Wilhelm G. Solheim II

Depart of Anthropology, University of Hawaii-Manoa

 

 

LƯỢC SỬ KH�I NIỆM Đ�NG SƠN

 

 

Ng� Bắc dịch

 

Từ ngữ Đ�ng Sơn mang lại � nghĩ về c�i trống to lớn mang t�n trống đồng Đ�ng Sơn.� Trống điển h�nh, với sự trang tr� tr�n mặt (tai) trống v� th�n (sườn) trống vẽ h�nh c�c chiếc thuyền với d�n ch�ng đội c�c chiếc mũ l�ng chim đẹp mắt, đ� trở th�nh biểu tượng của Việt Nam v� được trưng b�y tại nhiều nơi c�ng cộng.� C�c trống n�y đ� l� trung t�m của kh�i niệm Đ�ng Sơn từ l�c khởi đầu.� Trong hơn 100 năm kể từ sự trưng b�y lần đầu ti�n c�c trống n�y tại c�c cuộc triển l�m ở �u Ch�u, ch�ng l� một sự huyền b�.� Kh�ng ai hay biết về địa điểm nguồn gốc của ch�ng, từ �u Ch�u, Mỹ Ch�u, Trung Đ�ng hay � Ch�u?� Sau c�ng, trong năm 1902, một quyển s�ch của t�c giả Franz Heger đ� đặt định ch�ng đến từ Đ�ng Nam �.

������ C�c trống được khai quật đầu ti�n từ địa điểm Đ�ng Sơn, tỉnh Thanh H�a, ph�a nam H� Nội, được khai ph� bởi M. Pajot trong năm 1924 v� được tường thuật bởi V. Goloubew in trong năm 1929.� Goloubew (1929: 11, 1932: 139; Karlgren 1942: 2-5; van Heekeren 1958: 92-93) đ� �n định ni�n đại loại trống ban sơ (Heger Type 1) từ giữa hay nửa sau của thế kỷ thứ nhất Sau C�ng Nguy�n (SCN).� Sau khi hay biết được nơi khai sinh của ch�ng, nhiều trống đồng Đ�ng Sơn được b�o c�o c� mặt tại Nam Trung Hoa, Th�i Lan, L�o, T�y M� Lai, v� ph�a đ�ng Indonesia m�i đến tận miền t�y đảo Irian Jaya.� V�ng tập trung nhiều nhất c�c trống n�y l� tại miền bắc Việt Nam (Kempers 1988).

������ Sự tranh luận đ� sớm được ph�t triển về việc ấn định ni�n đại của Văn H�a Đ�ng Sơn v� nguồn gốc của n�.� C�c nh� tranh luận ch�nh yếu l� Robert Heine-Geldern v� Bernard Karlgrenn.� T�i đ� ph�n t�ch sự bất đồng n�y với �t nhiều chi tiết trước đ�y (Solheim 1979: 69-172), 1980a), v� thế t�i chỉ đưa ra một sự t�m lược ngắn gọn ở đ�y.� Heine-Geldern n�u giả thuyết rằng �c�c th�nh tố của phong c�ch hội họa Đ�ng Sơn v� thời h�u Chu c� nguồn gốc tại Đ�ng �u, nơi c� c�c văn h�a Đồ Đồng tại Hallstatt v� sơ kỳ Thời Đồ Sắt của v�ng Caucasus, v� Thời Đồ Đồng của v�ng Transylvania v� miền đ�ng Hung Gia Lợi (Hungary)� (1937; 186-191); rằng �c�c th�nh tố n�y đ� được mang sang Đ�ng Phương bởi c�c bộ tộc Thraco-Cimmerian trong thời khoảng từ 800 đến 600 Trước C�ng Nguy�n (TCN) (1937: 191-194)�. v� rằng �phong c�ch hội họa Đ�ng Sơn (phong c�ch nghệ thuật trang tr�) đ� được du nhập v�o Indonesia bởi một sự thực d�n h�a của Việt tộc thuộc Nam Trung Hoa v� bắc Việt Nam; từ đ� n� đ� tiếp tục được lan truyền bởi c�c bộ tộc Indonesia� (1937: 197, xem Solheim 1979: 170).

������ Karlgren kh�ng đồng � cả về việc ấn định ni�n đại lẫn nguồn gốc, đặt giả thuyết thay v�o đ� rằng sơ kỳ Văn H�a Đ�ng Sơn c� ni�n đại từ thế kỷ thứ tư � thứ ba TCN (1942: 5-25) v� rằng �sơ kỳ văn h�a Đ�ng Sơn l� l�ng giềng v� c� li�n hệ chặt chẽ -- chắc chắn ở một tầm mức rộng lớn bị ảnh hưởng bởi -- phong c�ch Huai của Miền Trung Trung Hoa� (1942: 25) [c�ch trang tr� tr�n đồ đồng đ�c nổi bằng c�c đường m�c c�u v� đường cong uốn lượn từ thế kỷ thứ 6 � 3 TCN, thời Đ�ng Chu, Trung Hoa.� Đươc đặt theo t�n s�ng Ho�i (Huai), ch� của người dịch].� Trong khi cả hai lập luận, trong c�c sự giải th�ch kh�c biệt của ch�ng, đều dựa tr�n phong c�ch trang tr� v� c�c th�nh tố kỷ h� học của sự trang tr� n�y như xuất hiện tr�n đồ đồng Đ�ng Sơn, cả hai đều đồng � rằng sự hiểu biết về sự sản xuất đồ đồng đ� bước v�o nền Văn H�a Đ�ng Sơn với một phong c�ch nghệ thuật [hội họa].

������ Olov Janse đ� thực hiện v�i cuộc khai quật tại địa điểm Đ�ng Sơn từ 1934 đến 1939, nhưng b�o c�o cuối c�ng về c�c sự khai quật n�y, đ� kh�ng được c�ng bố m�i cho đến sau Thế Chiến II (Janse 1947, 1951, 1958).� Trong khi c�c ấn phẩm n�y đưa ra một khối lượng lớn lao c�c dữ liệu mới về Văn H�a Đ�ng Sơn, ch�ng đ� kh�ng giải quyết c�c vấn đề ấn định ni�n đại v� nguồn gốc.� Janse đ� khai quật một số ng�i mộ x�y gạch chứa đựng c�c chế t�c phẩm hiển nhi�n c� ni�n đại sơ kỳ nh� H�n của Trung Hoa (quyển 1).� Một số ng�i mộ r� r�ng sớm hơn nữa cũng đ� được khai quật, một số trong ch�ng c� chứa đựng c�c chế t�c phẩm bằng đồng điển h�nh của Đ�ng Sơn, kể cả c�c chiếc trống.� Janse đ� ghi nhận sự tương đồng giữa sự trang tr� của Đ�ng Sơn với phong c�ch nghệ thuật v�ng Huai, như được đề cập đến bởi Karlgren, nhưng �ng cũng ghi nhận c�c sự tương đồng của sự trang tr� Đ�ng Sơn với Văn H�a Hallstatt, như được n�u ra bởi Heine-Geldern (Janse 1958; Malleret 1959).� �ng đ� kh�ng đứng về một b�n n�o của cuộc tranh luận.

������ C�c sự khai quật tại v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo, Việt Nam, v� Th�i Lan kể từ đầu thập ni�n 1950 đ�i hỏi c�c sự giải th�ch ho�n to�n kh�c biệt về cả c�c nguồn gốc của Văn H�a Đ�ng Sơn lẫn việc ấn định ni�n đại của n�.

������ Sự đe dọa đầu ti�n cho cảc hai � kiến tr�n về việc ấn định ni�n đại của Văn H�a Đ�ng Sơn đến từ c�c cuộc khai quật tại Phi Luật T�n.� Một truyền thống đồ gốm kh�c biệt trở n�n r� n�t đ� du nhập phong c�ch v� nhiều th�nh tố của sự trang tr� của đồ đồng Đ�ng Sơn.� Điều sớm hiển hiện rằng truyền thống đồ gốm n�y đ� khới đầu sớm hơn tại Phi Luật T�n so với ni�n đại được ấn định sớm nhất cho Đ�ng Sơn đề xuất bởi Heine-Geldern (Solheim 1959a, 1959b, 1964, 1967, 1980a; Fox 1970).� Điều trở n�n r� r�ng rằng truyền thống đồ gốm n�y kh�ng li�n hệ trực tiếp với Văn H�a Đ�ng Sơn.� Tuy thế, cả Heine-Geldern v� Karlgren đ� đặc biệt sử dụng sự trang tr� h�nh học v� phong c�ch của sự sử dụng n� như được c�ng chia sẻ bởi truyền thống đồ gốm n�y với c�c đồ đồng Đ�ng Sơn để đặt giả thuyết cả cho việc ấn định ni�n đại lẫn c�c mối quan hệ với Văn H�a Hallstatt v� phong c�ch hội họa s�ng Huai của Trung Hoa.� Tất cả c�c ấn phẩm về sự phổ biến của Đ�ng Sơn v�o phần c�n lại của Đ�ng Nam � từ miền bắc Việt Nam đ� sử dụng phong c�ch hội họa n�y l�m căn bản của ch�ng cho việc đặt giả thuyết về sự lan truyền (văn h�a) Đ�ng Sơn � nhưng ở đ�y, n� l� một bộ phận của Truyền Thống Đồ Gốm Sa Huỳnh � Kalanay, đ� sẵn được phổ biến rộng r�i tại Phi Luật T�n v� phần lớn v�ng Đ�ng Nam � Hải Đảo (Solheim 1979: 180-184) trước khi c� sự khởi đầu được giả thiết của văn h�a Đ�ng Sơn.� Điều trở n�n r� r�ng, �t nhất đối với t�i, rằng phong c�ch hội họa v� c�c th�nh tố h�nh học được sử dụng trong ch�ng đ�i hỏi một tổ ti�n chung của c�c phong c�ch như được t�m thấy tr�n đồ gốm v� tr�n đồ đồng Đ�ng Sơn (Solheim 1967: 172, kh�ng ghi ni�n kỳ).

 

Bản [khắc kẽm] �I (Pl. I). a, Mặt trống điển h�nh của trống Đ�ng Sơn từ Đ�ng Sơn, tại Bảo T�ng Viện Thanh H�a, Việt Nam; b-d, c�c chế t�c phẩm bằng đồng tại Shizhai Shan (Thạch Trại Sơn), V�n Nam: b-c, c�c trống nhỏ với c�c cấu h�nh đ�nh k�m, v� d, gối (kệ?) tế lễ, tất cả tại Bảo T�ng Viện Tỉnh V�n Nam, C�n Minh, C�ng H�a Nh�n D�n Trung Hoa (Ảnh chụp của Solheim).

 

 

Bản [khắc kẽm] II (Pl. II)� C�c chế t�c phẩm bằng đồng từ Shizhai Shan (a, b, d) v� Đ�ng Sơn ; a, mẫu ng�i nh� tr�n c�c cột nh� s�n với hoạt động t�i h�ng hi�n v� tr�n nền đất tại gốc c�c cột nh�; b v� d, mi�u tả sự tra tấn hay trừng phạt, một đề t�i chưa hề được thấy trong c�c chế t�c phẩm của Đ�ng Sơn; tuy nhi�n, c�c chế t�c phẩm hiếm c� của Đ�ng Sơn, �ph� b�y một cặp nam nữ đang giao cấu v� biểu tượng phồn thực khả hữu n�o kh�c, kh�ng được nh�n thấy tại Shizhai Shan; c, ph�a trước v� sau chu�i c�n một con dao, kh�c biệt với c�c c�n dao của Shizhai Shan, như trong H�nh 2.� (C�c ảnh chụp của Solheim).

 

 

H�nh 1. Sự trang tr� điển n�nh tr�n một mặt (tai) trống (a) v� b�n h�ng của một trống được trang tr� ho�n to�n.� C�c th� dụ của sự trang tr� l� từ một trống được biết l� trống Ngọc Lũ, theo Karlgren (1942: Bảng 4 (Pl. 4).

 

H�nh 2. a, Trống kiểu Đ�ng Sơn kh�c thường với c�c giải đường viền c� c�c khu�n mẫu kỷ h� học điển h�nh của c�ch trang tr� kiểu Shizhai Shan b�n h�ng (sườn, th�n) trống; trống từ Thạch Trại Sơn, phỏng theo Phạm v� c�c t�c giả kh�c (1987: 19), b � d, c�c dao ngắn bằng đồng từ Shizhai Shan, phỏng theo t�c giả V� Danh (1959): b, theo H�nh 13 (trang 45), c, theo H�nh 1 (trang 300, v� d, theo 3 của Bản [kẽm] (Plate) (trang 15).� C�n của d th� rỗng với c�c lỗ hổng, tương tự như con dao ngắn từ Đ�ng Sơn m� t�i đ� nh�n thấy tại Bảo T�ng Viện Thanh H�a.

 

������ C� đ�nh cuối c�ng v�o cả hai bộ giả thuyết đến từ c�c sự khai quật tại Th�i Lan v� Việt Nam. �C�c cuộc khai quật tại Non Nok Tha, đ�ng bắc Th�i Lan, mang lại bằng chứng cả về sự sản xuất đồ đồng địa phương lẫn về phong c�ch hội họa tr�n đồ gốm c� thể, một c�ch hợp l�, l� tổ ti�n của phong c�ch hội họa của đồ gốm v� của đồ đồng Đ�ng Sơn, l�u hơn thời đại được giả thuyết của nền Văn H�a Đ�ng Sơn hay của Truyền Thống Đồ Gốm Sa Huỳnh � Kalanay (Solheim 1968, 1979: 184-194; Bayard 1972).� C�c ni�n đại n�y vẫn c�n được tranh luận, nhưng ni�n đai ấn định cho thấy rằng sự sản xuất đồ đồng đ� xảy ra trước khi kết th�c thi�n ni�n kỷ thứ ba TCN (Pigott 1984, 1985; Natapintu 1988).� Phong c�ch hội họa đ� c� mặt tại miền đ�ng bắc Th�i Lan v�o khoảng cuối thi�n ni�n kỷ thứ tư TCN (White 1982).

������ Đồng được sản xuất th�nh c�c chế t�c phẩm nhỏ tại miền bắc Việt Nam kh�ng l�u sau 2000 TCN (Ha 1974; Davidson 1975: 88-93; Van 1979; Nguyễn 1979; Solheim 1980b: 15) trong một chuỗi văn h�a dẫn đến Văn H�a Đ�ng Sơn.� Ch�nh v� thế, điều trở n�n r� rệt rằng cả truyền thống sản xuất đồ đồng lẫn phong c�ch hội họa thể hiện tr�n c�c trồng đồng Đ�ng Sơn lẫn c�c chế t�c phẩm đồ đồng kh�c đ� hiện diện tại Đ�ng Nam � từ l�u trước Văn H�a Đ�ng Sơn.� Nguồn gốc của Văn H�a Đ�ng Sơn nằm ngay ở đ�, tại miền bắc Việt Nam.� Ni�n đại của nguồn gốc n�y t�y thuộc v�o định nghĩa về Văn H�a Đ�ng Sơn, nhưng tổ ti�n của n� k�o l�i Việt Nam v� c�c khu vực l�n cận trở về c�c thi�n ni�n kỷ thứ tư v� thứ năm TCN, v� chắc chắn sớm hơn nhiều.

������ Một loạt c�c địa điểm tại V�n Nam, Nam Trung Hoa (Rudolph 1960), x�c định Văn H�a Điền (Tien Culture), như n� được hay biết v�o thời điểm n�y.� Hiển nhi�n văn h�a n�y v� Văn H�a Đ�ng Sơn c� li�n hệ chặt chẽ với nhau, v� c� thể l� c�c biến thể của c�ng một văn h�a.� B�i viết tiếp theo sau b�i viết n�y, bởi t�c giả John Tessitore, khảo s�t mối quan hệ giữa hai văn h�a.� B�i viết của t�i mang � nghĩa l� phần dẫn nhập cho b�i viết của Tessitore, d�nh cho những ai hoặc chưa hay biết về Văn H�a Đ�ng Sơn hay kh�ng c� sự hiểu biết về c�c kh�m ph� mới đ�y về Văn H�a Đ�ng Sơn tại Việt Nam.� Bởi b�i viết của Tessitore kh�ng c� h�nh ảnh về c�c đồ đồng của đất Điền hay Đ�ng Sơn, t�i c� bao gồm một �t để tr�nh b�y c�c sự tương đồng� v� c�c sự dị biệt giữa đồ đồng v� văn h�a của hai b�n (C�c Bản I-II, C�c H�nh 1-2)./-

 

THAM KHẢO

ANONYMOUS (V� DANH)

1959��� Yun-nan Chin-ning Shih-chai-shan ku mu ch�un fa-chueh pao-kao.� Peking: Wen Wu Press (bằng tiếng H�n).

BAYARD, DONN T.

������ 1972��� Early Thai bronze: analysis and new dates.� S 176: 1411-1412.

DAVIDSON, JEREMY H. C. S.

������ 1975��� Recent archaeological activity in Vietnam.� JHKAS 6: 80-99.

FOX , ROBERT B.

������ 1970��� The Tabon Caves.� National Museum Monograph 1.� Manila

GOLOUBEW, V.

������ 1929��� L�Age du bronze au Tonkin et dans le Nord-Annam.� BEFEO 29: 1-46.

1932��� Sur l�origine et la diffusion des tambours m�talliques, trong Prehistorica Asiae Orientalis: 137-150.� Hanoi: l��cole Fran�aise d�Extr�me-Orient.

H� VĂN TẤN

������ 1974��� There was an early Vietnamese civilization.� Học Tập 1: 48-57.

VAN HEEKEREN, H. ROBERT

 

1958��� The Bronze-Iron Age of Indonesia. Verhandelingen van het Koninklijk Instituut voor Taal-, Land- en Volkenkunde 22. The Hague: Martinus Nijhoff.

 

HEGER, FRANZ

 

1902 ��������� Alte Metalltrommeln aus Sudostasien. Leipzig.

 

HEINE-GELDERN, H. ROBERT

 

1937 �� L'art prebouddhique de la Chine et de I' Asie Sud-est et son influence en Oceanie. Revue des Arts Asiatiques 11(4): 177-206.

 

JANSE, OLOV R. T.

 

1947 �� Archaeological Research in Indo-China I. Cambridge, Mass.: Harvard Yenching Institute.

1951 �� Archaeological Research in Indo-China II. Cambridge, Mass.: Harvard Yenching Institute.

 

1958 �� Archaeological Research in Indo-China III. Bruges: Institut Beige des Hautes� Chinoises.

 

KARLGREN, BERNARD

 

1942 ��������� The date of the early Dong-so'n Culture. BMFEA 14: 1-128.

 

KEMPERS, A. J. BERNET

 

1988 �� The Kettledrums of Southeast Asia: A Bronze Age World and its Aftermath. MQRSEA 10.

 

MALLERET, LOUIS

 

1959 �� La civilisation de Dong-son d'apres les recherches archeologiques de M. Olov Janse. France������� Asie 160-161: 1197-1208.

 

NATAPINTU, SURAPOL

 

1988 �� Current research on ancient copper-base metallurgy in Thailand, in Prehistoric Studies: The Stone and Metal Ages in Thailand. Papers in Thai Antiquity 1. Bangkok: Thai Antiquity Working Group.

 

NGUYEN, Duy Ty

 

1979 �� The appearance of ancient metallurgy in Vietnam, in Recent Discoveries and New Views on Some Archaeological Problems in Vietnam. Hanoi: Institute of Archaeology, Committee for Social Science of Vietnam.

 

PHAM, MINH HUYEN, NGUYEN VAN HUYEN, AND TRINH SINH

 

1987 ��������� Trống Đ�ng Sơn. Ha Noi: Nha Xuat Ban Khoa Hoc Xa Hoi.

 

PIGOTT, VINCENT C.

 

1984 �� The Thailand Archaeometallurgy Project 1984: survey of base-metal resource exploitation in Loei Province, northeastern Thailand. Southeast Asian Studies Newsletter 17: 1-5.

 

1985 �� Pre-industrial mineral exploitation and metal production in Thailand. MASCA Journal 3 (5, Archaeometallurgy Supplements): 170-174.

 

RUDOLPH, RICHARD

1960 ��������� China mainland. AP 4:41-54.

 

SOLHEIM, WILHELM G. II

 

1959a��������� (Editor) Sa-huynh pottery relationships in Southeast Asia. AP 3(2): 97-188.

 

 

1959b�������� Sa-huynh related pottery in Southeast Asia. AP 3(2): 177-188.

 

1964��� Further relationships of the Sa-huynh-Kalanay Pottery Tradition. AP 8(1): 196-210.

 

1967��� The Sa-huynh-Kalanay Pottery Tradition: past and future research, in Studies in Philippine Anthropology:151-174, ed. Mario D. Zamora. Quezon City, Philippines: Alemar Phoenix.

 

1968 ��������� Early bronze in northeastern Thailand. CA 9(1): 9-62.

 

1979��� A look at "L'art prebouddhique de la Chine et de I' Asie du Sud-Est et son influence en Oceanie" forty years after. AP 22(2): 165-205.

 

1980aNew data on late Southeast Asian prehistory and their interpretations. Saeculum 31 (3-4): 275-344, 409 (bằng tiếng Đức).

 

1980b ������� Review article: Recent discoveries and new views on some archaeological problems in Vietnam. AP23(1): 9-16.

 

n.d.����� needed research on the origins of the Lapita Culture in eastern Indonesia. Paper for Fifth National Archaeological Seminar, 4-7 July 1989, Yogyakarta, Indonesia.

 

VAN, TRONG

 

1979 �� New knowledges [sic] on Dong Son culture from archaeological discoveries these twenty years, in Recent Discoveries and New Views on some Archaeological Problems in Vietnam. Hanoi: Institute of Archaeology, Committee for Social Sciences of Vietnam.

 

WHITE, JOYCE C.

 

1982 �� Ban Chiang Discovery oj a Lost Bronze Age. Philadelphia: The University Museum, University of Pennsylvania, and The Smithsonian Institution.

�����

 

_____

Nguồn: Wilhelm G. Solheim, A Brief History of the Dongson Concept, Asian Perspectives, University of Hawaii Press, Vol. 28, no. 1 � 1990, c�c trang 23-30.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

29.06.2015

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2015