O. W. Wolters 

 

 

TƯỞNG NHỚ MỘT VỊ QUAN TR� THỨC:

ĐỌC MỘT SỐ B�I THƠ

CỦA NGUYỄN PHI KHANH

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

 

    

     Ba t�nh huống đ� cứu vớt Nguyễn Phi Khanh (?1356 - ?1428) khỏi sự l�ng qu�n.1 (*a)  Cha vợ của �ng l� Trần Nguy�n Đ�n (1325-1390), thuộc gi�ng d�i uy�n th�m của gia tộc họ Trần c� g�p phần v�o việc t�i lập triều đại sau một cuộc tiếm ng�i ngắn ngủi năm 1369.2   Con trai của �ng, Nguyễn Tr�i (1380 � 1442), đạt được danh tiếng bất hủ như một chiến hữu nhiều t�i năng v� trung th�nh của L� Lợi trong suốt cuộc kh�ng chiến chống lại qu�n đội nh� Minh v� trong sự th�nh lập triều đại nh� L� năm 1428.  Ho�n cảnh thứ ba l� t�nh trạng một số đ�ng kể c�c b�i thơ H�n-Việt của Nguyễn Phi Khanh c�n tồn tại,3 được m� tả l� chua ch�t,4 c�c b�i thơ được viết theo c�c nguy�n tắc của thể thơ Đường luật mới.  Ch�ng ta kh�ng biết nhiều hơn bao nhi�u về �ng ta.  �ng được nhớ trong một b�i thơ rằng �ng đ� thi đậu kh�a thi của Nh� Nước v�o năm 1374,5 v� sau đ� xem ra �ng đ� trở th�nh một vi�n chức.6  Nhưng ở l�c n�o đ� giữa c�c năm 1374 v� 1380 �ng đ� dạy k�m v� kết h�n với c� Trần Thị Th�i, con g�i của Trần Nguy�n Đ�n, v� nh� l�nh đạo họ Trần bị mất mặt, vua Nghệ T�n (1370-1394), đ� từ chối kh�ng tuyển dụng �ng.7  Nguyễn Tr�i, đứa con trai thứ nh� của cuộc h�n nh�n n�y, được sinh v�o năm 1380.8   Sau năm 1377, khi người Ch�m đe dọa kinh đ� v� L� Qu� Ly, một th�n nh�n bởi h�n th� với gia tộc cầm quyền, đ� kiểm so�t ch�nh quyền, Nguy�n Đ�n lấy l�m lo sợ v� r�t về nơi ẩn dật ở v�ng qu� tại C�n Sơn, trong khu đồi n�i miền bắc của đồng bằng s�ng Hồng.  �ng Khanh giờ đ�y đ� trở th�nh một th�y dậy học tại l�ng Nhị Kh� nằm c�ch khoảng mười lăm dặm ph�a nam kinh đ� Thăng Long.  �ng tiếp tục bị gạt bỏ ra khỏi quan  trường cho đến năm 1401, khi L� Qu� Ly lật đổ nh� Trần v� thay thế n� bằng một triều đại của ch�nh �ng ta, được gọi l� nh� Hồ.  �ng Khanh đ� giữ một v�i chức vụ dưới chế độ nh� Hồ. �ng bị bắt giữ bởi qu�n đội nh� Minh v� chết tại Trung Hoa.

 

     Trong b�i khảo cứu n�y t�i sẽ thảo luận mười bốn b�i thơ của �ng.  C�c bản dịch sẽ được t�m thấy nơi c�c trang 90-96 [của nguy�n bản].  T�i chia c�c b�i thơ ra l�m ba nh�m: �A�, �B�, v� �C�.10  T�i tin rằng hai nh�m đầu ti�n đ� được viết ra khi �ng Khanh ở ngo�i quan trường.  Trong b�i thơ số I, �ng đề cập đến một đứa con trai, đang ở nh� v� hiển nhi�n c�n trẻ.  B�i thơ n�y, c� lẽ được viết v�o những năm đầu ti�n trong đời sống vợ chồng của �ng Khanh,11 đề gửi cho quan Kiểm Ch�nh của Hồng Ch�u, t�n l� Nguyễn H�n Anh, người em [hay anh?] của �ng v� l� một quan chức, v� t�m trạng kh�ng vui của b�i thơ n�y th� tương tự như t�m trạng của c�c b�i thơ thứ VII, VIII, v� IX, cũng đề gửi cho anh (em) của �ng.12 Trong b�i thơ thứ IV, �ng đề cập đến sự thất vọng li�n tục của m�nh sau khi đ� đỗ đạt v�o năm 1374; b�i thơ n�y chắc chắn được viết ra trước năm 1401.  B�i thơ thứ V, một b�i thơ buồn ch�n kh�c, được đề gửi cho cha vợ của �ng, Trần Nguy�n Đ�n, v� do đ� đ� được viết trước khi c� sự từ trần v�o năm 1390 của người kể t�n sau.  B�i thơ thứ II đề cập đến cư sở bị bỏ hoang của cha vợ �ng tại kinh đ� v� hẳn đ� được viết ở l�c n�o đ� sau năm 1377, khi Trần Nguy�n Đ�n r�t lui về C�n Sơn.13 Kh�ng c� b�i thơ n�o trong nh�m �A� v� nh�m �B� l� c� thể c� nhật kỳ ch�nh x�c, nhưng ch�ng c� thể được quy kết v�o hai thập ni�n cuối c�ng của thế kỷ thứ mười bốn.14   C�c b�i thơ trong Nh�m �C� được viết khi �ng Khanh phục vụ Hồ Qu� Ly trong khoảng giữa c�c năm 1401 v� 1407.  Trong c�c b�i thơ thứ XI, XII, v� XIII �ng tự giới thiệu m�nh l� một quan chức, v� c�c b�i thơ thứ X v� XIV ở trong c�ng một thi hứng ch�o mừng như thế.15   

 

     T�i đề nghi đọc c�c b�i thơ n�y c�ng với nhau v�, trong c�ch n�y, cố gắng giải th�ch một số �t�c dụng văn chương� nhằm n�ng cao tầm quan trọng của ch�ng như c�c c�ng tr�nh thi ca.  N�i về �c�c t�c dụng văn chương� t�i muốn n�i đến c�c c�ng cụ như c�ch n�i b�ng gi�, c�c � nghĩa tương đương, c�c sự so s�nh v� tương phản chủ � để l�m nổi bật hơn, v� c�c ngụ � trong t�i liệu điển t�ch thuộc văn chương Trung Hoa.  T�i cũng ch� � đến đến sự chuyển biến của bốn cặp hai c�u một trong từng b�i thơ n�y.  Nhiều t�c dụng trong số n�y chắc chắn l� kết quả của sự vận dụng dễ d�ng c�c quy ước thi ca v� c�c đoạn văn Trung Hoa từ khối lượng rộng lớn c�c t�c phẩm của Trung Hoa.

 

     Nhưng t�i cũng c� một mục đ�ch đặc biệt khi đọc c�c b�i thơ n�y c�ng một l�c với nhau.  T�i muốn cứu x�t xem l� liệu c�ch thức n�y c� tạo ra � nghĩa hay đẹp hơn cho sức mạnh của ng�n từ được d�ng trong c�c b�i thơ thuộc nh�m thứ ba (Nh�m �C�) hay kh�ng.  Những b�i thơ thuộc nh�m n�y, được viết khi �ng Khanh l� một quan chức, mang vẻ trang trong v� tẻ nhạt hơn khi đọc ch�ng ri�ng rẽ.

 

     T�i sẽ bắt đầu với bản dịch của ba b�i thơ đầu ti�n trong Nh�m �A� (c�c b�i thơ I, II, v� III), được viết khi nh� thơ ở ngo�i quan trường.  Kh�ng bản dịch n�o cố � muốn kh�ac cho m�nh một vẻ thanh nh�, v� t�i kh�ng thể tuy�n bố rằng ch�ng l�c n�o cũng ch�nh x�c một c�ch đ�ng tin.  C�c t�c giả kh�c sẽ c� thể x�c định nhiều ngụ � hơn nữa trong văn chương Trung Hoa v� c�c c�ng cụ thi ca Trung Hoa đ� gi�p �ng Khanh ph�t triển một sự khuếch đại c�c t�c dụng văn chương, v� họ nhiều phần cũng sẽ khuyến c�o c�c sự t�m đọc nhiệm � dựa tr�n c�c bản dịch đ� được tu chỉnh.  T�i hy vọng đạt được kh�ng g� kh�c hơn một sự đ�ng g�p khi�m tốn cho sự nghi�n cứu về nh� thơ gần như v� danh n�y.

 

     Bốn đ�i, cặp c�u thơ trong c�c b�i số I, II, III trải ra với một sự đồng nhất gần như nhất định.  Từng đ�i c�u thơ n�y tiếp nối đ�i c�u thơ kia, ch�ng mở ra một t�nh huống [hay giới thiệu địa điểm], (situation), một thực cảnh (scene), một biến cố xảy ra (happening) v� một sự nghiệm kết (reflection) [Bốn đ�i c�u thơ trong b�i thơ Đường luật lần lượt được gọi l� Ph� đề- Thừa, Thực, Luận v� Kết, trong tiếng Việt m� với sự diễn dịch bằng c�ch từ ngữ ghi tr�n (situation, scene, happening, v� reflection, e rằng t�c gỉả chưa lột tả được một c�ch x�c đ�ng � nghĩa v� nội dung của bốn đ�i c�u thơ trong một b�i thơ Đường đ�ng thi luật, ch� của người dịch].  T�nh huống trong đ�i c�u thơ đầu ti�n l� t�nh huống của nh� thơ; �ng th� c� đơn v�o thời khắc thế lương của buổi b�nh minh trong m�a thu.  Chức năng của c�c c�u thơ thứ nh� đ�ng được xem x�t kỹ lưỡng.  C�c c�u thơ n�y xem ra ph� b�y ra trước sứ đ�p ứng của nh� thơ v� c� chủ đ�ch khuếch đại t�nh huống c� nh�n của một kẻ c� đơn; ch�ng giống như c�c sự biểu lộ cho sự than th�n tr�ch phận.  Trong b�i thơ thứ I, t�c giả đang k�u gọi đến sự ch� � đến c�c sự chuyển động của �ng bằng c�ch đề cập đến �chiếc ghế trường k�� v� �c�nh cửa�.  Trong c�u thớ thứ nh� của b�i số II, �ng đang suy nghĩ về sự di chuyển của người anh (em) của �ng trong cơn gi� b�nh minh.  Đ�m h�m trước �ng đ� n�i chuyện trong �một c�ch vội v�, nhưng giờ đ�y �ng đơn c�i.  �Khung cửa sổ� chế ngự c�u thơ thứ nh� trong b�i số III.  T�nh huống trong c�u thơ thứ nhất l� sự gi�n đoạn bởi tiếng chu�ng xen v�o sự tự do của kẻ  nằm mơ, v�, trong c�u thơ thứ nh�, �ng nhận thức ra rằng m�nh c�n bị c�ch biệt ra khỏi cả mặt trời nữa.  C�c c�u thơ thứ nh� giống như c�c lời ph�t biểu c� nh�n về t�nh huống c� độc của �ng.

 

     C�c đ�i c�u thơ thứ nh� [hai c�u thực, ch� của người dịch], bao giờ cũng ở thế đ�i nhau, m� tả một hoạt cảnh, tức sự giam h�m nh� thơ.  Trong b�i thơ số I, �ng nh�n qua khung cửa sổ kh�ng thấy g� xa hơn c�c đường phố l�n cận khi tiếng chu�ng dổ b�o hiệu b�nh minh v� c�c con ngựa bồn chồn giặm ch�n trước trong gi�.  Trong b�i thơ s� II đ�i mắt đăm đăm của �ng chỉ hướng xa t�t đến kinh đ� nằm phương bắc ng�i nh� �ng, cho d� tr�i tim nhớ qu� mang �ng trở về v�ng n�ng th�n ở phương đ�ng.  C� thể �ng đang nghĩ đến đứa con trai nhỏ tuổi của �ng, Nguyễn Tr�i, tại nơi tr� ẩn của Trần Nguy�n Đ�n, thuộc C�n Sơn {thuộc Hải Dương ng�y nay, ch� của người dịch], giữa c�c năm 1385 đến 1390, hay �ng c� thể đơn giản nghĩ đến �ng Trần Nguy�n Đ�n ở nơi tr� ẩn; đ�i c�u thơ kế tiếp trong b�i thơ n�y để chỉ dinh cơ bị bỏ hoang của cha vợ �ng tại kinh đ�.  Trong b�i thơ số III, ng�n từ biểu thị sự bất động của nh� thơ khi �ng miễn cưỡng thức dậy để thấy m�nh giẫy dụa trong một cảnh tượng bị đ�ng khung, tượng trưng bởi �chiếc gối�, �giấc ngủ�, �hương trầm� v� �chỗ ngồi�.  Nh� thơ bị giam h�m lấy l�m lo �u.

 

     C�c đ�i c�u thơ thứ ba [hai c�u luận, ch� của người dịch], bao giờ cũng ở thể đ�i nhau, ph�t lộ những g� đang xảy ra trong cảnh tượng chỉ t�an l� sự bộc ph�t nỗi sầu muộn của thi sĩ.  Giờ đ�y thời khắc ban ng�y đang diễn ra v� niềm c� đơn trở n�n nhức nhối hơn.  Trong b�i thơ số I, �ng �bị bệnh�, v� cơn bệnh của �ng c� mối quan hệ với việc viết c�c vần thơ sầu cảm để l�m ngu�i ngoai ho�n cảnh của m�nh.  Sự việc xảy ra trong đ�i c�u thơ thứ ba c�a b�i thơ số II l� một �m vang của sự tương phản với đ�i c�u thơ thứ nh� giữa �phương bắc� hữu h�nh v� �phương đ�ng� v� h�nh.  �ng đ�u c� thể l�m g� kh�c hơn việc cảm thấy buồn b� khi �ng suy nghĩ rằng c�c con chim �c l� đang t� t�c nơi dinh cơ trống vắng của cha vợ �ng tại kinh đ�; c�c con chim �c l� kh�ng c�n cất cao giọng để đ�n kh�ch.  �ng cũng buồn rầu khi nh�n thấy đ�n ngỗng bay đi đến c�c nơi m� �ng kh�ng thể thăm viếng.  C�c con chim �c l� im tiếng v� c�c con ngỗng ra đi l� c�c ẩn dụ theo ước lệ của Trung Hoa để gợi sự ch� � đến nỗi c� độc của một người.  Trong b�i thơ số III, c�c c�nh l� rơi trong vườn nh� �ng v� c�c con ngỗng ra đi l�m cho �ng phiền muộn.  Khu vườn nh� l� một dấu hiệu bổ t�c cho sự giam h�m của �ng.

 

     C�c đ�i c�u thơ cuối c�ng [hai c�u kết, ch� của người dịch] l� c�c sự nghiệm kết đa sầu đa cảm về t�nh huống, thực cảnh, v� c�c biến cố xảy ra của nh� thơ.  Trong b�i thơ số I, nơi �chiếc cổng qu� m�a� cũng c�n l� một dấu hiệu kh�c của sự giam h�m, �ng bảo con trai của �ng qu�t sạch l� m�a thu nhưng vẫn c�n phải đợi sự quay về của người anh (em) của �ng để n�i chuyện th�m nữa.  Trong b�i thơ số II, �ng c� vẻ sắp đối chiếu c�c hoa quả của v�ng qu�, l� điều m� người anh (em) của �ng sẽ nh�n thấy, với �c�c dấu vết c� quạnh� của ch�nh �ng; �bị tr�i buộc� l� một phương c�ch mạnh mẽ để tăng cường sự nghiệm kết  rằng �ng bị giam h�m.  Trong b�i thơ số III, �ng d�ng uyển từ cho sự v� vọng của �ng bằng c�ch cho hay rằng �ng đang đọc lại một bản văn Trung Hoa cổ xưa.  Đại Đ�ng (Ta-tung), một trong những b�i thơ ngắn trong Thi Kinh (Shih-ching), theo truyền thống, được tin l� sự biểu lộ nỗi phiền muộn của �ng T�an (Lord of T�an), trong đ� �ng cho hay l� �ng �ph�t bệnh� khi so s�nh ch�nh quyền tốt đẹp trong c�c thời đại nh� Chu trước đ�y với hiện tại.  C�c nh� qu� tộc ở phương t�y, c� nghĩa c�c trượng phu, đang nắm giữ chức vụ, trong khi những người ở phương đ�ng đang bị khổ đau.  Đ�i c�u thơ thứ ba trong b�i thơ số III n�u l�n khả t�nh rằng phong th�i của nh� thơ gắn liền với những g� xảy ra tại Việt Nam trong suốt những năm �ng bị loại ra ngo�i quan trường.

 

     Trong c�u thơ thứ s�u của b�i số I, nguy�n l� một b�i thơ về m�a thu, căn nguy�n của �cơn bệnh� của �ng vẫn chưa biến mất.  Nhan đề của b�i số IV cho ta biết rằng �ng �bị bệnh trong m�a thu�.  Thu l� m�a bất biến của sự bất b�nh trong c�c b�i thơ thuộc Nh�m �A� v� r� r�ng l� m�a m� nh� thơ �nhuốm bệnh�.  T�nh huống trong đ�i c�u thơ đầu ti�n của b�i số IV th� đ�y ắp c�c đặc điểm kh�ng vui của m�a thu: �gi� r�t�, �cơn r�t mới về�, v� �l�n gi� lạnh buốt�.  Trong c�u thơ thứ nh�, l�n gi� lạnh đang khuấy động x�c cảm, v� đ�y l� một th� dụ kh�c về chức năng của c�c c�u thơ thứ nh� trong việc cung cấp � kiến c� nh�n về c�u thơ thứ nhất.  Thời tiết khắc nghiệt trong c�u thơ n�y trở th�nh cơ hội cho nh� thơ để đ�p ứng một c�ch tủi th�n về t�nh huống của �ng.  Như xem ra �ng sẽ l�m như thế trong c�c c�u thơ thứ nh� kh�c trong nh�m n�y.  Thực cảnh trong đ�i c�u thơ thứ nh� nằm trong suy tư của �ng; �ng nhớ lại rằng �ng đ� thi đỗ trong năm 1374 khi Trần Nguy�n Đ�n c� ảnh hưởng s�u xa trong Nh� Nước.  Ưu tư về qu� khứ, một h�nh th�i kh�c của sự bất động, th� tương đương với sự giam h�m cụ thể tại c�c đ�i c�u thơ kh�c.

 

     Biến cố xảy ra trong đ�i c�u thơ thứ ba mang h�nh thức của một sự so s�nh buồn thảm giữa c�c niềm hy vọng trước kia của nh� thơ với �cơn bệnh� hiện thời của �ng.  �ng t�y thuộc v�o Trần Nguy�n Đ�n, được tượng trưng bởi nh�n vật �Han Ch�i�, một quan chức-học giả nổi tiếng tại Trung Hoa hồi thế kỷ thứ mười một.  Han Ch�i đ� phục vụ ba đời vua, v� nh� học giả Trần Nguy�n Đ�n cũng như thế.  Cả hai đều xuất th�n từ c�c gia đ�nh gi�u c�.  Nhưng l� do, t�i tin như thế, tại sao Han Ch�i lại tượng trưng cho Trần Nguy�n Đ�n l� v� �ng Khanh, kẻ tự xem m�nh l� một �đệ tử� 16 của Trần Nguy�n Đ�n, đ� đọc những b�i thơ tưởng nhớ của Vương An Thạch (Wang-An-shih) ca ngợi Han Ch�i.  Họ Vương nhớ lại rằng, khi c�n trẻ, thời thực tập trong cuộc sống quan trường của �ng diễn ra dưới quyền của Han Ch�i.  �ng Khanh đ� hy vọng c� c�ng số phận may mắn như thế dưới sự bảo trợ của Trần Nguy�n Đ�n.  Trong đ�i c�u thơ thứ ba của b�i thơ số IV, �ng Khanh tiến tới việc so s�nh m�nh với Tư M� Tương Như (Ssu-ma Hsiang-ju), thuộc thế kỷ thứ nh� trước C�ng Nguy�n, kẻ đ� chuốc lấy sự chế ngạo khi �ng ta cuới con g�i của một nh� gi�u c�.  H�n nh�n của �ng Khanh đ� l�m hại chức nghiệp của �ng như một �ng quan, v� �căn bệnh� của �ng tượng trưng cho sự bất m�n.  �ng Khanh xem ra sắp �m chỉ đến Han Ch�i v� Tư M� Tương Như để ta than rằng: �T�i đ� từng d�m hy vọng trở n�n danh tiếng, nhưng giờ đ�y, t�i thật đ�ng thương biết bao!� (*b)

 

     Sự nghiệm kết nơi đ�i c�u thơ sau c�ng đạc biệt chua ch�t v� giải th�ch l� do tại sao �ng bất m�n.  Mọi người quay lưng lại với �ng.  Sự gạt bỏ �ng ra khỏi thế sự, giờ đ�y trở n�n c�ng khai, được m� tả bằng ng�n ngữ của m�a trong năm, theo đ�, nỗi phiền muộn của �ng đ� được diễn tả ra sao trong c�c b�i thơ số I, II, v� III.  Trong b�i thơ số IV, gi� tuyết đang trở th�nh đ�, v� �ng nằm ủ rũ tr�n giường v� đếm c�c canh th�u sau c�ng của buổi đ�m.  Trong đ�i c�u thơ thứ ba của b�i số III, �ng đếm đ�n ngỗng bỏ đi khi đang lau nước mắt.

 

     T�i tin rằng ng�n ngữ của sự giam h�m ruồng bỏ v� sự nghiệm kết v� vọng trong bốn b�i thơ n�y c� thể được xem như c�c c�ng cụ thi ca để diễn tả sự lo �u của �ng Khanh rằng �ng kh�ng c�n được ph�p để trở th�nh một quan chức, v� đ�y l� l� do tại sao �ng đ� đề cập tới b�i thơ Đại Đ�ng (Ta-tung) trong c�u cuối của b�i th� III để li�n kết ch�nh �ng với �nỗi đau của Ng�i T�an.  �Nỗi đau� của �ng Khanh l� một ẩn dụ cho sự �bất m�n� của �ng rằng �ng kh�ng c�n được ph�p trở th�nh một quan chức v�o thời điểm khi m� c�c chức vụ bị nắm giữ bởi những kẻ chẳng ra gi.

 

     Giờ đ�y t�i sẽ khảo s�t c�c b�i thơ V, VI, VII, VIII v� IX trong nh�m �B�.  Những b�i thơ n�y cho ch�ng ta hay biết �t điều về Việt nam trong những năm �ng Khanh ở ngo�i quan trường.  C�c b�i VII, VIII v� IX tạo th�nh một li�n kh�c gồm ba b�i; ch�ng l� phần họa thơ của �ng Khanh trong một cuộc trao đổi thơ văn với người anh em của �ng, một quan chức, v� �ng Khanh đ� d�ng c�ng một vần đ� gieo bởi người anh (em) của �ng.

 

     Ch�ng ta c� thể bắt đầu bằng việc quan s�t rằng một số hiệu ứng văn chương trong c�c b�i thơ thuộc nh�m �A� đ� t�i xuất hiện.  Trong c�u thơ thứ nhất của b�i I v� c�u thứ nh� của b�i V, c�ng th�nh ngữ đ� được d�ng để chỉ �sự kh�ng h�i l�ng�.  Trong c�u thứ tư của b�i III �ng đang �lo �u�, v� trong c�u thứ t�m của b�i VII, �ng �quan t�m một c�ch nghi�m trọng�.  Trong c�u thứ s�u của b�i I v� b�i IV, �ng �bị bệnh�, v� �ng vẫn c�n bị �bệnh� nơi c�u t�m của b�i V.  �M�a thu l� m�a xuất hiện trong mọi b�i thơ của nh�m �A�, v� trong c�c c�u thơ thứ bẩy của c�c b�i VII, VIII, v� IX thời tiết vẫn trở lại m�a thu hay gần cuối năm.  Trong c�u thứ t�m của b�i II, c�u thứ bẩy của b�i III v� c�u thứ bẩy của b�i IV, nh� thơ ở trong t�nh trạng v� vọng, trong khi ở c�u bẩy của b�i VI �ng kh�ng thể l�m việc cho triều đ�nh.  Trần Nguy�n Đ�n được �m chỉ trong trong c�u thứ năm của b�i II v� c�c c�u thứ tư v� thứ năm của b�i IV; b�i thứ V được l�m để gửi cho �ng ấy, v� �ng cũng xuất hiện trong c�u cuối của b�i VIII v� c�c c�u thứ tư v� thứ t�m của b�i IX.  Trong tất cả c�c c�u thơ n�y �ng Trần Nguy�n Đ�n c� c�c sự li�n hệ buồn rầu.

 

     Giờ đ�y t�i sẽ chấp nhận c�ch thức đọc c�c b�i thơ n�y c�ng l�c với nhau.

 

     T�nh trạng trong hai c�u thơ đầu ti�n của cặp đ�i đầu ti�n trong c�c b�i V-VIII r� r�ng g�y bối rối: d�n ch�ng th� khổ sở v� c�c quan chức l� c�c kẻ yếu k�m [t�i đức].  Trong c�u đầu ti�n của b�i IX, h�an cảnh một lần nữa l� t�nh trạng của nh� thơ đứng ngo�i quan trường.  Trong c�u thứ năm của b�i II �ng c� thể nh�n thấy mặt trăng mờ nhạt tr�n dinh thự bỏ hoang của Trần Nguy�n Đ�n (*c), v� trong c�u thứ nhất của b�i IX �ng đang sống gần s�t ch�nh dinh thự đ�.

 

     T�i nghĩ rằng sự đau khổ của quần ch�ng v� về c�c quan chức yếu k�m được cố t�nh n�u ra như c�c th� dụ về một ch�nh quyền tồi tệ, v� t�i được hướng dẫn bởi chức năng của c�c c�u thứ nh� tương tự như c�c c�u thứ nh� trong nh�m �A�.  Trong cả hai trường hợp, ch�ng b�n rộng về t�nh trạng trong c�u thứ nhất bởi việc cung cấp c�c sự đ�p ứng c� nh�n.  Những g� t�i xem l� c�c sự biểu lộ cho sự tủi th�n nơi c�c c�u thứ nh� của nh�m �A� trở th�nh c�c � kiến c� nh�n v� chua ch�t hiển nhi�n về đời sống quan trường.  Trong b�i VI nh� thơ tra vấn một c�ch b�ng bẩy l� liệu giới gi�u c� nh�n thấy tương lai nơi đ�u hay kh�ng khi m� triều đ�nh đang trong cơn rối loạn.  Trong b�i VII �ng đ� quở tr�ch một c�ch gi�n tiếp c�c người gi�u c� khi �ng than v�n rằng kh�ng gia đ�nh đang than kh�c n�o c� ch�t của cải g�.  Cả hai c�u thơ trong cặp đ�i đầu ti�n của b�i VIII chỉ tr�ch c�c quan chức khoe khoang ph�t ng�n l� tưởng của th�i độ thuần khiết m� kh�ng cứu gi�p kẻ ngh�o.  C�ng sự ghi nhận c� t�nh c�ch khiển tr�ch c� xuất hiện nơi c�c c�u thứ nh� của c�c b�i V v� IX.  Trong khi trong b�i I, �sự buồn thảm� xuất hiện trong c�u thơ thứ nhất v� l� một phần trong ho�n cảnh của nh� thơ, c�ng từ ngữ n�y trong c�u thứ nh� của b�i V đ� trở th�nh một phần trong lời b�nh luận tr�i ngược của nh� thơ về m�a m�ng bị hủy hoại.  �Tiếng r�n xiết v� thở than� tại miền qu� trong c�u n�y l� sự đ�p ứng mẫn cảm của nh� thơ, giống như trong c�u thơ tương ứng của b�i IV �cơn gi� lạnh� của buổi đầu thu đ� khuấy động sự x�c động của nh� thơ.  C�u thứ nh� của b�i IX xem ra l� một sự chỉ tr�ch gi�n tiếp kh�c d�nh cho c�c kẻ, kh�ng giống như �ng Khanh, tham nhũng trong khi d�n ch�ng đau khổ.  C�c c�u thứ  nh� trong cặp đ�i thứ nhất của c�c b�i thơ thuộc nh�m �B� quy buộc c�c quan chức phải chịu tr�ch nhiệm về nỗi thống khổ của quần ch�ng.  Sự đau khổ v� c�c quan chức yếu k�m l� c�c th� dụ của nh� thơ về một ch�nh quyền tồi tệ, thứ ch�nh quyền m� �ng đ� mắng nhiếc trong c�c c�u thơ thứ nh�.

 

     T�i đ� quanh quẩn về chức năng b�nh giải th�m của c�c c�u thơ thứ nh� bởi v� chức năng n�y s� gi�p hiểu biết r� hơn c�c b�i thơ thuộc nh�m �C� sắp được thảo luận dưới đ�y.

 

     Hoạt cảnh (scene) trong c�c cặp đ�i thứ nh� [tức hai c�u thứ ba v� thứ tư, hai c�u �thực� c�a b�i thơ thất ng�n b�t c� l�m theo thi luật của thơ Đường, ch� của người dịch] của c�c b�i V, VI, v� VII  hiện ra trong sự đối nghịch với ho�n cảnh bị giam h�m trong c�c b�i thơ thuộc nh�m �A�.  Ch�ng ta giờ đ�y rơi v�o thế giới rối lọan của Việt Nam.  D� thế, hoạt cảnh nằm trong tư tưởng của một kẻ h�y c�n bị giam h�m.  Sự kh�c biệt duy nhất giữa những cặp đ�i n�y với cặp đ�i tương ứng trong nh�m �A� l� sự kiện rằng nh� thơ vọng nh�n rất xa x�i từ sự giam h�m nơi ng�i nh� của �ng.  Trong b�i V kh�ng gian mở rộng được tượng trưng bởi vi �Thần Đất� v� ng�i �Đại Thi�n�, nhưng cặp đ�i n�y l� một sự nối d�i nỗi �buồn thảm� của nh� thơ, được thốt ra nơi phần cuối của c�u thứ nh�; nhan đề của b�i thơ đ� sẵn chỉ cho thấy �ng đương sinh sống tại l�ng qu� của �ng.  Trong b�i VI sự tương phản nằm nơi �Thi�n Đường� được nh�n thấy r� r�nh r�nh với c�c ảo tưởng của con người, nhưng sự đối phản được tạo ra bởi nh� thơ.  Trong b�i VII c�c k�ch thước của hoạt cảnh được biểu thị bởi �c�c việc của con người � v� đời sống; người anh (em) của �ng Khanh, lần  nữa l� một quan chức, đắm ch�m v�o hoạt cảnh, nhưng nh� thơ chỉ l� một �con thuyền bị s�ng đ�nh� v� v� thế trở n�n bất động.  Cặp đ�i thứ nh� của b�i VIII m� tả c�c cơ hội của nh� thơ bất động để tự an ủi trong những l�c kh� khăn.  Thi�n nhi�n, bất kể đến thời tiết lạnh lẽo, mang lại cho �ng rượu v� thi hứng v� c� vẻ đ� đưa ra một th� dụ trong sự chịu đựng.  Trong b�i IX �ng c�n c� thể hứa đ�i c�c b� bạn th�n nhất của �ng uống rượu, cự tuyệt c�c phẩm phục của đời sống quan lại, v� mong ước nơi người cha vợ.  Tuy nhi�n, sự tự thu m�nh trong b�i IX phải được đọc như một sự thay đổi th�i độ, bởi nơi c�u thứ nh� của c�ng b�i thơ �ng h�y c�n �c� đơn� v� chỉ cảm thấy vui trong � nghĩa rằng sự ngh�o t�ng kh�ng khiến �ng phải g�nh chịu sự thất sủng.

 

     C�c sự việc xảy ra trong cặp đ�i thứ ba [hai c�u thứ năm v� thứ s�u, tức hai c�u luận trong b�i thơ thất ng�n b�t c� l�m theo thi luật đời Đường, ch� của người dịch] cũng nhiều như những điều kh�ng xảy ra như ch�ng hiển hiện nơi c�c căp đ�i thứ ba trong nh�m �A�.  Trong b�i V c�c vi�n chức địa phương đ� kiệt sức v� c�c khẩu phần cứu trợ cho người d�n bị cắt giảm.  B�i VI c� vẻ cung cấp một sự tr�nh b�y cặn kẽ về sự ph�n t�n của c�c b� bạn của �ng Khanh; sự đề cập đến chốn Quảng Văn l�m li�n tưởng đến c�c vị văn nh�n uy�n b�c được giữ c�c chức vụ vẫn nhận th� lao nhưng kh�ng c� nhiệm sở (sinecure posts), v� �ng Khanh c� thể đ� nghĩ đến b�i thơ của Đỗ Phủ trong đầu: những kẻ kh�c đang tranh gi�nh c�c chức vụ cao cấp trong ch�nh quyền.  Trong b�i VII, nếu t�i đ�ng trong việc giải th�ch cặp đ�i thứ ba như một giấc mơ về qu� khứ bị l�m gi�n đọan trong c�u thứ bẩy, �ng Khanh đang suy nghĩ về c�c thời kỳ trước đ�y khi nh� vua v� c�c vị kh�ch của vua c� thể thư thả v� thuật lại c�c h�nh vi anh h�ng.  Trong b�i VIII, điều xảy ra [để chi nội dung hai c�u luận, t�c giả d�ng từ ngữ happening c� phần kh�ng được s�t nghĩa, ch� của người dịch] một lần nữa lại l� một giấc mơ v� một h�nh thức bất động kh�c, trong khi ở b�i IX cặp đ�i thứ ba l� một sự so s�nh qu� khứ với hiện tại m� việc mơ về �ng Nguy�n Đ�n đ� khơi dậy.  Trong b�i VIII �ng mơ ước �ng l� một quan chức, v� trong b�i IX �ng đang l�m một sự so s�nh của m�nh.

 

     C�c sự suy nghiệm [để chỉ hai c�u kết trong b�i thơ thất ng�n b�t c� l�m theo thơ Đuờng luật, tức hai c�u thứ bảy v� thứ t�m, ch� của người dịch] trong cặp đ�i thứ tư t�i x�c nhận t�nh trạng bơ vơ v� v� vọng trong c�c cặp đ�i tương ứng ở nh�m �A�.  Trong b�i V �ng �ng lấy l�m tiếc rằng �ng kh�ng thể đi đến triều đ�nh để chuyển tr�nh một văn thư.  �ng cũng bơ vơ như �ng đ� bơ vơ trong cặp đ�i thứ tư nơi b�i III, khi �ng chỉ c� thể đọc lại b�i thơ Đại Đ�ng (Ta-tung) như một dấu hiệu cho �cơn đau� của �ng, hay trong cặp đ�i thứ tư của b�i IV khi �ng chỉ c� thể thở than tr�n giường nằm của m�nh.  Trong b�i V l� do tại sao �ng kh�ng thể đi đến Triều Đ�nh với văn thư phản đối rằng �ng đang bị �đau�, v� do đ� �ng mới viết b�i thơ thay thế cho văn thư.  Trong hai c�u đối của cặp đ�i thứ ba ở b�i I, �cơn đau� v� �thơ văn� cũng c�n l� hai h�nh d�ng tiếp gi�p với ng�n từ; thi ca đ� trở th�nh điều tương đương như thang thuốc.  Sự giải th�ch hiển nhi�n cho thấy rằng việc viết một b�i thơ phản đối l� phương c�ch độc nhất theo đ� �ng Khanh, một người c� học thức ở ngo�i quan trường, c� thể th�ng đạt được v� nhờ thế l�m ngu�i ngoai sự bất m�n của �ng, hay �cơn đau�, g�y ra bởi việc bị bắt buộc ngồi y�n trong những thời buổi x�o trộn.

 

     Cảm thức sự bơ vơ cũng được truyền đạt trong c�c cặp đ�i cuối c�ng kh�c trong nh�m �B�.  Trong b�i VI �ng kh�ng thể l�m việc cho triều đ�nh nh� Trần m� chỉ mơ đến c�c b� bạn của �ng rải r�c nhiều nơi.  Trong b�i VII, giấc mơ của �ng bị gi�n đoạn bởi c�c tin tức g�y x�o trộn từ bi�n giới, v� �ng triển khai một hiệu ứng thi ca tinh tế bằng việc tr�ch dẫn nh� thơ Trung Hoa, Pei-I-chih [Bạch Cư Dị?], về khoảng c�ch rất xa x�i của Việt Nam với Trung Hoa.  �ng Khanh địa phương h�a sự �m chỉ v� �ng muốn chỉ cho thấy rằng Việt Nam kh�ng c�n được bảo vệ từ Trung Hoa bởi khoảng c�ch địa dư.  Trong b�i VIII �ng mơ về người cha vợ v� li�n kết �ng ấy với m�a xu�n; �m�a xu�n� l� từ chuyển nghĩa theo quy ước để chỉ sự hy vọng v� sự t�i sinh c�c ảnh hưởng tốt trong Nh� Nước.  Trong b�i IX, sự so s�nh qu� khứ với hiện tại dẫn �ng đến việc suy tưởng rằng �ng Nguy�n Đ�n sẽ tượng trưng cho một m�a xu�n hạnh ph�c hơn m�a trong đ� cơn lạnh buốt xương v�o l�c cuối năm m� �ng đ� dự liệu.  Thời tiết lạnh lẽo v�o cuối năm l�m tăng cường c�c sự li�n kết giống như m�a xu�n với nhạc phụ của �ng.  Tương tự, trong c�u thứ bảy của b�i IV sương lạnh dần đần đang đ�ng băng, v� sự tưởng tượng l�m gia tăng sự suy nghiệm rằng �ng l� �một con người bị ruồng bỏ.�

 

     T�i đ� thử đọc chin b�i thơ trong c�c nh�m �A� v� nh�m �B� c�ng với nhau, v� c�c t�nh chất chung của ch�ng giống nhau đến nỗi t�i đ� c� thể trộn lẫn ch�ng v�o th�nh một nh�m.  T�i đ� kh�ng l�m như thế bởi v�, khi t�i bắt đầu khảo s�t ch�ng, một việc đọc hời hợt bề ngo�i kbiến ta nghĩ rằng ch�ng n�i về hai chủ đề kh�c biệt; sự loại trừ ra khỏi quan trường v� c�c thống khổ của thế giới b�n ngo�i.  Sự kh�c biệt n�y giờ đ�y đ� được x�a tan.  C�c t�nh chất chung của c�c b�i thơ n�y l� những b�i thơ c� mang n�t ch�nh thức hơn, chẳng hạn như một sự tiếp diễn tương đồng của từng hai c�u thơ một v� chức năng khuếch đại của c�c c�u thơ thứ nh�.  C�c hiệu ứng văn chương của cả hai nh�m c� thể được giải th�ch như phương tiện tượng trưng cho sự ly c�ch của nh� thơ khỏi thế giới b�n ngo�i, bất luận l� �ng c� đang cung cấp c�c dấu hiệu của sự giam h�m cụ thể hay c�c dấu hiệu của sự t�ch biệt của �ng trong h�nh thức sự chỉ tr�ch c�c quan chức c� t�c phong xấu v� c�c sự nghiệm luận giống như giấc mơ.  Hậu quả của c�ch thức m� t�i đ� chấp nhận l� c�c hiệu ứng văn chương đ� chứng minh một c�ch đầy đủ quan điểm rằng �ng Khanh đ� l�m thơ mang t�nh chất chua ch�t.  Sự cay đắng của �ng ph�t ra trong ng�n ngữ để chỉ những g� �ng c� thể nh�n thấy b�n trong hay ngay b�n ngo�i ph�ng của �ng, trong c�c sự li�n kết với việc l�m thơ, trong sự ra đi của người anh em của �ng, trong sự thất vọng của một kẻ thi đỗ, trong c�c cảm tưởng về thế giới b�n ngo�i, trong c�c giấc mơ v� c�c sự so s�nh qu� khứ với hiện tại, v� trong c�c sự li�n quan với �ng Nguy�n Đ�n.  Cả hai nh�m l� c�c b�i thơ than v�n v� �đau buồn� để truyền đạt sự bất m�n của nh� thơ v� cả hai nh�m th� tr�n ngập với ng�n ngữ của m�a hay giờ giấc trong ng�y như một phương c�ch để th�u dệt cho trạng th�i chạnh l�ng của nh� thơ.  Khả năng l�m thơ của �ng, điều m� dĩ nhi�n �ng muốn biểu lộ, nằm ở nhiều c�ch sử dụng ng�n ngữ vốn l�c n�o cũng sẵn c� để vận dụng v� kh�ng bao giờ nhạt nhẽo.

 

     C� qu� nhiều điều trong ch�n b�i thơ của �ng Khanh, tất cả đều được viết khi �ng ở ngo�i quan trường.  Ch�ng ta c� thể ghi nhận tho�ng qua rằng �ng kh�ng phải l� học giả duy nhất v�o l�c đ� đ� biểu lộ c�c cảm nghĩ của m�nh qua thi ca.  C�c bi�n ni�n sử Việt Nam về ni�n kỳ năm 1385 ghi nhận rằng �c�c nh�n vật đ�ng k�nh v� học thức đ� than v�n về thời đại v� thương tiếc cho thế hệ của họ.  Họ đ� phải b�y tỏ sự đau buồn của họ trong c�c b�i thơ.� [xem phụ ch� (*b)]

 

     Giờ đ�y t�i sẽ khảo s�t c�c b�i thơ trong nh�m �C� (c�c b�i X, XI, XII, XIII, XIV), được viết khi �ng Khanh l� một quan chức trong thời kỳ 1401-1407 v� để gửi c�c quan chức kh�c hay về ch�nh �ng.  Một c�i nh�n b�nh thường cũng đủ cho thấy rằng ng�n từ của ch�ng th� kh�c biệt, v� điều bắt buộc phải l� như thế bởi t�nh cảnh của �ng Khanh đ� thay đổi một c�ch quyết liệt.  C�u hỏi l� liệu phương c�ch mang kh� nhiều tinh c�ch cơ chế của việc đọc c�c b�i thơ c�ng l�c với nhau c� ph�t hiện ra c�c sự kh�c biệt quan trọng hay kh�ng.  Phương c�ch n�y c� l�m cho ta hiểu biết r� hơn về sức mạnh của ng�n ngữ ở triều đ�nh trong c�c b�i thơ của nh�m �C�, c� vẻ chất chứa với nhiều �m dụ được sưu tầm trong lịch sử v� văn chương Trung Hoa hơn c�c b�i thơ kh�c hay chăng?

 

     Trước ti�n ch�ng ta c� thể nhận ra một sự kh�c biệt hiển nhi�n.  Trong nh�m �A� v� nh�m �B�, trạng th�i buồn thảm của nh� thơ được n�ng cao l�n bởi thời tiết tương ứng của m�a trong năm, thường l� m�a thu nhưng cũng gồm cả l�c sau khi c� sự thất thu m�a m�ng v� trong thời tiết lạnh lẽo trước m�a xu�n.  Nhưng m�a trong c�c b�i thơ nh�m �C� đ� kh�ng đuợc g�n cho một sự dụng ngữ khả s�nh; n� được loại ra khỏi c�c b�i X, XIII, v� XIV, trong khi ở c�c b�i thứ XI v� XII, n� được tr�nh b�y một c�ch k�n đ�o.  �M�a Xu�n� được n�i đến trong c�c b�i số XII v� XIII, nhưng chỉ được đề cập đến một c�ch b�ng gi� v� để chỉ một nh� học giả theo c�ng một c�ch m� n� đ� được n�u l�n trong c�c b�i số VIII v� số IX li�n quan đến nhạc phụ uy�n b�c của �ng Khanh.  Thời khắc của ng�y kh�ng cung cấp hiệu ứng n�o trong c�c b�i thơ thuộc nh�m �C�, trong khi ở c�c b�i thơ thuộc nh�m �A� phần lớn được l�m v�o buổi s�ng m�a thu.  Trong b�i XI ban đ�m tại nh� nghỉ m�t nơi n�i đồi kh�ng phải l� cơ hội cho những tư tưởng buồn rầu, thay v�o đ�, n� đơn giản l� l�c nh� thơ suy tưởng, nhưng kh�ng phải l� mơ mộng, về sắc dụ cử nhiệm gửi cho �ng.  Trong b�i số XIII buổi tối trở th�nh thời khắc của sự hợp quần vui vẻ.  Ngụ � của việc h�a �m nhẹ nh�ng về m�a v� thời khắc trong ng�y l� c�c quan chức, được m� tả trong c�c b�i thơ n�y, kh�ng giải b�y t�m trạng của họ về hiện tượng của thời gian.  Sự chuyển đổi của thời gian như một hiệu ứng thi ca ban cho c�c b�i thơ trong nh�m �C� một t�nh chất gần như v� hạn.

 

     C�c sự kh�c biệt hơn được ph�t hiện giữa c�c b�i thơ thuộc nh�m �C� với c�c b�i thơ kh�c khi ch�ng ta so s�nh ng�n ngữ của c�c cặp đ�i, được sắp đặt theo c�ng khu�n khổ: một t�nh huống, một thực cảnh, một biến cố xảy ra, v� một sư nghiệm kết

 

     Những c�u thơ đầu ti�n trong nh�m �C�, n�i về c�c t�nh huống hay địa điểm (situations), đề cập đến một sự bổ nhiệm ch�nh thức được trang điểm một c�ch hoa mỹ, đến t�nh cảnh của �ng Khanh ở gần Vũ L�m [thuộc huyện Y�n Kh�nh, tỉnh Ninh B�nh ng�y nay, ch� của người dịch] khi �ng nhận được lệnh đi l�n Trường An (XI), hay đến sự học vấn của c�c người, theo c�c danh hiệu v� theo những g� được tiết lộ trong c�c b�i thơ, cũng l� c�c quan chức (XII-XIV). Nhưng nhiều điều c�n c� thể được n�i đến khi ch�ng ta khảo s�t chức năng của c�u thơ thứ nh�.  T�i đ� n�u � kiến rằng c�c c�u thơ thứ nh� trong nh�m �A� khuếch đại t�nh trạng trong c�c c�u thơ thứ nhất bởi việc cung cấp c�c sự đ�p ứng c� nh�n v� than th�n tr�ch phận, trong khi c�c c�u thơ thứ nh� trong nh�m �B� l� c�c sự b�nh luận chỉ tr�ch của nh� thơ về những th� dụ của một ch�nh quyền tồi tệ: sự thống khố của d�n ch�ng v� c�c quan chức yếu k�m.  C�c c�u thơ thứ nh� trong nh�m �C� một lần nữa b�nh luận về c�c c�u thơ thứ nhất, nhưng ch�ng lại mang t�nh chất chấp thuận.  L� do v� �ng Khanh cảm thấy h�i l�ng rằng c�c người c� học thức đang phục vụ, như c�c quan chức.  Th� dụ r� rệt nhất l� trong c�u thứ nh� của b�i số XIII khi lời b�nh luận mang h�nh thức lời ph�t biểu rằng �người d�n thường trong nước thực sự ngưỡng mộ họ Trấn�, l� kẻ được m� tả trong c�u thơ thứ nhất như l� một học giả.17  Trong b�i số XII nh� thơ nhớ lại t�nh bạn thời trẻ với một người đ� thi đỗ, b�y giờ l� một Thanh Tra, v� �ng tự t� điểm cho m�nh khi l� một đồng ch� của nh� học giả đ�.  Trong b�i số X �ng Khanh lấy l�m vui sướng bởi sự bổ nhiệm, v� đ�y l� l� do tại sao, trong c�u thứ nh�, �ng nhấn mạnh rằng vi�n chức đ� được thuy�n chuyển �một c�ch danh dự với một thẩm quyền của một quan chức�, mặc d� ch�ng ta phải đợi m�i đến c�u thơ thứ s�u mới kh�m ph� ra rằng quan chức n�y h�nh sự với t�i đức (�một kẻ đ�ng k�nh�).  Trong c�u thơ thứ nh� của b�i XIV �ng Khanh ca tụng vị sứ giả về những khả năng ngoại hạng của �ng ấy.  Trong b�i XI quan chức được n�i đến ch�nh l� �ng Khanh, chắc chắn l� một kẻ c� học thức, v� trong c�u thơ thứ nh� �ng tự t�n thưởng m�nh khi n�i rằng �ng th�ch đảm nh�n �c�c việc triều đ�nh hơn l� du h�nh rong chơi.�  T�nh cảnh của �ng trong c�u thơ đầu ti�n đề cập đến Vũ L�m, chỗ m� t�i tin rằng tượng trưng cho khu vực ph�a nam [phải l� ph�a bắc th� đ�ng hơn, ch� của người dịch] nơi c� kinh đ� của Hồ Qu� Ly tại Thanh H�a; �ng Khanh g�c bỏ viễn ảnh của sự nghỉ ngơi ra đằng sau ng� hầu thi h�nh sắc dụ đi đến Trường An ở phương bắc.

 

     Nếu việc đọc v� hiểu của t�i về c�c cặp đ�i đầu ti�n trong c�c b�i thơ thuộc nh�m �B� v� �C� l� ch�nh x�c, c�c cặp đ�i cấu th�nh những phản đề tương đương.  Phản đề của sự thống khổ của d�n ch�ng / c�c quan chức thấp k�m l� c�c quan chức c� học thức, tương ứng với một phản đề giữa ch�nh quyền tốt v� xấu.  Trong c�c cặp đ�i c�n lại, phản đề khởi đầu cho một chuỗi một khu�n mẫu đồng nhất của sự chuyển đổi ng�n ngữ khi ch�ng ta so s�nh c�c b�i thơ của c�c nh�m �A/B� với c�c b�i thơ thuộc nh�m �C�, v� kết quả l� c� nhiều dấu hiệu hơn nữa về ch�nh quyền tốt đ� được cung cấp.

 

     Hoạt cảnh trong c�c cặp đ�i thứ nh� kh�ng c�n l� cảnh bị giam h�m v� sự hồi ức trong c�c b�i thơ thuộc nh�m �A� hay thế giới b�n ngo�i đầy x�o trộn v� sự an ủi của nh� thơ trong c�c b�i thơ nh�m �B�.  Thay v�o đ�, hoạt cảnh l� quang cảnh đặc biệt trong đ� quan chức sẽ thi h�nh nhiệm vụ của m�nh.  Trong b�i X vi�n chức sẽ đến thăm V�n Đồn, nơi m� d�n ch�ng đang trong cảnh hiểm nguy; trong b�i XI nh� thơ trải qua buổi tối tại nh� nghỉ miền đồi n�i; trong b�i XII, quan Thanh Tra, �đang xuất h�nh, được so s�nh một c�ch đ�ng ngưỡng mộ với nh� thơ bị ngồi ở văn ph�ng; trong b�i XIII, quan chức đang vi h�nh, so s�nh với nh� thơ đang ngồi thảo c�c sắc dụ, được m� tả l� con người �cứng cỏi� v� c� thể tự sống t�ch rời m�nh với gia đ�nh xa h�ng ng�n dậm; trong b�i XIV hoạt cảnh tại Trung Hoa được đo�n biết, v� vi�n chức được so s�nh với K�ou Hsun [?], kẻ m� sự phục vụ được d�n ch�ng mong muốn giữ lại.  Nh� thơ nhận thấy d�n ch�ng Việt Nam mong muốn �ng L� Dung Trai [?] ở lại với họ.  Vị sứ giả cũng được so s�nh với Chang Ch�ien [?], kẻ đ� đặc biệt được lựa chọn bởi H�n Vũ Đế (Han Wu-ti) cho việc đi sứ tại v�ng Trung � Ch�u.  Chang Ch�ien l� một trong những quan chức du h�nh nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.  Hai �m tỉ n�y l� phương c�ch của nh� thơ để tr�nh b�y vị sứ giả như được y�u cầu [phục vụ] bởi d�n ch�ng cũng như bởi nh� vua, v� đ�y cũng l� một dấu hiệu bổ t�c cho một ch�nh quyền tốt.

 

     Một sự kh�c biệt kh�c c� thể được kh�m ph� trong hai cặp đ�i đầu ti�n ở c�c b�i thơ của nh�m �C�, v� n� tăng cường cho sự tương phản giữa ch�nh quyền xấu v� tốt.  Hai cặp đ�i đầu ti�n trong  nh�m �A� v� �B� chứa đựng một số lượng đ�ng kể c�c biểu từ của ��m thanh để n�ng cao hiệu ứng của sự bất m�n: tiếng mưa rơi lộp độp, tiếng chu�ng, tiếng v� ngựa đập, cuộc n�i chuyện vội v� tối h�m trước, tiếng gi�, tiếng r�n rỉ, tiếng than kh�c, tiếng s�ng gi�, sự hỗn độn tại Triều Đ�nh, sự khoe khoang.  Nh� thơ bất động nghe thấy c�c tiếng động x�o trộn.  Tuy nhi�n, trong nh�m �C�, ngoại trừ b�i X, �m thanh đ� được thay đổi để n�ng cao hiệu ứng thi ca của c�c người học thức nắm giữ ch�nh quyền, v� sự giải th�ch xem ra nằm nơi c�u thứ ba của b�i X, nơi �c�c con ngỗng than kh�c� l� h�nh ảnh th� dụ cho người d�n chịu đau khổ.18  Một người Việt Nam c� học thức sẽ nhận thấy trong c�u thơ n�y một ẩn dụ trong Kinh Thi (Shih-ching) việc đến nơi của một vi�n chức được cảm t�nh tại một khung cảnh rối loạn. D�n ch�ng được b�nh định, v�, bởi h�m �, c�c con ngỗng kh�ng c�n k�u than nữa.  Vi�n chức c� học thức đ� l�m c�m n�n �m thanh của sự phản đối, v� đ�y l� một dấu hiệu kh�c của một ch�nh quyền tốt.  �ng ta cũng l� một ảnh hưởng �m l�m, v� đ�y c� thể l� l� do tại sao, trong c�u thơ đầu ti�n của b�i X, Kinh Lược sứ [chữ Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] được g�n cho thẩm quyền �oai nghi�m�.

 

     Một lần nữa, hai cặp đ�i đầu ti�n của nh�m �A� quy cho sự c�ch biệt như nguồn gốc của nỗi sầu muộn.  Nh� thơ bị ngăn c�ch với người anh em của �ng v� với một qu� khứ nhiều hứa hẹn.  C�ng chủ đề n�y đ� t�i xuất hiện trong c�c b�i thơ nh�m �B�; trong b�i V, mưa v� sương vẫn c�n m�i nơi xa xăm, v� d�n ch�ng chịu khổ sở; trong b�i VI, quan chức bị mất đi c�i nh�n s�ng suốt; trong b�i IX, �ng Khanh đ� tự m�nh t�ch xa ra khỏi thời hiện đại bởi việc mơ đến người cha vợ.  Nhưng trong c�c b�i thơ nh�m �C�, sự xa c�ch kh�ng c� g� đau đớn v� c�n l� một nguy�n do của sự ch�c mừng; từ gi� c�c th� vui của địa phương Vũ L�m để l�m việc triều đ�nh l� một điều danh dự;  l�m một Thanh Tra th� đ�ng mong ước hơn l� l�m việc tại b�n giấy; t�ch biệt khỏi gia đ�nh kh�ng kh�c g� một dấu hiệu của sự �cứng cỏi dạn dầy�; vi�n sứ giả sang Trung Hoa được so s�nh với Chang Ch�ien.  Khi c�c quan chức đều ki�n tr� như c�c người n�y, nhất định sẽ phải l� một ch�nh quyền tốt.

 

     C�c sự kh�c biệt c� hệ thống tiếp tục sẽ xuất hiện trong hai cặp đ�i cuối của c�c b�i thơ thuộc nh�m �C�.  Trong c�c cặp đ�i thứ ba của nh�m �A� v� nh�m �B�, nhắm v�o biến cố xảy ra, kh�ng điều g� kh�c được đề cập đến ngo�i sự sầu muộn của nh� thơ, sự t� liệt của ch�nh quyền, hay c�c ước mơ g�y ra bởi sự sầu muộn, v� c�c sự so s�nh qu� khứ với hiện tại.  Trong c�c b�i thơ thuộc nh�m �C�, �biến cố xảy ra� được biểu thị bởi h�nh vi của quan chức đang thi h�nh nhiệm vụ: trong b�i X quan chức c� cơ hội để chứng tỏ m�nh như người c� t�i đức (�một người c� gi� trị�); trong b�i XI c�c ẩn dụ Trung Hoa mờ nhạt c� vẻ để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sắc dụ được thi h�nh bởi �ng Khanh; trong b�i XII quan chức ở đ�nh chuyển tiếp đang du h�nh �như một vị anh h�ng�; trong b�i XIII c� một sự đo�n tụ vui mừng giữa c�c b� bạn sau khi một người trong họ thi h�nh nhiệm vụ nơi xa; trong b�i XIV, vi�n sứ giả du h�nh với nhiều th�nh quả.  H�nh vi xem ra sẽ l� một vấn đề của sự ch�nh trực kh�ng c� g� phải ph�n n�n, l� điều rất kh�c biệt với nỗi sầu muộn của một con người bất động chỉ c� thể cảm thấy sự tủi th�n, l�m thơ, hay mơ mộng.  Một quan chức c� học thức t�ch cực kh�ng c� th� giờ cho việc ưu phiền c� nh�n.  C�c sự ưu tư c� nh�n trong c�c b�i thơ kh�c được thay thế bởi sự thi h�nh v� tư c�c vai tr� ch�nh thức, v� sự thi h�nh xem ra l� sự kiện gần nhất m� ch�ng ta c� được cho sự biểu thị của hạnh ph�c.  Trong c�c b�i thơ thuộc nh�m �C� người d�n hơn l� c�c quan chức nhiều phần s� cảm thấy sung sướng.  Loại sự việc n�y nhất thiết sẽ phải l� một x�c chứng cho một ch�nh quyền tốt.

 

     C�c sự nghiệm thu trong c�c cặp đ�i thứ tư ph�t hiện nhiều sự kh�c biệt kh�c nữa.  Nh� thơ kh�ng c�n c� độc nữa; �ng c� c�c đồng sự tương hợp v� t�m đắc.  Trong cặp đ�i cuối c�ng của b�i XII ch�ng ta được n�i cho biết rằng một �con người vĩ đại�, một Thanh Tra, kh�ng cần phải kh�c l�c khi được tiễn đi th� h�nh nhiệm vụ ở nơi xa,  Sự sầu muộn nhường chỗ cho nhiệt huyết.  Hơn thế, một b�i thơ trong nh�m �C� cho thấy rằng một từ ngữ giờ đ�y c� thể mang một sắc th�i mới.  Trong c�u thứ bảy của b�i số VII thuộc nh�m �B�, nh� thơ lấy l�m bối rối bởi c�c tin tức từ �bi�n cương�, nhưng trong c�u thứ t�m của b�i X, một �bi�n giới� x�o trộn kh�ng c�n quấy rầy quan chức hay nh� thơ nữa, v� l� do l� v� bi�n giới giờ đ�y được n�i đến để chỉ c�c t�nh chất của vi�n quan chức quay trở về v� một cơ hội kh�c để �ng ta để l�m m�nh nổi bật l�n.  Tương tự, trong c�u thứ t�m của b�i XI, c�c kẻ nổi dậy kh�ng khiến �ng Khanh phải lo ngại; kẻ địch chỉ được n�i đến bởi v� sự b�nh định họ sẽ mang lại �n huệ được ban cấp cho quan chức đ� bởi nh� vua.  Trong c�c b�i thơ nh�m �B�, c�c sự đề cập đến d�n ch�ng l�c n�o cũng l� kẻ đ�ng thương, nhưng, khi nh� thơ l� quan chức, �ng c� thể ph�n biệt giữa những người cần được gi�p đỡ với những kẻ l� qu�n thổ phỉ.  Trong c�u thứ t�m của b�i XIII, nh� thơ kh�ng bị bực tức v� d�n ch�ng ở Nghệ An được biết đ� kiệt sức; c�u thơ trước đ� cho ch�ng ta hay biết l� do tại sao: �Quan t�m đến Nh� Nước phải thực sự l� c�ng việc của ch�ng ta.�  C�c vấn đề Quốc Sự phải được giải quyết bởi c�c vi�n chức c� học thức.

 

     Một sự kh�c biệt cuối c�ng c� thể được ghi nhận trong c�c cặp đ�i cuối c�ng thuộc nh�m �C�.  C�c b�i thơ thuộc nh�m �B� mặc d� ch�ng đề cập đến c�c vấn đề của ch�nh quyền, đ� kh�ng bao giờ n�i đến nh� vua.  Thay v�o đ�, sự quan t�m tiếc nuối qu� khứ lại n�i về nhạc phụ của nh� thơ, kẻ tượng trưng cho niềm hy vọng thủa ban đầu.  Nhưng trong b�i thơ nh�m �C�, một nh� cai trị r� r�ng đầy năng lực chiếm giữ kh�ng gian ngữ nghĩa (semantic) tại đỉnh điểm thi ca được d�nh trong c�c b�i thơ kh�c nay kh�ng chỉ được d�nh cho người cha vợ m� c�n, v� tr�n tất cả, cho sự bơ vơ v� nỗi tuyệt vọng của ch�nh nh� thơ.  Nh� l�nh đạo đầy năng lực l� ảnh hưởng đ� th�o gỡ sự sầu muộn bằng việc cổ vũ c�c quan chức h�y hăng h�i l�n.  Th�nh tố cuối c�ng của một ch�nh quyền tốt l� sự tương quan giữa nh� vua v� c�c quan chức c� học thức của m�nh.

 

     Đọc mười bốn b�i thơ c�ng l�c với nhau dẫn đến kết luận rằng c�c sự kh�c biệt trong c�c định thức ng�n ngữ c� thể được giải th�ch như l� c�c sự dịch chuyển một c�ch c� hệ thống v� ngay cả c� t�nh c�ch phản b�c trong một cấu tr�c chung của c�c cặp đ�i.  C�c sự dịch chuyển v� tương phản l�m nổi bật c�c đặc t�nh của c�c vi�n chức c� học thức với sự chuẩn x�c gần như của h�nh tượng.  Quan chức c� học thức phục vụ với sự hăng h�i v� tư v� kh�ng quan t�m đến c�c điều kiện của c�ng việc.  Th�i độ ch�nh trực của �ng ta ph� hợp với l� tưởng của �ng về nhiệm vụ kh�ng vị kỷ v� với t�i chỉ đạo của một người c� t�i đức.  C�c c�ng việc của �ng ta được đ�nh gi� bởi nh� l�nh đạo, nhưng �ng ta kh�ng t�m kiếm việc l�m v� chức vị.  �ng ta kh�ng thu g�p sự gi�u c�.  �ng ta biểu lộ khả năng thực tế khi giải quyết c�c vấn đề, v� đặc biệt đối với c�c vấn đề của quần ch�ng.  D�n ch�ng đ�p ứng với ảnh hưởng của �ng ta v� �ng ta l�m tắt tiếng phản đối, nhưng �ng ta cũng c� thể chấp nhận một th�i độ nghi�m khắc đối với sự x�o trộn nội bộ.  Lời nhắn nhủ trong c�c b�i thơ n�y th� r� r�ng v� đơn giản.  Quan chức tốt l� kẻ c� học thức, v� sự tuyển dụng �ng ta bảo đảm cho một ch�nh quyền tốt.  Th�ng điệp n�y vẫn l� một khi �ng Khanh than v�n về sự vắng mặt của một quan chức như thế hay ch�o mừng sự hiện diện của quan chức đ�.

 

     Ch�nh �ng Khanh l� một người c� học thức v� lời nhắn nhủ kh�ng g�y ngạc nhi�n, nhưng n� trở n�n đ�ng quan t�m hơn khi ch�ng ta nhớ đến số năm ph�n c�ch c�c b�i thơ thuộc nh�m �C� với c�c b�i thơ thuộc nh�m �A� v� �B�.  �ng Khanh, khi viết trong c�c năm 1401-1407, nhiều phần kh� đảo ngược một c�ch c� � thức, ng�n ngữ trong c�c b�i thơ trước kia của �ng.  Thay v� thế, �ng tiếp tục ph�t biểu r�nh mạch, một c�ch nhất qu�n về h�nh d�ng của đời sống c�ng vụ xảy đến một c�ch tự nhi�n với một nh� thơ thuộc thế hệ �ng v� c� thể kỳ vọng l� sẽ được th�ng hiểu bởi độc giả của �ng, bất luận họ c� l� cha vợ, anh em, hay c�c quan chức m� �ng muốn ch�c mừng.  C�c sự chuyển dịch v� tương phản c� t�nh c�ch hệ thống nhưng kh�ng được sắp đặt trước.  Sự vận dụng ng�n ngữ thi ca Trung Hoa của �ng Khanh th� s�u rộng nhưng nằm trong khu�n khổ ước định của nh�m c�c học giả đồng thời, c� những gi� trị m� �ng c�ng chia sẻ với họ.

 

     C�c nguồn gốc của nh�m n�y c� thể g�n cho sự thăng tiến c�c người c� học thức đảm nhận c�c chức vụ cao cấp dưới thời trị v� của vua Minh T�n (1320-1357), khi m� ho�ng gia th�i kh�ng dung dưỡng c�c ho�ng th�n lớn tuổi c� khả năng trợ gi�p nh� vua, như đ� xảy ra trong thế kỷ thứ mười ba.  C�ng l�c, sự bất ổn x� hội đ� trở n�n thường xuy�n tại v�ng th�n qu�.  Hậu quả của c�c diễn tiến n�y l� c�c quan chức c� học thức đ� phải tuần tra c�c tỉnh với c�c nhiệm vụ nặng nề trong hơn năm mươi năm, trước khi �ng Khanh, trong c�c b�i thơ thuộc nh�m �C�, ch�c mừng c�c đồng sự của �ng về việc du h�nh như thế, v� họ đ� than v�n cho c�c ho�n cảnh m� họ tr�ng thấy.  Những người nổi tiếng nhất thuộc thế hệ quan chức-học giả trước đ� l� quan h�nh khiển [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] Phạm Sư Mạnh v� L� Qu�t, những người tự xem m�nh l� để tử của bậc th�y danh tiếng, Chu Văn An.  �ng Chu Văn An đ� đặt ra một gương mẫu về sự li�m khiết khi �ng r�t lui khỏi Triều Đ�nh của vị kế nhiệm vua Minh T�n, tức Dụ T�n (1357-1369), bởi v� �ng kh�ng c�n c� thể chấp nhận được sự hiện diện của c�c quan chức bất t�i.  �ng Mạnh v� �ng Qu�t l� bạn của Trần Nguy�n Đ�n, kẻ ngưỡng mộ �ng Chu Văn An.  �ng Nguy�n Đ�n đ� viết c�c b�i thơ ca tụng ba nh�n vật n�y. 19  

 

     Chu Văn An mất năm 1370, chỉ c�ch bốn năm trước khi �ng Khanh thi đỗ.  Ch�n dung của �ng Khanh về một quan chức c� học thức th� gần như chắc chắn l� một sự chứng thực cho ảnh hưởng trường tồn của �ng Chu Văn An.  C�c lời giảng dạy của �ng An đ� mất đi, nhưng ch�ng ta hay biết được một số điều về ấn tượng m� �ng đ� tạo ra.  C�c bi�n ni�n sử của Việt Nam, dưới ni�n kỳ năm 1370, m� tả �ng như một người �cương nghị, thanh đạm, v� giữ g�n sự ch�n thực của m�nh bất kể c�c sự kh� khăn� (*d)).  C�c vi�n chức c� học của �ng Khanh ứng xử theo một cung c�ch tương tự.  Một sự ghi ch�p kh�c trong c�c bi�n ni�n sử, dưới ni�n kỷ năm 1377, n�i đến một �ng Trương Đỗ (*e) đ� thi đỗ, đ� trở th�nh quan Ngự Sử.  �ng Đỗ c� tiếng l� �thanh cao v� v� vị lợi�, v� �ng đ� sống, như �ng Khanh đ� m� tả về ch�nh m�nh trong b�i IX, trong sự �thanh bạch� v� đ� kh�ng thụ tạo t�i sản đất đai.  C�c b�i thơ của �ng Khanh v� t�c phong của �ng Đỗ ti�u biểu cho tầm quan trọng được g�n bởi �ng Chu Văn An cho c�c ti�u chuẩn cao đẹp trong t�c phong c� nh�n của đời sống quan chức.

 

     Ảnh hưởng của nh�m bao quanh �ng Chu Văn An c� thể gi�p để giải th�ch khuynh hướng của �ng Khanh thường hay đưa ra c�c sự so s�nh lịch sử c� t�nh c�ch ho�i niệm.  Trong hậu b�n thế kỷ thứ mười bốn, c�c vi�n chức đ� chứng kiến c�c t�nh trạng x�o trộn v� đưa ra c�c lời b�nh luận khắt khe bằng c�c sự so s�nh qu� khứ v� hiện tại.  Sử sử dụng lịch sử để khuy�n răn mang lại một sắc th�i gần như của �Khổng học� trong c�c tư tưởng của họ.  C�c vi�n chức n�y, hay �c�c chứng nh�n� như t�i đ� gọi họ, thực hiện c�c sự so s�nh của họ bằng việc khẩn cầu một thời ho�ng kim trong thi�n ni�n kỷ thứ nhất trước c�ng nguy�n, v� �c�c trục trọng t�m� (axles) đ� l� ẩn dụ của họ cho sự �ti�u chuẩn h�a� của họ v� do đ� cho ch�nh quyền ổn định của thời trước đ�y m� họ thấy đ� bị biến mất trong sinh thời của ch�nh họ.20  Sự chỉ tr�ch của �ng Khanh về hiện tại kh�ng mang qu� nhiều tham vọng như thế; thay v�o đ�, như ch�ng ta nh�n thấy, �ng đ� so s�nh những năm �ng ở ngo�i quan trường với thời gian khi m� nhạc phụ của �ng được k�nh trọng v�, theo c�c b�i số IV v� V, khi đế quốc c� được c�c �nh� học giả.�  Cha vợ của �ng, ở một trong c�c b�i thơ của �ng, đ� ca tụng Phạm Sư Mạnh như một �nh� học giả�21, v� �ng Khanh chắc chắn nghĩ về �ng Mạnh v� c�c quan chức c� tư tưởng tương tự đều bị ảnh hưởng bởi �ng Chu văn An.  T�nh h�nh trong thời đại của �ng Khanh chỉ kh�c biệt ở chỗ c�c điều kiện trở n�n tồi tệ hơn trong hai thập kỷ cuối c�ng của thế kỷ thứ mười bốn.

 

     �ng Khanh cũng c� c�c n�t tương đồng kh�c với thế hệ chứng nh�n trước đ�, cũng như c� khuynh hướng muốn đưa ra c�c sự so s�nh lịch sử để ph� b�nh.  Phạm Sư Mạnh v� �ng đ� d�ng h�nh tượng của c�c h�n đảo của c�c vị thần bất tử v� chấm định c�c h�n đảo đ� tại Việt Nam nhằm t�n dương t�nh chất vững bền của s�ng n�i thuộc xứ sở v� do đ� của ch�nh xứ sở.22  Một lần kh�c, �ng Mạnh đ� viết c�c b�i thơ khi đi tuần tra bi�n giới miền bắc, v� cấu tr�c c�ng ng�n ngữ l�m ta li�n tưởng đến c�c b�i thơ của �ng Khanh.  Th� dụ, trong cặp đ�i cuối c�ng trong một b�i thơ của �ng Mạnh, ch�ng ta đọc được như sau:

 

     T�i được �n sủng vơi mạng lịnh của triều đ�nh để kiểm so�t c�c v�ng đất bi�n giới

     T�i sẽ đ�nh đuổi v� khuất phục qu�n cướp v� đem chiến tranh đến hồi kết liễu.23   

 

     Trong cặp đ�i cuối c�ng của b�i số XI, �ng Khanh viết về ch�nh m�nh như sau:

 

     T�i lấy l�m bối rối bởi c�ng việc qu� nhỏ nhặt (nh�n danh Thế Miếu Tổ Ti�n).  L�m sao t�i c� thể đền đ�p �n sủng?

     T�i đ� ph�t huy ảnh hưởng của triều đ�nh bằng c�ch b�nh định c�c kẻ nổi dậy.

 

     �ng Mạnh, giống như �ng Khanh khi l� một quan chức, hay biết về chống đối ch�nh quyền, nhưng �ng kh�ng than thở khi viết c�c b�i thơ trong c�c cuộc tuần tra.  L� do l� v�, trong loại thơ n�y, quy ước trong hậu b�n thế kỷ thứ mười bốn rằng những vấn đề kh� khăn của nh� vua ch�nh l� cơ hội của quan chức để l�m m�nh nổi bật l�n.  Trong tiền b�n thế kỷ, một quan chức-thi sĩ nhiều phần sẽ xem phần thưởng của m�nh như việc gi�nh được c�ng trạng c� nh�n. 24       

 

     Một th� dụ kh�c c� thể được đưa ra về c�ch thức theo đ� �ng Khanh du nhập c�c quy ước văn chương của thế hệ �c�c nh�n chứng� trước đ�y.25  Trong đ�i c�u thơ cuối c�ng của b�i VI �ng ph�t biểu rằng �ng kh�ng thể �hoạch định v� thiết kế� nh�n danh Thế Miếu của Nh� Vua bởi v� �ng ở ngo�i quan trường.  Nhạc phụ của �ng, kh�ng c�n c� ảnh hưởng tại Triều Đ�nh, đ� tự m� tả m�nh trong một b�i thơ l� �bị bịnh�26  v� kết luận:

 

     Bầy t�i r�u bạc của ho�ng tộc kh�ng thể tham gia v�o việc hoạch định. 27   

 

Bởi �ng Nguy�n Đ�n, cũng như �ng Khanh, ở ngo�i quan trường kh�ng c� nghĩa l� nh�n hạ m� l� sự khắc khoải kh�ng thể trợ gi�p nh� vua trong việc giải quyết c�c vấn đề.

 

     Một sư khảo cứu c�c b�i thơ của cha vợ �ng Khanh, trong đ� c�n s�t lại kh�ng �t, cũng sẽ gi�p v�o việc giải th�ch tại sao quy ước trong c�c b�i thơ của �ng Khanh rằng c�c quan chức c� học thức th� cần thiết để cứu gi�p d�n ch�ng.  �C�c chứng nh�n� trong hậu b�n thế kỷ thứ mười bốn tin rằng họ c� tr�ch nhiệm n�y, v� cả �ng Nguy�n Đ�n lẫn �ng Khanh đều l� �c�c chứng nh�n�.  �C�c chứng nh�n� thường l� c�c nh� cai trị v� đối diện với c�c vấn đề nghi�m trọng chẳng hạn như sự thiếu thốn thực phẩm khi m�a m�ng thất thu, v� c�c m�a m�ng thường bị thất b�t.  C�c quan chức tốt phải l� c�c người thực tế.  �ng Nguy�n Đ�n kết luận một b�i thơ trong nguồn thi hứng n�y:

 

     Người ta phải đặt lời khuy�n về l�ng trung l�n trước ti�n, v� chỉ sau đ� văn chương mới nở rộ.28

 

     Học để m� học cũng chưa đủ.  Năm 1362 �ng Nguy�n Đ�n đ� viết về m�nh như sau:

 

     Bởi trong v�i năm m�a h� th� kh� hạn v�, hơn thế, m�a thu lại qu� ẩm ướt,

     Chồi nụ bị t�n h�o v� mầm c�y bị hư hỏng.  Sự tổn hại lan tr�n v� nghi�m trọng.

     Ba mươi ngh�n cuộn s�ch đều kh�ng d�ng v�o việc g� được.

     Đầu bạc �m ấp một c�ch h�o huyền một tấm l�ng y�u d�n.29  

 

Kh�ng c� g� đ�ng ngạc nhi�n, �ng Khanh kết th�c một b�i thơ v�o ng�y Đầu Năm Mới để t�n dương cha vợ của �ng:

 

     C�c sự ch�c mừng v� t�n dương phải đến từ một đệ tử (rằng �ng Nguy�n Đ�n sẽ)

     M�i đứng vững để chỉ y�u d�n tộc n�y th�i.30

 

     C� c�ng mối quan hệ giữa gi�o dục v� tinh thần tr�ch nhiệm đối với d�n ch�ng d�n trải xuy�n suốt c�c b�i thơ của �ng Khanh.  Trong b�i V, nơi m� t�nh huống trong c�u đầu ti�n l� vụ gặt h�i bị t�n ph�, �ng Khanh muốn đối ph� nhưng kh�ng c� thể l�m g� kh�c hơn việc gửi một b�i thơ phản đối đến người cha vợ của �ng.  Trong cặp đ�i thứ ba của b�i X, �ng Khanh đề cập đến vi�n chức c� học thức l� �hiền nh�n đ�ng k�nh� với t�i nghệ trong việc họach định v� mang sự cứu trợ đ�ng thời; �nh�n vật t�i đức đ�ng k�nh� n�y đang thăm viếng hoạt cảnh của �đ�n ngỗng đang than kh�c� v� sẽ b�nh định được người d�n.  Trong cặp đ�i cuối c�ng của b�i XIII �c�ng việc� của hai người bạn l� sẽ mối quan t�m đến Nh� Nước.  Trong cặp đ�i thứ nh� của b�i XIV, �ng Khanh so s�nh vị sứ giả với nh�n vật K�ou-Hsun, người c� sự phục vụ khiến d�n ch�ng y�u thương �ng ta.  Trong cặp đ�i thứ tư của c�ng b�i thơ, �ng Khanh kỳ vọng rằng vị sứ giả sẽ thi thố t�i nghệ của �ng ta tại kinh đ� Trung Hoa, v� �ng d�ng th�nh ngữ chuy�n đối [tiếng việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], từ ngữ xuất hiện trong một đoạn văn của quyển Luận Ngữ (The Analects) trong đ� Khổng Tử đ� chỉ tr�ch việc học tập m� kh�ng c� gi� trị thực tiễn.  Trong c�c đọan văn n�y, lu�n lu�n ca ngợi năng lực thực tế, ch�ng ta nghe thấy �m vang của thi ca của Trần Nguy�n Đ�n.  �ng Nguy�n Đ�n, trong cặp đ�i đầu ti�n của một b�i thơ gửi cho người anh em của �ng Khanh, c� viết:

 

     An d�n v� cứu gi�p cuộc sống l� c�ng việc của tất cả ch�ng tạ

     (Khi) anh bước b�n bờ đầm lầy, h�y ca h�t khi dấn bước; anh kh�ng cần phải cảm thấy c� đơn.31

  

     Tương tự, c�c b�i thơ của �ng Khanh viết ra khi l�m quan coi nhẹ khả t�nh rằng một quan chức th� c� đơn.

 

     Một quy ước nữa c� thể được ghi nhận.  Trong c�u cuối c�ng của b�i X, �ng Khanh đề cập đến nh� l�nh đạo, Hồ Qu� Ly, như �nh� l�nh đạo kh�n ngoan�.  Th�nh ngữ [anh minh], quen thuộc với c�c thi sĩ Trung Hoa cũng như Việt Nam, kh�ng phải l� bằng cớ của sự k�nh trọng c� nh�n của �ng Khanh d�nh cho Hồ Qu� Ly, kẻ đ� cho �ng Nguy�n Đ�n về vườn v� c�n giết cả cha của �ng Khanh.32    

 

Trong thi ca về đời sống quan chức, nh� vua thường được gọi l� �anh minh� (sage).  Trần Nguy�n Đ�n ch�o mừng �ng quan học giả, Nguyễn Trung Ngạn, về việc phục vụ qua năm thời trị v� của �c�c Thi�n Tử l� c�c minh qu�n�.33  �ng Trần Nguy�n Đ�n đề cập đến cả nh� vua bất t�i Nghệ T�n (1370-1394) trong đường hướng n�y khi �ng viết rằng �vị anh minh khai mạc cho cuộc khảo th�.�34  Trong một b�i thơ m� tả một vi�n chức l� kẻ �c� t�i đức đ�ng k�nh�, �ng Khanh c� thể được kỳ vọng sẽ kết th�c lời ch�c mừng của �ng bằng c�u n�i rằng người bạn của �ng đang phục vụ cho một minh qu�n.  Hai từ ngữ li�n hệ với nhau về mặt hinh tượng v� c� t�nh c�ch kh�ch quan ngang nhau.35 

 

     Một cuộc nghi�n cứu s�u hơn thi ca Việt-H�n trong thời cuối thế kỷ thứ mười bốn sẽ kh�ng những chỉ cho thấy tầm mức m� �ng Khanh đ� tham gia v�o c�c quy uớc văn chương đương đại m� cũng sẽ gi�p v�o việc kh�i phục � nghĩa ch�nh x�c v� tầm quan trọng của c�c h�m � của văn chương gi�o huấn Trung Hoa vốn thường xuất hiện trong c�c t�c phẩm Việt Nam, d� l� trong văn xu�i hay văn vần.  Ch�ng ta đ� nhận thấy rằng �ng Khanh tr�ch dẫn từ quyển Luận ngữ v� từ Kinh Thi.  �ng so s�nh người cha vợ với Han Ch�i.  Khi �ng ph� b�nh c�c quan chức v� kh�ng c� �đức t�nh trong sạch�, �ng mang �m vang như một Mạnh Tử xa xưa.36  Lời thỉnh cầu của �ng mong c� c�c người c� học thực v� quan t�m mang hương vị c�u n�i nổi tiếng của Fan Chung-yen: �Trước khi phần c�n lại của thế giới bắt đầu lo �u, thức giả lo �u trước rồi �� 37

 

     Sự giải th�ch th�ng thường cho sự xuất hiện c�c đoạn văn gi�o huấn trong văn chương Việt-H�n thời thế kỷ thứ mười bốn l� một số quan chức �học giả giờ đ�y chấp nhận c�c toa thuốc của Khổng Tử về việc cải thiện ch�nh quyền v� x� hội.  T�i chọn việc chấp nhận quan điểm rằng người Việt Nam trong vấn đề n�y, v� nhiều thế hệ trước họ, đ� th�ch nghi trong việc địa phương h�a c�c phần tr�ch dẫn th�ch họp từ văn chương Trung Hoa để vay mượn v� truyền đạt thẩm quyền của ng�n từ hoa mỹ cho c�c sự x�c quyết của ch�nh họ.  Họ đ� cấu tạo một c�ch kh�n kh�o mối tương quan mới giữa c�c tr�ch dẫn v� c�c thực t� của Việt Nam.  Đ�y l� l� do tại sao đức Hưng Đao Vương, trong lời Hịch nổi tiếng của �ng năm 1285, đ� khai m�o cho lời k�u gọi sự ủng hộ chống lại qu�n M�ng Cổ bằng một danh mục c�c thần d�n trung th�nh được ghi ch�p trong lịch sử Trung Hoa từ �c�c thời xa xưa� (*f).  �ng đ� muốn tăng cường sự x�c quyết của �ng rằng �từ thời cổ đ� lu�n lu�n c� những người sẵn l�ng hy sinh th�n m�nh.38   C�c anh h�ng Trung Hoa đ� kh�ng l� tấm gương duy nhất về những người như thế, nhưng h�nh vi anh h�ng của họ đ� c� � nghĩa đặc biệt bởi v� n� được ghi ch�p trong văn chương v� c� thể cung cấp một sự khẩn n�i �văn chương� cho lời k�u gọi của Hưng Đạo Vương.  C�ng một c�ch, trong c�u thơ cuối của b�i III, �ng Khanh n�i rằng �ng đang đọc lại �b�i văn cổ xưa, b�i Đai Đ�ng�.  Nhưng người đọc thơ của �ng sẽ nhận ra rằng �ng kh�ng l�m g� kh�c hơn l� n�i kh�o về nỗi bất m�n cực kỳ của �ng trước việc c�c chức vụ trong ch�nh quyền bị nắm giữ bởi c�c người thấp k�m.

 

     Tu từ l� một hiệu ứng văn chương, v� thi ca, hơn bất kỳ thể loại n�o kh�c của văn chương, lệ thuộc v�o c�c hiệu ứng văn chương.  Một thủ thuật được cung cấp cho nh� thơ Việt Nam l� �m chỉ c�c mẩu chuyện nổi tiếng trong thi ca Trung Hoa, như �ng Khanh đ� l�m khi �ng giới thiệu c�c đoạn trong thơ của Ch�u Tz�u hay Tu Fu (Đỗ Phủ) trong c�c b�i I v� XIII để l�m mạnh th�m sự biểu lộ nỗi sầu muộn v� cảm t�nh d�nh cho một người bạn.  C�c sự �m chỉ kiểu như thế l� c�c sự vận dụng căn chương, v� một th� dụ tốt được cung cấp ở b�i VII, nơi �ng tr�ch dẫn th�nh ngữ của P�ei I-chih (Bạch Cư Dị?) �bốn hay năm ch�u� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] nhưng đảo ngược � nghĩa nguy�n thủy của n� để chỉ �khoảng c�ch rất xa�.  �ng Khanh cũng khai th�c c�c đoạn văn trong lịch sử Trung Hoa.  �ng ca tụng học vấn của b� bạn �ng nhưng �m chỉ một c�ch cẩn trọng đến Ch�en Teng, K�ou Hsun, v� Chang Ch�ien để nhấn mạnh c�c đặc t�nh thực tế của họ.

 

     Một hiệu ứng văn chương kh�c c� thể được đạt tới bằng c�ch du nhập c�c đoạn văn từ c�c t�c phẩm gi�o huấn Trung Hoa khi c�c thi sĩ Việt Nam soạn thảo c�c vần thơ dưới �p lực của sự bất ổn x� hội.  Loại văn chương Trung Hoa n�y được nhắm v�o việc giảng dạy c�c điều kiện để c� một ch�nh quyền tốt, v� một đầu v�i tr�t đổ một c�ch h�o ph�ng từ kho ngữ vựng của n� để mang lại c�c ng�n từ b�ng bẩy l� những g� m� người ta n�n kỳ vọng trong c�c thời kỳ x�o trộn của phần cưối thế kỷ thứ mười bốn, khi c�c người c� học thức tham gia t�ch cực trong đời sống c�ng vụ.  Tại Trung Hoa trong thế kỷ thứ mười một, c�c người học thức đ� tham gia t�ch cực như thế, v� một số tư tưởng của họ, v� hẳn nhi�n, cả c�c đề xướng kh�c nừa, đều được hay biết tại Việt Nam.  Cả hai nh�m c�c người c� học thức đều quan t�m, th� dụ, đ�n c�c sự so s�nh qu� khứ với hiện tại, v�, tr�n hết, về nhu cầu c� c�c biện ph�p thực tế nhằm cải thiện ch�nh quyền.  Hơn nữa, v� đặc biệt sau khi c� sự băng h� của vua Minh T�n năm 1357, khi c� c�c nh� l�nh đạo nhu nhược, c�c quan chức đ� kh�ng ngần ngại đề xuất sự khuyến c�o, v� nơi đ�y c� điều g� kh�c nữa tương đồng với Trung Hoa dưới thời nh� Tống.  Một số c�c quan chức n�y c� thể c�n giả định rằng c�c tiền lệ h�nh ch�nh Trung Hoa đ�i khi c� thể gợi � về c�c giải ph�p cho c�c vấn đề cụ thể của xứ sở của ch�nh họ.  Sự quan t�m của họ về việc giảng dạy c�c bổn phận gia đ�nh cho d�n qu� Việt Nam l� một th� dụ, v� l� do l� v� d�n l�ng gi� từ gia đ�nh của họ để gia nhập c�c nh�m phi�u lưu.

 

     Nhưng kh�ng c� điều g� trong thủ thuật n�y lại c� nghĩa rằng thế giới quan của c�c quan chức- học giả nh� Tống đ� được sao ch�p tại Việt Nam.  Giả định một c�ch kh�c sẽ đi ngược với chiều hướng Việt Nam trước đ�y v� vốn c� t�nh c�ch thực dụng đối với kinh nghiệm Trung Hoa, bởi theo đ� một th� dụ nổi bật l� sự cắt tỉa một định chế trie6`u đ�nh kiểu Trung Hoa sao cho ph� hợp với c�c nhu cầu của ho�ng cai trị họ L�.  Một th� dụ đặc sắc của c�ng chiều hướng n�y được cung cấp trong năm 1392 bởi sự vận dụng của L� Qu� Ly gi�o điều Trung Hoa về sự kế ng�i của c�c minh qu�n để thay thế Khổng Tử bằng Chou-kung (Chu C�ng?), kẻ bảo vệ cho Chou Ch�eng-wang (Chu Th�nh Vương?) c�n trẻ tuổi.  �ng ta đ� l�m như thế để n�ng cao tư thế của m�nh xuy�n qua vỏ bọc của ẩn dụ về Chu C�ng.  �ng đang chuẩn bị nền tảng cho sự tuy�n c�o của nh� vua Nghệ T�n đang hấp hối trong năm 1394 rằng L� Qu� Ly sẽ bảo vệ cho kẻ nối nghiệp ho�ng triều, như Chu C�ng v� c�c nh�n vật kh�c (kể cả T� Hiến Th�nh trong thế kỷ thứ mười hai) đ� l�m.  Sau đ� L� Qu� Ly đ� mau ch�ng sửa đổi ẩn dụ của m�nh để d�n dựng một kich bản ch�nh trị dựa tr�n tiền lệ của việc quần ch�ng t�n ph� �ng Shun (Nghi�u?), một phụ t� của vua Yao (Thuấn?) l�n ng�i, m� gạt bỏ người con bất t�i của vua Thuấn.  �ng ta giờ đ�y tự đ�ng vai tr� của �ng Nghi�u, v� �ng đ� đổi t�n  nước th�nh Đại Ngu (Ta-yu), quốc hiệu của đế quốc của vua Nghi�u.  Khi �ng ta tiếm ng�i v�o năm 1400, �ng tuy�n c�o ni�n hi�u trị v� l� �năm thứ nhất của minh qu�n�.  C�c học giả thấu hiểu � nghĩa của c�c sự dụng ngữ  n�y, v� chỉ c� một số �t người trong họ c� đủ can đảm để phản đối nh�n danh nh� Trần.

 

     Trong thế kỷ thứ mười bốn, �m vang của văn chương gi�o huấn Trung Hoa được t�m thấy trong c�c t�c phẩm của Việt nam kh�ng phải v� c�c quan chức-học giả Việt nam đột nhi�n v� chủ định tự � noi theo c�c th� dụ của Trung Hoa.  Thay v�o đ�, c�c t�nh chất của khung cảnh ch�nh trị v� x� hội của họ đặc biệt giống như c�c t�nh trạng được ghi ch�p trong c�c t�c phẩm của phương Bắc, v� c�c sự tương đồng đ� cổ vũ họ t� điểm c�c t�c phẩm của m�nh bằng c�c mẩu chuyện th�ch hợp của văn chương Trung Hoa, như Hưng Đạo Vương đ� l�m hồi năm 1285.  V� như thế, Trần Nguy�n Đ�n c� thể đ� tin rằng Chu Văn An giống như một �Han Yu� (H�n Dũ?)39, nhưng chỉ trong � nghĩa rằng �ng An cố gắng để phục hồi c�c ti�u chuẩn Việt Nam trước đ�y về một ch�nh quyền tốt.  Han Ch�i tượng trưng cho Trần Nguy�n Đ�n bởi �ng Khanh đ� quyết đ�an rằng, trong mục đ�ch đặc biệt của một b�i thơ của �ng, thời học việc của Wang An-shih (Vương An Thạch) dưới [sự chỉ bảo của] �ng Han Ch�I đ� cung cấp một sự chuyển nghĩa cặn kẽ cho sự li�n kết của ch�nh �ng với người bảo trợ của �ng, Trần Nguy�n Đ�n.  �ng Khanh đ� kh�ng long trọng tuy�n bố sự ngưỡng mộ của �ng đối với Vương An Thạch, kẻ đ� k�u gọi một cuộc x�m lăng Việt Nam hồi thế kỷ thứ mười một.  �ng chỉ biết rằng sự học việc của Vương An Thạch l� giai đọan đầu ti�n của một chức nghiệp rất th�nh c�ng, v� �ng muốn ph�c họa một sự tương phản chua s�t giữa c�c niềm hy vọng trước đ�y của �ng với hiện trạng đau khổ của �ng, giống với h�an cảnh của Tư M� Tương Như (Ssu-ma Hsiang-ju) khi �ng n�y kết h�n với con g�i nh� gi�u.  B�i thơ n�y cho ch�ng ta biết, kh�ng g� kh�c hơn, l� �ng Khanh quen thuộc với văn chương nh� H�n v� nh� Tống.

 

     C�ng loại hiệu ứng văn chương cũng được cung cấp bởi c�c sự tham chiếu đến �d�n ch�ng� hay �d�n ch�ng n�y�, trở th�nh thường xuy�n hơn nhiều trong thi ca của hậu b�n thế kỷ thứ mười bốn.  Kh�ng c� triết gia Trung Hoa cổ thời n�o viết nhiều về người d�n cho bằng Mạnh Tử, v� quyển Mạnh Tử (The Book of Mencius) đ� rất nổi tiếng dưới triều nh� Trần.40  Trong thơ văn tao nh� được viết khi sự tu�n phục của c�c n�ng d�n Việt Nam kh�ng c�n c� thể được xem l� chuyện đương nhi�n, c�c sự đề cập đến �d�n ch�ng� được chấp nhận như c�c quy ước giống như c�c th�nh ngữ �anh minh� (Sage) v� �hiền nh�n đ�ng k�nh� (worthy) để chỉ nh� vua v� c�c quan chức của �ng.

 

     C�c b�i thơ được duyệt x�t trong b�i khảo luận n�y để t�n dương c�c quan chức c� học thức v� tận tụy đ� bắt đầu nổi tiếng trong thế kỷ thứ mười bốn. Nguyễn Tr�i, trong thời kỳ học tập của �ng, đ� thấm nhuần sự tin tưởng của th�n phụ, v� kh�ng c� g� đ�ng ngạc nhi�n khi Nguyễn Tr�i đ� trở th�nh tai mắt của người th�nh lập ra triều đại nh� L�, �ng đ� soạn thảo một sắc dụ về nhu cầu �t�m  kiếm c�c nh�n t�i� 41. Bản văn của �ng Nguyễn Tr�i nằm trong truyền thống của Nguyễn Phi Khanh cũng như Trần Nguy�n Đ�n, �ng ngoại của Nguyễn Tr�i, v� l� một chiếc cầu nối liền hai thế kỷ.  Một chiếc cầu kh�c được dựng l�n bởi �ng Phan Phu Ti�n, được sinh ra trong những năm cuối của thế kỷ thứ mười bốn v� l� người bi�n soạn c�c bi�n ni�n sử nh� Trần hồi giữa thế kỷ thứ mười lăm. �ng Ti�n đ� ghi ch�p về tấm gương của �ng Chu Văn An bằng nhiệt t�nh, trong khi �ng Khanh t�n dương những người thi h�nh nhiệm vụ của m�nh như �ng An đ� đ�i hỏi họ v� đ� l�m như thế với nhiệt t�nh của một kẻ sống gần với thời đại của �ng An v� l� con rể của một kẻ ngưỡng mộ �ng Chu Văn An.

 

     �ng Ti�n, trước t�c hồi giữa thế kỷ thứ 15, cung cấp t�i liệu l�m bằng cớ cho việc t�i dựng lịch sử trong thế kỷ thứ mười bốn, nhưng khi ch�ng ta cố gắng t�m hiểu tiến tr�nh văn chương t�c động v�o việc h�nh th�nh c�c b�i thơ của �ng Khanh, ch�ng ta đang di chuyển về ch�nh thế kỷ 14 với một sự tiếp cận trực tiếp m� chỉ c� sự nghi�n cứu văn bản mới mang lại được.  Người Trung Hoa c� c�u n�i: �Văn chương v� lịch sử kh�ng ph�n chia một gia đ�nh (= c� nghĩa, kh�ng phải l� c�c lĩnh vực ri�ng biệt.)�.  C�c văn bản cũng như c�c t�i liệu g�p phần v�o một sự hiểu biết hơn về qu� khứ,  với điều kiện rằng c�c sự khảo s�t về văn bản v� t�i liệu phải được nh�n nhận như c�c l�nh vực ri�ng biệt, ngay d� đ�i khi c� tr�ng lấp l�n nhau.

 

     James Joice đ� c� lần nhận x�t: �Người �i Nhĩ Lan bắt buộc phải tự diễn tả bằng một ng�n ngữ kh�ng phải của ch�nh họ, đ� đ�ng tr�n ng�n ngữ đ� dấu ấn của thi�n t�i của ch�nh họ v� cạnh tranh sự vinh quang c�ng với c�c d�n tộc văn minh. Việc l�m n�y về sau được gọi l� văn chương Anh Ngữ.�  Người Việt Nam chưa bao giờ bị bắt buộc phải diễn tả ch�nh m�nh trong một ng�n ngữ kh�ng phải của ch�nh họ. Họ lu�n lu�n n�i tiếng Việt Nam v� ngay trong thế kỷ thứ 14, một văn tự bản xứ (chữ N�m) đ� được chắp c�nh l�m thơ theo c�ch ri�ng của n�. �ng Nguyễn Phi Khanh đ� viết những b�i thơ bằng văn tự đ� để t�n tỉnh b� Trần Thị Th�i. Song người Việt Nam cũng vẫn tiếp tục l�m thơ bằng chữ H�n v� trong những hạn chế của thi luật Trung Hoa.  Liệu họ đ� đ�ng dấu thi t�i của ch�nh họ tr�n thi ca Việt H�n v� liệu những b�i thơ hay nhất thuộc lọai n�y c� cạnh tranh được với c�c b�i thơ hay nhất của thi ca Trung Hoa hay kh�ng ?  T�i hi vọng rằng những c�u hỏi n�y kh�ng nằm ở phần ngọai vi của c�c cuộc nghi�n cứu về văn h�a Việt Nam v� rằng ch�ng sẽ l�m một phần trong chương tr�nh l�m việc của tạp ch� Việt Nam Forum [Yale University] trong tương lai./-

 

 

 

NGUY�N BẢN V� PHẦN DỊCH NGHĨA

14 B�I THƠ CỦA NGUYỄN PHI KHANH

 

 

NH�M �A�                                             

                                                                

I 42

 

 

                             THU DẠ TẢO KHỞI K� HỒNG CH�U KIỂM CH�NH

 

                            

Tịch mịch thư trai � bất li�u,

                             � Di s�ng thu hộ th�nh ba ti�u.

                             � Nguyệt t�n cẩm hạng chung thanh hiểu,

                             � Phong h�m đồng th�n m� t�c ki�u.

                             � Tao cốt dục thanh thi c�nh ho�n,

                             � Bệnh căn vị khứ dược ho�n ki�u.

                             � H� đồng tĩnh tảo s�i m�n diệp,

                             � Lưu đ�i qu�n lai thoại c�ch tri�u.

 

秋夜早起寄洪江檢正

,
.
,
.
,
.
,
.

                            

DẬY SỚM Đ�M THU VIẾT GỬI [B�I THƠ N�Y]

CHO  QUAN KIỂM CH�NH ĐẤT HỖNG CH�U

 

Một m�nh trong thư ph�ng, t�i lấy l�m buồn b� 43.

T�i rời chiếc ghế trường kỷ đến cạnh c�nh cửa m�a thu v� nghe tiếng mưa rơi lộp độp tr�n c�c c�y chuối.

Khi mặt trăng t�n dần tr�n khu phố h�ng th�u, tiếng chu�ng vang l�n b�o hiệu buổi b�nh m�nh.

Gi� lay động phường h�ng đồng, v� c�c con ngựa đang giặm ch�n trước một c�ch bồn chồn.

Nếu muốn thể hiện r� r�ng thể thơ sầu muộn, 44 c�ch đọc thơ sẽ phải được thay đổi đi.

Nếu căn nguy�n của cơn bệnh kh�ng biến mất đi, thuốc men sẽ lại phải cần đến.

T�i đ� sai đứa con trai ra qu�t l� trước cổng nh� qu� m�a.

T�i chờ đợi nơi đ�y việc �ng trở lại để n�i chuyện th�u đ�m.

 

***

 

                                                                 II 45

                            

 

TỐNG TH�I HỌC SINH NGUYỄN H�N ANH QUI HỒNG CH�U

 

Đăng tiền tạc dạ thoại th�ng th�ng,

M� thủ kim tri�u khỏa hiểu phong.

Vọng nh�n d�n huyền thi�n khuyết sắc,

Qui t�m ninh tr� thủy kh� đ�ng.

H�e đ�nh nguyệt bạch l�n th� thước,

L� ngạn thu cao t�ch biệt hồng.

Đạo tuyết đăng hương th�n nhưỡng thục,

Trần ai ta ng� bạn c� tung.

送太學生阮漢英歸洪州

,
.
,
.
,
.
,
.

 

TIỄN CH�N HỌC GIẢ NGUYỄN H�N ANH QUAY VỄ HỒNG CH�U

 

Trước đ�n đ�m qua ch�ng ta vội v�ng n�i chuyện,

S�ng nay nơi đầu ngựa �ng ra đi trong gi� b�nh m�nh.

Đ�i mắt đăm đăm của t�i chỉ nhằm v�o kinh đ� nơi ph�a bắc,

Nh�n v�o l�ng m�nh t�i thấy m�nh n�n cư ngụ giữa s�ng rạch miền đ�ng th� đ�ng hơn.

Tr�n m�i dinh Quan Thượng Thư 46 trăng giờ đ�y đang mờ nhạt.  T�i cảm thấy thương t�m cho c�c con chim �c l� đang ngủ nhờ,

Tr�n bờ lau sậy, trời thu đang l�n cao.  T�i than kh�c khi thấy c�c con ngỗng đang ra đi.

Gạo th� trắng, cam th� thơm v� c�y nho trong l�ng đang chin mọng,

Than �i, trong thế giới của m�nh, t�i đang bị r�ng buộc với c�c sợi d�y c� đơn.

 

 

***

 

 

                                                                 III47

 

                             THU NHẬT HIỂU KHỞI HỮU CẢM

 

                             T�n mộng sơ sơ tỉnh hiểu chung,

                             Nhật h�m thu ảnh xạ song lung.

                             Kh�ch ho�i ủng chẩm y mi�n hậu,

                             T�m sự phần hương ngột tọa trung.

                             Đ�nh ngoại tảo sầu khan lạc diệp,

                             Thi�n bi�n s�i lệ sổ chinh hồng.

                             � h� thế đạo h� như ng�,

                             Tam phủ di bi�n ph� Đại đ�ng.

 

秋日曉起有感

,
.
,
.
,
.
,
.

                 

X�C CẢM D�NG CAO V�O BUỔI S�NG MỘT NG�Y M�A THU

 

Giấc mơ tả tơi của t�i đang mờ dần.  T�i bị đ�nh thức bởi tiếng chu�ng điểm v�o l�c b�nh m�nh.

Mặt trời tỏa c�c tia s�ng m�a thu xuy�n qua khung cửa sổ.

Ngực t�i �p v�o chiếc gối khi trở m�nh sau giấc ngủ,

Với t�m tư lo lắng t�i đốt l�n n�n hương.  T�i dựng lưng thẳng tr�n chỗ ngồi.

(Nh�n ra) s�n vuờn b�n ngo�i, nỗi buồn của t�i k�o d�i ra khi nh�n thấy l� rơi.

(Vời tr�ng) về phương xa, t�i lau gi�ng nước mắt khi đếm đ�n ngỗng ra đi.

Than �i! ng� đời n�o d�nh cho tổi đi,

T�i đ� vấp v�p đến l�n thứ ba khi đọc b�i ph� Đại đ�ng 48.

 

 

***

 

                                                                 IV49

 

                            

THU TRUNG BỆNH

 

 

                             Ti�u ti�u phong động chuyển th� thanh,

                             Thi�n địa sơ thu kh�ch tử t�nh.

                             Long Kh�nh nhị ni�n t�n Tiến sĩ,

                             Kiều t�i tam qu�n cựu thư sinh.

                             Thiếu ni�n cảm phụ H�n Trung Hiến,

                             Đa bệnh ho�n li�n M� Tưởng Khanh.

                             Vạn sự bội nh�n ti�u tiệm vĩnh,

                             Trữ sầu khi ngọa sổ t�n canh.

 

秋中病

,
.
,
.
,
.
,
.

BỊ BỆNH TRONG M�A THU

 

Gi� r�t thổi qua v� mang c�ng n� l�n hơi mới gi� lạnh,

Trời bắt đầu v�o thu.  Gi� buốt lạnh khuấy động l�n niềm x�c cảm.50

Năm 1374 t�i vừa mới thi đỗ Tiến sĩ,

Tại ba văn ph�ng của Ch�iao-ts�ai (Kiều t�i) thủa xưa c� c�c nh� học giả.51

Khi t�i c�n trẻ t�i cầm bằng dựa v�o một H�n Trung Hiến (Han Chung-hsien), 52

Nhưng giờ đ�y t�i đang mang trọng bệnh, t�i thương cảm đến cả một M� Tưởng Khanh(Ma Ch�ang-ch�ing).53

Trong mu�n việc t�i l� kẻ bị ruồng bỏ.  Sương lạnh đang dần đ�ng th�nh băng đ�,

Với sầu muộn dồn �p v� đang nằm tr�n giường, t�i đếm canh t�n trong đ�m.

 

***

NH�M �B�

 

                                                                 V54

 

                             TH�N CƯ CẢM SỰ K� TR�NH BĂNG HỒ TƯỚNG C�NG

 

                             Đạo huề thi�n l� x�ch như thi�u,

                             Điền d� hưu ta � bất li�u.

                             Hậu thổ sơn h� phương địch địch,

                             Ho�ng thi�n vũ lộ ch�nh thiều thiều.

                             Lại tư v�ng cổ hồn đa kiệt,

                             D�n mệnh cao chi b�n dĩ ti�u.

                             Hảo bả t�n thi đương tấu độc,

                             Chỉ kim ngọa bệnh vị năng triều.

 

������ �

������������������������������ ����������� 村居感事寄呈冰壼相公

,
.
,
.
,
.
,
.

 

 

CẢM X�C BỞI HO�N CẢNH KHI SỐNG TẠI L�NG QU�:
K�NH GỬI NG�I THƯỢNG THƯ BĂNG HỒ
55

                            

H�ng ng�n dặm đồng ruộng đỏ rực như thể ho�n to�n bị thi�u đốt,

Đồng qu� r�n rỉ v� than v�n.  T�i thật buồn b�.56

N�i s�ng của Thổ Thần (God of the Soil) giờ đ�y kh� cằn nứt nẻ,

Mưa, sương của Trời Cao h�y c�n m�i ở nơi xa.

Mạng lưới c�c quan chức địa phương đ� ho�n to�n kiệt sức,

Khẩu phần được ph�n chia của người d�n đ� ti�u hết ph�n nửa.

Điều tốt nhất m� t�i c� thể l�m l� viết một b�i thờ Đường mới đề d�ng như một sự ghi nhớ,

Cho việc h�m nay t�i đang nằm đau ốm v� vẫn chưa c� thể dự việc Triều đ�nh.

 

 

***

 

                                                                 VI57

 

                            

TH�NH TRUNG HỮU CẢM K� TR�NH ĐỒNG CH�

 

                             Triều trung chu tử động ph�n ph�n,

                             Huyễn nh�n th�y năng c�c tự ph�n.

                             Đầu thượng l�o thi�n y nhật nguyệt,

                             Nh�n gian mộng cảnh ph� y�n v�n.

                             Tập Tr� h� xứ chi�u Sơn Giản,

                             Đỗ Kh�c v� tiền mịch Quảng Văn.

                             Mưu nghị miếu đường ng� khởi cảm,

                             Nghĩ tương tuyền thạch mộng chư qu�n.

 

������������������������������ ����������� 城中有感寄呈同志

,
.
,
.
,
.
,
.

 

NHỮNG CẢM X�C VỀ KINH TH�NH GỬI CHO C�C BẠN T�I Ở Đ�

 

Tại Triều Đ�nh, c�c người gi�u c� đang h�nh động trong một cung c�ch nhầm lẫn

Khi đ�i mắt của họ bị sai lạc, l�m sao lại c� thể c� bất kỳ người n�o trong họ nh�n thấy được tương lai?  

Tr�n đầu người ta, Trời Gi� t�y thuộc v�o mặt trời v� mặt trăng,

Trong thi�n hạ, c�c kẻ lạc lối ph� th�c đời m�nh cho kh�i m�y.

Trong c�c khu vườn ao hồ của gia đ�nh Tập Tr�, người ta c� thể t�m thấy một Sơn Giản (Shan Chien) 58 nơi đ�u?

Khi gia đ�nh Đỗ Kh�c (Tu family of Ch�u) kh�ng c� tiền của, họ vẫn c�n t�m nơi chốn ở Quảng Văn (Kwang-wen) 59.

T�i n�o d�m nghĩ đến việc tham mưu v� nghị luận tại Thế Miếu của Triều Đ�nh,

T�i đ�nh nghĩ đến việc nắm giữ được c�i đẹp của thi�n nhi�n v� mơ tưởng đến c�c bạn.

 

 

***

 

                                                                 VII60

 

HỒNG CH�U KIỂM CH�NH DỮ DỰ V�N T�C THUẬT
HO�I THI KIẾN PH�C DỤNG KỲ VẬN DĨ TẶNG

 

                             Vạn t�nh ngao ngao đ�i bộ cầu,

                             Th�y gia kim ngọc � cao kh�u.

                             Nh�n t�nh gian hiểm qu�n phương cốc,

                             Thế lộ phong đ�o ng� diệc ch�u.

                             Đế l� kh�ch ho�i ph�ng mộ vũ,

                             Thư ph�ng cựu thoại niệm anh du.

                             T�y phong qu�t mộng truyền bi�n t�n,

                             Tr�ng đoạn nam nhi�n tứ ngũ ch�u.

 

 

������������������������������ ����������� 洪州檢正以余韻作術懷詩見復用其韻以贈

,
.
,
.
,
.
西,
.

 

QUAN KIỂM CH�NH ĐẤT HỒNG CH�U D�NG VẦN CỦA T�I L�M MỘT B�I THƠ ĐỂ B�Y TỎ CẢM NGHĨ CỦA �NG.  SAU KHI ĐỌC B�I THƠ, T�I D�NG NGUY�N VẬN ĐỂ TẶNG �NG C�C C�U THƠ SAU.

 

Người người đang than kh�c.  Họ ng�ng chờ cho ăn v� cho mặc,

Đ�u l� những gia đ�nh trong họ c� của cải qu� gi� chất cao như c�c ngọn n�i?

Trong những l�c kh� khăn v� hiểm nguy của nh�n t�nh, �ng như trục của b�nh xe,

Trong khi trong cơn s�ng gi� của cuộc đời t�i thực sự l� một con thuyền.

Trong ng�i l�ng ho�ng gia đ� c� một t�nh đồng ch� khi mưa rơi xuống v�o buổi tối,

Trong thư ph�ng c� c�c c�u chuyện xa xưa khi họ nhớ về c�c cuộc mạo hiểm.61

Cơn gi� từ hướng t�y (của m�a thu) đ� thổi bay mất giấc mơ của t�i v� mang lại c�c tin tức từ c�i bi�n th�y,

T�i lấy l�m lo sợ nhiều cho khu ph�a nam bao gồm bốn, năm ch�u huyện.62

 

 

***

 

 

                                                                 VIII63

 

                             KỲ NHỊ

 

                             Mạn tằng nhất đệ s� hương t�n,

                             Thủy đạo thanh phong bất liệu bần.

                             Sương hậu c�c hoa ho�n tửu kh�ch,

                             Tuyết trung mai � khả thi nh�n.

                             Ng�m bi�n kh�ch x� song bổng mấn,

                             Mộng l� thi�n m�n b�t dực th�n.

                             Th�nh nguyệt phố v�n tương vọng xứ,

                             Cố nh�n lai địa dục thanh xu�n.

 

 

������������������������������ ����������� 洪州檢正以余韻作術懷詩見復用其韻以贈

,
.
,
.
,
.
,
.

                            

B�I THỨ NH� [trong nguy�n bản Anh ngữ chỉ ghi số 2, ch� của người dịch]

 

T�i lấy l�m khinh thị một kẻ kia, được thăng một cấp, đang khoe khoang với c�c h�ng x�m qu� nh� �ng ta,

Ai l� kẻ n�i được rằng �ng ta l� người c� thanh cao khi �ng ta kh�ng gi�p đỡ kẻ ngh�o? 64

Sau cơn sương gi�, hoa c�c lại mời gọi kh�ch uống rượu,

Trong cơn b�o tuyết sự trầm tư của hoa mai c� thể khởi hứng cho nh� thơ.

Ca h�t b�n cạnh một nh� nghỉ kh�ch, t�c mai b�n m� rối bời l�n,

T�i mơ rằng t�i đang ở cổng Thi�n Đường c� con chim t�m c�nh. 65

Nơi m� trăng tr�n th�nh phố v� m�y ở bờ s�ng đối diện nhau,

Đ� l� nơi m� người xưa t�m đến để mong c� một m�a xu�n thanh khiết. 66

 

 

***

 

                                                                 IX67

 

 

                             HỒNG CH�U PH�C TIỀN VẬN PHỤC K� Đ�P CHI

 

                             H�e phủ t�y bi�n v�n bốc l�n,

                             Ti�n nhi�n nhất thất lạc thanh bần.

                             S�ng đầu kim kiếm thủ tri kỷ,

                             Chẩm hạn ho�ng lương mộng cố nh�n.

                             Hồ hải đương ni�n thi�n hạ sĩ,

                             Phong lưu thử nhật sảnh lang th�n.

                             Kh�ch tr�nh tuế mộ h�n bi�m cốt,

                             Tối �i Băng Hồ biệt dạng xu�n.

 

洪州復前韻復寄答之

 

西,

.

,

.

,

.

,

.

 

                            

HỌA C�NG NGUY�N VẬN MỘT LẦN NỮA, ĐỂ Đ�P LẠI HỒNG CH�U

 

B�n h�ng ph�a T�y của văn ph�ng quan Thượng Thư, hồi gần đ�y t�i c� chọn một địa điểm l�n cận,

T�i (đang sống) c� đơn trong một t�p lều độc nhất nhưng lấy l�m th�ch th� trong cảnh ngh�o v� thanh bạch của t�i. 68

Mặc d� đang ngh�o, t�i hứa với c�c b� bạn th�n nhất của t�i l� sẽ đ�i rượu. 69

T�i nhận thức sự ph� phiếm của danh vọng v� sự gi�u c�. 70  T�i mơ về người xưa.

Đất nước trong những thời xa xưa đ� l� một đế quốc với c�c học giả,

Những người tầm thường ng�y nay đang l� c�c vi�n chức trong Ban Thư K�. 71

Khi t�i bước đi ngang qua thế giới, thời cuối của một năm l� khi cơn buốt gi� l�m lạnh căm đến tận xương t�i,

Ng�i Băng Hồ y�u qu� nhất của t�i hẳn sẽ c� một m�a xu�n kh�c biệt. 72

 

***

 

 

NH�M �C�

 

                                                                 X73

 

 

HẠ KINH TRIỆU DO�N NGUYỄN C�NG VI V�N ĐỒN KINH LƯỢC SỨ

 

                             Chi bột ưu ban tự cứu thi�n,

                             Vinh thi�n Kinh Lược Sứ ty quyền.

                             Triều m�n b�n thị ngao hồng trạch,

                             Đồn lĩnh do t�n kiếp thạch y�n.

                             Tr� hoạch tiểu thi kinh quốc thủ,

                             Chiết xung chung lại tế thời hiền.

                             Qui lai quĩ lộ dung h� v�n,

                             Th�nh ch�a phương kim cấp tại bi�n.

 

賀京兆尹阮公為雲屯經略使

,
使.
,
.
,
.
,
.

 

MỪNG �NG NGUYỄN C�NG VI, PHỦ DO�N HUYỆN KINH TH�NH, NH�N DỊP C� SỰ BỔ NHIỆM �NG L�M KINH LƯỢC SỨ TẠI V�N ĐỒN 74

 

Với thẩm quyền đ�ng k�nh nể được ban cấp một c�ch rộng r�i bởi đấng ch� cao,

�ng được vinh thăng l�m Kinh Lược Sứ, nắm giữ quền lực của một quan chức.

Tại cổng Triều Đ�nh ph�n nửa khu vực l� một b�i đầm lầy c� c�c con ngỗng đang ta th�n, 75

Rặng n�i Đồn vẫn lởm chởm với cột kh�i của đ�m tro than.

C�c kế họach của �ng sẽ cho ph�p phơi b�y phần n�o khả năng điều h�nh quốc sự,

Đẩy lui qu�n th� trong sự t�nh to�n sau c�ng t�y thuộc nơi �người đ�ng gi�76 sẽ l� kẻ cứu v�n được thời cơ.

Khi trở về, �ng sẽ khảo s�t con đường.  L�m sao m� �ng c� thể chậm trễ được!

Vị minh ch�a cai trị giờ đ�y đang phải đối ph� với t�nh h�nh khẩn cấp ở bi�n giới.

 

 

***

 

 

                                                                 XI77 

 

                             PHỤNG CHIẾU TRƯỜNG AN ĐẠO TRUNG T�C

 

                             Vũ l�m nhất đới b�ch thiều thiều,

                             Vương sự ninh tử hạt thiệp di�u.

                             Sơn qu�n t�c t�nh y�n thụ hợp,

                             Quận đ�nh hạc no�n tuyết hoa ti�u.

                             Vũ phu cảm khấp quan Đường chiếu,

                             Phụ l�o ph� l� th�nh H�n triều,

                             Tự qu� vi lao h� bổ b�o,

                             Nguyện đương ho�ng h�a đảm thi�n ki�u.

 

奉詔長安道中作

,
.
宿,
.
,
.
,
.

 

MỘT B�I THƠ ĐƯỢC VIẾT KHI NHẬN ĐƯỢC MỘT SẮC DỤ CHỈ THỊ ĐI TRƯỜNG AN

 

Vũ L�m 78 l� một giải đất c� m�u xanh trải d�i đến cuối tầm mắt,

Trong c�ng việc của triều đ�nh, t�i ưa th�ch từ khuớc việc du h�nh v�o nơi xa x�i.

Tại nh� nghỉ tr�n n�i t�i đ� trải qua đ�m.  Đ�m c�y quay quần b�n nhau,

S�n vườn của văn ph�ng t�a tỉnh mang b�u kh�ng kh� ấm �p.  C�nh tuy�t đang tan dần.

Một v� quan đ� cảm động tới rơi lệ khi nh�n thấy một sắc dụ của nh� Đường,

C�c trưởng l�o trong l�ng đ� tựa v�o c�c tham mưu phụ t� của m�nh khi tu�n lệnh của triều đ�nh nh� H�n. 79

T�i lấy l�m bối rối v� một c�ng vụ qu� nhỏ b� như thế.  L�m sau t�i c� thể đền đ�p sự �n sủng?

T�i muốn ph�t huy ảnh hưởng ho�ng triều bằng việc b�nh định qu�n nổi loạn. 80

 

 

***

 

 

                                                                 XII81

 

                                     

                                      TỐNG H�NH NH�N ĐỖ T�NG CHU



                             Cần thủy xu�n phong quế điện thu,

                             Khoa trường lịch lịch ức đồng du.

                             Qu�n kim hựu t�c h�nh nh�n khứ,

                             Ng� độc hồ vi sảnh thuộc lưu.

                             Lĩnh địch v�n khai h�o kh�a m�,

                             Hồ triều tuyết tịnh ổn đăng ch�u.

                             Trượng phu tống biệt h� tu lệ,

                             Nhất tiếu tương khan phủ kho�i hầu.

送行人杜從周

殿,
.
,
.
,
.
,
.

 

TIỄN ĐƯA THANH TRA ĐỖ T�NG CHU

 

Trường Quốc Tử Gi�m trong cơn gi� m�a xu�n sau kỳ thi hương ở l�ng hồi m�a thu,82

Sảnh đường nơi cho thi nổi bật l�n (như thể ch�ng t�i ở đ�).  T�i nhớ lại t�nh đồng song của ch�ng ta.

�ng giờ đ�y một lần nữa phục vụ như một thanh tra 83 v� rời đi xa,

T�i, mặt kh�c, chỉ ở lại như một vi�n chức của Ban Thư K�.

Tại trạm nghỉ ch�n tr�n những ngọn đ�o nơi c�c đ�m m�y tan đi.  Giống như một anh h�ng, �ng sẽ lại cưỡi l�n y�n ngựa.

Tr�n c�c hồ nước v� s�ng rạch, c�c mảnh tuyết đ� tan đi.  �ng sẽ cương quyết đ�p l�n thuyền.

Khi một trượng phu được đưa tiễn, tại sau người ta lại phải kh�c?

Cười l�n, ch�ng ta nh�n nhau (một c�ch đầy tự t�n) v� nắm lấy c�c c�y gươm c� kết dải tua ở đốc kiếm (như Feng Hsuan đ� l�m). 84

 

 

***

 

 

                                                                 XIII85

 

                            

 

HỈ HỌC SĨ TRẦN NHƯỢC HƯ TỰ NGHỆ AN CH�

 

                            �� Đ�o hoa l�ng phiến no�n thanh xu�n,

                             � Hồ hải phong lưu khước tiễn Trần.

                             � L�o ng� nhất quan nh�n thảo chiếu,

                             � Tr�ng qu�n vạn l� viễn từ nh�n.

                             � Mộ văn tự kho�t tương tư địa,

                             � Dạ nguyệt h�n ph�ng cứu biệt nh�n.

                             � Ưu quốc ch�nh tu ng� hối sự,

Bằng cử vị thuyết Nghệ An d�n.

 

喜學士陳若虛自乂安至

,
.
,
.
,
.
,
.

 

CH�O MỪNG VIỆC ĐẾN NƠI CỦA HỌC GIẢ TRẦN NHƯỢC HƯ, TỪ NGHỆ AN

 

Tr�n ngập c�c hoa đ�o nở tung bay, một m�a xu�n đầy hứa hẹn, 86

Người d�n thường của đất nước thực sự ngưỡng mộ họ �Trần�. 87

T�i một quan gi�, bị buộc ch�n bởi bản thảo c�c sắc dụ,

�ng, một người tr�ng kiện, l�a xa gia đ�nh cả ng�n dậm đường.

Ch�ng ta nhớ đến nhau, 88 nghĩ về ch�nh ch�ng ta,

Dưới �nh trăng ban đ�m ch�ng ta vui mừng gặp nhau.  Ch�ng ta đ� xa c�ch nhau l�u ng�y.

Quan t�m đến việc nước thực sự phải l� c�ng việc của ch�ng ta,     

T�i tr�ng cậy nơi �ng để cổ vũ d�n Nghệ An.

 

 

***

 

                                                                 XIV89

 

                             TỐNG TH�I TRUNG ĐẠI PHU L� DUNG TRAI BẮC H�NH

 

                             � L� gia nh�n vật Việt bang hương,

                             � C�ng d� lam thanh xuất dị thường.

                             � Nhất quận sinh linh duy ta Khấu,

                             � Cửu tr�ng sứ giả trọng phiền Trương.

Hạp trung thu thủy thanh trường lộ,

M� thượng xu�n phong th�nh dị hương.

Tảo hướng Nam Đ�i chuy�n đối liễu,

Kinh qui Qu� Vũ t� ng� ho�ng.  

 

送太中大夫黎庸齋北行

,
.
,
使.
,
.
,
.

 

TIỄN TH�I TRUNG ĐẠI PHU, L� DUNG TRAI, TRONG MỘT PH�I BỘ ĐẾN PHƯƠNG BẮC

 

Những người trong gia tộc họ L� l� những người mang lại hương thơm cho đất nước Việt, 90

�ng đ� l� một học giả th�nh đạt 91 vượt qu� mức b�nh thường.

Mọi sinh linh trong quận huyện chỉ mong c� một �ng �Khấu�, 92

Trong tất cả c�c sứ giả của ch�n khu [nine divisions, dịch từ chữ �cửu tr�ng� trong nguy�n bản, c� lẽ t�c giả hiểu sai v� �cửu tr�ng� thường c� nghĩa chỉ nh� vua ngồi ở ngai đặt tr�n ch�n bậc thang, ch� của người dịch] chỉ c� một �họ Trương: Chang Ch�ien�  được xem l� quan trọng nh�t. 93

T�i năng ấn dấu của �ng, giống như một thanh gươm lấp l�nh nằm trong vỏ kiếm, sẽ qu�t sạch mọi kh� khăn tr�n bước đường d�i của �ng, 94

Tr�n lưng ngựa v� với phong th�i khoan h�a �ng sẽ thu thập được sự hiểu biết về c�c miền kh�c nhau. 95

Trong bao l�u nữa, sau khi đ� ho�n tất cuộc hội kiến mỹ m�n 96 tại Nam Đ�i, 97

�ng sẽ quay trở về giống như �ng Qu� (K�uei) v� �ng Vũ (Yu) để trợ gi�p vua ta? 98

 

 

-----

 

 

CH� TH�CH:

 

    

     B�i khảo luận n�y được viết kh�ng l�u sau ng�y sinh nhật thứ bảy mươi lăm của Gi�o Sư Alexander B. Griswold, Chủ Tịch Hội Breezewood.  T�i xin đề tặng b�i viết như một biểu tượng cho l�ng k�nh trọng s�u xa của t�i đối với một học giả, một �n nh�n của giới học thuật, v� một người bạn với giao t�nh hai mươi năm.  C�c gi�o sư Harold Shadick v� James Siegel một lần nữa đ� tử tế để thảo luận thi ca H�n Việt với t�i.

 

1.       Trong năm 1400, �ng đ� đổi t�n của m�nh từ Nguyễn Ứng Long th�nh Nguyễn Phi Khanh.  Theo gia phả nh� họ Nguyễn, trong thế kỷ thứ mười lăm, �ng cũng c�n c� t�n l� Nguyễn Bi�n; xem Phan Huy L� v� Nguyễn Phan Quang, �Mấy vấn đề về d�ng họ, gia đ�nh, v� cuộc đời Nguyễn Tr�i�, Nghi�n Cứu Lịch Sử, 3 (1980), trang 16.  Một gia phả c�n truy nguy�n gia đ�nh �ng l�i xa đến hậu b�n thế kỷ thứ mười.  Một nh� thơ chữ N�m, Nguyễn Thuy�n, thuộc một chi trong gia đ�nh �ng; xem Phan Huy L� v� Nguyễn Phan Quang, b�i dẫn tr�n, trang 14, ch� th�ch 5, v� trang 17.

2.       Đ�y l� c�ch m� �ng Khanh b�y tỏ sự t�n k�nh l�n �ng Trần Nguy�n Đ�n, trong tập Thanh hư động k�, được sọan v�o năm 1384.  Xem Thơ Văn L� Trần (viết tắt TVLT), Bộ III (Nh� Xuất Bản Khoa Học X� Hội, H� Nội, 1978), trang 494.

3.       Ch�ng được ấn h�nh trong tập TVLT, c�c trang 381-483.

4.       Anthology de la literature vietnamienne (ed. Nguyễn Khắc Viện et al.), �ditions en langues �trang�res, H�-nội, 1972, trang 126.  Huỳnh Sanh Th�ng ghi nhận một dấu hiệu văn chương của �sự chua ch�t� trong một b�i thơ của �ng Khanh; xem Huỳnh Sanh Th�ng, The Heritage of Vietnamese Poetry, Yale University Press, 1979, trang 252.

5.       TVLT, b�i số 250.

6.       Nguy�n Đ�n gửi Nguyễn Ứng Long (Khanh) như thế; TVLT, b�i số 139.

7.       Về c�u chuyện n�y, t�i dựa v�o c�c bi�n ni�n sư/ Việt nam cho nhi�n kỳ năm 1385.  H�n nh�n của �ng Khanh xảy ra một số năm trước đ�; đứa con trai thứ nh� của �ng, Nguyễn Tr�i, được sinh ra năm 1380.

8.       Điểm n�y được l�m s�ng tỏ trong gia phả họ Nguyễn; xem Phan Huy L� v� Nguyễn Phan Quang, b�i dẫn tr�n, trang 19 v� trang 22.

9.       C�ng nơi dẫn tr�n, trang 18.

10.   C�c b�i thơ n�y kh�ng được lựa chọn dựa tr�n một sự may rủi ho�n to�n.  Nguy�n thủy t�i để � đến chủ đề b�nh minh trong m�a thu trong Nh�m �A� v� c�c d�ng chữ đầu ti�n g�y sửng sốt trong một số b�i thơ thuộc Nh�m �B�.  C�c b�i thơ thuộc Nh�m �C� khi đ� tự thể hiện như để mang lại một sự tương phản.  Nhiều b�i thơ bổ t�c c� lẽ cũng c� thể được gộp v�o những nh�m n�y.

11.   �ng Khanh đề cập đến một đứa con trai trong hai b�i thơ kh�c.  Trong một b�i, �ng đang dậy �đứa con trai nhỏ của �ng� về thi ca Đường luật mới (TVLT, b�i số 235) v� trong b�i thơ kia, đứa con trai, �l�n s�u tuổi� th� chăm học (TVLT, b�i số 237).  Người ta dễ bị quyến rũ để giả định rằng đứa con trai l�c n�o cũng l� Nguyễn Tr�i, sinh ra năm 1380.  Nhưng Nguyễn Tr�i l� đứa con trai thứ nh� của �ng Khanh, v� �ng Khanh c�n c� c�c đứa con trai kh�c trước khi b� Trần Thị Th�i mất đi kh�ng l�u trước khi c� sự từ trần của cha b� v�o năm 1390.  Hơn nữa, từ năm 1385 đến 1390, Nguyễn Tr�i sống với [�ng ngoại] Trần Nguy�n Đ�n tại C�n Sơn; (xem Trần Huy Liệu, Nguyễn Tr�i (Nh� Xuất Bản Khoa Học, H� Nội, 1966), trang 19.  B�i thơ số I c� thể được viết kh�ng l�u trước khi Nguyễn Tr�i rời đi C�n Sơn, nhưng điều n�y kh�ng thể chứng minh được.

12.   C�c nh� bi�n tập tập TVLT x�c định đ�t Hồng Ch�u thuộc tỉnh Hải Hưng ng�y nay; TVLT, trang 454, ch� th�ch 1.

13.   Do việc sử dụng từ h�e đ�nh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (nơi cư ngụ của một thượng thư cao cấp) để chỉ cư sở của Trần Nguy�n Đ�n, xem TVLT, trang 461, ch� th�ch 2, v� ch� th�ch số 46 b�n dưới đ�y.

14.   �ng Khanh c� viết một b�i thơ về nạn hạn h�n năm 1384 (TVLT, b�i số 232).  C� thể b�i thố số V đ� được viết v�o năm đ�.

15.   T�i đ�nh liều để đ�an rằng b�i thơ s� X được viết trong năm 1404, khi, theo c�c bi�n ni�n sử Việt Nam, ch�nh quyền Hồ Qu� Ly ra lệnh c�c người kh�ng c� ruộng đất tại mọi tỉnh phải gia nhập v�o đội [chữ Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] d�nh cho người ngh�o.  Một nghĩa của từ �đội� l� �khu, việc định cư�.  Ngụ � từ Shih-ching [Thi Kinh?] trong b�i thơ số X l� để chỉ một chiến dịch định cư.  Xem ch� th�ch số 75 b�n dưới đ�y.  T�i kh�ng thể t�m thấy t�n của �ng L� Dung Trai (XIV) trong t�i liệu nh� Minh về c�c sứ bộ Việt Nam dưới thời nh� Hồ.

16.   TVLT, b�i số 277.  Xem ch� th�ch số 52 b�n dưới.  �ng Khanh c� đủ mọi l� do để tự xem m�nh l� �đệ tử� của �ng Trần Nguy�n Đ�n.  �ng nhận được một b�i thơ của Trần Nguy�n Đ�n kh�ng l�u trước khi �ng thi đỗ trong năm 1374 (TVLT, b�i số 139), v� �ng đ� dậy k�m v� cưới con g�i của �ng Trần Nguy�n Đ�n.

17.   Xem ch� th�ch số 87 b�n dưới.

18.   Từ �[ngao] than kh�c� xuất hiện trong c�u thơ đầu ti�n của b�i số VIII, nơi d�n ch�ng đang chờ đợi cho ăn v� mặc.

19.   TVLT, c�c b�i số 114, 112, v� 113.  T�i xem b�i số 163, TVLT, được viết gửi �ng Phạm Sư Mạnh.  Xem TVLT, trang 175, ch� th�ch 2.

20.   O.W. Wolters, �Assertions of Cultural Well-being in Fourteenth-Century Vietnam: Part II�, Journal of Southeast Asian Studies, XI, 1 (1980), c�c trang 77-78.

21.   TVLT, b�i số 143.  Xem ch� th�ch số 19 b�n tr�n.

22.   ỌW. Wolters, History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1982, c�c trang 81-82.

23.   O.W. Wolters, �Phạm Sư Mạnh�s poems written when patrolling the Vietnamese northern border in the middle of the fourteenth century�, Journal of Southeast Asian Studies, XIII, 1 (1982), trang 117.

24.   C�ng nơi dẫn tr�n, trang 114.

25.   Muốn tham khảo về �c�c trục trung t�m� (axles) nơi một trong c�c b�i thơ của �ng Khanh, xem TVLT, b�i số 275.

26.   TVLT, b�i số 132.

27.   Trong TVLT, b�i số 277, �ng Khanh n�i đến Trần Nguy�n Đ�n như một đại thần kỳ cựu trải qua ba triều vua.  [Trần Nguy�n Đ�n c�n l� em của vua Trần Nghệ T�ng, ch� của người dịch]

28.   TVLT, b�i 121.

29.   TVLT, b�i 147.  B�i thơ được chuyển dịch trong tập Anthologie de la litt�rature Vietnamienne, trang 123.

30.   TVLT, b�i số 277.

31.   TVLT, b�i số 141.  �Bước đi tr�n bờ đầm lầy, ca h�t trong khi anh đang bước đi� l� sự phi�n dịch của David Hawkes một phần của một c�u thơ trong b�i �Ngư Phủ�, một c�u chuyện đối thoại bằng văn vần trong tập Ch�u Tz�u [?Chu Tử] (Ssu-pu ts�ung-k�an edition, ?1938, c. 7, 1b); David Hawkes, Ch�u Tz�u, trang 90, c�u 2.  C�u chuyện về cuộc lưu đ�y của Ch�u Yuan [?Chu Nguy�n], v� một người đ�nh c� n�i với �ng ấy rằng �ng kh�ng n�n khinh miệt thế giới.  H�m � đối với Ch�u Tz�u l� sự thất vọng của Ch�u Yuan; nhưng Trần Nguy�n Đ�n đ� đảo ngược � nghĩa của n�; người em của �ng Khanh, một quan chức nhiệt th�nh, kh�ng l� do g� phải thất vọng.

32.   Xem Phan Huy L� v� Nguyễn Phan Quang, đ� dẫn tr�n, c�c trang 17-18.

33.   TVLT, b�i số 120.

34.   TVLT, b�i số 144.

35.   Về quan điểm của vua Minh T�n đối với mối quan hệ giữa nh� l�nh đạo v� c�c �t�i hiền c� t�i đức (�hiền nh�n đ�ng k�nh�), xem Wolters, �Assertions of Cultural Well-being �, Part II, Journal of Southeast Asian Studies, XI, 1 (1980), trang 85.

36.   Xem ch� th�ch số 64 b�n dưới.

37.   W. Theodore de Bary, �A Reappraisal of Neo-Confucianism�, Studies in Chinese Thought (ed. Arthur F. Wright), University of Chicago, Midway reprint, 1976, trang 93.

38.   Ng� Tất Tố, Việt Nam � văn học đời Trần, S�ig�n, 1960, c�c trang 104-105.

39.   Wolters, �Assertions of Cultural Well-being �, Part I, Journal of Southeast Asian Studies, X, 2 (1979), trang 449.  Một trong những b�i thơ của Trần Nguy�n Đ�n ca tụng Chu Văn An được phi�n dịch trong quyển The Heritage of Vietnamese Poetry, của H�ynh sanh Th�ng, trang 31,

40.   C�c tr�ch dẫn từ Mạnh tử xuất hiện trong lời b�nh luận của L� Văn Hưu về c�c bi�n ni�n sử của Việt Nam v� c�c văn bia của Trưong H�n Si�u; Wolters, �Assertions of Cultural Well-being � Part I�, trang 446.  B�i văn bia của L� Qu�t đề cập đến từ ngữ �d�n tộc n�y�; đ� dẫn.

41.   AD 1429 sau C�ng Nguy�n.  Bản văn trong Ức Trai tập, HM 2210, của Soc��t� Asiatique, Paris, q. 3, c�c trang 8a-9a.  �ng Tr�i tr�ch dẫn kinh nghiệm nh� H�n v� nh� Đường để l�m mạnh hơn tầm quan trọng của việc t�m kiếm nh�n t�i.  Nguy�n Đ�n (TVLT, b�i 135) bắt đầu b�i thơ của �ng với danh s�ch năm triều đại Trung Hoa đ� t�m kiếm c�c học giả xuy�n qua c�c kỳ khảo th�.  Một b�i thơ kh�c của Trần Nguy�n Đ�n (TVLT, b�i 144) t�n dương hệ thống khảo th� để �t�m kiếm c�c hiền nh�n�.  Xem ch� th�ch số 38 về một sự triển khai văn chương tương tự trong b�i Hịch của Hưng Đạo Vương.  Trong mọi trường hợp, một lời k�u gọi h�ng hồn đ� được đưa ra cho lịch sử Trung Hoa.

42.   TVLT b�i số 249.

43.   Th�nh ngữ cổ điển [locus classicus, tiếng La Tinh trong nguy�n bản, ch� của người dịch] cho t�nh cảnh �chẳng vui� (unhappy) (� bất li�u) nằm trong quyển Ch�u Tz�u (ấn bản Ssu-pu ts�ung-k�an edition, chương 17, trang 2b).  �ng Khanh đ� d�ng chữ bất (chẳng) thay v� chữ v� (kh�ng).  Bản dịch của Hawkes c�u n�y l�: �Với tr�i tim rối bời v� (� v� li�u) � kh�ng vui: with heart in turmoil and joyless mind)�; David Hwakes, Ch�u Tz�u � The Songs of the South, Oxford, 1959, trang 171, gi�ng 4.  Th�nh ngữ nằm trong một một b�i h�t nhan đề �Gặp Phải Điều Sỉ Nhục�, của Wang I từ thế kỷ thứ nh� sau C�ng Nguy�n, v� n�i về sự u sầu của một kẻ muốn phục vụ một vị minh qu�n; � � T�i c� thể đi đến đ�u? Đến điện của �ng ho�ng chăng?  Nhưng, kh�ng thể tiếp cận được.  T�i muốn chứng tỏ danh dự của t�i, nhưng t�i bị ngăn c�ch khỏi �ng ấy�.  �ng Khanh, bị loại ra khỏi quan trường, sẽ hưởng ứng b�i h�t n�y.  T�i xin c�m ơn Gi�o Sư T�ien Ju-kang về việc lưu y t�i đến th�nh ngữ n�y trong quyển Ch�u Tz�u.

44.   T�i giả định rằng chữ �cốt� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] c� ngh�a đen l� xương, nhằm n�i về �thể� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (thể thơ: style of poetry).  Tao thể [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] khi đ� c� nghĩa �thể d�ng thanh tao: poetic style� trong truyền thống u sầu của Ch�u Tz�u.

45.   TVLT, b�i số 280.

46.   Đ�y l� cư sở của Trần Nguy�n Đ�n.  T�i t�n th�nh [sự giải th�ch của] c�c nh� bi�n tập quyển TVLT, trang 452, ch� th�ch 1, v� trang 461, ch� th�ch 2.  Từ ngữ �h�e đ�nh� [tiếng Việt trong nguy�n bản, được d�ng tại Trung Hoa l�m danh xưng của dinh thự của vị tướng quốc (chief minister: tương tự thủ tướng).

47.   TVLT, b�i số 267.  B�i thơ được phi�n dịch trong tập Anthologie de la literature vietnamienne, c�c trang 127-128.  T�i d�ng theo nhan đề được cung cấp trong TVLT.

48.   Bản văn bằng Hoa ngữ của b�i Đại Đ�ng (Ta-tung) được in trong quyển Kinh Thi (The book of Poetry) của James Legge, Paragon Book Reprint Corporation, New York, 1967, c�c trang 268-270.  Về bản dịch của Arthur Waley, xem The Book of Songs, London, 1937, c�c trang 318-320.

49.   TVLT, b�i số 250.

50.   T�i đ� dịch chữ kh�ch [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] l� �gi� lạnh thấu xương� v� chữ tử [tiếng việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] l� �khuấy động l�n�.

51.   Xem TVLT, trang 418, ch� th�ch 2.  Ch�iao-ts�ai l� một trong ba văn ph�ng được thiết lập trong thời nh� H�n để d�nh cho c�c học giả.  Từ ngữ n�y được d�ng ở đ�y để chỉ văn ph�ng của Trần Nguy�n Đ�n. 

52.   Xem TVLT, trang 418, ch� th�ch 3.  Han Chung-hsien l� Han Ch�i, ch�nh kh�ch-học giả tại Trung Hoa hồi thế kỷ thứ mười một.  �ng Khanh �m chỉ đến Trần Nguy�n Đ�n v� nhắc lại b�i thơ của Vương An Thạch tưởng nhớ Han Ch�i; về b�i thơ của họ Vương, xem Wang Lin Ch�uan Ch�uan, Shih-chieh shu-chu, Taipei, 1963, trang 198.  Bản dịch một phần của b�i thơ của họ Vương được in trong quyển Wang An-shih của H.R. Williamson, nh� xuất bản Arthur Probathain, London, 1935, trang 14.  Họ Vương nhớ lại rằng, khi �c�n tr�, �ng l� thơ k� của Han Ch�i, trong khi �ng Khanh n�i rằng, khi �c�n trẻ�, �ng đ� d�m lệ thuộc v�o một �Han Chung-hsien�.  Họ Vương, trong c�ng b�i thơ, n�i rằng �ng Han Ch�i đ� phục vụ ba đời vua, trong khi �ng Khanh (TVLT, b�i số 277) n�i rằng Trần Nguy�n Đ�n l� �một cựu thần� dưới ba thời trị v�.  Một bằng chứng kh�c cho thấy b�i thơ của họ Vương đ� l� kiểu mẫu cho �ng Khanh l� trong c�u thứ tư, nơi �ng ta n�i rằng ở c�c thời trước �đ� c� c�c nh� học giả�.  Họ Vương n�i rằng trong ba đời vua m� Han Ch�i phục vụ �đất nước đ� c� c�c nh� học giả�.  �ng Khanh đề cập đến một �Han Chung-hsien� như một từ chuyển nghĩa chỉ một bực thầy cố vấn, người c� tiếng tăm phục vụ m� một ng�y n�o đ� sẽ truyền đến học tr�.  Trong TVLT, b�i số 277, �ng c�ng khai tự tr�nh b�y m�nh như một �đệ tử� của Tra6`n Nguy�n Đ�n.

53.   Đ�y l� một sự tham chiếu đến Tư M� Tương Như (Ssu-ma Hsiang-ju), người đ� cưới con g�i của một kẻ gi�u c� v� kh�ng c� t�nh cảm, đ� phải mở một tiệm b�n rượu để nu�i th�n, v� đ� trở th�nh một nh�n vật cho sự chế diễu.  Mặc d� �ng Khanh nhất định đ� nhớ lại hy vọng của nhạc phụ tương lai của m�nh rằng �ng Khanh sẽ bắt chước Tư M� Tương Như v� sau rốt trở n�n nổi tiếng, t�i tin rằng c�u n�y trong b�i thơ của �ng c� thi hứng từ b�i thơ của Đỗ Phủ (Tu Fu) viết về Tư M� Tương Như; b�i thơ được dịch trong quyển The Poetry of the Early T�ang của Stephen Owen, Yale University Press, 1977, trang 91.  Đỗ Phủ đề cập đến Tư M� Tương Như l� �bị bệnh nhiều�, v� đ�y l� điều m� o6ng Khanh diễn tả về m�nh.  Cặp đ�i c�u thơ trong b�i thơ của �ng Khanh đối phản với niềm hy vọng ph�t khởi tử sự li�n hệ của �ng với �ng Trần Nguy�n Đ�n, với nỗi sầu muộn của o6ng khi niềm hy vọng kh�ng th�nh tựu được.  C�u thơ kế tiếp đề cập đến sự loại bỏ �ng ra khỏi quan trường.

54.   TVLT, b�i số 263.

55.   �Thượng Thư Băng Hồ� tức l� �ng Trần Nguy�n Đ�n.

56.   Th�nh ngữ cổ điển (locus classicus) cho sự diễn tả t�nh trạng �chẳng vui: unhappy�; xuất hiện trong tập Ch�u Tz�u, nơi c�u đầu ti�n của b�i 1.  Xem ch� th�ch số 43.

57.   TVLT, b�i số 243.

58.   Xem TVLT, trang 408, ch� th�ch 1.  H�m � mơ hồ n�y để chỉ thời nh� Tần (Chin) tại Trung Hoa.  His Tso-ch�ih l� một học giả nổi tiếng, v� San Chien, một quan chức-học giả đ�ng k�nh, thường thăm viếng văn ph�ng của họ Hsi.

59.   Đ�y l� một sự tham chiếu đến gia đ�nh họ Tu (Đỗ) dưới thời nh� Đường.  Viện Quảng Văn (Kwang-wen office) được đặc biệt thiết lập d�nh cho c�c quan chức kh�ng c� thẩm quyền ch�nh thức.  Xem TVLT, trang 408, ch� th�ch 2, về b�i thơ của Đỗ Phủ, đối chiếu nhiệt t�nh của c�c người đang thăng tiến l�n chức vụ cao với sự lạnh lẽo của c�c kẻ đang vật vờ nơi cung Quảng Văn.  Theo c�c nh� bi�n tập quyển TVLT, �ng Khanh muốn n�i đến sự kh� khăn để t�m kiếm c�c b� bạn của �ng.

60.   TVLT, b�i 272.

61.   �L�ng ho�ng gia� l� Tức Mặc, l�ng tổ ti�n của gia tộc cầm quyền.  T�i đ� chuyển đ�i c�u thơ n�y sang th� qu� khứ bởi c�u thứ bảy cho thấy �ng Khanh đ� nằm mơ.  Điềm kh�ng tốt trong cặp đ�i thứ tư tr�i ngược với th�i độ h�o h�ng v� thư th�i trong cặp đ�i trước đ�.  C�c b�i thơ số VII, VIII v� IX tạo th�nh một li�n khục ba b�i theo vần với nhau, v� trong c�c b�i VIII v� IX nh� thơ cũng đang mơ mộng hay hồi tưởng sau cơn mơ.

62.   Theo P�ei-wen yun-fu, th�nh ngữ �bốn hay năm ch�u� xuất hiện trong một b�i thơ của P�ei I-chih hồi thế kỷ thứ chin tại Trung Hoa: Chiao-chou (Giao Ch�u: Việt Nam) th� xa x�i v� ở ph�a nam của Trời nam (Southern Heaven).  Nếu một người đi xa hơn nữa, sẽ dến bốn hay năm ch�u.  Xin xem ch� th�ch số 31 về sự đảo ngược của �ng Trần Nguy�n Đ�n � nghĩa của một c�u thơ trong tập Ch�u Tz�u.

63.   TVLT, b�i 273.

64.   T�i dịch chữ �phong: wind� như �phong th�i, t�nh chất: character� như t�c giả Legge đ� dịch trong quyển Mạnh Tử (The Book of Mencius, Tập V, II, I: �V� thế khi người ta giờ đ�y nghe dến phong th�i của Pih-e (Po Yi), sự thối tha trở th�nh thanh khiết (pure) v� kẻ yếu thụ đắc được sự quyết t�m�.

65.   Xem TVLT, trang 451, ch� th�ch 2, cho sự tham khảo về �một con chim c� t�m c�nh�  T�ao K�an thời Tần, xuất th�n khi�m tốn, mơ mọc ra t�m c�nh, bay v�o Thi�n Đường, v� rồi ng� xuống.  C�c nh� bi�n tập giải th�ch rằng �ng Khanh đang mơ mộng rằng �ng l� một vị đại quan.

66.   T�i tin rằng ��ng l�o� l� Trần Nguy�n Đ�n, người m� c�c b�i thơ thường đề cập đến tuổi gi� của �ng.  Trong b�i IX, khi �ng Khanh n�i rằng �ng đang sống gần dinh cơ của �ng Trần Nguy�n Đ�n, �ng cũng đang mơ đến ��ng gi�, v� c�u thơ cuối c�ng của b�i IX đề cập đến �ng Trần Nguy�n Đ�n, kẻ được li�n kết với �m�a xu�n� như �ng được m� tả trong c�u cuối c�ng của b�i VIII.  Th� dụ r� r�ng nhất của sự sử dụng từ ngữ ��ng l�o� để chỉ Trần Nguy�n Đ�n l� trong TVLT, b�i 285, nơi �ng Khanh n�i rằng �ng đang �ở b�n cạnh h�e phủ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (dinh thự quan thượng thư) của �ng l�o.�  C� lẽ �ng Khanh c� trong đầu một đọan văn từ quyển Mạnh Tử (The Book of Mencius) (Tập V, II, I) đề cập đến Po Yi đang chờ đợi cho một sự thanh tẩy (thanh) của đề quốc.  C�u thứ nh� của b�i VIII gợi nhớ lại c�ng đọan tr�n trong s�ch Mạnh Tử.  Xin xem ch� th�ch 64 b�n tr�n.

67.   TVLT, b�i 274.

68.   �Thanh bần: pure poverty� c� nghĩa kh�ng đ�nh mất lương tri của một con người v� kh�c biệt theo quy ước, với �trọc ph�: corrupt wealth�.  S�ch Luận Ngữ (The Analects), XVIII, 8, đề cập đến hai người r�t lui ra khỏi thế sự v� th�nh c�ng trong vệc bảo t�an sự thanh li�m (purity) của họ.

69.   Đ�y l� một c�u thơ kh� hiểu.  Một sự phi�n dịch s�t nghĩa từng chữ l�: �ở đầu ghế trường kỷ thanh kiếm v�ng�.  C� thể chữ thứ tư (�kiếm�) phải l� �tận� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (�cạn kiệt: exhausted�).  Bốn chữ đầu ti�n khi đ� được đọc l�: �tại đầu ghế trường kỷ v�ng đ� cạn kiệt�, v� th�nh ngữ cổ điển nằm nơi b�i thơ của L� Bạch (Li Po) về c�i ngh�o dai dẳng.

70.   Xem TVLT, trang 452, ch� th�ch 2, cho một sự tường thuật d�i từ một đọan văn của một chuyện ngắn đời Đường về một th� sinh kh�ng tr�ng tuyển.  Sau khi nằm mơ về sự th�nh c�ng rực rỡ, anh ta tỉnh dậy thấy một nồi k� v�ng, được nấu từ khi anh ta buồn ngủ, giờ vẫn c�n được nấu.  C�u chuyện trở n�n một phương c�ch để n�i về t�nh hư v� của danh vọng v� sự gi�u c�.

71.   T�i đ� dịch chữ Sảnh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] l� �Secretariat: Ph�ng B� Thư�Sảnh đảm nhận c�c c�ng việc h�nh ph�p dưới thời nh� Trần v� nh� Hồ.

72.   Băng Hồ l� Nguy�n Đ�n v� ��ng l�o� được đề cập tới trong c�u thứ tư.

73.   TVLT, b�i 229.

74.   Trong thời nh� Trần v� nh� Hồ, một kinh lược sứ [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] l� một uỷ vi�n đặc nhiệm được ph�i tới một kbu vực x�o trộn.  Trong thế kỷ thứ mười bốn, V�n Đồn l� một trung t�m hải vận quan trọng.

75.   �Đầm của c�c con ngỗng r�n rỉ� l� một �m dụ trong Thi Kinh (Shih-ching), phần III, Quyển 7.  C�c quan chức động l�ng đến thăm một khung cảnh của sự thống khổ v� đ� tập họp cư d�n lại.  C�c bi�n ni�n sử Việt nam c� đề cập đến một chiến dịch định cư trong năm 1404, v� b�i thơ n�y c� thể đ� được viết v�o năm đ�.  C�ng từ ngữ chỉ sự �than kh�c: ngao� xuất hiện nơi c�u đầu ti�n của b�i VII.

76.   �Hiền nh�n: worthy� l� một kẻ c� t�i v� đức.

77.   TVLT, b�i 246.

78.   C�c nh� bi�n tập của TVLT (trang 412, ch� th�ch 2) cho rằng �Vũ L�m� c� thể chỉ một khu vực tại tỉnh Thanh H�a [một số t�i liệu cho hay Vũ L�m thuộc huy�n Y�n Kh�nh, tỉnh Ninh B�nh ng�y nay (?), ch� của người dịch] hay chỉ một khu vực tại Quảng T�y, Trung Hoa đ� nổi loạn trong thời trị v� của H�n Vũ Đế.  Trong trường hợp sau, �ng Khanh đang suy nghĩ về c�c mệnh lệnh cho �ng để trấn �p sự rối loạn tại Trường An.  T�i đ� chấp nhận � kiến trước.  �ng Khanh th�ch việc từ bỏ vui th� tại khu vực Vũ L�m để tiến l�n ph�a bắc thi h�nh bổn phận.

79.   Xem c�c ch� th�ch 3 v� 4 trong TVLT, trang 412, về c�c sự giải th�ch khả hữu cho c�c sự �m chỉ mơ hồ trong cặp đ�i thứ ba.  T�i đồng � với c�c nh� bi�n tập trong việc đọc cặp đ�i thứ ba mang � nghĩa chỉ sự trấn �p t�nh trạng rối loạn.

80.   Hai chữ cuối c�ng trong c�u n�y l� �thi�n ki�u: ngựa nh� Trời: Heavenly horses� v� nguy�n thủy để chi người Hsiung-nu (?rợ Hung N�) v�ng Trung � Ch�u.  Th�nh ngữ để chỉ �c�c kẻ nổi loạn�.  Xem TVLT, trang 412, ch� th�ch số 5.

81.   TVLT, b�i 257.

82.   Xem TVLT, trang 385, ch� th�ch 4, v� trang 428, ch� th�ch 2, cho một sự thảo luận về c�c h�m � Trung Hoa trong c�u n�y.

83.   Từ ngữ chỉ quan �Thanh Tr� l� tiếng cổ.

84.   Sự tham khảo c�c chữ �c�c thanh kiếm c� kết c�c dải tua ở đốc kiếm� được lấy từ Thi Kinh v� được d�ng trong sự li�n kết với nh�n vật Feng Hsuan, vốn xuất th�n ngh�o h�n, đ� trở th�nh một phụ t� đắc lực trong việc giải quyết c�c vấn đề; xem TVLT, trang 428, ch� th�ch 5.  �Tay nắm l�y thanh kiếm c� kết dải tua ở đốc kiếm� biểu lộ cảm nghĩ của b� bạn về gi� trị của họ.

85.   TVLT, số 258.

86.   H�m � n�y bắt nguồn từ truyền thống Trung Hoa li�n quan đến c�c th� sinh tr�ng tuyển; xem TVLT, trang 429, ch� th�ch 1.  T�c giả Huỳnh Sanh Th�ng tr�ch đẫn c�ng truyền thống trong b�i �Toads and Frogs as Vietnamese Peasants�, The Vietnam Forum, I (Winter-Spring 1983), c�c trang 72-74.

87.   Ch�en Teng, của thời Đ�ng H�n, l� �chiến sĩ-học giả của hồ v� biển�.  �ng đ� gi�p đỡ người d�n v� �cứu v�n thời thế�.  �ng Khanh khai th�c t�nh thế rằng bạn của �ng c� c�ng họ (Ch. Ch�en: Trần trong tiếng Việt).

88.   Xem TVLT, trang 429, ch� th�ch 3.  �ng Khanh đ� d�ng một đọan trong thơ Đỗ Phủ nơi �ng Đỗ nhớ lại L� Bạch.  �M�y chiều� c� nghĩa sự hồi tưởng về c�c b� bạn bị chia xa.

89.   TVLT, b�i 259.

90.   C�u thơ n�y l� một sự đề cập lịch sự đến gia đ�nh L�/Hồ Qu� Ly.

91.   Sứ tham khảo hai chữ lam thanh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] l� một sự �m chỉ đến một đoạn trong b�i Ch�uan-hsueh của Hsun-tzu.  Một học tr�, mặc d� được uốn nắn bởi người th�y của anh ta, vẫn c� thể c�n sắc sảo hơn.  Xem TVLT, trang 431, ch� th�ch 2.

92.   Người d�n của khu vực nơi m� K�ou Hsun thời Đ�ng H�n đ� từng phục vụ thỉnh cầu ho�ng đế cho ph�p �ng ta ở lại đ� th�m một năm nữa.  K�ou Hsun l� một vi�n tướng v� kẻ trấn �p qu�n nổi loạn.

93.   Chang Ch�ien l� sứ giả nổi tiếng thời T�y H�n tại Trung �.

94.   T�i hiểu hai chữ đầu ti�n (hạp trung) [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] c� nghĩa �những g� được dấu (b�n trong hộp, vỏ)�.  Trong quy ước văn chương Trung Hoa, c�c từ n�y được theo sau bởi c�c chữ �chắc chắn sẽ bị phơi b�y ở b�n ngo�i�.  Hai từ ngữ kế tiếp l� thu thủy [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (nước m�a thu) v� c� nghĩa �thanh gươm lấp l�nh�.  � nghĩa của c�u n�y c� vẻ l� c�c t�i năng ẩn dấu của vị sứ giả, giống như thanh kiếm lấp l�nh nằm trong vỏ gươm của n�, sẽ qu�t sạch c�c kh� khăn của �ng tr�n đường trường.  Sự đề cập đến �m�a thu� l� c�ch n�i b�ng bảy v� kh�ng cho ch�ng ta biết v� thời điểm trong năm khi vị sứ giả du h�nh sang Trung Hoa.

95.   Sự đề cập đến �m�a xu�n� trong c�u n�y một lần nữa l� c�ch n�i b�ng bảy cho �một thể c�ch h�a dịu�.  Từ thứ năm trong c�u thơ l� chữ th�nh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (c� nghĩa �nghe�), v� t�i đ� dịch từ ngữ n�y l� �thu thập được sự hiểu biết� theo nghĩa m� Hsun-tzu đ� d�ng n� như được tr�ch dẫn trong Tz�u-hai (?Từ Hải).

96.   �Nam Đ�i� l� kinh đ� của nh� Minh tại Nam Kinh cho đến năm 1421.

97.   Điều m� t�i đ� phi�n dịch như �cuộc hội kiến th�nh c�ng� được tượng trưng bởi c�c từ ngữ chuy�n đối [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], một th�nh ngữ trong s�ch Luận Ngữ, XIII, 5.  Khổng Tử n�i rằng, nếu một người n�o đ� được ủy th�c cho một sứ mạng lại kh�ng c� thể đưa ra c�c sự ph�c đ�p tự m�nh, c�i học của người đ� kh�ng thực dụng.

98.   K�wei v� Yu phục vụ cho vua Shun (Nghi�u) anh minh.  Hồ Qu� Ly cải quốc hiệu l� Đại Ngu, t�n của đế quốc vua Nghi�u.  Sự đề cập đến �việc ho�ng đế của ch�ng ta� diễn ra một c�ch đầy th�ch thức sau khi n�i đến Nam Đ�i./-      

 

-----

 

Nguồn: O. W. Wolters, Celebrating The Educated Official: A Reading of Some of Nguyễn Phi Khanh�s Poems, The Vietnam Forum, Review of Vietnamese Culture, No. 2, Southeast Asia Studies, Yale University, New Haven, Connecticutt, Summer-Fall 1983, c�c trang 79-101.

 

 

_____

 

PHỤ CH� CỦA NG� BẮC:

 

 

(*a): Về tiểu sử �ng Nguyễn Phi Khanh:

 

     Theo quyển Lịch Sử C�c Nh�n Vật Lịch Sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng v� Nguyễn B� Thế, ấn h�nh bởi Nh� Xuất Bản Khoa Học X� Hội, 1992 tại S�ig�n:

 

     [Bắt đầu tr�ch] Nguyễn Phi Khanh (Ất M�i 1355 � M�u Th�n 1428): Danh sĩ � hiệu Nhị Kh�.  Vốn t�n Nguyễn Ứng Long, sau đổi l� Phi Khanh, qu� x� Chi Ngại, huyện Phương Sơn, lộ Lạng Giang (thuộc tỉnh Hải Dươg..), sau dỡi về x� Ngọc �i, huyện Thượng Ph�c, ch�u Thượng Ph�c, lộ Đ�ng Đ� (thuộc tỉnh H� Đ�ng �)

 

     �ng nổi tiếng văn thơ từ l�c trẻ được quan Tư Đồ Trần Nguy�n Đ�n đem về nu�i dưỡng v� dạy học. �ng phải l�ng người con g�i của quan Tư Đồ l� Trần Thị Th�i.  Khi Trần Thị Th�i c� thai, �ng sợ tội bỏ trốn, nhưng Trần Nguy�n Đ�n độ lượng bao dung, cho t�m �ng về v� gả con cho.  Nhờ đ� �ng y�n bề ăn học.  Đến Gi�p Dần 1374 ra thi, đỗ Th�i học sinh (tiến sĩ) mới 19 tuổi.

 

     C� t�i nhưng �ng kh�ng được Trần Nghệ T�ng thu dụng, n�n đ�nh an phận dạy học.  Khi Hồ Qu� Ly lật đổ nh� Trần, �ng đổi t�n l� Phi Khanh, được cử l�m Học Sĩ Viện H�n L�m trong năm T�n Tỵ 1401.  Rồi lần lượt thăng l�n Th�ng Chương đại phu, Đại L� Tự Khanh ki�m Trung Thư thị lang, Tư Nghiệp Quốc Tử Gi�m.

 

     Qu�n Minh x�m lược, �ng c�ng vua t�i nh� Hồ bị giặc bắt giải về Kim Lăng.  Tr�n đường đi đầy ở nước ngo�i, hai con �ng l� Nguyễn Tr�i v� Nguyễn Phi H�ng đưa �ng đến Nam Quan.  �ng khuy�n Nguyễn Tr�i phải trở về phục th� v� b�o hiếu cho cha băng con đường cứu quốc.  Nguyễn Tr�i v�ng lời quay về.  Nguyễn Phi H�ng theo �ng sang Trung Quốc.

 

     �ng c� soạn bộ Nhị Kh� thi tập, bị qu�n Minh lấy đem về Kim Lăng.  Tuy nhi�n vẫn c�n truyền tụng được 77 b�i, do L� Qu� Đ�n sao lục ở bộ To�n Việt thi lục.  Đ�n sau, Dương B� Cung gom ch�p lại 77 b�i ấy, l�m th�nh quyển II Ức Trai thi tập với nhan đề ri�ng l� Nguyễn Phi Khanh thi văn tập.

 

     Năm M�u Th�n 1428 �ng mất ở Trung Quốc, thọ 73 tuổi.  V� sau Nguyễn Phi H�ng lấy h�i cốt đem về nước an tang ở n�i B�i Vọng. [hết trich] (c�c trang 586-587)

 

     Theo quyển Từ Điển Văn Học Việt Nam, Từ Nguồn Gốc đến hết thế kỷ XIX, của Lại Nguy�n �n v� B�i Văn Trọng Cường, ấn h�nh bởi Nh� Xuất Bản Đại Học Quốc Gia tại H� Nội, t�i bản lần thứ ba, c� bổ sung, năm 2001, c� một số chi tiết kh�c biệt như sau:

 

     [Bắt đầu tr�ch] (c�c trang 407-408)�Xuất th�n ngh�o khổ nhưng c� t�i n�n được l�m gia sư trong nh� quan Tư Đồ Trần Nguy�n Đ�n, về sau lấy học tr� l� Trần Thị Th�i, con g�i vị quan n�y � V� l� d�n thường m� lại lấy vợ thuộc t�n thất nh� Trần n�n kh�ng được l�m quan [?]� Nguyễn Phi Khanh thi văn.  Đ�y l� c�c s�ng t�c trải d�i qua nhiều năm, cho thấy kh� r� đường đời t�c giả từ tuổi h�n vi đến l�c được hưởng quan lộc.  Qua thơ �t nhiều thấy được hiện trạng x� hội, diễn biến thời thế v� cuộc sống của cư d�n đương thời�. [hết tr�ch]

 

 

     (*b) Về quan hệ giữa Nguyễn Phi Khanh v� gia tộc Trần Nguy�n Đ�n:

 

     Đại Việt Sử K� To�n Thư, Tập II, Nh� Xuất Bản Khoa Học X� Hội, H� Nội, 1998, nơi c�c trang 170-171 c� ghi như sau:

 

     [Bắt đầu tr�ch] Ất Sửu, [Xương Ph�] năm thứ 9 [1385], (Minh Hồng Vũ năm thứ 18) �.

     M�a thu, th�ng 7, tư đồ Chương T�c Quốc thượng hầu Nguy�n Đ�n tr� sĩ [8a] lui về C�n Sơn (thuộc huyện Ch� Linh, tỉnh Hải Hưng), gửi cho c�c bạn l�m quan b�i thơ, c� c�u rằng:

 

     Kim cổ hưng vong ch�n khả gi�m,

     Chư c�ng h� nhẫn gi�n thư hy?

     (C�n mất xưa nay gương đ� r�,

     C�c �ng sao nỡ vắng thư can?)

 

     Th�i �y Trang Định Vương Ngạc c� b�i thơ tặng rằng:

 

     Ng� thị dương ni�n kh� vật,

     C�ng phi đại hạ kỳ t�i.

     Hội thủ nhất ban l�o bệnh,

     Điền vi�n tảo biện quy lại

     (Ng�y nay t�i l� đồ bỏ,

     �ng kh�ng t�i lạ cứu đời.

     C�ng một lớp gi� đau ốm,

     Ruộng vườn sớm liệu về th�i!)

 

     Bởi v� khi ấy Qu� Ly đang giữ quyền b�nh, c�c bậc hiền nh�n qu�n tử buồn lo thời thế, kh�ng thể kh�ng biểu hiệu ra c�u thơ.

 

     Ngạc lại l�m b�i thơ yết hậu bằng quốc ngữ để ch�m biếm Nguy�n Đ�n.  Nguy�n Đ�n t�nh chuyện th�ng gia để mong tr�nh mối họa sau n�y, đem con l� Mộng Dữ gửi gắm Qu� Ly, Qu� Ly đem c�ng ch�a Ho�ng Trung l� con g�i của cố t�n thất Nh�n Vinh gả cho Dữ (Nh�n Vinh c� vợ l� c�ng ch�a Huy Ninh.  Nh�n Vinh chết, Nghệ T�ng đem Huy Ninh gả cho Qu� Ly, như vậy Ho�ng Trung gọi Qu� Ly l� bố dượng.).  Sau Qu� Ly trị nước, lấy Mộng Dữ l�m Đ�ng Cung ph�n thủ, em Mộng Dữ l� Th�c Dao v� Th�c Quỳnh l�m tướng qu�n, con ch�u Nguy�n Đ�n đều tr�nh được nạn.

 

     Nguy�n Đ�n c� hai người con g�i, con trưởng t�n l� Th�i [8b], con thứ t�n l� Thai, sai nho sinh đem văn học dạy cho hai người.

 

     Nguyễn Ứng Long dạy Th�i, Nguyễn H�n Anh dạy Thai.  Ứng Long nh�n gần gủi lả lơi, l�m thơ ca quốc ngữ k�u gợi Th�i, th�ng d�m với Th�i, H�n Anh cũng l�m thơ quốc ngữ bắt chước Ứng Long.  Th�i c� thai, Ứng Long bỏ trốn.

 

     Đến ng�y Th�i đẻ, Nguy�n Đ�n hỏi Ứng Long ở đ�u.  Người nh� trả lời l� Ứng Long sợ tội trốn đi rồi.  Nguy�n Đ�n n�i:

 

     �Vận nước sắp hết, biết đ�u chẳng phải l� trời xui n�n như thế, vị tất kh�ng phải l� ph�c�.

 

     B�n cho gọi hai ch�ng về bảo rằng:

 

     �Người xưa cũng đ� c� chuyện n�y.  [C�c ngươi] kh�ng thấy chuyện Văn Qu�n với Tương Như hay sao (tức Tư M� Tương Như, t�n tự l� Trường Khanh, người Th�nh Đ�.  Đời H�n Cảnh Đế l�m vũ kỵ thường thị, d�ng tiếng đ�n kh�u gợi người phụ nữ trẻ mới g�a chồng l� Tr�c Văn Qu�n, con g�i y�u của Tr�c Vương T�n, rồi hai người lấy nhau.  Sau được bố vợ gi�p đỡ, Tương Như trở n�n gi�u c�, rồi l�m quan, được phong tới chức Hiếu Văn vi�n lệnh, rất giỏi về từ chương).  Nếu [c�c ngươi] l�m được như Tương Như, truyền lại danh tiếng cho đời sau th� đ� l� điều mong muốn của ta�.

 

     Hai ch�ng cảm ơn s�u nặng, chăm chỉ học h�nh.  Đến khi thi, cả hai đều đỗ.  Thượng ho�ng n�i:

    

     �Bọn ch�ng c� vợ gi�u sang, như thế l� kẻ dưới m� d�m phạm thượng, bỏ kh�ng d�ng�.

 

     Sau H�n Anh l�m quan đến chức Chuyển Vận.  Ứng Long đến nh� Hồ được cất nhắc [9a] sử dụng, đổi t�n l� Phi Khanh (Phi Khanh sinh ra Nguyễn Tr�i, cũng đỗ th�i học sinh).

 

     Nguy�n Đ�n c� tập thơ t�n l� Băng Hồ, v�i quyển, truyền ở đời.  Bấy giờ H�n l�m học sĩ Hồ T�ng Thốc cũng c� tập thơ Thảo nh�n hiệu tần thi tập, đều l� cảm thời thế m� l�m cả.� [hết tr�ch]

 

 

(*c) Nhận định về Trần Nguy�n Đ�n:

 

Quyển Kh�m Định Việt Sử Th�ng Gi�m Cương Mục, của Quốc Sử Qu�n Triều Nguyễn, Viện Sử Học bi�n dịch, Nh� Xuất Bản Gi�o Dục, H� Nội, 1998, Tập Một, trang 672 c� ghi ch�p về Trần Nguy�n Đ�n như sau:

 

[Bắt đầu tr�ch] Th�ng 7, m�a thu, Tư đồ Chương T�c hầu l� Nguy�n Đ�n xin tr� sĩ, được nh� vua y cho.

 

Nguy�n Đ�n l� bậc đại thần, người họ t�n thất, thấy quyền ch�nh trong nước ng�y một rơi v�o tay kẻ quyền thần [chỉ Hồ Qu� Ly, ch� của người dịch], n�n kh�ng để � đến việc kinh bang kế thế nữa, b�n xin c�o l�o, về n�i C�n Sơn, để vui c�ng kh�m tr�c v� đ� n�i; đặt t�n hiệu l� Băng Hồ.  Thượng ho�ng đ� từng đến chơi nh�, hỏi han việc mai sau.  Nguy�n Đ�n đều kh�ng n�i, chỉ dặn: �Xin Bệ hạ k�nh trọng nước Minh như cha, y�u thương Chi�m Th�nh như con, th� nước nh� sẽ được v� sự.  T�i d� c� chết cũng được bất hủ�.  Nguy�n Đ�n biết Qu� Ly thế n�o rồi cũng cướp ng�i, n�n t�m c�ch để tr�nh khỏi vạ, đem con l� Mộng Dữ gửi gắm Qu� Ly, v� xin kết l�m th�ng gia.  Qu� Ly đem con g�i của Nh�n Vinh, người họ t�n thất nh� Trần, gả cho Mộng Dữ; rồi cất l�m đ�ng cung ph�n thủ.  Em Mộng Dữ l� Th�c Dao v� Th�c Quỳnh cũng đều được l�m tướng qu�n.  Về sau, Qu� Ly cướp ng�i, giết hại gần hết c�c t�n thất nh� Trần, chỉ ri�ng con ch�u Nguy�n Đ�n l� được to�n hoạt.  Nguy�n Đ�n c� Băng Hồ thi tập, c� nhiều b�i mượn sự vật để tỏ � cảm kh�i thời thế.  Nhưng đ� cũng chỉ l� n�i su�ng, lo h�o, m� đối với nước của d�ng d�i nh� m�nh c�n hay mất, cứ bỏ mặc, kh�ng n�i qua.  Thế thực l� người bất trung lắm đấy.

 

Lời ph� [của vua Tự Đức, ch� của người dịch]� Nghi�m thay, ng�i b�t sử! Trội hơn Sử cũ nhiều lắm. [hết tr�ch].

 

 

(*d): Về �ng Chu Văn An (v� so s�nh với �ng Trần Nguy�n Đ�n, b�nh luận bởi sử thần Ng� Sĩ Li�n):

 

Đại Việt Sử K� To�n Thư, Tập I , đ� dẫn tr�n, c�c trang 151-153, ghi ch�p sự việc trong năm 1370, c� n�i về �ng Chu Văn An như sau:

 

Canh Tuất, Thiệu Khanh năm thứ 1 [1370] ..Th�ng 11, Ng�y 26: � Quốc tử gi�m tư nghiệp Chu văn An mất, được truy tặng tước Văn trinh c�ng, ban cho t�ng tự ở Văn Miếu.

 

An (người Thanh Đ�m) [tức Thanh Tr�, H� Nội ng�y nay, ch� của người dịch], t�nh cương nghị, thẳng thắn, sửa m�nh trong sạch, bền giữ tiết th�o, kh�ng cầu lợi lộc.  �ng ở nh� đọc s�ch, học vấn tinh th�ng, nổi tiếng gần xa, học tr� đầy cửa, thường c� kẻ đỗ đại khoa, v�o ch�nh phủ.  Như Phạm Sư Mạnh, L� B� Qu�t, đ� l�m h�nh khiển m� vẫn giữ lễ học tr�, khi đến thăm hỏi thầy th� lạy ở dưới giường, được n�i với thầy v�i c�u rồi đi xa th� lấy l�m mừng lắm.  Kẻ n�o xấu th� �ng nghi�m khắc tr�ch mắng, thậm ch� la th�t kh�ng cho v�o.  �ng l� người trong sạch, thẳng thắn, nghi�m nghị, lẫm liệt đ�ng sợ đến như vậy đấy.  Minh T�ng mời �ng l�m Qu�c tử gi�m tư nghiệp, dạy th�i tử học.  Dụ T�ng ham chơi bời, lười ch�nh sự, quyền [34b] thần nhiều kẻ l�m tr�i ph�p nước.  An khuy�n can, (Dụ T�ng) kh�ng nghe, b�n d�ng sớ xin ch�m bảy t�n nịnh thần, đều l� những kẻ quyền thế được vua y�u.  Người bấy giờ gọi l� �Thất trảm sớ�.  Sớ d�ng l�n nhưng kh�ng được trả lời, �ng liền treo mũ về qu�.  �ng th�ch n�i Ch� Linh, b�n đến ở đấy.  Khi n�o c� triều hội lớn th� đến kinh sư.  Dụ T�ng đem ch�nh sự trao cho �ng, nhưng �ng từ chối kh�ng nhận.  Hiền Từ th�i ho�ng th�i hậu bảo:

 

��ng ta l� người kh�ng thể bắt l�m t�i được, ta sai bảo thế n�o được �ng ta?�

 

Vua sai nội thần đem quần �o ban cho �ng.  �ng lạy tạ xong, liền đem cho người kh�c hết.  Thiện hạ đều cho l� bậc cao thượng.  Đến khi Dụ T�ng băng, quốc thống s�yt mất, nghe tin c�c quan đến lập vua, �ng mừng lắm, chống gậy đến xin b�i yết, xong lại xin trở về qu�, từ chối kh�ng nhận chức g�.

 

Vua sai quan đến tế, ban tặng t�n thụy, �t l�u sau c� lệnh cho t�ng tự ở Văn Miếu.

 

[35a] Sử thần Ng� Sĩ Li�n n�i: Người hiền được d�ng ở đời, thường lo người l�m vua kh�ng thi h�nh những điều sở học của m�nh.  Người l�m vua sử dụng người hiền thường lo người hiền kh�ng theo � muốn của m�nh.  Cho n�n vua [s�ng] t�i [hiền] gặp nhau, từ xưa vẫn l� rất kh�.

 

Những nh� nho nước Việt ta được d�ng ở đời kh�ng phải kh�ng nhiều, nhưng kẻ th� chỉ nghĩ đến c�ng danh, kẻ th� chuy�n lo về ph� qu�, kẻ lại a dua với đời, kẻ chỉ cốt ăn lộc giữ th�n, chưa c� ai chịu để t�m đến đạo đức, suy nghĩ tới việc gi�p vua n�u đức tốt, cho d�n được nhờ ơn.  Như T� Hiến Th�nh đời L�, Chu Văn Trinh đời Trần, c� lẽ gần được như thế.  Nhưng Hiến Th�nh gặp được vua [s�ng suốt] cho n�n c�ng danh, sự nghiệp được thấy ngay đương thời.  Văn Trinh kh�ng gặp vua (anh minh) n�n ch�nh học của �ng, đời sau mới thấy được.  H�y lấy Văn Trinh m� n�i, thờ vua tất thẳng thắn can ngăn, xuất xử th� l�m theo nghĩa l�, đ�o tạo [35b] nh�n t�i th� c�ng khanh đều ở cửa �ng m� ra, tiết th�o cao thượng th� thi�n tử cũng kh�ng thể bắt l�m t�i được.  Huống chi tư thế đường ho�ng m� đạo l�m th�y được nghi�m, giọng n�i lẫm liệt m� bọn nịnh h�t phải sợ.  Ng�n năm về sau, nghe phong độ của �ng, h� kh�ng l�m cho kẻ đi�u ngoa th�nh li�m ch�nh, người yếu h�n biết tự lập được hay sao? Nếu kh�ng t�m hiểu nguy�n cớ, th� ai biết thụy hiệu của �ng xứng đ�ng với con người của �ng.  �ng thực đ�ng được coi l� �ng tổ của c�c nh� nho nước Việt ta m� thờ v�o Văn miếu.

 

Những người kh�c như Trần Nguy�n Đ�n l� bậc hiền t�i trong c�c khanh sĩ c�ng họ nh� vua, tuy mang kh� ph�ch trung phẫn, nhưng b� tay bỏ mặc vận nước kh�ng biết l�m sao, l�nh quyền tướng quốc để mong bảo to�n gia thuộc sau khi nước đổ.  Trương H�n Si�u l� �ng quan văn học, vượt hẳn mọi người, tuy cứng cỏi, ch�nh trực nhưng lại chơi với kẻ kh�ng đ�ng chơi, gả con g�i cho người kh�ng đ�ng gả.  Họ so với Văn Trinh, [36a] c� g� đ�ng kể, huống hồ những kẻ c�n k�m hai �ng n�y! [hết tr�ch]

 

 

     (*e) Về Ngự Sử Trương Đỗ:

    

     Đại Việt Sử K� To�n Thư, Tập II, đ� dẫn tr�n, nơi trang 162 c� viết về quan ngự sử Trương Đỗ như sau:

 

     [Bắt đầu tr�ch] � Trước đ�y, ngự sử đại phu Trương Đỗ (c� s�ch ch�p l� X�) can vua rằng:

 

     �Chi�m Th�nh chống lệnh,[45a] tội cũng chưa đ�ng phải giết.  Song n� ở tận c�i t�y xa x�i, n�i s�ng hiểm trở.  Nay bệ hạ vừa mới l�n ng�i, đức ch�nh, gi�o h�a chưa thấm nhuần được tới phương xa, n�n sửa sang văn đức khiến n� tự đến thần phục.  Nếu n� kh�ng theo, sẽ sai tướng đi đ�nh cũng chưa muộn�.

 

     Đỗ ba lần d�ng sớ can vua kh�ng được, n�n treo mũ m� bỏ đi.

 

     Đỗ l� người thanh li�m, thẳng thắn, kh�ng b� đảng, ph�ng kho�ng, c� ch� lớn.  Khi c�n nhỏ, c� lần �ng đi chơi Hồ t�y xem tướng qu�n tập bắn, n�i đ�a rằng: �Nghề n�y th� c� kh� g�?� Tướng qu�n ngạc nhi�n hỏi: �M�y c� bắn tr�ng được kh�ng?� �ng trả lời: �Xin thử xem�.  Rồi �ng bắn ba ph�t tr�ng cả ba.  Tướng qu�n rất kinh ngạc, muốn nu�i l�m con, nhưng Đỗ coi khinh kh�ng theo.  Sau �ng bỏ nh� đi du học, thi đỗ tiến sĩ, rất nổi danh.  �ng l�m quan trong sạch, ngh�o t�ng, kh�ng g�y dựng điền sản, con ch�u nối đời l�m quan cũng c� tiếng l� ngh�o m� trong sạch.

 

     Đỗ người Ph� Đ�i, huyện Đồng Lại (�nay thuộc huyện Ninh Giang tỉnh Hải Hưng v� phần đất ph�a nam huyện Vĩnh Bảo, Hải Ph�ng), ngụ tại phường Nghi T�m, Cơ X� ở kinh th�nh, l�m quan đến chức Ngự sử đ�i tư gi�n đ�nh �y tự khanh trung đ� phủ tổng quản rồi chết.

 

Sử thần Ng� Sĩ Li�n n�i: Trương Đỗ khi l�m quan th� kh�ng giấu lời n�i thẳng, thế l� đ� xứng đ�ng với chức vụ của m�nh, khi can th� n�i tới ba lần, thế l� đ� d�m chạm đến cả vua.  Vậy m� �ng kh�ng được vua nghe, thế l� t�m tr� nh� vua đ� lẫn rồi! Người c� tr�ch nhiệm phải n�i, kh�ng được nghe theo th� bỏ đi, thế l� sự tiến lui của Đỗ đều hợp lẽ phải vậy.  Tuy lời n�i thẳng thường tr�i tai vua, nhưng lại hay lợi cho th�n vua.  Việc n�y c� thể l�m gương được. [hết tr�ch]

 

 

     (*f): Về c�c b�i hịch của Trần Hưng Đạo Vương:

 

     Trần Hưng Đạo Vương c� soạn c�c s�ch như Binh Gia Diệu L� yếu lược, Vạn Kiếp T�ng B� Truyền thư v.v...  Trong lời mở đầu quyển Binh Gia Yếu Lược, Trần Hưng Đạo Vương c� viết b�i hịch tr�ch dẫn nhiều điển t�ch trong lịch sử v� văn chương Trung Hoa, th� dụ như đoạn văn kể sau:

    

     [Bắt đầu tr�ch] �Ta từng nghe, Kỷ T�n đem m�nh chết thay, cứu tho�t cho Cao Đế; Do Vu giơ lưng chịu gi�o che chở cho Chi�u Vương; Dự Nhượng nuốt than b�o th� cho chủ; Th�n Kho�i chặt tay cứu nạn cho nước; K�nh Đức, một ch�ng trẻ tuổi, th�n ph� Th�i T�ng tho�t khỏi v�ng v�y Thế Sung; Cảo Khanh, một bề t�i xa, miệng mắng Lộc Sơn, kh�ng theo mưu kế nghịch tặc.  Từ xưa c�c bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ m�nh v� nước, đời n�o kh�ng c�? Giả sử c�c bậc đ� cứ khư khư theo th�i nhi nữ thường t�nh, th� cũng chết uổng nơi x� cửa, sao c� thể lưu danh sử s�ch, để c�ng bất hủ với đất trời? �[hết tr�ch]  (Đại Việt Sử K� To�n Thư, Tập II, đ� dẫn tr�n, c�c trang 81-82)./-   

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

26.05.2015

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2015