đ� c� một cuộc họp thượng đỉnh với Giang Trạch D�n trong chuyến viếng thăm của người kể t�n trước tại Bắc Kinh từ 25 Th�ng Hai đến 3 Th�ng Ba, 1999.� Kết quả, một bản tuy�n bố đ� được loan b�o li�n quan đ�n �4 tốt [ 四好 : tứ hảo]� � tinh thần của �l�ng giềng tốt, b� bạn tốt, đồng ch� tốt, v� đối t�c tốt [ 好邻居 好朋友 好同志 好伙伴 ] � dựa tr�n �phương ch�m 16 chữ v�ng hướng dẫn cho cả hai nước chiều hướng trong thế kỷ thứ 21, tức, trường kỳ ổn định, hướng đến tương lai,� giao hảo l�ng giềng tốt, v� hợp t�c to�n diện [长期稳定 面向未來 睦邻友好 全面合作 : Trường Kỳ Ổn Định, Diện Hướng Tương Lai, Mục L�n Hữu Hảo, To�n Diện Hợp T�c], với một sự k� kết một thỏa ước về hợp t�c kinh tế v� kỹ thuật (Renmin Ribao, 26 Th�ng Hai, 1999; Trung T�m Nghi�n Cứu Trung Quốc, 2003, c�c trang 635-639).� Một c�ch đ�ng ch� �, nội dung của 16 chữ v�ng c� thứ tự kh�c nhau trong tiếng H�n v� tiếng Việt.� Trong tiếng Việt, ch�ng được đặt theo thứ tự �giao hảo l�ng giềng tốt, hợp t�c to�n diện, trường kỳ ổn định, v� hướng đến tương lai� (Womack, 2006, trang 223).� L� do tại sao ph�a Việt Nam lại đặt �giao hảo l�ng giềng t�t� l�n h�ng đầu xem ra rằng họ c� nghĩ trong đầu về sự đe dọa của Trung Quốc.� N�i c�ch kh�c, c� thể phỏng đo�n một c�ch ch�nh x�c rằng họ chỉ tin tưởng sau khi giao hảo l�ng giềng tốt c� được thực hiện th� sự hợp t�c to�n diện hay trường kỳ ổn định mới theo sau.

������ Ng�y nay, c�c nh� l�nh đạo Việt Nam n�i rằng họ tin tưởng Trung Quốc sẽ l� l�ng giềng tốt v� đ�nh gi� mối quan hệ hợp t�c bao qu�t của n� với xứ sở l� quan trọng nhất.� Tuy nhi�n, về mặt lịch sử v� địa dư, c� mọi x�c xuất rằng c�c nỗi lo sợ của Việt Nam hay c�c vấn đề kh�ng được giải quyết như đ� n�u ở tr�n sẽ gia tăng lần nữa với sự thay đổi của thời gian.� T�nh trạng n�y sẽ tiến triển ra sao từ giờ trở đi l� sự phỏng đo�n của bất kỳ ai.� Nhưng một điều th� r� r�ng: kh�ng c� t�nh huống n�o người Việt Nam sẽ nhượng bộ trước �p lực của Trung Quốc v� họ sẽ đứng ngang h�ng với Trung Quốc./-

___

CH� TH�CH

1. T�n nguy�n thủy của Pol Pot l� Saloth Sar.� �ng ta bắt đầu sử dung t�n Pol Pot khi tiến h�nh việc cộng sản h�a Căm Bốt trong Th�ng Tư 1975.

2. Trung Hoa đ� x�m lăng Việt Nam 12 lần kể cả cuộc x�m lăng năm 1979.

3. Bản th�n Mạc Đăng Dung sẽ kh�ng dễ d�ng nhượng bộ cuộc vi�n chinh của nh� Minh, nếu �ng đ� kh�ng phải đối đầu với c�c lực lượng đ�i phục hưng nh� L�.

4. Triều đại nh� L� d�ng từ ngữ �giao bang�, nhưng bắt đầu với chế độ T�y Sơn (1771-1802), từ ngữ �bang giao� đ� được sử dụng (Đại Việt Sử K� To�n Thư [TT], 1984-1986, trang 713; Ng� Th� Nhậm, 1831).� Bang Giao Hảo Thoại chứa đựng c�c văn kiện ngoại giao được gửi đến nh� Thanh từ 1789 đến 1799.

5. Một nhận x�t được đưa ra bởi một nh� nghi�n cứu cao cấp của Học Viện Quan Hệ Quốc Tế tại H� Nội.� Được tr�ch dẫn bởi Henry J. Kenny (2003, trang 234).

6. Trong tờ Far Eastern Economic Review [FEER] (ng�y 2 Th�ng Ba, 1979, trang 9), cuộc chiến tranh cũng được gọi l� Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Thứ Ba tiếp nối Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Thứ Nhất giữa Việt Nam v� Ph�p v� Cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương Thứ Nh� thường được gọi l� Chiến Tranh Việt Nam.

7. Đưa ra một l� do kh�c, n� được nhắm v�o việc chấp nhận c�c định chế v� văn h�a Trung Hoa tiền tiến.

8. �Cuộc chiến tranh x�m lược của bọn phản động Trung Quốc v� thất bại thảm hại của ch�ng�, Nh�n D�n, X� Luận đề ng�y 3-4 Th�ng Tư; Huruda (1979, c�c trang 57-58).

9. B�i viết n�y d�ng t�n gọi bằng Anh ngữ để mang một lập trường trung lập.

10. Theo truyền thống, Trung Hoa đ� nghĩ rằng bởi thế giới thuộc về họ, kh�ng c� điều như c�c bi�n giới l�nh thổ giữa c�c quốc gia triều cống, ngo�i c�c ph�n hạt h�nh ch�nh kh�ng th�i.

11. Một trong c�c nguy�n nh�n của sự tranh chấp cũng nằm nơi sự kh�c biệt giữa bản dịch sang tiếng H�n v� bản tiếng Ph�p của văn bản Hiệp Ước Thi�n T�n.

12. Về con số c�c biến cố được tuy�n bố bởi cả hai nước, xem K. C. Chen (1979, trang 50).

13. Tham chiếu Bạch Thư (1979, c�c trang 96-97) v� tờ Beijing Review (16 Th�ng S�u 1978, trang 17).� Nguồn kể sau được tr�ch dẫn lại từ Pao-min Chang, �The Sino-Vietnamese Dispute over the Ethnic Chinese�, China Quarterly, No. 90 (June 1982, trang 196).

14. Tại đại hội n�y, Đảng Lao Động Việt Nam đổi t�n th�nh Đảng Cộng Sản Việt Nam, v� t�n nước từ Việt Nam D�n Chủ Cộng H�a th�nh Cộng H�a X� Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

15. http://en.wikipedia.org/wiki/Pol_Pot.

16. B�n bờ sụp đổ, Bộ Ngoại Giao Căm Bốt đ� ấn h�nh Livre Noire (S�ch Đen) trong đ� n� lập luận rằng người d�n Căm Bốt th� gh�t cay đắng Việt Nam bởi Việt Nam lu�n lu�n ấp ủ c�c tham vọng l�nh thổ để x�m lăng Căm Bốt v� s�p nhập n� (FEER, 9 Th�ng Một, 1979, trang 19).

17. Được tr�ch dẫn lại tr�n tờ New York Times (13 Th�ng Mười Hai, 1978).

18. Về vai tr� đặc biệt của Trung Cộng trong trận đ�nh Điện Bi�n Phủ, xem Zhai (2000, c�c trang 46-49).

19. Sau n�y, ch�nh phủ Việt Nam c� kết �n Trung Quốc trong một cuộc n�i chuyện tại Geneva về việc đ� phản bội họ v� th�ng đồng với chủ nghĩa đế quốc Ph�p nhằm cản trở ba nước tại Đ�ng Dương đạt được sự độc lập ho�n to�n (Bạch Thư, 1979, c�c trang 34-40).� V�o l�c c� cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979, sử giả tiếng tăm của Việt Nam, Văn Tạo (1979, trang 2) n�i rằng �ng đ� nghi ngờ l� liệu Trung Quốc c� thực sự muốn c� sự độc lập, t�i thống nhất, v� x�y dựng x� hội chủ nghĩa của Việt Nam trong c�c cuộc thương thảo ở Geneva.

20. T�i liệu c�c cuộc n�i chuyện thượng đỉnh của Kim Il-sung v� Honecker (4), Chosun Monthly [월간조선] (Th�ng Mười Một, 1995, c�c trang 120-121).

21. Một cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Kenny với một cựu nh�n vi�n ngoại giao cao cấp Việt Nam (Kenny, 2003, trang 218).� Sau n�y, theo c�c giới chức thẩm quyền Việt Nam, Mao Trạch Đ�ng đ� th�c giục Thủ Tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng hồi Th�ng Mười Một 1972 h�y chấp nhận để Nam Việt Nam tiếp tục hiện hữu (FEER, 15 Th�ng S�u, 1979, trang 39).� Cũng xem Nguyễn Mạnh H�ng (November 1979, trang 1039).

22. Turley v� Race (1980) n�i rằng ch�nh trong Th�ng T�m, Trung Quốc, ph�t hiện được sự sắp xếp của Việt Nam để x�m lăng Căm Bốt, đ� quyết định x�m lăng Việt Nam (trang 103).

23. Trước điều n�y, Trung Quốc đ� chấp nhận h�m 12 Th�ng Mười Hai đề nghị ch�nh thức cho sự b�nh thường h�a c�c quan hệ ngoại giao được đưa ra bởi ch�nh quyền Carter h�m 4 Th�ng Mười Hai, 1978.

24. H�nh như số binh sĩ được huy động v�o l�c đ� l�n tới tổng cộng hơn 300,000 người, kể cả c�c lực lượng tăng cường ở hậu tuyến.

25. Ch�nh phủ Việt Nam đ� chuẩn bị 5 sư đo�n ch�nh quy của họ cho cuộc tấn c�ng ước định của Trung Quốc v�o v�ng ch�u thổ Bắc Việt, nhưng gần như kh�ng tung binh sĩ ch�nh quy v�o c�c trận đ�nh bi�n giới.

26. Tiến tr�nh x�m lăng của Trung Quốc đề cập ở tr�n dựa ch�nh yếu v�o t�c phẩm của Chanda (1986, c�c trang 356-357).

27. Trong thời kỳ ti�n khởi của sự b�ng nổ chiến tranh, Hoa Kỳ đ� cố gắng ghi nhận c�c sự di chuyển của binh sĩ Việt Nam qua vệ tinh th�m th�nh của n� nhưng kh�ng th�nh bởi trời nhiều m�y, nhưng Hoa Kỳ được n�i c� th�ng tin b� mật cho Trung Quốc về c�c sự di chuyển binh sĩ S� Viết dọc theo bi�n giới S� Viết - Trung Quốc.

28. Đ� c� sự tường thuật rằng đ� c� đến 6 trận đụng độ bi�n giới lớn giữa Trung Quốc v� Việt Nam trong thập ni�n 1980 (Zhang, 2005, trang 867, ch� th�ch 78).

29. Khối lượng mậu dịch năm 2010 giữa Việt Nam v� Trung Quốc l�n tới 27,283 triệu mỹ kim với sự th�m thủng mậu dịch của Việt Nam l� 12,775 triệu mỹ kim.� C�c số th�m thủng như thế tượng trưng cho một chiều hướng gia tăng khổng lồ so với 189 trtiệu mỹ kim trong năm 2001, 1,724 triệu trong năm 2004, v� 9,146 triệu trong năm 2007 (Ni�n Gi�m Văn Ph�ng Thống K� Ch�nh Phủ Việt Nam năm 2011).

----

T�I LIỆU THAM KHẢO

Brzezinski, Zbigniew. (1983). Power and Principle: Memoirs of the National Security Adviser, 1977-1981. New York: Farrar ∙ Straus ∙ Giroux.

Bui Quang Tung. (1961). Le soulvement des Soeurs Trung. Bulletin de la Soci�t� des Etudes Indochinoises, Nouvelle S�rie, Tome, 36(1).

Chanda, Nayan. (1986). Brother Enemy: The War after the War. New York: Collier Books.

Chang, Pao-min. (1980). The Sino-Vietnamese Territorial Dispute. Asia Pacific Community, 8(Spring).

Chang, Pao-min. (1982). The Sino-Vietnamese Dispute over the Ethnic Chinese. China Quarterly, 90 (June).

Chen, Jian. (1993). China and the First Indo-China War, 1950-54. China Quarterly, 133(March).

Chen, Jian. (1995). China�s Involvement in the Vietnam War, 1964-69. China Quarterly, 142(June).

Chen, King C. (1979). China�s War with Vietnam, 1979: Issues, Decisions, and Implications. Stanford: Hoover Institution Press.

Chesneaux, Jean. (1969). Le Vietnam - Etudes de politique et d�histoire. (Fujida Kazuko [藤田和子], Trans.). Tokyo: Aokishoten [靑木書店]. (T�c phẩm nguy�n thủy được xuất bản năm 1968).

Cuộc chiến tranh x�m lược của bọn phản động Trung Quốc v� thất bại thảm hại của ch�ng [The Invasion of Reactionary China and their Tragic Defeat]. (1979, April 3-4). Nh�n D�n.

Đại Nam thực lục ch�nh bi�n [ĐNTL] đệ nhất, nhị [大南寔錄正編]. (1963-1976). Tokyo: The Oriental Institute of Keio University [慶應義塾大學 語學硏究所].

Đại Nam thực lục liệt truyện sơ tập [LT, 大南寔錄列傳初集]. (1962). Tokyo: The Oriental Institute of Keio University [慶應義塾大學 語學硏究所].

Đại Việt Sử K� To�n Thư [TT, 大越史記全書]. (1984-1986). Sưu tập bởi Chen Ching-ho [陳荊和]. Tokyo: Institute for Advanced Studies on Asia [東京大學 東洋文化硏究所].

Duiker, William J. (1976). The Rise of Nationalism in Vietnam, 1900-1941, Ithaca: Cornell University Press.

Duiker, William J. (1986). China and Vietnam: The Roots of Conflict. Berkeley: Institute of East Asian Studies, University of California.

Duiker, William J. (2000). Ho Chi Minh. New York: Hyperion.

Far Eastern Economic Review [FEER].

Fourniau, Charles. (1981). La fixation de la frontire sino-Vietnamienne 1885-1896. In �tudes indochinoises: frontires et contacts dans la peninsule indochinoise. Aix en Provence: Institut d�Histoire des Pays d�Outre-Mer.

Fujiwara, Riichiro [藤原利一郞]. (1970). Vietnamese Dynasties Policies toward Chinese Immigrants. Acta Asiatica, 18.

Fujiwara, Riichiro [藤原利一郞]. (1977). Recho zenky no min tono kankei (1428-1527) [黎朝前期の明との關係 (1428-1527), The Relations with the Ming Dynasty during the Early Period of the L Dynasty, 1428-1527]. In Yamamoto Tatsuro [山本達郞] (Ed.), Betonamu chugoku kankeishi [ベトナム中國關係史, A History of Vietnam-China Relations]. Tokyo: Yamakawa Chuppansha [山川出版社].

Gilks, Annie. (1992). The Breakdown of the Sino-Vietnamese Alliance, 1970-1979. Berkeley: Institute of East Asian Studies, University of California.

Ho Chi Minh. (1977). �Selected Writings, 1920-1969.

Hood, Steven J. (1992). Dragons Entangled: Indochina and China-Vietnam War. Armonk, NY: M.E. Sharpe.

Hou Han Shu [後漢書]. (1996). Beijing: Zhonghua shuju [中華書局]. (T�c phẩm nguy�n thủy được xuất bản v�o khoảng �năm 445).

Huruda, Motoo [古田元夫]. (1979). Betonamukara mita chugoku [ベトナムからみた中國, China Seen from Vietnam].Tokyo: Nittsu Chuppan [日中出版].

Jencks, Harlan W. (1979). China�s �Punitive� War on Vietnam: A Military Assessment. Asian Survey, Vol. 19, No. 8 (August).

Kawamoto, Kunie [川本邦衛]. (1967). Betonamu no shi to rekishi [ベトナムの詩と歷史, Poetry and History of Vietnam]. Tokyo: Bungeishunju [文藝春秋].

Kawahara, Masahiro [河原正博]. (1977). Betonamu tokulitsuocho no seilitsu to Hatten (905-1009) [ベトナム獨立王朝の成立と發展 (905-1009), Formation and Development of Independent Vietnamese dynasties, 905-1009]. In ��Yamamoto Tatsuro [山本達郞]� (Ed.), Betonamu Chugoku Kankeishi [ベトナム中國關係史, A History of Vietnam-China Relations]. Tokyo: Yamakawa Chuppansha [山川出版社].

Kenny, Henry J. (2003). Vietnamese Perceptions of the 1979 War with China. Trong s�ch bi�n tập bởi Mark A. Ryan v� c�c t�c giả kh�c (Eds.), Chinese Warfighting: The PLA Experience since 1949. Armonk, NY: M.E. Sharp.

Lawson, Eugene. (1981). China�s Vietnam War and its Consequences: A Comment. China Quarterly, 88 (December).

Lee, Kuan Yew. (2000). From Third World to First: The Singapore Story: 1965-2000. New York: Harper Collins.

L� Tế Xuy�n. (1960). Việt-Điện U-Linh Tập [越甸幽靈集]. Saigon: Nh� S�ch Khai-Tri.

Ming Shi: Minh Sử [明史]. (1997). Beijing: Zhonghua shuju [中華書局]. (T�c phẩm nguy�n thủy được xuất bản năm 1739).

The Ministry of Foreign Relations, Socialist Republic of Viet Nam [ベトナム社會主義共和國外務省]. (1979). Chugoku Hakusho [中國白書, China White Paper or White Paper] (The Editorial Department of Nittsu Chuppan, Trans.). Tokyo: Nittsu Chuppan [日中出版].

Mio, Tadashi [三尾忠志]. (1988). Daikanminzoku daigokushugi to betonamu no daio [大漢民族大國主義とベトナムの對應, The Great Power Politics of the Great Han People and the Vietnamese Response to It]. In Mio Tadashi [三尾忠志] (Ed.), Indoshina o meguru koksaikankei [インドシナをめぐる國際關係, International Relations over Indochina]. Tokyo: Nihon Koksaimondai kenkyujo [日本國際問題硏究所].

Ng� Th� Nhậm [吳時任]. (kh�ng ni�n kỳ xuất bản). Bang Giao Hảo Thoại [邦交好話]. Viện Nghi�n Cứu H�n N�m, VHv. 1831.

Nguyễn Mạnh H�ng. (1979). The Sino-Vietnamese Conflict: Power Play among Communist Neighbors. Asian Survey, Vol. 19, No. 11(November).

Nguyễn Quang Ngọc. (2001). Gi� trị c�c trang sử liệu viết về Ho�ng� Sa, Trường Sa trong s�ch Phủ Bi�n Tạp Lục [The Value of the Materials on Hoang Sa and Truong Sa in the Phủ Bi�n Tạp Lục]. Nghi�n cứu lịch sử, 5(September-October).

Nguyễn Tr�i [阮廌]. (1972). Ức-Trai Tập. Quyển 1. S�ig�n: Phủ Quốc-Vụ-Khanh Đặc-Tr�ch Văn-H�a Xuất Bản, 1972.

O�Harrow, Stephen. (1979). Nguyễn Tr�i�s B�nh Ng� Đại C�o of 1428. Journal of Southeast Asian Studies, 10-1(March).

Ozawa, Kazuo [大澤一雄]. (1977). Recho chuky no min∙sin tono kankei (1527-1682) [黎朝 中期の明淸」との關係 (1527-1682), The Relations with the Ming and Qing Dynasties during the Middle Period of the L� Dynasty, 1527-1682]. In Yamamoto Tatsuro [山本達郞] (Ed.), Betonamu chugoku kankeishi [ベトナム中國關係史, A History of Vietnam-China Relations]. Tokyo: Yamakawa Chuppansha [山川出版社].

Qing Shi Gao [淸史稿]. (1998). Beijing: Zhonghua shuju [中華書局].

Phan Huy L�. (1998). T�m về cội nguồn [Search for the Historical Origin], tập 1. H� Nội: Thế Giới Publishers.

The Record of the Summit Meeting between Kim Il Sung and Honecker (4) [김일성-호네커 정상회담 기록 (4)]. (1995, November). Wolganchosun [월간조선, Chosun Monthly], November 1995.

Renmin Ribao [人民日報].

Ross, Robert S. (1988). The Indochina Tangle: China�s Vietnam Policy, 1975-1979. New York: Columbia University Press.

Segal, Gerald. (1985). Defending China. Oxford: Oxford University Press.

Shihanouk, Norodom. (1980). War and Hope: The Case for Cambodia. New York: Pantheon Books.

Song Shi: Tống Sử �[宋史]. (1995). Beijing: Zhonghua shuju [中華書局]. (T�c phẩm nguy�n thủy được xuất bản năm 1345).

Suzuki. Chusei [鈴木中正]. (1966). Sin ∙ betonamu kankei no seilitsu [ 越南關係の成立 , Normalization of the Relationship between the Qing and Vietnam]. Aichidaikaku bungauronso, 33∙34 [愛知大學文學論叢, 33 34 合倂號].

Suzuki, Chusei [鈴木中正]. (1977). Recho goki no sin tono kankei (1682-1804) [黎朝後期の淸との關係 (1682-1804), The Relations with the Qing Dynasty during the Later Period� of the L Dynasty, 1682-1804]. In Yamamoto Tatsuro [山本達郞] (Ed.), Betonamu Chugoku Kankeishi [ベトナム中國關係史, A History of Vietnam-China Relations]. Tokyo: Yamakawa Chuppansha [山川出版社].

Takeda, Roji [竹田龍兒]. (1977). Guencho shoki no sin tono kankei (1802-1870) [阮朝初期の淸との關係 (1802-1870),The Relations with the Qing Dynasty during the Early Period of the Nguyen Dynasty, 1802-1870]. In Yamamoto Tatsuro [山本達郞] (Ed.), Betonamu Chugoku Kankeishi [ベトナム中國關係史, A History of Vietnam-China Relations]. Tokyo: Yamakawa Chuppansha [山川出版社].

Taylor, Keith W. (1983). The Birth of Vietnam. Berkeley: University of California Press.

Thanh Ni�n. (2011, February 18).

Tretiak, Daniel. (1979). China�s Vietnam War and its Consequences. China Quarterly, 80 (December).

Trung T�m Nghi�n Cứu Trung Quốc. (2003), Quan Hệ Việt Nam - Trung Quốc, những sự kiện 1991-2000. H� Nội: NXB Khoa Học X� Hội.

Trương Bửu L�m. (1968). Intervention Versus Tribute in Sino-Vietnamese Relations, 1788-1790. In Fairbank, John K. (Ed.), The Chinese World Order: Traditional China�s Foreign Relations. Cambridge, Mass.: Harvard University Press.

Turley, William S. & Race, Jeffrey. (1980). The Third Indochina War. Foreign Policy, 38 (Spring).

Văn Tạo. (1979). Chiến Thắng Lịch Sử của D�n Tộc Việt Nam chống Bọn Trung Quốc X�m Lược [The historic Victories of the Vietnamese People against the Chinese Invasions], Nghi�n cứu lịch sử, 2 (Th�ng Ba-Th�ng Tư).

Vietnam Government Statistic Office. (2011). Yearbook 2011.

Việt Sử Lược [越史略]. (1936). Shanghai: Shangwuin shuguan [商務印書館]. (Kh�ng ghi ni�n đại xuất bản của t�c phẩm nguy�n thủy).

VN Express. (2009, April 10).

Wikipedia. (n.d.). Pol Pot. Retrieved February 1, 2011, from http://en.wikipedia.org/wiki/Pol_Pot.

Womack, Brantly. (2006). China and Vietnam: The Politics of Asymmetry. Cambridge: Cambridge University Press.

Wolters, O.W. (1979). Historians and Emperors in Vietnam and China. In A. Reid & D. Marr (Eds.), Perceptions of the Past in Southeast Asia. Singapore: Heinemann Educational Books Ltd.

Woodside, Alexander. (1971). Vietnam and Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of Nineteenth Century. Cambridge, Mass: Harvard University Press.

Yu, Insun [劉仁善]. (1994). Vietnam wonjo-ui seonglip-gwa �daenam� jegukjilseo [베트남 阮朝 성립과 �大南�帝國秩序, The Founding of the Nguyen Dynasty and �Dai Nam� World Order]. Asia munhwa, 10 [아시아문화, 10].

Yu, Insun [劉仁善]. (2006). Le Van Huu and Ngo Si Lien: A Comparison of their Perception of Vietnamese History. In Tran Nhung Tuyet & A. Reid (Eds.), Viet Nam: Borderless Histories. Madison: University Wisconsin Press.

Yamamoto, Tatsuro [山本達郞]. (1943). Annanga dokuritsukoky o keiseishitaru no kenkyu [安南が獨立國を形成したる過程の硏究, A Study on the Process of Getting a Annamese Independence]. Toyo bunka kenkyujo kiyo, 1 [東洋文化硏究所紀要 1].

Yamamoto, Tatsuro [山本達郞]. (1950). Ananshi kenky I [安南史硏究 I, A Study on the Annamese History I]. Tokyo: Yamakawa Chuppansha [山川出版社].

Zhai, Qiang. (1992). China and the Geneva Conference of 1954. China Quarterly,129 (March).

Zhai, Qiang. (2000). China and the Vietnam Wars, 1950-1975. Chapel Hill: University of North Carolina Press.

Zhang, Xiaoming. (2005). Chinas 1979 War with Vietnam: A Reassessment. China Quarterly, 184(December).

_____

Nguồn: YU Insun, The 1979 Sino-Vietnamese War from the Perspective of the Historical Relations between the Two Countries, The Journal of Northeast Asian History, Volume 8, Number 1 (Summer 2011), c�c trang 75-121.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

05.05.2014

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2014