TIẾNG CH�M C� THỂ L� NGUỒN GỐC

CỦA VĂN TỰ PHI LUẬT T�N*

 

GEOFF WADE

University of Hong Kong

 

NG� BẮC dịch

 

 

I.� VĂN TỰ PHI LUẬT T�N

 

Năm 1593, một quyển s�ch in từ mộc bản (bản khắc gỗ) đ�ng lưu � nhất được ấn h�nh tại Manila, bao gồm tập Doctrina Christiana (Học Thuyết Thi�n Ch�a Gi�o) của Juan de Plascenia bằng tiếng T�y Ban Nha, bằng tiếng Tagolog được k� �m sang mẫu tự La M�, v� bằng văn tự Tagalog (xem Bảng 1) (1) Trong khi vẫn c�n một v�i sự tranh luận về việc đ�y c� phải l� quyển s�ch đầu ti�n được ấn h�nh tại Phi Luật T�n hay kh�ng (2), �t c� sự nghi ngờ rằng quyển s�ch n�y đ� l�m th�nh th� dụ về ấn phẩm đầu ti�n c�n s�t lại của bất kỳ chữ viết n�o của Phi Luật T�n.

 

 

 

Bảng 1: Một trang trong quyển Doctrina Christiana in tại Manila năm 1593.

 

 

 

Khoảng hơn 10 năm sau đ�, trong năm 1604, một t�c phẩm của linh mục D�ng T�n Pedro Chirino, người đ� sống 12 năm tại Phi Luật T�n từ năm 1590 đến 1602 (3), ấn h�nh tại Rome với nhan đề Relaci�n de las Islas Filipinas (C�c Quan hệ Của Quần Đảo Phi Luật T�n).� Trong Chương 10 của t�c phẩm n�y, Chirino ghi nhận: �Tất cả người d�n quần đảo n�y đều được học đọc v� viết v� hiếm c� một người đ�n �ng n�o, c�ng �t hơn nhiều đối với phụ nữ, lại kh�ng biết đọc v� viết bằng thứ chữ được d�ng trong đảo Manila � c�c văn tự ho�n to�n kh�c biệt với thứ chữ của Trung Hoa, Nhật Bản v� Ấn Độ. (4).� Kế đ� �ng tiến đến việc tr�nh b�y chi tiết v� minh họa văn tự m� �ng đ� đề cập đến, như gồm mẫu viết ba nguy�n �m (d�ng để tượng trưng cho năm nguy�n �m) v� mười hai phụ �m.� C�c phụ �m, �ng ghi nhận, thường được đọc với một �m gắn liền với nguy�n �m �a� cơ hữu, nhưng nếu c� k�m một dấu ph�t �m ở tr�n hay dưới, cũng c� thể được đọc với �m �i � hay �e� (c� dấu ph�t �m b�n tr�n phụ �m) hay �o� hay �u� (c� dấu ph�t �m b�n dưới phụ �m) (xem Bảng 2).� Sự m� tả của Chirino c� vẻ cấu th�nh sự m� tả sớm nhất về mẫu tự �Manila� (tiếng Tagalog), hay một ch�nh x�c hơn (như vạch ra bởi Juan R. Francisco (5) một � bảng c�c �m tiết (vần): syllabary�, v� cơ chế cho sử dụng của n�.

 

 

 

Bảng 2: Bảng Vần (�m Tiết) �Manila� của Chirino,

trong quyển Relacion de las Filipinas (1604).

 

 

 

Quyển s�ch Sucesos de las Islas Filipinas của Antonio de Morga, được ấn h�nh trong năm 1609, tổng hợp phần lớn những g� đ� được hay biết khi đ� bởi người T�y Ban Nha về Phi Luật T�n v� bao gồm c�c chi tiết về c�c ng�n ngữ v� văn tự, ghi nhận:

 

Ng�n ngữ của tất cả sắc d�n Pintados v� Bicayas l� một v� giống nhau, nhờ đ� họ hiểu được người kh�c khi n�i chuyện, hay khi viết bằng c�c mẫu tự v� dấu hiệu ri�ng m� họ sở đắc.� C�c mẫu chữ n�y tr�ng giống như c�c mẫu tự của người Ả Rập.� C�ch viết th�ng thường giữa c�c người d�n bản xứ l� viết tr�n l� c�y v� tr�n vỏ c�y tre � Ng�n ngữ của đảo Lữ Tống (Luzon) v� của những đảo l�n cận n� th� kh�c biệt s�u xa với ng�n ngữ của v�ng Bicayas � Thổ d�n khắp c�c đảo c� thể viết một c�ch th�nh thạo bằng một số mẫu tự n�o đ�, gần giống như tiếng Hy Lạp hay Ả Rập.� C�c mẫu tự n�y gồm tất cả mười lăm mẫu tự.� C� ba nguy�n �m, được d�ng như năm nguy�n �m của ch�ng ta.� Số phụ �m l� mười hai, v� từng một v� tất cả ch�ng được kết hợp với một số dấu chấm hay phẩy n�o đ�, v� như thế sẽ mang bất kỳ � nghĩa n�o m� người ta muốn viết ra, một c�ch tr�i chảy v� dễ d�ng như thể được l�m với c�c mẫu tự tiếng T�y Ban Nha của ch�ng ta.� C�ch viết l� viết tr�n c�y tre, nhưng b�y giờ l� tr�n giấy, bắt đầu c�c h�ng viết từ b�n tay phải v� chạy sang tr�i theo c�ch của Ả Rập.� Hầu như tất cả c�c thổ d�n, cả đ�n �ng lẫn đ�n b�, đều biết viết ng�n ngữ n�y.� Chỉ c� �t người l� kh�ng viết được một c�ch tr�i chảy v� ch�nh x�c. (6)

 

Một t�i liệu kh�c kh�ng k� t�n được g�n cho l� của Diego de Bobadilla S.J. v� c� nhật kỳ khoảng năm 1640, bao gồm một sự thảo luận s�u xa hơn v� c� bản minh họa văn tự sử dụng tại đảo Lữ Tống (7).� Một điểm đ�ng lưu � l� trong bản minh họa n�y, giống như bảng mẫu tự của Chirino, kh�ng c� bao gồm phần minh họa của c�c vần �nga� v� �wa� (xem Bảng 3).

 

 

 

Bảng 3: H�nh mẫu văn tự �Tag�l� từ một t�i liệu kh�ng k� t�n.

được cho l� của Diego de Bobadilla.

 

 

 

Sự tham khảo phần ch� giải cuối c�ng của thế kỷ thứ mười bẩy được gồm trong tập Labor evang�lica của Francisco Colin, c� nhật kỳ v�o hậu b�n thế kỷ đ�, nơi phần tham chiếu �c�c mẫu tự của người Phi Luật T�n,� t�c giả đ� ghi nhận rằng �c�c mẫu tự nguy�n �m ch� c� ba chữ, nhưng ch�ng được d�ng cho năm nguy�n �m khi �p dụng; bởi nguy�n �m thứ nh� v� thứ ba kh�ng ph�n biệt c�c nguy�n �m e, i, y, o hay u, m� [thay đổi] t�y theo sự y�u cầu bởi � nghĩa hay � niệm của từ ngữ được n�i hay viết ra.� C�c phụ �m gồm mười ba phụ �m trong số lượng v� được d�ng (ngoại trừ khi khởi đầu nh�m từ hay l� chữ khởi đầu) như phụ �m v� nguy�n �m; bởi khi mẫu tự đứng một m�nh kh�ng c� dấu chấm ở tr�n hay ở dưới, sẽ được ph�t �m với �m của mẫu tự �A�.� Nếu c� dấu chấm đặt ở tr�n, phụ �m được ph�t �m c�ng với �m của mẫu tự �e� hay �i�.� Nếu dấu chấm được đặt ở dưới, n� sẽ được ph�t �m với c�ng với �m �o� hay �u�.� Ch�nh v� thế, mẫu tự �B� với dấu chấm b�n tr�n sẽ được ph�t �m l� �bi� hay �be�, v� với dấu chấm ở dưới, sẽ được ph�t �m l� �bo� hay �bu�.� Tầm quan trọng của phần tham chiếu n�y l� con số 13 phụ �m, tr�i với số 12 phụ �m trước đ�y, được thừa nhận.

 

Thay v� tiếp tục thuật lại c�c sự tham khảo lịch sử về c�c văn tự Phi Luật T�n, như thế cũng đ� đủ bởi mục đ�ch của ch�ng ta nơi đ�y chỉ l� đơn giản ghi nhận rằng c�ng với c�c thế kỷ kế tiếp, sự kiện trở n�n r� rệt cho c�c người quan s�t b�n ngo�i l� bảng mẫu tự sẽ bao gồm ba nguy�n �m v� 14 phụ �m.� T�c giả Pardo de Tavera đ� cũng cấp một bảng hữu �ch c�c mẫu biến thể được ghi ch� bởi c�c văn gia kh�c nhau về mẫu tự v� bảng n�y được t�i tạo bởi t�c giả Francisco (xem Bảng 4) (9).

 

 

 

(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)
Bảng 4: C�c �m tiết (vần) Phi Luật T�n (theo Pardo de Tavera)

(từ Francisco, Philippine Palaeography, trang 93)

 

 

 

C� lẽ cũng l� điều th�ch đ�ng để ghi nhận nơi đ�y về �Thủ Bản Mẫu Tự của Boxer�, được g�n cho t�c giả Boxer v�o khoảng năm 1590 (10), bao gồm một sự tham chiếu về c�c văn tự Phi Luật T�n, cho hay rằng c�ng với c�c sự việc kh�c, �họ kh�ng c� s�ch vở v� kh�ng c� lịch sử, v� họ kh�ng viết d�i d�ng ngoại trừ khi viết thư từ v� c�c văn kiện cho nhau.� Nhằm mục đ�ch n�y họ c� c�c mẫu tự với tổng số chỉ gồm mười bẩy chữ c�i� (11).� Ch�nh �Thủ Bản Mẫu Tự của Boxer� v� tập Doctrina Christiana, cả hai được cho l� xuất hiện trong thập kỷ 1590, ghi ch�p 17 �chữ c�i� trong văn tự Tagalog, trong khi nhiều t�c phẩm sau đ� trong thế kỷ mười bảy chỉ ghi nhận c� 15 hay 16 mẫu tự� như thế, khiến ta nghĩ rằng hoặc đ� l� c�c sự sai biệt theo d�ng thời gian, hay, với nhiều x�c xuất hơn, bởi người T�y Ban Nha đ� đi t�m hiểu về c�c văn tự Phi Luật T�n xuy�n qua c�c chiều hướng c�ch biệt v� kh�c nhau.

 

C�c sự kh�m ph� gần đ�y hơn về c�c th� dụ ban đầu của văn tự bao gồm hơn 100 mẫu chữ k� của người Phi Luật T�n c� nhật kỳ từ 1603 đến 1645, được lưu trữ tại trường Đại Học University of Santa Tomas v� Văn Khố Quốc Gia Phi Luật T�n (12).� Sự x�c thực của th� dụ duy nhất hay biết được về một chiếc b�nh bằng đất c� khắc chữ c� thể thuộc thời tiền T�y Ban Nha, chiếc b�nh Calatagan nổi tiếng, h�y c�n l� điều bị tranh luận (13).

 

Ngo�i ra, sự tiếp tục sử dụng, cho đến ng�y nay, c�c loại văn tự kh�c biệt bởi sắc d�n Tagbanuwa tại đảo Palawan v� sắc d�n Mangyan thuộc đảo Oriental Mindoro, đ� cung cấp cho c�c nh� nghi�n cứu nhiều th�ng tin về c�c h�nh th�i kh�c nhau của văn tự cũng như c�c truyền thuyết li�n quan đến c�c nguồn gốc của văn tự (14).� Một th� dụ về sự sử dụng hiện đại văn tự Mangyan được biểu thị nơi Ảnh 1.

 

 

 

(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

Ảnh 1: Một Th� Dụ Hiện Đại của Văn Tự Mangyan (từ� A. Postma,

�The Unchanging Mangyan� trong

Filipino Heritage: The Making of A Nation, tập 2, c�c trang 555-60).

 

 

 

Ch�ng ta dễ d�ng suy tưởng rằng c�c văn tự được sử dụng để viết c�c ng�n ngữ Tagalog, Bisayan, Tagbanuwa v� Mangyan c� chung một nguồn gốc nguy�n thủy, duy nhất bởi ch�ng c� c�ng chung c�c th�nh tố (15), v� ch�nh sự t�m kiếm nguồn gốc duy nhất n�y từ l�u l�m bận t�m c�c học giả.

 

 

II. C�C L� THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC CỦA VĂN TỰ PHI LUẬT T�N

 

C�c nh� quan s�t gốc T�y Ban Nha ban đầu kh�ng ưa th�ch việc suy tư về c�c nguồn gốc của c�c văn tự m� họ khảo s�t tại Phi Luật T�n.� Sự nhận x�t của Chirino rằng c�c mẫu tự được sử dụng bởi người Phi Luật T�n th� �ho�n to�n kh�c biệt với mẫu tự của Trung Hoa, Nhật Bản, v� Ấn Độ (16) khiến ch�ng ta nghĩ rằng �ng đ� kh�ng nh�n ra bất kỳ sự li�n kết n�o giữa văn tự đuợc sử dụng tại Phi Luật T�n v� c�c c�ch thức viết chữ đưọc sử dụng tại c�c khu vực kh�c của � ch�u.� Tuy nhi�n �ng c� ghi nhận rằng �Sắc d�n Bisaya � kh�ng c� mẫu tự cho m�i đến khoảng v�i năm trước đ�y, họ vay mượn chữ viết của m�nh từ sắc d�n Tagalos� (17).� Trong hậu b�n thế kỷ thứ mười bẩy, Francisco Colin đ� sẵn s�ng để đưa ra � kiến của m�nh hơn.� �Từ h�nh thức, số lượng v� sự sử dụng c�c dấu v� chữ c�i của d�n tộc n�y, điều kh� r� rệt l� ch�ng đều được du nhập từ v�ng Moro Malaya v� c� nguồn gốc từ tiếng Ả Rập� (17).

 

Hai thế kỷ sau đ�, t�c giả người Anh John Crawfurd, trong quyển Descriptive Dictionary of the Indian Islands and Adjacent Countries, được ấn h�nh lần đầu nằm 1856, ph�t biểu quan điểm của �ng rằng văn tự l� một ph�t minh địa phương.� �ng ghi nhận rằng �h�nh thức của c�c chữ, vả chăng, ho�n to�n kh�c biệt với h�nh thức của bất kỳ bảng mẫu tự M� Lai n�o, v�, bởi thế, chữ viết của Phi Luật T�n phải được xem c� gốc bản xứ� (18).� Trong v�ng 150 năm vừa qua đ� thấy xuất hiện một khối trước t�c đa dạng li�n quan đến văn tự Phi Luật T�n v� nhiều t�c phẩm trong số n�y chứa đựng c�c đề xướng v� � kiến về nguồn gốc văn tự Phi Luật T�n.� Một sự khảo cứu c�c � kiến n�y, c�ng với một thư tịch trọn vẹn, được bao gồm trong quyển Philippine Palaeography của Francisco, v� bản t�m tắt dưới đ�y sẽ lược qua c�c l� thuyết ch�nh được chọn lọc từ t�c phẩm n�y (19):

 

1.      Trong quyển The Alphabet được bi�n soạn năm 1883, Isaac Taylor đề xướng rằng, dựa v�o c�c sự tương tự với văn tự của Ấn Độ, văn tự Tagalog đ� được du nhập trực tiếp từ v�ng Bengal trước thế kỷ thứ t�m sau Thi�n Ch�a, v� rằng c�c mẫu tự của v�ng Sulawesi v� Makassar kế đ� đ� được r�t ra từ văn tự Tagalog.

 

2.      T�c giả Fletcher Gardner, trong tập Philippine Indic Studies của �ng, ấn h�nh năm 1943, đề xướng rằng c�c văn tự Phi Luật T�n đ� được ph�t minh, dựa tr�n căn bản c�c văn tự của Brahmi v� Karoshti, bởi c�c tu sĩ Ấn Độ hay c�c văn gia du h�nh sang v�ng Đ�ng Nam �. Đ�y l� phần khai triển xa hơn c�c tư tưởng đ� được đưa ra trong t�c phẩm trước đ�y của �ng c� nhan đề Indic Writings of the Mindoro-Palawan Axis, được viết với sự cộng t�c của Ildefonso Maliwanag.

 

3.      Năm 1948, David Diringer, nh� bi�n soạn tập The Alphabet, A Key to the History of mankind, n�u ra � kiến rằng văn tự [Phi Luật T�n] đ� ph�t sinh từ mẫu tự của d�n đảo Java v� đ� du nhập đến Phi Luật T�n xuy�n qua sự trung gian của văn tự Buginese.� L� thuyết về mẫu tự Java n�y được ph�t triển th�nh c�c mẫu �m tiết (vần) của Sulawesi v� tiếp đ� tiến h�a th�nh văn tự Phi Luật T�n cũng được t�n đồng bởi Harold Conklin v� Robert Fox.� Fox đ� n�u � kiến rằng sự kiện văn tự Phi Luật T�n kh�ng ghi �m c�c phụ �m sau c�ng đ� phản b�c tư tưởng về sự du nhập trực tiếp c�c văn tự từ đảo Java, v� hậu thuẫn cho � tưởng cho rằng văn tự Buginese, tương tự, cũng kh�ng c� ghi �m c�c phụ �m sau ch�t, l� một h�nh thức văn tự trung gian.� William Henry Scoytte cũng tin tưởng rằng kiểu mẫu c�c chữ viết Phi Luật T�n �c� thể l� một văn tự được d�ng bởi một sắc d�n v�ng Sulawesi chẳng hạn như người Bugis m� ng�n ngữ �t khi d�ng đến c�c phụ �m sau c�ng� (20).� (C�c �m tiết tiếng Buginese được tr�nh b�y nơi Bảng 5).

 

4.      Trong một b�i viết nhan đề �Some Data on South Indian Cultural Influences in South East Asia, được ấn h�nh trong tập Tamil Studies năm 1964, t�c giả V.A. Makarenko đề xướng thuyết nguồn gốc Tamil cho văn tự Phi Luật T�n, n�u � kiến về một cuộc di d�n từ Nam Ấn Độ sang Đ�ng Nam � năm 200 trước Thi�n Ch�a v� tuy�n bố rằng bằng chứng khảo cổ học từ Phi Luật T�n hậu thuẫn cho l� thuyết n�y.

 

 

 

Bảng 5: Vần (�m tiết) Bugis (từ quyển Compendium of the World�s Languages,

của G.C. Campbell (London, 1991), trang 1503.

 

 

 

Đ�y l� những l� thuyết ch�nh được đề ra về nguồn gốc của văn tự Phi Luật T�n trước khi c� sự ấn h�nh quyển Philippine Palaegraphy, m� trong căn bản c� thể chia th�nh hai nh�m ch�nh:

 

1.      Sự du nhập c�c văn tự trực tiếp từ Ấn Độ.

2.      Sự ph�t triển c�c chữ viết Phi Luật T�n từ văn tự Buginese v� s�u xa hơn hết, từ mẫu tự của d�n đảo Java.

 

Francisco b�c bỏ � kiến về sự di d�n v� du nhập trực tiếp từ Ấn Độ c�c văn tự tr�n cả hai nền tảng ghi ch�p theo ni�n lịch (bi�n ni�n sử) v� ng�n ngữ/cổ tự (chữ xưa), trong khi �ng cũng b�c bỏ � l� thuyết Buginese� với l� do l� �ch�ng ta kh�ng thể tr�ng thấy bất kỳ sự tương đồng n�o về cổ tự (chữ khắc xưa) giữa hai hệ thống viết chữ� (21). � kiến ri�ng của Francisco về nguồn gốc văn tự Phi Luật T�n được đặt tr�n sự nghi�n cứu v� so s�nh s�u rộng chữ cổ của c�c văn tự ph�t khởi từ Ấn Độ thời ban sơ tại c�c phần đất kh�c trong v�ng Đ�ng Nam �, v� �ng đ� kết luận rằng văn tự Phi Luật T�n �thuộc v�o c�ng họ với c�c hệ thống của đảo Sumatra�. �ng cũng tr�ch dẫn Mervyn Jaspan, nh� khảo cứu về văn tự Sumatra, người trước đ� đ� kết luận rằng �c� một sư tương hợp cao độ giữa c�c văn tự của Sumatra v� Phi Luật T�n Ấn Độ (Philippine Indic)� (22).� Trong một ấn phẩm sau n�y, Francisco tr�nh b�y quan điểm của m�nh một c�ch chi tiết hơn:

 

C�c chữ viết theo vần cổ xưa của Quần Đảo [Phi Luật T�n] được tin l� c� tổ ti�n từ văn tự Pallava Grantha thuộc miền Nam Ấn Độ.� Nhưng sự ph�t triển của ch�ng để th�nh văn tư như ch�ng đ� c� (v� h�y c�n đang được sử dụng bởi sắc d�n Tagbanuawa tại đảo Palawan v� sắc d�n Mangyan tại miền Nam Đảo Oriental Mindoro) chỉ c� thể được hiểu xuy�n qua c�c h�nh thức trung gian của văn tự đảo Sumatra (23).

 

Cuộc tranh luận s�u rộng về chiều hướng/ ti�u đ�ch được sử dụng trong c�ch viết chữ của văn tự Phi Luật T�n sẽ kh�ng được nghi�n cứu ở đ�y, bởi v�, như c�c bản b�o c�o đ� tr�nh b�y, c�ch viết theo chiều dọc, chiều ngang, từ tr�i qua phải, từ phải qua tr�i, từ tr�n xuống dưới, từ dưới l�n tr�n của văn tự, t�i kh�ng tin điều n�y c� một tầm quan hệ lớn lao trong sự t�m kiếm nguồn gốc của văn tự.

 

 

III. TIẾNG CH�M C� THỂ L� MỘT NGUỒN GỐC?���

 

Vai tr� lịch sử của d�n Ch�m l� những người, trong v�i thi�n ni�n kỷ vừa qua đ� cư ngu trong c�c miền m� ng�y nay tạo th�nh miền nam Việt Nam v� Căm Bốt, vẫn c�n l� một trong những kh�a cạnh �t được nghi�n cứu nhất trong lịch sử Đ�ng Nam �.� Tuy thế, điều hiển nhi�n từ những nguồn tư liệu được cung cấp ng�y nay cho thấy c�c hoạt động h�ng hải của họ th� d�n trải rất rộng r�i v� rằng vai tr� m� họ đ� đ�ng giữ trong mạng lưới mậu dịch trong v�ng kh�ng phải l� kh�ng đ�ng kể.� C�ng tr�nh tham khảo ti�u chuẩn về xứ Ch�m vẫn l� quyển Le Royaume de Champa (24) của Georges Maspero nhưng sự nghi�n cứu gần đ�y, chủ yếu bởi c�c học giả người Ph�p, cũng được cung cấp.� Một tuyển tập gi� trị c�c b�i viết về lịch sử, văn h�a v� văn chương Ch�m, nhan đề Kerajaan Campa, v� bi�n soạn bởi Trường Viễn Đ�ng B�c Cổ (�cole Francaise d�Extr�me-Orient được ấn h�nh tại Jakarta dưới sự bảo trợ của Balai Pustaka năm 1981 (25).� C�ng tr�nh n�y bao gồm một thư tịch, được sưu tập bởi P. � V. Manguin, c�c t�c phẩm li�n quan đến xứ Ch�m v� c�c sự nghi�n cứu về Ch�m v� t�i liệu n�y l�m th�nh thư tịch đầy đủ nhất về c�c c�ng tr�nh bi�n khảo như thế cho đến nay (26).� Trong tập La Statuaire du Champa, t�c giả J. Boisselier c� cung cấp một sự nghi�n cứu s�u rộng về h�nh tương của người Ch�m, bao gồm một số sự tham chiếu về c�c văn tự tr�n bia k� li�n hệ (27).� Lịch sử cổ tự của c�c vương quốc Ch�m đ� được tr�nh b�y chi tiết trong Tập San (Bulletin) v� c�c ấn phẩm kh�c của Trường Viễn Đ�ng B�c Cổ trong thế kỷ vừa qua.� C�c bản dịch sang Anh ngữ nhiều bản văn bia k� n�y được cung cấp bởi R.C. Majumdar trong t�c phẩm của �ng về xứ Ch�m ấn h�nh năm 1930 (28).�� Majumdar sau đ� cũng đ�ng g�p một b�i viết quan trọng về sự nghi�n cứu chữ cổ của c�c bia k� của người Ch�m (29).� Tuy nhi�n, bất kể đến số lượng nghi�n cứu kh�ng phải l� kh�ng đ�ng kể, chỉ c� sự lưu t�m �t về mối li�n quan giữa c�c văn tự� Ch�m được d�ng trong c�c bản văn bia k�, với c�c văn tự� Ch�m bản gốc, viết th�u (viết ngo�y kiểu thảo) �hiện thời, hay về sự tiến h�a đến c�ch viết ng�y nay�.� Ch�nh tr�n văn tự �hiện đại� n�y m� c�c t�c giả Aymonier v� Cabaton đ� soạn th�nh quyển Từ Điển Ch�m-Ph�p (Dictionnaire Cam-Francaise), được ấn h�nh trong năm 1906 (3).� T�i tin tưởng rằng bởi việc khảo s�t h�nh thức gần cận hơn của mẫu chữ viết của người Ch�m song song với c�c mẫu cổ tự được nh�n thấy trong c�c bia k�, ch�ng ta sẽ c� thể x�c định một v�i tiền th�n của c�c mẫu chữ được xuất hiện trong c�c văn tự Phi Luật T�n.

 

Trong phần giới thiệu quyển tự điển của họ, c�c t�c giả Aymonier v� Cabaton đ� cung cấp c�c th� dụ về c�c văn tự Ch�m ti�u chuẩn được sử dụng tại Việt Nam (k� danh l� A) v� tại Căm Bốt (k� danh l� C) (xin tham khảo Bảng 6 v� Bảng 7) v� đ� m� tả c�c biến thể như sau:

 

1.      Akhar Srab (Chữ viết th�ng thường) � Đ�y l� văn tự Ch�m viết th�u ti�u chuẩn được d�ng tại Việt Nam v� Căm Bốt.� N� tương ứng với Aksar Chrieng của người Khmers.

2.      Akhar Tapul (Văn Tự Văn Chương) -- Loại h�nh n�y được d�ng ch�nh yếu tại Căm Bốt.

3.      Akhar Garmin (�Ch�n Con Nhện�) -- Một văn tự biến thể cũng được d�ng bởi người Ch�m tại Căm Bốt.

4.      Akhar Yok (Văn Tự Thần B�) -- được d�ng ở Việt Nam để cầu nguyện v.v�� Điều kh�c thường l�, kh�ng giống như �m tiết ti�u chuẩn, c�c mẫu tự chỉ phụ �m được đọc m� kh�ng c� �m chữ �a� đi c�ng.

5.      Akhar Atuo�l -- Một văn tự biến loại được d�ng tại Việt Nam.� Với c�c c�ch viết hoa mỹ hơn, n� được gọi l� loại chữ� �kết (monogram) � [hai hay nhiều mẫu tự được viết lồng v�o nhau, ch� của người dịch].

6.      Akhar Rik � Được d�ng ở Việt Nam.� Một thể loại đặc biệt của bảng �m tiết (vần), trong đ� c�c mẫu chữ �treo� (m�c) từ c�c n�t ph�a tr�n h�ng ngang.� Sự tương đồng của c�c n�t ph�a tr�n h�ng ngang n�y với c�c n�t matra h�ng ngang đặc trưng cho c�c mẫu chữ deva-nagari của Ấn Độ hiển hiện r� r�ng.

 

(Về mẫu của một v�i chữ trong c�c văn tự n�y, xem Bảng 8).

 

 

 

Bảng 6: Mẫu tự Ch�m được d�ng tại Việt Nam (từDictionnaire Cam-Francaise,

của Aymonier v� Cabaton,� trang xviii)

 

 

 

Bảng 7: Mẫu tự Ch�m được d�ng tại Căm Bốt (từ Dictionnaire Cam-Francaise,

của Aymonier v� Cabaton, c�c trang xviii-xix).

 

 

 

Bảng 8: C�c biến thể của mẫu chữ Ch�m (Dictionnaire Cam-Francaise)

 

 

 

Khi đề cập đến c�c biến thể n�y v� khi cung cấp c�c mẫu biểu thị sự đa trạng của ch�ng điều n�y gợi � rằng đ� c� nhiều biến thể của c�c văn tự được sử dụng bởi người Ch�m, điều m� đến lượt n� lại mang � nghĩa rằng bất kỳ một thể loại n�o trong nhiều biến thể đều c� thể đ� cung cấp kiểu mẫu cho c�c văn tự Phi Luật T�n.� Sự đa trạng của c�c mẫu chữ trong c�c văn tự c� biệt thuộc ngữ hệ Ấn Độ được nhấn mạnh bởi De Casparis l� người đ� ghi nhận rằng �kh�ng thể x�c định h�nh thể ch�nh x�c của một aksara, vốn l� một thể loại l� tưởng c� thể đạt đến một c�ch gần đầy đủ nhưng kh�ng ho�n to�n được.� Trong thực tế, mọi aksara xảy ra trong một số c�c biến thể: phạm vi m� trong đ� aksara �di chuyển� (32).

 

Dưới đ�y, t�i muốn so s�nh c�c th� dụ của c�c mẫu chữ Phi Luật T�n với c�c mẫu chữ trong văn tự Ch�m, trong một nỗ lực để tr�nh b�y nhiều sự tương đồng kh�c nhau.� Với c�c vần (�m tiết) Phi Luật T�n, t�i đ� sử dụng, trước ti�n, một số th� dụ được cung cấp bởi t�c giả Francisco trong quyển Philippine Palaeography (33) của �ng, vốn được r�t ra từ:

 

1.      Văn tự Bisaya, từ t�c giả Esguerra (1747).

2.      Văn tự Tagalog, từ t�c giả Chirino (1604).

3.      Văn tự Tagalog, từ t�c phẩm Doctrina Christiana (1593).

4.      Văn tự Tagbanuwa, từ t�c giả Fox (1950).

5.      Văn tự Mangyan (Hanunoo), từ t�c giả Conklin (1953).

 

C�c th� dụ về Phi Luật T�n kh�c được lấy từ t�c phẩm của Scott (34) v� bao gồm c�c th� dụ �ti�u chuẩn� từ kiểu mặt chữ in của Francisco Lopez năm 1621 v� nhiều th� dụ kh�c từ c�c t�i liệu thuộc thế kỷ thứ mười bẩy.� C�c mẫu chữ cổ tự Ch�m được lấy từ t�c giả Majumdar (35) v� bao gồm mẫu chữ từ: (A) bia k� ở V� Cạnh (thế kỷ thừ nh� đến thế kỷ thứ ba sau Thi�n Ch�a); (B) Bản khắc bia đ� ở Mĩ-Sơn viết về Bhadravarman (từ thế kỷ thứ tư đến thứ năm sau Thi�n Ch�a); (C) Bản khắc ch�n cột ở Dương-Mong [?] về Prakacadharma (khoảng 675 sau Thi�n Ch�a); (D) Bia k� �Yang Tikuh� tại Đ�-tr�ng (năm 799 sau Thi�n Ch�a); (E) Bản khắc ở P� Nagar về Jay Indravarman.� To�n thể bảng đối chiếu c�c chữ viết từ c�c bản khắc n�y đuợc cung cấp ở Bảng 9.� C�c th� dụ về mẫu chữ Ch�m �hiện đại� được tr�ch từ c�c t�c giả Cabaton v� Aymonier, với c�c biến thể văn tự Việt nam được k� danh bằng chữ (A) v� c�c biến thể Căm Bốt được k� danh bằng chữ (C).

 

 

 


(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

Bảng 9: Bảng đối chiếu c�c mẫu chữ Ch�m cổ

(từ �La Pal�ographie des Inscriptions du Champa, Plate IX� của Majumdar).

 

 

 

Để trợ gi�p cho sự ph�n t�ch, một số đồ biểu c�c văn tự Ấn Độ sử dụng ở Đ�ng Nam � được bổ t�c v� sẽ được đề cập đến trong phần thảo luận.� C�c mẫu chữ n�y được r�t ra từ quyển The Alphabet (36) của Diringer (Bảng 10 v� Bảng 11), quyển Philippine Palaeography (37) của Francisco (Bảng 12), quyển Sign, Symbol and Script (38) của Jensen (xem Bảng 13 v� 14), v� quyển �Les �critures d�origine indienne et dans le Sud-Est Asiatique Continental� (39).

 

 

 

Bảng 10: Bảng đối chiếu c�c vần Ấn Độ được d�ng tại Đ�ng Nam �

(từ The Alphabet của Diringer, trang 298).

 


(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

18.16.    C�c mẫu tự ch�nh của v�ng Ngoại Ấn Độ, đặc biệt của quần đảo Phi Luật T�n (theo F. Gardner, Philippine Indic Studies, 1943).� 1-6, Java cổ hay Kavi.� 7-8, Sumatra Thuở Ban Đầu.� 9. Chữ Batak.� 10, Bugis.� 11-14, Tagalog.� 15-16, Iloco.� 17-18, Bisaya.� 19, Pangasinan.� 20, Pampangan.� 21, Tagbanua.� 22-26, nhiều loại chữ Mangyan.� 27-30, Buhil.

 

 

 


(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

Bảng 11: Bảng đối chiếu c�c vần Ấn Độ (một phần)

(từ The Alphabet của Diringer, c�c trang 254-55)

 

 

 

IV. SO S�NH VĂN TỰ PHI LUẬT T�N VỚI VĂN TỰ CH�M

 

[ Ch� của người dịch: Trong c�c mẫu chữ để chỉ c�c nguy�n �m v� c�c phụ �m, c� ch� th�ch đi k�m như sau:

Philippine Scripts: C�c Văn Tự Phi Luật T�n

Modern Cham: Mẫu tự Ch�m hiện đại

Epigraphic Cham: Mẫu tự Ch�m cổ xưa

C�ng một số th� dụ kh�c trong mẫu tự Ấn Độ hay L�o v.v�]

 

 

(i)   C�c Nguy�n �m

 

1.      �A�

 

Mẫu chữ Phi Luật T�n cho chữ �A� cho thấy h�nh dạng chữ �V� nổi bật, cũng l� điểm đặc trưng trong mẫu chữ văn tự Ch�m hiện đại, với n�t thắt n�t v�ng kh�p k�n ở ph�a tr�n b�n tay tr�i trong chữ Ch�m được thay thế, trong c�c th� dụ Phi Luật T�n, bằng một hay hai n�t phẩy.� C�c th� dụ của chữ �A� trong tiếng miền nam Ấn Độ nơi Bảng 11 v� c�c th� dụ v�ng Đ�ng Nam � trong Bảng 13 cũng biểu thị th�nh tố cốt l�i của chữ �U� hay �V�, v� c�c mẫu n�y đều c� thể được xem như l� c�c nguy�n mẫu khả hữu.

 

2.      �I � E�

 

Mẫu chữ Phi Luật T�n cho chữ �I � E� đều gồm hai th�nh tố viết theo chiều ngang, một gần như thẳng v� một gợn s�ng.� C� vẻ như mẫu chữ n�y tiến h�a từ chữ �I� của Ấn Độ.� Chữ �I� được d�ng trong bản khắc Ch�m tại Dương-mong thời thế kỷ thứ bảy v� của bia k� ở P� Nagar năm 965 sau Thi�n Ch�a đều gồm hai n�t nằm ngang.� C�c th� dụ tiếng miền T�y v� Đ�ng nước L�o được đưa ra trong s�ch viết bởi t�c giả Holle (40) cũng c� c�c mẫu chữ gồm hai th�nh tố tương tự, như trong nhiều th� dụ nơi Bảng 13.� Tuy nhi�n, mẫu chữ Ch�m hiện đại l� mẫu chữ gồm 1 th�nh tố, theo đ� hai th�nh tố được nối với nhau chỉ bằng một n�t viết th�u (ngo�y).� Điều n�y khiến ta nghĩ rằng mẫu chữ được du nhập v�o Phi Luật T�n trước khi biến thể Ch�m hai th�nh tố tiến h�a th�nh h�nh thức một n�t hiện nay.

 

3.      �U � O�

 

Nhiều th� dụ kh�c nhau của chữ �U �O� trong c�c văn tự Phi Luật T�n được ti�u biểu bởi h�nh số �3�.� H�nh thể n�y tr�ng giống như chữ �U� deva-nagari ti�u chuẩn nơi Bảng 11, chữ �U� của Khmer nơi Bảng 12, v� c�c th� dụ của chữ đ� trong tiếng Assam v� tiếng L�o (41). Điều n�y c� vẻ được biểu thị trong tiếng Ch�m hiện đại bởi chữ �O� như trong biến thể sử dụng tại Việt Nam, nhưng sự tiến h�a của n� từ c�c h�nh thể cổ tự kh�ng r� rệt.� Bất kỳ mẫu n�o trong c�c mẫu chữ n�y đều c� thể l� nguồn gốc của chữ �U � O� Phi Luật T�n.� Tuy nhi�n, cần phải ghi nhận nơi đ�y rằng mẫu chữ �U � O� Phi Luật T�n hiển nhi�n l� c� li�n hệ mật thiết với mẫu chữ nguy�n �m của v�ng lục địa Đ�ng Nam � hơn nhiều so với c�c mẫu chữ của v�ng quần đảo Đ�ng Nam �.

 

 

 


(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

Bảng 12: Bảng đối chiếu c�c vần Ấn Độ được d�ng tại Đ�ng Nam �

(từ quyển Philippine Palaeography của Francisco, trang 94)

 

 

 


(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

Bảng 13: Bảng đối chiếu c�c vần Ấn Độ được d�ng tại Đ�ng Nam �

(từ quyển Sign, Symbol and Script, của Jensen, trang 388).

 

 

 


(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

Bảng 14: Bảng đối chiếu c�c vần Ấn Độ được d�ng tại Đ�ng Nam �

(từ quyển Sign, Symbol and Script, của Jensen, trang 395).

 

 

 


(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

Bảng 15A: Bảng đối chiếu năm aksaras trong nhiều văn tự Đ�ng Nam � kh�c nhau� (1) (từ quyển Les �critures d�origine indienne en Indon�sie et

dans le Sud-Est Asiatique continental, của Damais, Fig. 15)

 

 

 


(c� thể bấm v�o tr�n để xem ph�ng ảnh lớn)

Bảng 15B: tiếp theo.

 

 

 

(ii) C�c Phụ �m

 

4.      �Ka�

 

C�c th� dụ Ch�m về �m �ka� kh�ng hiển nhi�n l� c�c tiền th�n của c�c th� dụ trong văn tự Phi Luật T�n, v� t�i muốn n�u � kiến rằng một nguồn gốc kh�c khả dĩ đ�ng hơn l� mẫu vần �kha� trong tiếng Ch�m.� Mặc d� c�c mẫu chữ Phi Luật T�n c� g�c cạnh hơn v� thường gồm ba n�t c�ch biệt, sự tiến h�a từ �m tiết �kha� trong văn tự v�ng lục địa Đ�ng Nam � th� r� rệt nếu ch�ng ta khảo s�t c�c th� dụ về �m �kha� được ghi trong Bảng 13.� Phần lớn c�c th� dụ v�ng lục địa Đ�ng Nam � bao gồm c�c biến thể tr�n mẫu chữ chỉ gồm một n�t nh�n giống như số �2�.� N�t viết bắt đầu từ ph�a tr�n b�n tr�i, sang ph�a tr�n b�n phải, v� rồi được k�o xuống ph�a dưới b�n tr�i trước khi vạch ngang v� chấm dứt ở ph�a dưới b�n phải.� H�nh thể tổng qu�t n�y c� vẻ đ� được đơn giản h�a trong c�c th� dụ Phi Luật T�n th�nh một n�t ngang từ ph�a tr�n b�n tr�i sang ph�a tr�n b�n phải, một n�t thẳng xuống v� một n�t kh�c nằm ngang từ ph�a dưới b�n tr�i sang ph�a dưới b�n phải.� C�c mẫu chữ Ch�m cổ hay �hiện đại� đều cho thấy c�c biến thể của h�nh số �2�, nhưng ch�nh c�c h�nh thể chữ cổ cung cấp những tiền th�n khả hữu giống nhất.� Một lần nữa, cần phải được nhấn mạnh rằng c�c th� du Phi Luật T�n tr�ng c� li�n hệ mật thiết với c�c mẫu chữ của lục địa Đ�ng Nam � hơn rất nhiều so với c�c mẫu chữ v�ng quần đảo Đ�ng Nam �.

 

5.      �Ga�

 

C�c th� dụ Phi Luật T�n về phụ �m� �ga� thường bao gồm hai n�t -- một n�t căn bản bao gồm h�nh thể số �3�, v� một n�t viết th�u k�o d�i sang b�n phải.� Mẫu n�y r� r�ng l� kh�ng giống với bất kỳ h�nh dạng của phụ �m �ga� n�o trong tiếng miền Nam hay miền Bắc Ấn Độ thưở ban sơ hay hiện đại. v� trong thực tế kh�ng giống bất kỳ h�nh thể n�o của v�ng hải đảo Đ�ng Nam � cho mẫu tự đ�.� T�i c� � kiến rằng �m tiết �ga� của Phi Luật T�n ph�t sinh từ �m �gha� của tiếng Ch�m, vốn giống với c�c th� dụ của tiếng L�o kh� c� c�ng một n�t khởi đầu được k�o xuống, tr�ng �t nhiều giống như h�nh số �3�, như l� bộ phận b�n tay tr�i, v� một đoạn k�o d�i sang b�n phải �hay �đu�i� của chữ.� Mẫu �m �gha� của bản khắc Yang Tikuh (năm 799 sau Thi�n Ch�a) cung cấp một nguy�n mẫu r� rệt cho �m �ga� Phi Luật T�n, với h�nh số �3� của n� v� �đu�i� được k�o sang b�n phải.� Kh�ng biết l� mẫu �m �gha� đặc biệt n�y đ� đuợc d�ng tại xứ Ch�m trong bao l�u, nhưng c�c dấu t�ch đặc th� của n� h�y c�n hiển hiện trong mẫu chữ Ch�m �hiện đại�.

 

6.      �Nga�

 

Sự tương tự giữa c�c th� dụ Phi Luật T�n với �m �nga� trong tiếng Ch�m �hiện đại� th� r� rệt.� H�nh số �3� trong phụ �m �nga� Ch�m xuất hiện trong phần lớn c�c th� dụ Phi Luật T�n như c�c biến thể của nửa v�ng tr�n, mặc d� trong �t nhất một th� dụ, h�nh của số �3� đ� được giữ lại.� Phần c�n lại của mẫu chữ Ch�m c� vẻ đ� được viết đ�ng c�ch, trong c�c th� dụ Phi Luật T�n, th�nh một n�t gợn s�ng k�o d�i sang b�n phải.

 

Một số �m �nga� trong văn tự lục địa c� chung một v�i th�nh tố, nhưng kh�ng c� mẫu n�o tr�ng giống với mẫu chữ Phi Luật T�n một c�ch r� r�ng cho bằng th� dụ mẫu chữ Ch�m �hiện đại�.� C�c h�nh thể chữ cổ xưa của Ch�m nơi Bảng 9 tr�ng kh�ng phải l� c�c tiền th�n, v� điều n�y khiến ta nghĩ rằng mẫu chữ Ch�m �hiện đại� n�y đ� tiến h�a tại xứ Ch�m trước thời kỳ m� mẫu chữ được thừa nhận v�o c�c văn tự Phi Luật T�n.

 

7.      �Ta�

 

C�c th� dụ Phi Luật T�n về phụ �m �ta� th� biến đổi kh� nhiều, nhưng n�i chung c� vẻ c�ng mang đặc điểm của h�nh chữ �V� viết th�u, với một n�t cong duy nhất k�o d�i sang b�n phải hay từ dưới đ�y chữ.� T�i c� � kiến rằng phụ �m n�y đ� ph�t sinh từ �m �tha� của tiếng Ch�m.� Mẫu phụ �m �tha� trong bản khắc ở Dương-mong v�o khoảng năm 675 sau Thi�n Ch�a c� vẻ l� một tiền th�n của mẫu chữ sẽ được vay mượn để trở th�nh phụ �m �ta� trong c�c văn tự Phi Luật T�n.� H�nh d�ng chữ �V� l�c khởi đầu th� hiển nhi�n, giống như n�t cong k�o d�i.� Ch�ng ta kh�ng hay biết l� mẫu chữ Ch�m n�y đ� thay đổi ra sao trong c�ch sử dụng chữ cổ sau đ�, nhưng trong c�c biến thể của tiếng Ch�m �hiện đại�, phần k�o d�i từ h�nh chữ �V� đ� tiến h�a th�nh khuy tr�n.� Ch�nh v� thế, phụ �m �ta� của Phi Luật T�n c� lẽ đ� ph�t triển từ một h�nh th�i trung gian của mẫu chữ Ch�m cho phụ �m �tha�.

 

8.      �Da�

 

C�c th� dụ Phi Luật T�n cho phụ �m �da� thường bao gồm hai n�t v� c� c�c sự tương đồng với c�c th� dụ Ấn Độ v� Assam thời ban sơ được cung cấp bởi t�c giả Holle (43).� C�c th� dụ Ấn Độ bao gồm một n�t b�n tr�n nằm ngang, với một n�t cong phia dưới, gần như tạo th�nh một chiếc m�c b�n phải.� C�c sự tương đồng với c�c mẫu chữ Java nơi Bảng 10 v� Bảng 11 cần phải được ghi nhận.� Phụ �m �da� của Ch�m khắc nơi cột đ� ở Dương-mong cũng cho thấy một mẫu chữ tương tự.� Trong c�c th� dụ Phi Luật T�n, n�t nằm ngang v� n�t cong v�ng (hay dấu t�ch của ch�ng) h�y c�n hiện diện đến nay, mặc d� một v�i sự biến thể c� xảy ra, với n�t cong v�ng bắt đầu b�n tr�n n�t nằm ngang v� cuộn tr�n xuống b�n dưới n�.� Hiển nhi�n, với sự sử dụng rộng r�i mẫu chữ tương tự phụ �m �da� khắp v�ng Ấn Độ v� Đ�ng Nam �, nguồn gốc Ch�m duy nhất cho mẫu chữ n�y của Phi Luật T�n sẽ kh�ng thể chứng minh được.� Tuy nhi�n, c�c h�nh thức phụ �m �da� của Ch�m với mẫu chữ Dương-mong như tiền th�n của ch�ng cũng đều c� thể được xem đồng đẳng với c�c mẫu kh�c như l� c�c nguy�n mẫu khả hữu cho phụ �m �da� của Phi Luật T�n.� Phụ �m �da� trong tiếng Ch�m �hiện đại� th� kh�ng giống như phụ �m tương ứng của n� trong tiếng Phi Luật T�n v� kh�ng c� vẻ l� kiểu mẫu tr�n đ� phụ �m Phi Luật T�n đ� được đặt nền.

 

9.      �Na�

 

�m �Na� Phi Luật T�n thường bao gồm hai n�t -- một n�t ngang hay n�t cong một b�n ở tr�n v� một n�t thẳng hay gợn s�ng ở dưới.� Mẫu chữ n�y tương ứng với c�c mẫu phụ �m �na� thường xuy�n xuất hiện trong nhiều th� dụ kh�c nhau thưở ban đầu của ng�n ngữ� Ấn Độ v� Đ�ng Nam � (xem c�c Bảng 10, 11, 12).� Mẫu phụ �m �na� trong bốn bản khắc chữ sau n�y của Ch�m dưới đ�y cho thấy mẫu chữ bao gồm một n�t nằm ngang b�n tr�n với c�c độ d�i ngắn kh�c nhau, v� một th�nh tố thẳng đứng c� thắt v�ng ở dưới.� C�c n�t thắt v�ng trong c�c mẫu chữ n�y c� vẻ như đ� tiến h�a, trong c�c th� dụ Phi Luật T�n viết th�u hơn, th�nh một n�t gợn s�ng, hay ho�n to�n biến mất, để lại một n�t thẳng.� Một lần nữa, mẫu chữ Ch�m �hiện đại� đủ kh�c biệt với �m tương ứng của n� trong tiếng Phi Luật T�n khiến ta nghĩ rằng mẫu phụ �m �na� trong văn tự Phi Luật T�n đ� được chấp nhận trước khi c� sự tiến h�a của �m �na� trong văn tự Ch�m �hiện đại�.

 

10.  �Pa�

 

Trong tất cả c�c th� dụ Phi Luật T�n về phụ �m �pa�, ta thấy h�nh dạng chữ �V� nổi bật biểu thị trong văn tự Ch�m �hiện đại�, với một n�t thứ nh� ngắn k�o d�i ra ngo�i từ nh�nh b�n phải của chữ �V�.� Nguồn gốc của mẫu chữ n�y c� thể được nhận thấy trong th� dụ chữ� Ch�m cổ xưa k� danh B, C v� D dưới đ�y, cũng bao gồm một chữ �V� khởi đầu v� một đoạn nối d�i.� Cũng c� phần li�n hệ đến c�c mẫu chữ của phụ �m �pa� trong tiếng Java v� Bali được tr�nh b�y nơi phần văn tự Siddhamatrka trong biều đồ đối chiếu của Damais ở Bảng 15.� Sự tương tự r� rệt của phụ �m �pa� ban đầu với phụ �m �ba� Ch�m �hiện đại� c� vẻ khiến ta nghĩ rằng mẫu chữ sau c� thể đ� ph�t sinh từ mẫu tự trước.

 

11.  �Ba�

 

H�nh dạng hạt đ�u t�y [kidney bean, c� h�nh tr�i thận, ch� của người dịch] biểu trưng cho mẫu tự �ba� trong c�c văn tự Phi Luật T�n c� thể từ nguy�n thủy tiến h�a từ bất kỳ một trong nhiều văn tự của Ấn Độ hay Đ�ng Nam �, v� tất cả đều sử dụng một v�ng tr�n l�m bụng hay �hộp l�m bụng� để tượng trưng cho �m tiết �ba�.� C�c Bảng 9 đến 13 cho thấy một khoảng kh�c biệt của c�c mẫu chữ n�y.� Hiển nhi�n, kh�ng thể n�i với bất kỳ sự quả quyết n�o l� từ văn tự n�o trong số văn tự n�y đ� l�m ph�t sinh mẫu chữ của Phi Luật T�n.� Một sự thiếu s�t c�c dữ liệu về c�c th� dụ chữ Ch�m cổ của phụ �m �ba� tiếp theo sau bản khắc ở V� Cạnh đ� loại trừ � kiến n�o kh�c về nguồn gốc khả dĩ đi từ văn tự Ch�m tr�n mẫu chữ phụ �m �ba� của Phi Luật T�n.� Tuy nhi�n, cần phải ghi ch� rằng c�c th� dụ chữ Ch�m �hiện đại� chắc chắn kh�ng phải l� c�c tiền th�n của mẫu chữ Phi Luật T�n n�y.

 

12.  �Ma�

 

C�c th� dụ Phi Luật T�n cho phụ �m �ma� đều mang đặc t�nh c� h�nh dạng chữ �V� trong n�t viết đầu ti�n, với n�t thứ nh� vắt ngang che k�n cổ chữ �V�.� C�c mẫu tự n�y c� thể so s�nh với c�c mẫu tự kh�c nhau của phụ �m �ma� trong c�c Bảng 10 đến 15.� Một sự so s�nh như thế l�m ph�t hiện rằng c�c mẫu chữ Khmer v� Ch�m cho thấy một mối quan hệ lớn lao với phụ �m �ma� của Phi Luật T�n.� Sự ph�t triển của mẫu chữ Ch�m c� thể được m� tả như sau: C�c th� dụ ở V� Cạnh v� Mĩ-Sơn, cả hai đều thuộc thưở ban đầu của thi�n ni�n kỷ thứ nhất sau Thi�n Ch�a, bao gồm một n�t duy nhất tự cắt ngang, tạo th�nh một mẫu chữ đối xứng với một khoảng trống kh�p k�n ở đ�y chữ.� V�o khoảng thế kỷ thứ t�m hay đầu thế kỷ thứ ch�n, bản khắc Yang Tikuh cho thấy một mẫu chữ hiển nhi�n đ�i hỏi đến hai n�t � trước ti�n một n�t c� h�nh dạng chữ �U� v� thứ nh� l� một n�t cắt ngang che k�n chữ �U�.� Mẫu chữ Ch�m �hiện đại� cho thấy một sự ph�t triển xa hơn, với chữ �U� biến th�nh chữ �V�, nhưng vẫn c� n�t ngang cắt hay che k�n chữ �V�.�� Sự tương đồng kh� r� giữa c�c th� dụ về phụ �m �ma� ở Yang Tikuh v� c�c th� dụ Phi Luật T�n đặc biệt đ�ng để �.� C�c c�ch viết khởi đầu với một n�t thắt v�ng hay nối d�i b�n nh�nh phải trong mẫu chữ Phi Luật T�n c� thể chỉ dấu cho thấy một h�nh dạng trung gian giữa mẫu Yang Tikuh v� mẫu phụ �m �ma� trong tiếng Ch�m �hiện đại� đ� l� kiểu mẫu cho mẫu phụ �m �ma� của Phi Luật T�n.

 

13.  �Ya�

 

Một lần nữa c�c mẫu chữ Phi Luật T�n lại cho thấy h�nh dạng chữ �V� nổi bật vốn l� n�t đặc trưng của c�c �m tiết Ch�m �hiện đại�, với sự bổ t�c một v�ng thắt nửa k�n hay thắt k�n nối d�i từ nh�nh b�n phải của chữ �V�.� C�c th� dụ n�y đặc biệt l� kh�ng giống với bất kỳ th� dụ n�o trong c�c th� dụ của phụ �m �ya� trong c�c văn tự của Ấn Độ v� hải đảo Đ�ng Nam �, nhưng tương tự như c�c th� dụ của văn tự Th�i Cổ v� L�o, như xuất hiện trong Bảng 13.� Sự tương đồng giữa c�c th� dụ Phi Luật T�n v� Ch�m �hiện đại� th� đặc biệt r� rệt v� c�ng khiến ch�ng ta c� � nghĩ về ảnh hưởng của một số mẫu chữ Ch�m �hiện đại� hay trung chuyển trong sự h�nh th�nh văn tự nguy�n mẫu của Phi Luật T�n.

 

14.  �La�

 

Tổng qu�t, c�c th� dụ của phụ �m �la� trong c�c văn tự Phi Luật T�n bao gồm một n�t như cuộn (quấn) lại l� th�nh tố ở tr�n v� một n�t gợn s�ng hay v�ng cung sổ xuống ở dưới.� C� � kiến cho rằng �m tiết �la� Phi Luật T�n ph�t sinh từ vần �ra� của Ấn Độ.� Trong sự giải th�ch của �ng về sự biến đổi ngữ �m của c�c từ tiếng Phạn (Sanskrit) th�nh tiếng Phi Luật T�n, t�c giả Francisco ghi nhận rằng ��m r trong tiếng Phạn c� khuynh hướng biến th�nh �m l trong tiếng Phi Luật T�n (44).� Ch�nh v� thế, sẽ kh�ng phải l� điều ngạc nhi�n khi mẫu chữ �m �ra� được thừa nhận để thay cho phụ �m �la�.� Nhiều th� dụ trong c�c mẫu chữ Ấn Độ được trưng bầy bởi t�c giả Damais ở Bảng 15 cho thấy một h�nh dạng tương tự, bao gồm một n�t b�n cạnh khởi đầu v� một n�t thứ nh� cong v�ng hay sổ thẳng xuống.� Trong th� dụ Ch�m �hiện đại�, n�t một b�n cạnh (h�ng) th� hiển hiện, trong khi nơi phần cuối n�t sổ thẳng xuống c� một n�t thắt v�ng tr�n, l� phần c� thể l� nguồn gốc của h�nh gợn s�ng trong n�t sổ xuống trong th� dụ Phi Luật T�n.

 

15.  �Wa�

 

C�c th� dụ phụ �m �wa� Phi Luật T�n lại một lần nữa biểu lộ h�nh dạng chữ �V� đặc trưng trong bảng �m tiết Ch�m hiện đại.� Rất c� vẻ l� mẫu viết phụ �m �wa� Phi Luật T�n ph�t sinh từ mẫu chữ� �va� trong văn tự Ấn Độ.� Sự nhận x�t của t�c giả Francisco rằng khi c�c từ ngữ trong tiếng Phạn được du nhập v�o c�c ng�n ngữ Phi Luật T�n, �m v Phạn ngữ được thay thế nhiều lần nhất bằng �m b hay w, củng cố cho x�c xuất n�y.� Tuy nhi�n, ch�nh mẫu viết mới đem lại bằng chứng vững chắc nhất.� C�c th� dụ chữ Ch�m cổ, đặc biệt th� dụ bản khắc P� Nagar thuộc thế kỷ thứ mười, trưng b�y h�nh chữ �U� hay �V� l�c khởi viết v� điều n�y khiến ta nghĩ rằng �m tiết �wa� Phi Luật T�n đ� được chấp nhận từ mẫu chữ �va� của văn tự Ch�m.� Tuy nhi�n, một số c�c văn tự v�ng Nam Ấn Độ v� bản kh�c bia k� Java cũng cho thấy mẫu viết �m �va� tương tự v� phải nh�n nhận rằng nguồn gốc Ch�m chỉ l� một trong nhiều khả t�nh.� Sự phất (ph�ng) b�t ở phần dưới b�n phải của mẫu Ch�m �hiện đại� c� vẻ như l� một sự canh cải kh� t�n tiến v� kh�ng c� dấu hiệu n�o trong c�c mẫu chử phụ �m �wa� Phi Luật T�n cho thấy tiền th�n của ch�ng lại c� bất kỳ n�t phất b�t như thế.

 

16.  �Sa�

 

H�nh dạng chữ �V� ti�u biểu của văn tự Ch�m �hiện đại� một lần nữa lại xuất hiện trong mẫu viết Phi Luật T�n.� Th�nh tố nhất qu�n của nhiều th� dụ Phi Luật T�n kh�c nhau cho phụ �m �sa� c� vẻ l� n�t đầu ti�n c� h�nh dạng chữ �V� v� một n�t bổ t�c viết th�u (ngo�y) chạy sang b�n phải, như một n�t thứ nh� ri�ng biệt hay như một phần nối d�i của n�t thứ nhất. Điều n�y l�m li�n tưởng đến một v�i th�nh tố b�n ph�a phải của chữ �V� trong m� thức nguy�n mẫu.� C�c mẫu chữ Đ�ng Nam � thưở ban đầu cho phụ �m �sa� thường trưng b�y h�nh dạng chữ �U� hay �V� với một n�t phất b�t sang ph�a tr�i (xem c�c Bảng 12 v� Bảng 15).� T�i cảm thấy c�c mẫu n�y kh�ng phải l� tiền thể của phụ �m �sa� Phi Luật T�n. Đ�ng hơn, ch�ng ta phải nh�n đến c�c mẫu chữ của �m hu�t gi� (hay xu�t, hay r�t gi�) (retroflex sibiolant) �sa� (tức �m �Sh� trong bảng của t�c giả Holle) trong c�c văn tự Ấn Độ v� Đ�ng Nam � như l� c�c nguy�n mẫu khả dĩ.� C�c mẫu n�y thường gồm một th�nh tố c� h�nh dạng chữ �U� hay chữ �V� với một n�t ngang che k�n chữ �U� hay chữ �V� (xem Bảng 11).� Biến thể Ch�m thưở trước của h�nh dạng đ� c� thể được nhận thấy ở bản khắc ở V� Cạnh.� Tuy nhi�n, v�o thời khoảng của bản khắc P� Nagar năm 965 sau Thi�n Ch�a, một mẫu c� thể l� tiền th�n nhiều hơn đ� xuất hiện.� Trong bản khắc n�y, mẫu �sa� c� đu�i quặt ngược lại cho thấy một th�nh tố b�n tr�i;� xuất hiện trở th�nh nguồn gốc của h�nh dạng chữ �V� trong mẫu chữ Phi Luật T�n, trong khi phần b�n tay phải của mẫu chữ� P� Nagar, c�ng với �đu�i chữ�, c� vẻ l� nguồn gốc của th�nh tố viết th�u (ngo�y) b�n tay phải của mẫu tự Phi Luật T�n.� Trong một v�i trường hợp, c�c th� dụ Phi Luật T�n vẫn biểu hiện vết t�ch của �đu�i chữ� n�y.

 

C�c th� dụ li�n hệ của mẫu chữ n�y tại v�ng lục địa Đ�ng Nam � bao gồm �m tiết �sa� của tiếng Khmer Cổ, nay kh�ng c�n d�ng nữa (46), v� trong văn tự Th�i Lan gồm �chữ s, rồi đến chữ c ngược c� dấu v ở tr�n v� sau c�ng một chữ c ngược kế tiếp [m� tả của người dịch] (47).� Cả hai mẫu chữ n�y bao gồm một h�nh dạng chữ �U� căn bản, với một n�t ngang ngắn cắt nh�nh tay phải của chữ �U�.

 

17.  �Ha�

 

Mẫu viết phụ �m �ha� trong c�c văn tự Phi Luật T�n hầu như đồng nhất với một n�t viết th�u (ngo�y) duy nhất cuộn tr�n từ ph�a tr�n b�n tr�i xuống ph�a dưới b�n phải.� C�c th� dụ Ấn Độ v� Đ�ng Nam � trong thi�n ni�n kỷ đầu ti�n sau Thi�n Ch�a, kể cả c�c mẫu của Ch�m, đều cho thấy c�c biến thể của h�nh dạng một chữ �N� th�ng thường lật ngược (C�c Bảng 11 đến 13), m� khi �căng ra� (flattened), tạo ra h�nh dạng như được biểu thị trong c�c th� dụ Phi Luật T�n.� Hiển nhi�n, với h�nh dạng gần như đồng nhất trong nhiều văn tự Ấn Độ, kh�ng thể n�i với bất kỳ sự chắc chắn n�o rằng đ�u l� một hay nhiều mẫu c� biệt đ� l�m ph�t sinh ra mẫu chữ Phi Luật T�n.� Luận cứ giờ đ�y về nguồn gốc Ch�m được hậu thuẫn bởi mẫu chữ cho phụ �m �ha� c� trong bản khắc Yang Tikuh.� Tuy nhi�n, nếu mấu chữ đ� được chấp nhận từ văn tự Ch�m, sự vay mượn n�y đ� xảy ra trước khi c� sự tiến h�a sau c�ng của h�nh dạng Ch�m �hiện đại�, khi một n�t thắt v�ng sau n�y đ� tiến h�a ở b�n ph�a tay tr�i của mẫu chữ Ch�m �hiện đại�.

 

 

(iii)             C�c Dấu Ph�t �m Nguy�n �m

 

 

Như đ� ghi nhận ở tr�n, c�c văn tự Phi Luật T�n từ l�u c� sử dụng c�c dấu ph�t �m (trong ng�n ngữ Tagalog được gọi l� kudlit (48) để thay đổi nguy�n �m được đọc k�m với một phụ �m.� Dấu đ� nếu đặt tr�n một phụ �m sẽ l�m thay đổi nguy�n �m th�nh �I� hay �E�, trong khi nếu đặt ở dưới phụ �m sẽ l�m thay đổi nguy�n �m th�nh �O� hay �U�.

 

T�i tin rằng nguồn gốc của hai dấu ph�t �m nguy�n �m n�y c� thể nằm nơi c�c dấu ph�t �m của Ch�m.� Văn tự Ch�m �hiện đại� d�ng một n�t viết th�u (ngo�y), hầu như tạo th�nh một h�nh tr�i xoan, b�n tr�n một phụ �m để chỉ rằng phụ �m sẽ được đọc c�ng với nguy�n �m �I� thay v� với nguy�n �m �A� như thường lệ.� N� cũng d�ng một n�t ngắn b�n dưới một phụ �m để chỉ rằng phụ �m đ� sẽ được đọc c�ng với nguy�n �m �U� theo sau.� C�c dấu n�y kh�ng phải l� c�c dấu ph�t �m duy nhất trong tiếng Ch�m, nhưng ch�ng c� thể l� c�c kiểu mẫu cho c�c dấu ph�t �m được d�ng trong c�c văn tự Phi Luật T�n.� Sự kiện rằng c�c dấu ph�t �m trong c�c văn tự Phi Luật T�n thường được thay thể chỉ bằng c�c dấu chấm hay v�ng b�n nguyệt, t�i nghĩ, kh�ng loại trừ [� kiến cho rằng] c�c biến h�a của ch�ng ph�t sinh từ c�c dấu của Ch�m.

 

 

(iv)             Sự Vắng Mặt Của C�c Phụ �m Sau C�ng

 

Một c�u hỏi ch�nh l�m bối rối c�c nh� nghi�n cứu khi nh�n v�o c�c văn tự Phi Luật T�n l� tại sao c�c mẫu chữ trong bảng c�c �m tiết (vần) lại kh�ng được d�ng để chỉ c�c phụ �m sau c�ng của c�c từ (words) xuất hiện trong c�c ng�n ngữ Phi Luật T�n.� Nếu văn tự nguy�n mẫu Phi Luật T�n ph�t sinh từ một văn tự được sử dụng bởi những người n�i một ng�n ngữ c� mang c�c phụ �m sau ch�t, tại sao c�c phụ �m sau c�ng lại kh�ng được thể hiển trong c�c văn tự Phi Luật T�n?� T�c giả Postma (49) loại bỏ, t�i nghĩ l� ch�nh x�c, sự tuy�n bố rằng sự vắng mặt của c�c phụ �m sau c�ng trong c�c ng�n ngữ v� văn tự Makassar-Bugis khiến c�c văn tự n�y c� vẻ l� c�c tiền th�n của văn tự Mangyan.� Tuy nhi�n, t�c giả De Casparis (50) đặt c�u hỏi tại sao, với sự sử dụng phổ biến virama [?] trong c�c văn tự Indonesia để chỉ c�c phụ �m kh�ng k�m nguy�n �m, văn tự Mangyan (v� n�i rộng ra, c�c người sử dụng kh�c c�c văn tự Phi Luật T�n) lại kh�ng sử dụng một c�ng cụ như thế, trừ khi họ chấp nhận một văn tự đ� th�ch nghi với một ng�n ngữ kh�ng c� c�c phụ �m sau c�ng.� Ng�n ngữ Ch�m, giống như nhiều ng�n ngữ d�ng �c-� (Austronesian) kh�c, c� sử dụng c�c phụ �m sau c�ng, v� những phụ �m n�y c� được biểu thị trong văn tự Ch�m.� Nếu luận đề hiện nay về một nguồn gốc Ch�m c� gi� trị, t�i chỉ c� thể đưa ra hai � kiến như l� c�c l� d� khả hữu cho sự vắng mặt c�c phụ �m sau c�ng trong c�c văn tự Phi Luật T�n:

 

1.      Văn tự Ch�m đ� đuợc du nhập v�o Phi Luật T�n bởi c�c ngư phủ hay c�c người kh�c, hoặc từ c�c hải đảo của Phi Luật T�n hay từ v�ng lục địa Đ�ng Nam �, kh�ng được diễn tả đầy đủ bằng chữ viết.

 

2.      Văn tự Ch�m được mang đến Phi Luật T�n bởi người Trung Hoa, Nhật Bản hay Việt Nam.� Những người n�i c�c ng�n ngữ n�y, trong sự tr�nh b�y c�c từ ngữ ngoai quốc, đặt sự nhấn mạnh đ�ng kể v�o c�c phụ �m bắt đầu hơn l� v�o c�c phụ �m sau c�ng.� C�c th� dụ của sự tr�nh b�y c�ch phi�n �m (phonetic) trong thế kỷ thứ mười bẩy c�c danh t�nh trong văn tự Phi Luật T�n, đưa ra bởi t�c giả Scott (51), chẳng hạn như �A-gu-ti Lumaba� cho t�n Augustin Lumabag v� �Do A-gu-ti Wi-ka� cho t�n Don Augustin Wika, rất giống c�ch thức m� người Trung Hoa đ� phi�n �m theo vần c�c danh t�nh như thế.

 

Một kh�a cạnh kh�c g�y bối rối về c�c văn tự Phi Luật T�n l� sự vắng mặt ho�n to�n c�c mẫu viết tượng trưng cho c�c con số.� T�i kh�ng thể đưa ra một sự giải th�ch c� vẻ hợp l� n�o về hiện tượng n�y, thế nhưng c� vẻ loại bỏ được khả t�nh rằng bảng �m tiết n�y đ� được du nhập v�o Phi Luật T�n như một c�ng cụ để mua b�n.

 

 

(v) Tổng Kết

 

Sự so s�nh v� ph�n t�ch ở tr�n khơi l�n c�c � kiến như sau:

 

(1)   Mẫu viết ba nguy�n �m trong văn tự Phi Luật T�n c� thể đ� được thừa nhận từ thực sự bất kỳ văn tự n�o thuộc v�ng Đ�ng Nam �.

(2)   C�c phụ �m Phi Luật T�n �ka�, �da�, �ta�, �na�, �ba�, �la, �wa� v� �ha� c� thể ph�t sinh từ bất kỳ một trong c�c văn tự Đ�ng Nam �, kể cả của người Ch�m.

(3)   C�c phụ �m Phi Luật T�n �ga�, �nga�, �p�, �ma�, �ya� v� �sa� ph� b�y c�c đặc điểm c� thể được giải th�ch một c�ch hợp l� nhất bằng c�ch quy chiếu cho một nguồn gốc Ch�m cho ch�ng.

 

T�i xin n�u � kiến rằng văn tự Phi Luật T�n nguy�n mẫu tiến h�a từ c�c mẫu chữ Ch�m, hay c� thể từ c�c mẫu chữ của Ch�m v� của c�c nước v�ng lục địa Đ�ng Nam � kh�c, ở v�o một v�i thời điểm trước khi c� sự xuất hiện đầy đủ văn tự Ch�m �hiện đại�.� Một v�i mẫu chữ Phi Luật T�n c� nhiều sự tương đồng hơn nữa với c�c th� du về chữ Ch�m cổ xưa tương đương, trong khi c�c mẫu tự kh�c hiển nhi�n c� li�n hệ mật thiết với c�c mẫu tự Ch�m �hiện đại�.� Một điểm quan trọng cần phải được nhấn mạnh l� văn tự Phi Luật T�n c� vẻ như c� li�n hệ mật thiết với c�c văn tự lục địa Đ�ng Nam � nhiều hơn l� đối với c�c văn tự quần đảo Java.� T�i lập lu�n rằng sự kiện n�y hậu thuẫn cho � tưởng cho l� một nguồn gốc lục địa th� vững chắc hơn một luận đề cho rằng sự chuyển h�a của c�c văn tự Phi Luật T�n bắt nguồn từ bất kỳ một trong c�c văn tự n�o của v�ng hải đảo Đ�ng Nam �.

 

C�c đề xuất rằng c�c mẫu chữ Phi Luật T�n được r�t ra từ c�c văn tự �t phức tạp hơn, chẳng hạn như của đảo Sumatra hay Sulawesi, v� trong sự ph�t triển sau đ� của ch�ng, tiến h�a một c�ch t�nh cờ th�nh c�c mẫu chữ phức tạp hơn với c�c sự tương đồng lớn lao như thế với c�c mẫu tự của v�ng lục địa Đ�ng Nam � th� kh�ng đứng vững được, theo t�i nghĩ.

 

Bản khắc tr�n bảng bằng đồng ở Laguna được kh�i phục hồi gần đ�y, mới chỉ được c�ng bố v�o năm 1992 (52), c� nhật kỳ Saka 822 (năm 900 sau Thi�n Ch�a) v� Antoon Postma c� n�u � kiến, vốn được x�c nhận bởi Gi�o Sư De Casparis, rằng văn tự thuộc sắc d�n Kawi Thời Ban Sơ trong thế kỷ thứ ch�n đến thứ mười.� C�c aksaras [?] trong thực tế c� c�ng c�c sự quan hệ r� rệt với c�c mẫu chữ của c�c bản khắc Balingawan (năm 891 sau Thi�n Ch�a), Er Kuwing (v�o khoảng 913 sau Thi�n Ch�a) v� Linggasuntan (năm 929 sau Thi�n Ch�a) tr�n đảo Java.� Ng�n ngữ của bản khắc tr�n bảng đồng c� vẻ l� một sự trộn lẫn của c�c ng�n ngữ Java cổ, M� Lai cổ, Tagalog cổ, v� Phạn ngữ (Sanskrit).� Nếu nguồn gốc tiếng Phi Luật T�n đề xướng theo bảng đồng được chấp nhận, hiển nhi�n n� sẽ l�m li�n tưởng đến ảnh hưởng của Java tại Phi Luật T�n v�o thời điểm đ�.� Tuy nhi�n, cần phải nhấn mạnh rằng kh�ng điều g� khiến ta nghĩ rằng c�c văn tự Phi Luật T�n, như ch�ng đ� được ghi ch�p từ thế kỷ thứ mười s�u, l� ph�t sinh từ văn tự được d�ng trong bản khắc tr�n bảng đồng ở Laguna.� C�c đặc điểm chữ cổ nổi bật được ghi nhận ở tr�n về nhiều mẫu tự kh�c nhau của Phi Luật T�n khiến ta nghĩ một c�ch kh�c, bởi c� sự kiện rằng mẫu tự được d�ng cho bản khắc Laguna c� biểu trưng cho c�c phụ �m sau c�ng.

 

Sự nghi�n cứu s�u xa hơn nữa về sự tiến h�a của văn tự Ch�m, Khmer v� c�c nước tr�n đất liền kh�c chắc chắn l� cần thiết.� Chỉ xuy�n qua sự nghi�n cứu như thế, song song với sự t�m hiểu hơn nữa về c�c mẫu tự Phi Luật T�n, thời kỳ sử dụng c�c mẫu tự c� biệt mới được x�c định một c�ch vững chắc hơn, v� sẽ c� thể gi�p tuy�n bố với bất kỳ sự tin tưởng n�o về thời khoảng khi m� c�c mẫu tự như thế đ� được chấp nhận tại Phi Luật T�n.

 

 

V. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

 

Nếu c�c văn tự Phi Luật T�n được ph�t sinh từ văn tự Ch�m, hay từ c�c văn tự lục địa kh�c, c�u hỏi l� bằng c�ch n�o v� khi n�o điều n�y đ� xảy ra sẽ c� một v�i tầm quan trọng.� C�c sự khảo cứu của c�c nh� khảo cổ học trong nửa thế kỷ qua khiến ta nghĩ rằng đ� c� c�c sự tiếp x�c h�ng hải d�n trải kh� rộng giữa c�c nền văn h�a lục địa v� hải đảo Đ�ng Nam � từ �t nhất v�o l�c khởi đầu kỷ nguy�n đồ sắt.� C�c b�i viết của W.G. Solheim (53) v� những t�c giả kh�c trong Tạp Ch� Asian Perspective trong 30 năm qua c� tr�nh b�y c�c quan hệ kh� mạnh mẽ giữa nền văn h�a Sa Huỳnh, đi liền với c�c người Ch�m-Nguy�n Thủy tại miền nam Việt Nam ng�y nay, với nền văn h�a Kalanay của Phi Luật T�n.� C�c hoa tai với ba khoen lủng lẳng (khoen h�nh chữ O treo v�o nhau) v� c�c c�y lao c� đầu chạm h�nh th� vật đuợc t�m thấy ở cả hai nền văn h�a, c�ng với c�c truyền thống l�m đồ gốm, khiến li�n tưởng đến c�c sự giao tiếp văn h�a, v� ch�nh v� thế, sự di chuyển giữa v�ng đất liền v� c�c hải đảo Phi Luật T�n qua nhiều thi�n ni�n kỷ.

 

C�c ảnh hưởng Ấn Độ tr�n quần đảo Phi Luật T�n đ� l� đề t�i của nhiều cuộc nghi�n cứu được thực hiện bởi Francisco, v� t�c phẩm Indian Influences in the Philippines của �ng cung cấp một sự khảo s�t s�u rộng về c�c khu vực tại đ� c�c ảnh hưởng Ấn Độ c� thể được nhận thấy trong c�c nền văn h�a Phi Luật T�n. �ng c� ghi nhận trong một ấn phẩm kh�c rằng c�c cứ liệu khảo cổ học v� ng�n ngữ học l�m nảy sinh � kiến rằng 400 năm từ thế kỷ thứ mười đến thế kỷ mười bốn đ� l� giai đoạn quan trọng của ảnh hưởng Ấn Độ tại Phi Luật T�n v� rằng �c�c th�nh tố văn h�a Ấn Độ như ch�ng c� thể nhận thấy r� trong cơ cấu văn h�a Phi Luật T�n chỉ c� thể được giải th�ch xuy�n qua sự trung gian của c�c sắc d�n Java, M� Lai hay Ch�m � l� những người đầu ti�n đ� tiếp nhận c�c th�nh tố Ấn Độ n�y� (54).� Ảnh hưởng Ch�m trong phương diện n�y kh�ng thể bị xem nhẹ, theo t�i thấy.

 

Giả định rằng nguồn gốc v� t�nh ch�nh thống Phi Luật T�n của n� được x�c nhận, Bản Khắc Tr�n Bảng Đồng Laguna c� vẻ như cấu th�nh bằng chứng văn bản sớm nhất của văn minh Ấn Độ tại Phi Luật T�n.� Bản khắc l�m li�n tưởng đến nhiều từ ngữ tiếng Phạn kh�c nhau, kể cả nhan đề senapati, đ� được d�ng tại Phi Luật T�n v�o năm 900 sau Thi�n Ch�a.� C�c nguồn tư liệu Trung Hoa thời nh� Tống cũng cung cấp bằng cớ mạnh mẽ về ảnh hưởng Ấn Độ tại Phi Luật T�n.� Quyển s�ch do triều đ�nh ủy nhiệm soạn thảo, Song Hui-yao Ji-gao [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] hay C�c Hội Viện Đời Nh� Tống (Bản Thảo) (Collected Institutes of the Song Dynasty), được bi�n soạn trong nhiều ấn bản li�n tiếp nhau từ l�c bắt đầu thế kỷ thứ mười một đến giữa thế kỷ thứ mười ba, dựa tr�n c�c bản văn ghi nhớ, c�c văn kiện ho�ng cung v� c�c t�i liệu địa phương. Đ�y l� một trong những nguồn tư liệu căn bản được d�ng để bi�n soạn lịch sử triều đại, tức Tống Sử (Song Shi) [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch].� Trong phần �C�c Ngoại Nh�n� của quyển Song Hui-yao Ji-gao, một xứ sở c� t�n l� �Pu-duan� [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] được ghi với nhiều chi tiết.� Sự x�c minh, được chấp nhận rộng r�i ng�y nay, cho thấy Pu-duan tượng trưng cho v�ng Butuan tại đảo Mindanao đ� được x�c nhận lần đầu ti�n, theo t�c giả Wolters (55), bởi Grace Wong trong b�i viết năm 1979 nhan đề �The Place of Porcelain� (Xứ Đồ Gốm) của b� được ấn h�nh trong tập Chinese Celadons and Other Related Wares in Southeast Asia.� Quyển Song Hui-yao Ji-gao đ� ghi nhận về thực thể n�y như sau:

 

Pu-duan nằm giữa đại dương.� N� gần cận với xứ Ch�m v� [trước đ�y] kh�ng c� tiếp x�c với Trung Hoa. Trong th�ng ch�n năm thứ s�u ni�n hiệu Xian-ping của vua Zhen-zong (th�ng Ch�n � Th�ng Mười năm 1003), sứ giả Li Yi-ban c�ng ph� sứ Jia-mi-nan được ph�i bởi nh� vua của họ t�n Qi-ling, đ� đến chầu v� d�ng cống vật gồm c�c thổ sản v� c�c con chim vẹt m�u đỏ � Trong th�ng hai của năm thứ tư vương hiệu Dazhong Xiang-fu (tức Th�ng Ba/Tư năm 1011), sứ giả Li Yu-xie lại được ph�i bởi người l�nh đạo xứ đ�, t�n Xi-li Pa-da-xia-zhi, đến với một qu� kỷ niệm chạm khắc tr�n một thẻ bằng v�ng, để d�ng cống vật gồm đinh hương, long n�o trắng, mu r�a, v� c�c chim vẹt m�u đỏ � (56).

 

Nơi đ�y, ch�ng ta đọc được t�n hai nh� l�nh đạo xứ Pu-duan, hay c� thể l� c�c t�n kh�c nhau của c�ng một người l�nh đạo.� T�n đầu ti�n l� Qi-ling [c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch] được đọc l� �Gi-l�ng� theo giọng Hokkien, nhiều phần để chỉ �Keling�, một từ ngữ được d�ng tại M� Lai v� bởi người Căm Bốt để chỉ c�c người d�n v�ng nam Ấn Độ hay người Ấn Độ, một c�ch tổng qu�t hơn.� Nguồn gốc của từ ngữ c� vẻ l� một địa điểm Ấn Độ c� t�n l� �Kalinga�, nay l� một phần của Orissa (57).� C�c li�n hệ khả hữu giữa từ ngữ n�y v� từ ngữ �Keling�, được ghi nhận như l� một Rắn Thần quan trọng (Naga King?) của sắc d�n Iban (58) cũng c� thể n�n được điều tra.� Danh xưng tước hiệu thứ nh� được n�i đến, Xi-li Pu-da-xia-zhi [c� k�m 6 chữ H�n, ch� của người dịch] chắc chắn l� một danh hiệu Ấn Độ.� Theo giọng Hokkien, c�c chữ n�y được đọc l� Sih-li B�-d�i-ha-zhi, c� thể được sắp xếp lại th�nh �Sri Maharaja� (59).� Sự sử dụng từ ngữ �maharaja� tại Phi Luật T�n đ� được thảo luận bởi Francisco (60). Đoạn văn tr�n, n�i đến thời đầu thế kỷ thứ mười một, c� vẻ như l� sự tham chiếu bằng văn bản đầu ti�n đến sự sử dụng vương hiệu tại một khu vực nay l� một phần của nước Phi Luật T�n hiện đại. �Sự d�ng c�ng một vật kỷ niệm được khắc bằng v�ng, được đề cập trong bản văn n�y, cũng cho thấy ảnh hưởng của Ấn Độ, v� cho thấy rằng một v�i văn tự đ� được d�ng trong khu vực thời thế kỷ thứ mười một.

 

Với c�c sự tham chiếu như thế về ảnh hưởng Ấn Độ tại Phi Luật T�n trong thời kỳ n�y, c�u hỏi l� từ khi n�o ảnh hưởng n�y đ� xuất hiện.� Như đ� ghi nhận trước đ�y, Bản Khắc Tr�n Bảng Đồng Laguna l�m li�n tưởng đến ảnh hưởng của Java, trong khi c�c văn tự Phi Luật T�n lại gợi � kiến rằng ảnh hưởng Ấn Độ lại đến từ c�c khu vực kh�c.

 

Sự đề cập trong quyển Song Hui-yao Ji-gao đến xứ Pu-duan được dịch ở tr�n bao gồm trong phần n�i về �xứ Ch�m� của t�c phẩm đ�.� Trong đoạn được phi�n dịch, ch�ng ta đọc được rằng �Pu-duan � th� gần cận với xứ Ch�m�.� Sau đ�, trong c�ng bản văn n�y n� cũng đ� ghi nhận rằng �Pu-duan ở dưới Champa� [c� k�m 6 chữ H�n, ch� của người dịch]. Điều n�y c� thể được giải th�ch c� nghĩa hoặc l� Pu-duan th� �thấp k�m� hơn xứ Ch�m hay n� l� một �phi�n thuộc� của Ch�m.� Bất kể nơi m� ngườI ta chọn để vạch ra c�c giới hạn giả định của quyền lực ch�nh trị của Butuan v� Ch�m, Trung Hoa đ� thừa nhận rằng hai ch�nh thể n�y c� bi�n giới liền nhau v� ch�nh v� thế, một c�ch mặc nhi�n, đ� tiếp x�c vớI nhau.� Một sự tham chiếu kh�c về sự x�c đ�ng khả hữu được gồm trong b�i văn tường thuật về Căm Bốt trong quyển s�ch của Trung Hoa c� nhan đề Zhu-fan Zhi, ho�n tất v�o năm 1225.� Dưới mục �c�c xứ sở lệ thuộc� [c� k�m 2 chữ H�n, ch� của người dịch] của Căm Bốt c� liệt k� một thực thể được gọi l� Bo-si-lan [c� k�m 3 chữ H�n, ch� của người dịch] (61).� Rất c� thể v�ng đất n�y để chỉ đảo Basilan của Phi Luật t�n, nằm giữa Zamboanga v� Sulu.� T�c giả Wolters (62) ghi nhận rằng l� do duy nhất để x�c định Bo-si-lan l� Basilan m� trước đ�y chưa được đề xướng ch�nh l� v� Bo-si-lan đ� được ghi nhận l� một v�ng đất lệ thuộc của Căm Bốt.� C�c sự nối kết m� t�i đang đề xướng khiến điều n�y trở n�n khả dĩ l� trong suốt thời kỳ n�y c�c v�ng lệ thuộc của Căm Bốt trong thực tế nằm ở c�c khu vực m� ng�y nay l� phần l�nh thổ của Phi Luật T�n, v� khả t�nh n�y được hậu thuẫn bởi quyển sử k� triều đại nh� Tống tức Tống sử (Song Shi) trong đ� ghi nhận rằng Bo-si-lan nằm ở ph�a đ�ng nam của Căm Bốt (63).� Tập Wen-xian Tong-kao, được bi�n soạn trong năm 1307 nhưng dựa tr�n c�c nguồn tư liệu trước đ�, đ� ghi nhận trong phần viết về Champa:

 

Xứ Ch�m nằm ở ph�a t�y nam Trung Hoa.� Ph�a đ�ng của n� l� biển, trong khi ph�a t�y l� V�n Nam.� Gi�p ph�a nam l� xứ Ch�n Lạp (Zhen-la) [Căm Bốt] v� ph�a bắc l� tiểu trấn Huan � Đi qu� n�, băng ngang biển � ở ph�a đ�ng l� Ma-yi [Mindoro], [mất] hai ng�y đường, trong khi xứ Pu-duan nằm ở nơi c�ch bảy ng�y đường � (64)

 

C�c nguồn tư liệu Trung Hoa đ� phải ghi nhận rằng Mindoro v� Butuan c� thể đến được từ xứ Ch�m c� lẽ c� tầm quan trọng về mặt c�c hải lộ mậu dịch được hay biết đối với người Trung Hoa v�o thời điểm đ�.� Hai b�i viết gần đ�y nhấn mạnh hơn nữa tầm quan trọng của c�c hảI lộ nối liền c�c ch�nh thể lục địa Đ�ng Nam � thời trung cổ với quần đảo Phi Luật T�n v� đảo Borneo.� C�c chuy�n vi�n đồ gốm Burns v� Brown, trong một b�i viết đệ tr�nh tại một hội nghị ở Việt Nam năm 1990 (65), đ� ghi nhận sự tương đồng nổi bật của c�c sưu tập đồ gốm của Quảng Đ�ng được t�m thấy tại Tr� Kiệu, kinh đ� thời cổ của Ch�m, với c�c đồ vật được t�m thấy ở Butuan, v� tr�n căn bản n�y đ� n�u � kiến về c�c sự li�n kết mậu dịch giữa hai khu vực trong thế kỷ thứ mười.� Sử gia kinh tế Ptak cũng sử dụng một loạt c�c tư liệu đa dạng để chứng minh l� l�m thế n�o m� c�c hải lộ n�y giữa đất liền v� v�ng hải đảo Đ�ng Nam � đước nối kết v�o một m�ng lưới lớn hơn nhiều c�c mắt x�ch mậu dịch trong thời khoảng từ thế kỷ thứ mười bốn đến thế kỷ thứ mười s�u (66).

 

Sau c�ng, ch�ng ta c� lẽ phải x�t đến một b�i viết từ thời cuối thập ni�n 1829, được viết bởi J. Dalton v� nguy�n thủy được đăng tải trong tờ Singapore Chronicle hồi th�ng Ba v� th�ng Tư năm 1831.� T�c giả Dalton đ� du h�nh khắp v�ng Đ�ng Nam � v� đặc biệt v�ng biển chung quanh Borneo, Sulawesi v� c�c đảo ph�a nam của Phi Luật T�n.� Trong b�i viết n�y �ng đ� ghi nhận:

 

� kiến của nhiều người Bugis hiểu biết m� t�i đ� đối thoại cho rằng phần lớn c�c đảo n�y c� cư d�n gốc nguy�n thủy từ� Xi�m La v� Căm Bốt.� Xứ sau n�y l� một đất nước rộng lớn nằm ph�a t�y của Trung Hoa m� người Xi�m La n�i trước đ�y thuộc về họ.� Ng�n ngữ của người d�n Cochin-Chinese n�y c� sự li�n hệ lớn lao với ng�n ngữ người d�n Bugis hơn l� với ng�n ngữ của v�ng Tonkin, v� người Xi�m La c� thể hiểu được họ kh�ng mấy kh� khăn�� Từ thủa kh�ng ai biết r� đ� c� sự bu�n b�n v� c�ng s�u rộng được thực hiện giữa Xi�m La, Cochin-China v� nhiều c�c bộ lạc cư ngụ tr�n giải đất rộng lớn của xứ sở nằm ở cửa s�ng Căm Bốt; cũng như với quần đảo Sooloo, kể cả phần ph�a bắc của Borneo v� c� lẽ cả đảo Celebes nữa.� Sự giao th�ng vẫn c�n tiếp tục.� Mỗi năm h�ng trăm con thuyền �t nhiều đi trực tiếp từ lục địa sang rất nhiều h�n đảo nằm trong biển Sooloo, li�n tục đổ l�n đảo số d�n rất mực dư thừa của n�, l� những người, bị cưỡng b�ch, đẩy về ph�a t�y.� Đ�y chỉ l� bước li�n tục của một hệ thống xuất cảnh trước đ�y, chắc chắn từ nguy�n thủy đ� chất người l�n phần lớn c�c h�n đảo n�y.� Megidano l� một trong những h�n đảo đầu ti�n trong v�ng biển ph�a đ�ng; n� chứa tr�n phẫn l�nh thổ rộng lớn nhất chiếm di�n t�ch h�ng dặm vu�ng c�c người Phi Luật t�n, v� trải d�n cư khắp nơi bằng một giống người cần c� đến từ bờ biển xứ Camboja � T�i được th�ng b�o bởi c�c anakodahs [?] về c�c con thuyền của Cochin-China (một người trong họ l� một rajah [?]� vốn l� kẻ thường hay c� mặt tr�n c�c chuyến du h�nh n�y,� rằng tr�n phần đất rộng lớn hơn của đảo Megidano v� ở những phần kh�c tr�n c�c h�n đảo n�y, c� một d�n cư đ�ng đ�c như d�n số của bất kỳ phần đất n�o của miền bắc Trung Hoa v� rằng từ Cochinchina kh�ng th�i, kể cả c�c quốc gia bản xứ tọa lạc khoảng cửa s�ng Căm Bốt, h�ng năm c� tới 140 con thuyền lớn nhỏ, được l�i nhắm tới Magidano.� C�c con thuyền n�y chuy�n chở từ năm mươi đến năm trăm h�nh kh�ch, l� những người xuất cảnh đến nơi đ�, v� l� những người khi đến nơi, ra sức l�m c�ng trong một giai đoạn n�o đ� để trả nợ tiền du h�nh � Cũng ch�nh vị rajah n�y đ� n�i với t�i rằng, số lượng con thuyền h�ng năm khởi h�nh từ c�ng c�c phần đất để đến đảo Palawan kh�ng �t hơn t�m mươi chiếc thuyền cỡ kh� lớn.� Đảo Palawan được cai trị bởi một �ng rajah c� li�n hệ với vị ho�ng đế Cochin-China � miền cực bắc của đảo Borneo cho thấy một mật độ tương tự d�n số đến c�ng nguồn gốc.� Với sự t�nh to�n trung b�nh, kh�ng �t hơn 500 chiếc thuyền được l�i h�ng năm từ bờ biển Căm Bốt đến c�c đảo n�y �� Ng�n ngữ Cochin-china được n�i phổ qu�t tại khắp nơi tr�n đảo Palawan v� Megidano; ở v�ng xa hơn về ph�a t�y v� đặc biệt dọc theo bờ biển của c�c đảo nằm xa hơn nữa về ph�a t�y, d�n số n�y được pha trộn với sắc d�n Bugis.� Tại c�c địa điểm miền bắc đảo Borneo, ng�n ngữ Căm Bốt được n�i nhiều như bất kỳ [ng�n ngữ] n�o kh�c � (67)

 

Cần phải ph�t biểu ngay rằng Dalton kh�ng phải l� nh� ngữ học hay một sử gia.� Tiểu sử của �ng ta c� phần kh�ng minh bạch, nhưng một số chi tiết về lai lịch v� c�c kh�t vọng thương mại của �ng c� thể được lượm lặt từ t�c giả Tarling (68).� Dalton th� nhận m�nh l� một kẻ phi�u lưu tọc mạch v� nhiều � kiến của �ng khiến ta nghĩ ngợi rằng c�c sự kết luận của �ng kh�ng ho�n to�n dựa tr�n c�c sự quan s�t v� tư.� Bất kể điều n�y, �ng đ� du lịch v� điều tra s�u rộng trong khu vực v� c� �t nhất hai điểm khiến cho đoạn văn n�y đ�ng được tr�ch dẫn d�i d�ng như thế.� Điểm đầu ti�n l� c� vẻ đ� c�, v�o đầu thế kỷ thứ mười ch�n, nhiều sự tiếp x�c giữa Căm Bốt (Camboja), Cochin-China (xứ Ch�m trước đ�), v� c�c đảo của Phi Luật T�n, sử dụng c�c kỹ thuật hải h�nh vốn được cung ứng từ h�ng ngh�n năm.� Điểm thứ nh� l� đ� c� một sự tin tưởng phổ th�ng đương thời rằng một số d�n cư ở khu vực Borneo/Sulu ph�t sinh từ Căm Bốt, l�m li�n tưởng đến sự xuất cảnh của một số người kh� xa xưa.� Sự kiện n�y c�ng củng cố khả t�nh rằng đ� c� một sự di chuyển d�n số giữa Ch�m, Căm Bốt v� quần đảo Phi Luật T�n trong thời trung cổ.

 

 

VI. KẾT LUẬN

 

Bằng chứng về cổ tự (chữ xưa) đủ mạnh để nghĩ rằng nguy�n mẫu văn tự Phi Luật T�n ph�t sinh từ một văn tự v�ng đất liền Đ�ng Nam �, v� ch�nh văn tự Ch�m cung cấp mối quan hệ vững chắc nhất v� c� lẽ l� nguồn gốc đ�ng nhất.� Bằng chứng văn bản cũng n�u � kiến về c�c sự tiếp x�c h�ng hải v� c�c quan hệ ch�nh trị khả hữu giữa Ch�m, Căm Bốt v� c�c phần đất thuộc Phi Luật T�n ng�y nay trong một thời kỳ k�o d�i từ thế kỷ thứ mười đến thế kỷ thứ mười lăm, khi c�c ảnh hưởng Ấn Độ được du nhập v�o c�c hải đảo n�y.

 

C�c ảnh hưởng của v�ng lục địa Đ�ng Nam � tr�n c�c nền văn h�a Phi Luật T�n, cũng như c�c ảnh hưởng di chuyển theo chiều ngược lại, cần phải được điều tra s�u rộng hơn nữa, kh�ng chỉ xuy�n qua sự. nghi�n cứu th�m về khu vực lan truyền chữ cổ, m� c�n, một c�ch quan trọng hơn, xuy�n qua c�c sự khảo s�t đối chiếu về khảo cổ học, ng�n ngữ học v� d�n tộc học./-

����

 

 

CH� TH�CH:

 

* B�i viết n�y l� bản văn khai triển rộng c�c � tưởng đ� được đưa ra trong một b�i thuyết tr�nh được đọc tại Hội Nghị Lần Thứ Mười Hai của Hiệp Hội Quốc Tế C�c Sử Gia Về � Ch�u được tổ chức tại Hồng K�ng trong th�ng S�u măm 1991.� T�c giả xin b�y tỏ lời cảm ơn đến Tiến Sĩ Norman G. Owen, Ban Lịch Sử, Đại Học Hồng K�ng v� một người đọc v� danh về sự trợ gi�p v� c�c � kiến.

 

1.      W.H. Scott, Prehispanic Source Materials for Philippine History (Quezon City, 1984), trang 53.� Một ấn bản chụp litho (photolithographic) từ một bản in duy nhất c�n được hay biết của t�c phẩm n�y đ� được ấn h�nh tạI Washington, D.C. năm 1947.� Scott, trong Prehispanic Source Materials, trang 164, ghi nhận một ấn bản sao chụp kh�c được ấn h�nh bởi National Historical Commission, Manila năm 1973.

2.      Trong b�i khảo luận giớI thiệu ấn bản sao chụp năm 1947, được ấn h�nh với nhan đề Doctrina Christiana � The First Book Printed in the Philippines, Manila, 1593: A Facsimile of the Cvopy in the Leasing J. Rosenwald Collection, Library of Congress (Washington D.C., 1947), Edwin Wolf 2nd b�y tỏ sự tin tưởng của �ng rằng t�c phẩm đ� l� quyển s�ch đầu ti�n c� thể chứng thực được l� đ� được in tại Phi Luật T�n.� Tuy nhi�n, P. Van der Loon, trong b�i �The Manila Incunabula and Early Hokkien Studies�, Asia Major XII (1966): 1-43, n�u � kiến rằng quyển Hsin-ko seng-shih Kao-mu Hsien chuan Wu-chi tien-chu cheng-chiao chen-chuan shi-lu, một ấn phẩm in bằng bản khắc gỗ của một t�c phẩm về thần học v� vũ trụ được viết bằng tiếng Trung Hoa bởi Sư Huynh d�ng Dominican Juan Cobo, được ấn h�nh tại Manila hồi th�ng Ba năm 1593 v� do đ� c� thể đ� c� nhật kỳ trước cả quyển Doctrina Christiana.

3.      Trong quyển The Philippine Islands 1493-1803 của E.H. Blair v� J.A. Robertson, (ấn bản nguy�n thủy được ấn h�nh tại Cleveland 1903-1909, được in lại bởi Rizal, 1973), tập XII, trang 10, c�c nhật kỳ của �ng sống tại Phi Luật T�n bị ghi sai l� từ 1595 đến 1602.� Edwin Wolf 2nd, trong lời giới thiệu bản sao chụp quyển Doctrina Christiana� c� bổ t�c (nơi trang 9) rằng Chirino đ� quay trở lại quần đảo trong năm 1606 v� đ� ở lại đ� cho đến khi từ trần v�o năm 1635.

4.      Blair v� Robertson, The Philippine Islands, vol. XII, c�c trang 242-43.

5.      J.R. Francisco, Philippine Palaeography, Philippine Journal of Linguistics Special Monograph Issue No. 3 (Quezon City, 1973), trang xii.

6.      Blai and Robertson, The Philippine Islands, vol. XVI, c�c trang 115-17.

7.      C�ng nơi dẫn tr�n., vol. XXIX, c�c trang 288-90.

8.      C�ng nơi dẫn tr�n, vol. XL, trang 49.

9.      Francisco, Philippine Palaeography, trang 93.

10.  C.R. Boxer, �A Late Sixteenth Century Manila MS�, Journal of the Royal Asiatic Society of Great Britain and Ireland (1950): 38-49.

11.  F. Landa Jocano, The Philippines at the Spanish Contact: Some Major Accounts of Early Filipino Society and Culture (Manila, 1975), trang 196\.

12.  Scott, Prehispanic Source Materials, trang 53.

13.  Francisco, Philippine Palaeography, trang 83.

14.  C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 22-31, 44-50, 97-100.

15.  Về c�c th� dụ kh�c nhau của nhiều loạI văn tự Phi Luật T�n, xem c�c Bảng 8, 9, v� 10 trong Francisco, Philippine Palaeography.

16.  Blai v� Robertson, The Philippine Islands, vol. XII, trang 241.

17.  C�ng nơi dẫn tr�n, vol. XL, trang 49.

18.  J. Crawfurd, A Descriptive Dictionary of the Indian Islands and Adjacents Countries (được ấn h�nh nguy�n thủy năm 1856; in lại trong tập Oxford in Asia Historical Reprints, Singapore, 1971), trang 348.

19.  Francisco, Philippine Palaeography, c�c trang 4-20.

20.  Scott, Prehispanic Source Materials, trang 61.

21.  Francisco, Philippine Palaeography, trang 87.

22.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 84.

23.  J.R. Francisco, Indian Culture in nthe Philippines: Views and Reviews, Fourth Sri Lanka Endowment Lecture, b�i giảng đọc tại Đại Học M� Lai ng�y thứ S�u, 18 th�ng Mười, năm 1985 (Kuala Lumpur, 1985), trang 49.

24.  G. Maspero, Le Royaume de Champa (Paris, 1928).

25.  �cole Francisco d�Extr�me-Orient (ed.), Kerajaan Campa (Jakartsa, 1981).

26.  C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 297-318.

27.  J. Boisselier, La Statuaire du Champa: Recherches sur les Cultes et L�Iconographie (Paris, 1963).

28.  R.C. Majumdar, Champa: History and Culture bof an Indian Kingdom in the Far East 2nd � 16th Century AD (In lại, Delhi, 1985).

29.  R.C. Majumdar, �La Paleographies des Inscriptions du Champa�, Bulletin de l��cole Francaise D�Extr�me-Orient XXXII (1932): 127-39.

30.  E. Aymonier v� A. Cabaton, Dictionaire Cam-Francaise (Paris, 1906).

31.  C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang x-xxii.

32.  J.G. de Casparis, Indonesian Palaeography: A History of Writing in Indonesia from the Beginnings to c. A.D. 1500 (Leiden, 1975), trang 10.

33.  Francisco, Philippine Palaeography, trang 91, H�nh 1.

34.  Scott, Prehispanic Source Materials, c�c trang 57, 60.

35.  Majumdar, �La Paleographie des Inscriptions du Champa�, c�c trang 128-29 v� Bảng IX.

36.  D. Diringer, The Alphabet: A Key to the History of Mankind (London, 1968), vol. II, c�c trang 244-45, 298.

37.  Francisco, Philippine Paleography, trang 94.

38.  H. Jensen, Sign, Symbol and Script: An Account of M�ns Effort to Write (London, 1970), c�c trang 388, 395.

39.  L.-C. Damais, �Les �critures d�origine indienne en Indonesie et dans le Sud-Est Asiatique continental�, Bulletin de la Soci�t� des �tudes Indochinoises, Nouvelle Serie, Tome XXX, (1955): 365-82.

40.  K.F. Holle, Tabel van Oud- en Nieuw-Indische Alphabetten, 2 phần (Buitenzorg, 1877 v� Batavia, 1882), trang 47.

41.  Holle, Tabel, c�c trang 46-47 v� Diringer, The Alphabet, Vol. II, trang 254.

42.  Holle, Tabel, trang 43.

43.  C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 42-43.

44.  J.R. Francisco, Indian Influences in the Philippines, with Special References to Languages and Literature (Quezon City, 1964), trang 258.

45.  45. C�ng nơi dẫn trện

46.  P.N. Jenner v� Saverous Pou, �A Lexicon of Khmer Morphology�, Mon-Khmer Studies, vols. IX-X (Hawaii, 1980-81), c�c trang viii-ix.

47.  M.R. Haas, Thai Vocabulary (Washington, 1955), trang 517.

48.  Scott, Prehispanic Source Materials, trang 58.

49.  Ạ Postma, �Contemporary Mangyan Scripts�, The Philippine Journal of Linguistics (1972): 1-12.

50.  De Casparis, Indonesian Palaeography, trang 67.

51.  Scott, Prehispanic Source Materials, trang 54.

52.  Ạ Postma, �The Laguna Copper-Plate Inscription: Text and Commentary�, Philippine Studies 40 (1992): 183-203.

53.  Xem, th� dụ, W.G. Solheim II, �Further Relationship of the Sa-Huynh � Kalamay Pottery Tradition�, Asian Perspective 8, 1 (1964): 196-211.

54.  Francisco, Indian Culture in the Philippines, trang 51.

55.  O.W. Wolters, �A Few and Miscellaneous Pi-Chi Jottings on Early Indonesia�, Indonesia, no. 36 (1983): 58-59.

56.  Song Hui-yao Ji-gao (Beijing Zhonghua Shuju, 1957), Juan 197, trang 7761.� Một bản dịch đầy đủ đoạn văn, cũng như bản tiếng Trung Hoa, được t�m thấy trong W.H. Scott, Filipinos in China Before 1500 (Manila, 1989), c�c trang 27-28, v� 45.

57.  Xem R. J. Wilkinson, A Malay-English Dictionary (Romanised) (Mytilene, Greece, 1932), tập I, trang 542; F. E. Huffman v� Im Proum, Cambodian-English Glossary, 1977, trang 13; v� Francisco, Indian Influences in the Philippines, trang 59; Henry Yule v� A.C. Burnell, Hobson-Jobson: A Glossary of Coloquial Anglo-Indian Words and Phrases (London: John Murray, 1903), c�c trang 487-90.

58.  A. Richards, An Iban - English Dictionary (Oxford, 1981), c�c trang 150-51.

59.  Chữ viết tắt b/m trong tiếng Hokkien được thảo luận trong quyển �Studies in the Phonological History of Amoy Chinese của Yen Sian-lin (luận �n Tiến Sĩ, Đại Học Illinois, 1965).� Yen tr�ch dẫn từ quyển Spoken Amoy Hokkien của Bodman như sau: �Điều đơn giản hơn để ph�t biểu rằng trong tiếng Trung Hoa Amoy c� hiện hữu một sự tương phản cơ cấu giữa c�c nguy�n �m thường v� giọng mũi theo sau mọi chữ viết tắt, v� rằng c�c phụ �m b v� m, v� g v� ng chỉ l� c�c biến thể của nhau, t�y thuộc việc c� một nguy�n �m thường hay giọng mũi hay nhị tr�ng �m (dipthong) theo sau hay kh�ng.�� Yen (trang 34) cũng ph�n t�ch c�c �m �m� v� �b� như l� c�c biến thể �m vị (allophonic) của �m /m/.� Đặc t�nh n�y thường được nhận thấy trong sự biểu thị trong tiếng Hokkien thời ban sơ c�c từ ngữ kh�ng phải l� tiếng Trung Hoa nơi m� c�c chữ đượcc đọc bằng chữ �b� khởI đầu thường được d�ng để thay cho từ ngoại quốc khởi đầu bằng chữ �m�.� Sự sử dụng �m �ba� thay cho �m �ma� trong từ �maharajah� l� một trường hợp được n�i đến.

60.  Francisco, Indian Influences in the Philippines, trang 19.

61.  Zhao Ru-gua, Zhu Fan-zhi (ấn bản của Taiwan Bank Economic Research Office; Taiwan, 1961), trang 35.� Một bản dịch sang Anh ngữ b�i viết n�y được gồm trong quyển Chau Ju-kua: His Work on the Chinese and Arab Trade in the Twelfth and Thirteenth Centuries, entiled Chu-fan-chih của F. Hirth v� W.W. Rockhill (St. Peterburg, 1911).

62.  O.W. Wolters, �A Few and Miscellaneous Pi-Chi Jottings on Early Indonesia�, Indonesia, no. 36 (1983): 49-64.� Xem trang 63.

63.  Tuo-tuo et al, Song Shi, (Beijing Zhonghua Shuju, 1977), Juan 489, trang 14,087.

64.  Ma Duan-lin, Wen-xian Tong-kao, Juan 332, �Champa�.

65.  P. Burns and R. M. Brown, �Eleventh-Century Cham-Philippine Foreign Affairs�, trong Ancient Town of Hoi An, bi�n tập bởi The National Committee for the International Symposium on the Ancient Town of Hoi An (Hanoi, 1991), c�c trang 64-67.

66.  R. Ptak, �The Northern Trade Route to the Spice Islands: South China Sea � Sulu Zone � North Moluccas (14th to Early 16th Century), Archipel 43 (1992): 27-56.

67.  J.H. Moor, Notices on the Indian Archipelago and Adjacent Countries (được ấn h�nh nguy�n thủy tại Singapore năm 1837, in lại bởi Frank Cass and Co., Ltd, London, 1968).� Xem c�c trang 46-47 b�i Mr. Dalton�s Essay on the Diaks of Borneo�.

68.  N. Tarling, Piracy and Politics in the Malay World: A Study of British Imperialism in Nineteenth-Century South-east Asia (Melbourne, 1963), c�c trang 112-14, 117.

 

 

Nguồn: Journal of Southeast Asian Studies 24, 1 (March 1993): 44-87 @ 1993 by National University of Singapore

 

 

NG� BẮC dịch

 

 

(Bản dịch n�y đ� một lần được ấn h�nh dưới t�n Ng� Ngọc Trung)

 

 

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

 

 

� 2008 gio-o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

���