John Tessitore

Department of Anthropology, University of Hawaii, Manoa

 

NH�N TỪ Đ�NG SƠN:

Khảo S�t Mối Quan Hệ

Giữa Văn Minh Đ�ng Sơn v�

Văn Minh Điền Tr�

Trong Thi�n Ni�n Kỷ Thứ Nhất

Trước C�ng Nguy�n

 

Ng� Bắc dịch

 

������ Văn h�a Thời Đồ Đồng Đ�ng Sơn (East Mountain) tại ch�u thổ s�ng Hồng miền bắc Việt Nam đ� được hay biết từ thập ni�n 1930.� C�c sự kh�m ph� nguy�n thủy c� ni�n đại trong thời thực d�n v� đ� được tr�nh b�y một c�ch đ�ng kể bởi Goloubew (1929, 1937) v� Janse (1958).� Ch�ng bao gồm c�c trống đồng v� c�c vũ kh� giờ đ�y trở n�n quen thuộc v� ti�u biểu, c�c b�nh (hũ, chậu, vại, chum, th�ng) mai t�ng (c�c b�nh bằng đồng v� đồ gốm c� h�nh th�ng, chậu), v� c�c mẫu hoa văn trang tr� đồng t�m.� Sự nghi�n cứu nối ti�p, kể cả khối lượng c�ng tr�nh phong ph� gần đ�y bởi ch�nh người Việt Nam (Ho�ng v� B�i 1980), ph�t hiện rằng phức hợp văn h�a Đ�ng Sơn như một trung t�m ph�a bắc của một phức hợp đồng/sắt phổ biến được t�m thấy khắp Việt Nam v� phần c�n lại của Đ�ng Nam �.� N� tượng trưng cho một sự ph�t triển tại chỗ (in situ) đi trước c�c giai đoạn Đ� Mới (Neolithic) tại c�c v�ng l�n cận của c�c hệ thống s�ng Hồng, s�ng M� v� s�ng Cả.

������ Giữa c�c năm 1955 v� 1960, 50 ng�i mộ được kh�m ph� tại Thạch Trại Sơn, Tấn Ninh (Shizhai Shan, Jinning), tỉnh V�n Nam (H�nh 1).� V�ng đất xa x�i n�y được biết l� vương quốc Điền [Việt] trong thời T�y H�n (206 TCN (Trước C�ng Nguy�n) � 9 SCN (Sau C�ng Nguy�n)).� C�c cuộc điều tra khảo cổ học đ� ph�t hiện một nền văn h�a Thời Đồ Đồng phong ph� với c�c sự tương đồng dưới nhiều h�nh thức, kể cả một số c� thời khoảng c�ng l�c với Đ�ng Sơn ở về ph�a đ�ng nam.� C�c cuộc khai quật tiếp tục tại V�n Nam v� miền t�y Tứ Xuy�n đ� mở rộng một c�ch lớn rộng c�c căn bản cả về địa dư lẫn văn h�a vật liệu của x� hội xứ Điền, nhưng mối quan hệ của n� với c�c bộ lạc v� c�c quốc gia đồng thời trong thi�n ni�n kỷ thứ nhất TCN tại miền bắc Đ�ng Nam � vẫn c�n m� mờ.� Mục đ�ch của b�i viết n�y l� nhằm khảo s�t một c�ch hệ thống c�c d�y li�n hệ giữa phức hợp Điền Tr� tại tỉnh V�n Nam với phức hợp văn h�a Đ�ng Sơn tại miền bắc Việt Nam.

 

H�nh 1: Việt Nam v� c�c l�n bang.

 

BẮC VIỆT NAM

������ Ch�u Thổ s�ng Hồng tại miền bắc Việt Nam đ� từng l� đề t�i của nhiều sự suy đo�n về sự ph�t triển ch�nh trị bản địa.� C�c quan điểm truyền thống, được dựa nhiều phần tr�n c�ng t�c khảo cổ học được thực hiện trong thời thực d�n Ph�p, cho rằng Việt Nam đ� c� một tr�nh độ sơ khai về văn h�a v�o l�c n� bị s�p nhập bởi Trung Hoa trong thế kỷ thứ nhất SCN, hay cho rằng n�, trong căn bản, l� một nền văn h�a vay mượn, học tập ph�p l�m n�ng v� ph�p luyện kim từ c�c nguồn gốc b�n ngo�i.� Tuy nhi�n, c�ng t�c khảo cổ học gần đ�y hơn � ngo�i một nỗ lực c� phối hợp về ph�a c�c sử gia, c�c nh� d�n gian học, v� c�c nh� khảo cổ Việt Nam đi t�m kiếm c�c căn nguy�n ch�nh trị - văn h�a c� ni�n đại trước thời nh� H�n � đ� đưa đến một sự giải th�ch về sự ph�t triển quốc gia ban sơ li�n quan đến c�c sự khởi đầu c� t�nh chất truyền thuyết với bằng chứng cụ thể vững chắc (Phạm Huy Th�ng 1983).

������ T�c giả O�Harrow (1979: 140) lập luận rằng lịch sử d�n tộc học v� khảo cổ học phải phục vụ lẫn nhau để cung cấp một sự ph�c họa lịch sử hợp l� của x� hội Việt Nam cho tới l�c c� sự �p đặt s�u rộng đầu ti�n quyền lực của Trung Hoa l�n tr�n khu vực n�y trong thế kỷ đầu ti�n SCN.� �ng đ� đặt ra từ ngữ Proto-Vietnamese: người Việt Nam Nguy�n Mẫu để chỉ nh�m hay nhiều nh�m d�n tộc Việt tại v�ng ch�u thổ S�ng Hồng v� c�c khu l�n cận của n�, trải d�i về ph�a bắc l�n tới miền nam Quảng Đ�ng v� Quảng T�y, v� xuống ph�a nam xuy�n qua tỉnh Thanh H�a ven biển (142).� Họ l� sắc d�n c� chung nền văn h�a vật thể được minh chứng bởi Đ�ng Sơn v� c�c sự kh�m ph� li�n hệ của n� � một d�n tộc l� c�c kẻ thừa kế, trong nửa sau của thi�n ni�n kỷ thế nhất TCN, của Văn H�a Ph�ng Nguy�n đ� mới trước đ�, v� c� l�nh địa xem ra ph� hợp với quốc gia Văn Lang thời tiền văn tự [protohistorical: chỉ thời kỳ nằm giữa tiền lịch sử v� lịch sử, trong đ� một văn h�a hay một nền văn minh chưa ph�t triển ra chữ viết, nhưng c�c văn h�a kh�c đ� sẵn ghi nhận sự hiện hữu của n� trong c�c văn bản của ch�ng, theo Wikipedia, ch� của người dịch].

������ Văn H�a Ph�ng Nguy�n được chia th�nh ba thời kỳ -- Ph�ng Nguy�n, Đồng Dậu v� G� Mun � bắt đầu ngay từ 3000 năm TCN v� chấm dứt trong nửa đầu của thi�n ni�n kỷ thứ nhất TCN.� Phần nửa đầu của nền văn h�a đ� c� một kỹ thuật l�m đồ đ� tỉ mỉ, c�c đồ trang sức bằng ngọc thạch, dệt vải, v� đồ gốm chế tạo c� b�n quay được trang tr� tỉ mỉ; nhiều hoa văn trang tr� kỷ h� học r� r�ng l� tổ ti�n của c�c chủ đề của Đồng Sơn sau n�y.� V�o thi�n ni�n kỷ thứ nh� SCN, ph�p luyện đồng thiếc (bronze) đ� được ph�t triển một c�ch ho�n hảo, với c�c loại chế t�c phẩm v� kỹ thuật tương tự như vật dụng từ miền đ�ng bắc Th�i Lan (Bayard 1980: 97).

������ C�c địa điểm Ph�ng Nguy�n được ph�n rải tr�n một khu vực rộng lớn bao gồm cả c�c đồng bằng v� một phần n�i non; ch�ng tập trung dầy đặc tại v�ng giao điểm của s�ng Hồng v� S�ng Đ� ở Hạc Tr�, s�t ph�a bắc H� Nội.� Cho đến nay hơn 30 địa điểm đ� được x�c định.� C�c hạt l�a gạo v� xương của c�c con lợn, g�, v� tr�u b� c� ni�n đại từ thi�n ni�n kỷ thứ ba TCN đ� được thu hồi.� Sự kiện rằng c�c th� vật đ� c� lẽ đ� được thuần h�a được biểu thị hơn nữa bởi sự hiện diện của c�c tượng tr�u b�, ch�, lợn, v� g� bằng đất s�t nung trong sưu tập khảo cổ (Nguyễn B. K. 1980: 27-44; Ho�ng v� B�i 1980: 56-57).

������ C� lẽ điều quan trọng nhất về văn h�a Ph�ng Nguy�n l� bằng chứng n� mang lại cho c�c sự khởi đầu bản địa của nền văn minh Việt Nam.� Trước đ�y, vương quốc cổ truyền Văn Lang (2800-700 TCN) v� triều đại H�ng Vương (700-258 TCN) được nh�n l� truyền thuyết.� C�c địa điểm Ph�ng Nguy�n, tr�ng hợp với v�ng M� Linh được g�n cho vương quốc, đem lại sự hậu thuẫn của khảo cổ học cho sự hiện diện của một x� hội ti�n tiến ở khu vực rất l�u trước khi c� c�c sự tiếp x�c với Trung Hoa trong c�c thế kỷ thứ nh� v� thứ nhất TCN.� Trong khi c�c ni�n đại của c�c nh� vua c�n phải được tra vấn, tuy thế ch�ng tr�ng hợp với c�c ni�n đại được g�n cho phức hợp văn h�a.� T�c giả Nguyễn B� Kho�ch (1980: 47-49) n�u � kiến rằng rất c� thể, sự th�nh lập, ph�t triển v� chấm dứt vương quốc Văn Lang nằm đ�u đ� trong khoảng từ cuối Ph�ng Nguy�n đến Đ�ng Sơn (1100-300 TCN).

������ Theo huyền thoại nguồn gốc Việt Nam (được ghi lại trong thế kỷ thứ mười lăm), Văn Lang được cai trị bởi c�c Vua H�ng, c�c kẻ tự nhận từ d�ng d�i Lạc Long Qu�n, một anh h�ng đến c�c đồng bằng s�ng Hồng từ ngo�i biển; �ng đ� khuất phục được tất cả c�c y�u qu�i xấu xa trong v�ng đất n�y v� đ� khai h�a d�n ch�ng, dạy cho họ trồng l�a v� mặc quần �o.� Lạc Long Qu�n v� �u Cơ (vợ của một kẻ x�m nhập từ phương bắc) được xem bởi người Việt Nam như l� c�c tổ ti�n của chủng tộc của họ.� Trong một phi�n bản kh�c, người con trai cả trong 50 người con của �u Cơ đ� được chọn l�m vua nước Văn Lang.� Nước được chia th�nh 15 bộ phận, với mỗi người em của nh� vua cai quản một quận.

������ T�c giả Taylor (1983: 3), trưng dẫn một nghi�n cứu về Việt Nam, n�u � kiến rằng danh xưng H�ng ph�t sinh từ một tước hiệu v�ng �c-� chỉ giới t� trưởng (trưởng bộ lạc), trong khi Văn Lang được li�n kết về mặt ph�t �m với c�c từ ngữ tương tự c� nghĩa �d�n tộc� v�, bởi sự nới rộng, chỉ �quốc gia�.� Ch�nh v� thế, truyền thuyết c� thể kh�ng tượng trưng cho lịch sử của một triều đại hay vương quốc duy nhất cho bằng sự củng cố c�c d�ng họ hay bộ lạc th�nh c�c chế độ t� trưởng/tộc trưởng (chiefdom).� Theo t�c giả Wheatley (1983: 11), ��c�c chế độ t� trưởng biểu lộ trong c�c mức độ c� biệt của ch�ng sự l�nh đạo tập trung h�a, tương đối thường trực, v� c�c sự d�n xếp quy chế thế tập theo hệ cấp được chỉ dẫn bởi tập qu�n của giới qu� tộc�.� Bằng chứng khảo cổ học cho c�c thời kỳ Ph�ng Nguy�n qua thời Đ�ng Sơn l�m li�n tưởng đến một sự tiến h�a từ một sinh hoạt cộng đồng được x�y dựng từ c�c sự kết hợp c�c d�ng họ v� bộ tộc th�nh một x� hội c� hệ cấp hơn đặt căn bản tr�n l�ng x� tương đối nhỏ hay c�c nh�m gia đ�nh.� C�c địa điểm ch�n cất từ thời Đ�ng Sơn, c� nhiều đồ mai t�ng bằng đồng thiếc, cho thấy rằng c�c sự kh�c biệt r� rệt đ� hiện diện trong x� hội giữa tầng lớp cai trị v� người bị trị.� Ch�nh thời kỳ n�y của x� hội, ở một tr�nh độ của sự kết hợp ch�nh trị dựa tr�n c�c sự r�ng buộc địa phương n�u tr�n, v� �t nhất tr�n một số mức độ n�o đ� của hệ cấp, được c�c học giả Việt Nam x�c định l� thời khoảng của c�c vua H�ng v� vương quốc Văn Lang.

 

Đ�NG SƠN

������ Phong c�ch Đ�ng Sơn l� sự thể hiện cổ điển của ph�p luyện đồng thiếc thời tiền sử v� thời giữa tiền sử v� lịch sử (protohistoric) tại Đ�ng Nam �, v� c�c đồ vật c�ng thể điệu diễn ra tại Th�i Lan, b�n đảo M� Lai, Đ�ng Dương, v� xuy�n khắp Indonesia đi xa m�i đến mỏm ph�a t�y của đảo Irian Jaya.� Đ�ng Sơn được biết ch�nh yếu từ c�c đồ vật bằng đồng thiếc; sắt, trong khi hiện diện tại c�c địa điểm tr�n đất liền quan trọng hơn, được sử dụng ch�nh yếu cho c�c kh� cụ thực dụng v� c�c vũ kh� kh�ng c� c�c hoa văn trang tr�.� C�c chế t�c phẩm nổi tiếng nhất l� trống bằng đồng thiếc với một mặt trống tr�n c�ng bằng phẳng, v�nh trống ph�nh cong h�nh củ tỏi, th�n thẳng đứng, v� ch�n x�e rộng, được t�m thấy khắp nơi tr�n to�n thể khu vực ph�n t�n (Phạm Minh Huy�n v� c�c t�c giả kh�c 1987; Kempers 1988).� C�c họa tiết tr�n c�c trống đồng thiếc trang tr� cao độ n�y phản ảnh một x� hội hướng ra biển.� Ch�ng đ� được t�m thấy c�ng với c�c tập hợp đồ mai t�ng quan trọng v� phong ph� tại địa điểm được d�ng để đặt t�n gọi Đ�ng Sơn gần Thanh H�a, tại Việt Kh� gần Hải Ph�ng, v� cũng lại Thạch Trại Sơn (Shizhai Shan) gần Hồ Điền (Điền Tr�) tại V�n Nam.�� Trong sự trang tr�, c�c chiếc trống mang lại cả sự chuy�n nghiệp lớn lao lẫn sự khảo chứng nghi lễ v� x� hội cao độ cho một thời kỳ, mặt kh�c, ch�nh yếu thuộc v�o thời tiền sử (Bellwood 1979: 183-189).

������ C�c chế t�c phẩm đồ đồng thiếc kh�c tại Đ�ng Sơn bao gồm c�c b�nh h�nh chậu với c�c dải hoa văn mang chủ đề đặc th� Đ�ng Sơn, c�c b�nh nhỏ b� tinh xảo, c�c chu�ng nhỏ b� tinh xảo, v� c�c đồ vật h�nh cuộn chỉ (spool-shaped), c�c r�u c� ổ tra c�n, c�c r�u h�nh giầy ống cao cổ, c�c� mũi gi�o v� mũi t�n c� ổ tra c�n, c�c chiếc mai (thuổng) hay cuốc c� ổ tra c�n, c�c mũi t�n c� đu�i để tra th�n t�n (tanged arrowhead), v� c�c dao ngắn (dao găm).� C�c đồ vật bằng đồng thiếc cũng gồm v�ng đeo tay, c�c m�c v� kh�a d�y thắt lưng, v� c�c tấm h�nh vu�ng v� h�nh chữ nhật trang tr� c� thể được may đ�nh tr�n vải (Bellwood 1979: 187).� Ngo�i rạ c� c�c đĩa xoay (b�n quay) trục suốt bằng gốm, c�c cục ch� bằng đ� c� r�nh buộc d�y căng v� k�o [đĩa xoay], v� đồ gốm.� C�c th�nh phần trang tr� của truyền thống đồ gốm Đ�ng Sơn được hiện diện trực tiếp nơi truyền thống đồ gốm miền bắc Việt Nam, thuộc truyền thống in dấu bằng d�y thừng ban sơ của miền t�y nam (Pearson 1962: 37-40).

������ Địa điểm Đ�ng Sơn đ� được m� tả bởi Janse (1958) v� Goloubew (1937).� Chiều s�u của chất liệu văn h�a cho thấy rằng địa điểm đ� hiện hữu trong một thời gian l�u d�i trước khi c� sự tiếp x�c với người Trung Hoa thời nh� Tần v� nh� H�n.� Địa điểm điển h�nh, tọa lạc tại tỉnh Thanh H�a, dọc theo s�ng M�, bao gồm cả c�c nh� ở lẫn c�c nơi ch�n cất.� Phần c�n lại của c�c nh� s�n với m�i bằng tranh đ� được t�i dựng.� Tại tầng thứ nh� của địa điểm, c�c đồ vật bằng đồng thiếc được t�m thấy.� Đồ t�y t�ng th�ng thường tại Đ�ng Sơn bao gồm một �t vũ kh� bằng đồng thiếc, chẳng hạn như c�c ngọn gi�o, đầu mũi t�n, c�c chiếc r�u, cũng như c�c chiếc trống, chu�ng, ống nhổ, c�c b�nh (thường c� dạng thu nhỏ tinh xảo), v� đ�i khi một thanh kiếm hay một dao ngắn bằng sắt.� C�c tượng bằng đồng thiếc của Đ�ng Sơn, thường tạo th�nh c�c phần chu�i của c�c dao ngắn, c� t�c d�i được b�i lại ở g�y cổ, một khố che đ�t, bầu ngực tr�n trịa, v� b�n tay chống v�o b�n h�ng.� C�c chiếc trống lu�n lu�n tr�nh b�y một hoa văn h�nh ng�i sao tr�n mặt đ�nh trống v� đ�i khi [cảnh?] bị giết để tế thần [sic, phần cuối c�u c� � ngh�a kh� hiểu, ch� của người dịch].� C�c họa tiết chủ đề trang tr� th� thay đổi nhưng thường tr�nh b�y c�c h�nh vẽ đồng t�m, c�c con chim mỏ d�i, c�c nhạc sĩ, v� c�c cảnh tế lễ với sự phức tạp lớn lao.� C�c đồ vật trao đổi với Trung Hoa được t�m thấy trong số lượng nhỏ ở c�c địa tầng b�n tr�n (Pearson 1962: 29-31).� To�n bộ vật liệu từ địa điểm Đ�ng Sơn mang lại một định nghĩa kh� đầy đủ về văn h�a, v� địa điểm vẫn c�n được xem l� phong ph� nhất được b�o c�o cho thời kỳ của n� tại miền bắc Việt Nam (Bellwood 1979: 188).� Cho đến 1979, một tổng số 90 địa điểm văn h�a Đ�ng Sơn đ� được x�c định từ c�c ch�u thổ của s�ng Hồng, s�ng M� v� s�ng Cả.� Điều r� r�ng rằng c�c địa điểm văn h�a Đ�ng Sơn đ� được sử dụng để sinh sống lẫn ch�n cất v� tạo th�nh một văn h�a khả dĩ nhận thức được đ� k�o d�i hơn 2,000 năm.� Đối với người Việt Nam, Đ�ng Sơn đại diện trung t�m ph�a bắc của một phức hợp đồng thiếc/sắt ban sơ phổ biến.� Đ�ng Sơn đ� l� đỉnh điểm của văn h�a cuối đồ đồng thiếc/sắt tại ba ch�u thổ của c�c đồng bằng hạ du miền bắc.� C�c trung t�m phi Đ�ng Sơn kh�c đ� được x�c định tại miền trung v� miền nam Việt Nam, ở Sa Huỳnh v� Dốc Ch�a (Ho�ng v� B�i 1980).

������ � kiến đ� từng được n�u ra rằng nhu cầu kiểm so�t c�c d�ng nước của v�ng ch�u thổ s�ng Hồng đ� mang lại sự th�c đẩy dẫn đến một sự hợp t�c lớn hơn v� sau hết, sự th�nh lập quốc gia (Nguyễn Duy Hinh 1984: 185).� Theo t�c giả Taylor (1983: 12-13), Lạc (�ditch: h�o dẫn nước� hay �canal: kinh đ�o�) l� t�n ghi ch�p sớm nhất chỉ d�n Việt Nam, v� ch�nh v� thế sẽ th�ch đ�ng để n�i Văn H�a Đ�ng Sơn như x� hội d�n Lạc.� Sự hiện diện của việc tưới ti�u theo thủy triều ph�t lộ một kỹ thuật n�ng nghiệp tương đối ti�n tiến, lớn nhất tại khu vực T�y Vu, trung t�m đất thấp của x� hội đồng ruộng d�n Lạc.� C�c hạt của giống l�a gạo sớm nhất được t�m thấy tại � Ch�u (Oryza fatua) đ� được khai quật từ c�c văn h�a Đ� Mới xưa nhất ở mọi miền của Việt Nam ng�y nay.� Người Việt Nam cổ thời l�m việc tr�n đất đai với c�c chiếc cuốc bằng đ� m�i nhẵn; ngay từ nửa sau của thi�n ni�n kỷ thứ nh� TCN, c�c lưỡi liềm v� c�c dụng cụ gặt h�i kh�c đ� c� c�c lưỡi h�i bằng đồng thiếc; v�o thời kỳ Đ�ng Sơn, c�c chiếc cuốc, lưỡi c�y, v� c�c lưỡi h�i đều được l�m bằng đồng thiếc.� Kinh tế của thời kỳ Lạc được đặt tr�n việc trồng l�a nước, sử dụng c�c con vật k�o cầy.� C�c kỹ năng của c�c n�ng d�n th� đủ để hỗ trợ cho một tầng lớp cai trị được x�c định một c�ch r� r�ng.

������ C�c vua H�ng chỉ kiểm so�t một c�ch vững chắc tại v�ng M� Linh nơi hội tụ của s�ng Hồng v� hai phụ lưu lớn của n�, s�ng Đ� v� s�ng Chảy, tại nơi m� s�ng Hồng tho�t ra từ c�c ngọn n�i.� Ngo�i khu vực n�y, c�c vua H�ng ở một số mức độ n�o đ�, lệ thuộc v�o sự cộng t�c của c�c Lạc Tướng.� C�c vua H�ng xem ra đ� bảo vệ c�c Lạc Tướng chống lại c�c sự đột k�ch v� c�c sự x�m lăng từ v�ng n�i non, trong khi c�c Lạc Tướng ủng hộ c�c vua H�ng bằng nh�n lực v� sự gi�u c� của họ.� T�c giả Henri Maspero (1918: 9), phỏng đo�n từ c�c x� hội thượng du của miền bắc Việt Nam trong thời đại của �ng, đ� m� tả x� hội n�y như một x� hội c� hệ cấp đặt nền tảng tr�n đặc quyền thế tập, nghĩa vụ hỗ tương, v� l�ng trung th�nh c� nh�n.� D�n ch�ng đ� sinh sống tại c�c l�ng x� hay c�c cộng đồng th�n th�ch nhỏ b� dưới sự cai trị của c�c Lạc Tướng.� C�c Lạc Tướng thụ hưởng c�c mức độ kh�c nhau về đặc quyền v� thẩm quyền, từ c�c kẻ đứng đầu l�ng x� cho đến c�c nh� l�nh đạo cấp miền b�o c�o trực tiếp với c�c vua H�ng.� C�c vua H�ng đ� duy tr� mang lại uy t�n của họ với một đời sống cung đ�nh thịnh vượng, tạo thuận lợi cho c�c quan hệ h�a b�nh với c�c d�n tộc miền n�i l�n cận.� C�c truyền thống theo truyền thuyết v� c�c ng�i mộ Đ�ng Sơn được khai quật c� khuynh hướng x�c nhận bức tranh n�y về x� hội d�n Lạc.� X� hội d�n Lạc tương đối ti�n tiến v� r� r�ng tự kiềm tỏa.� N� đ� ph�t triển c�ch xa c�c trung t�m ch�nh trị b�nh trướng của Trung Hoa phương bắc v� Ấn Độ phương nam v� ngang ngửa với bất kỳ sự đe dọa n�o ph�t sinh từ c�c l�nh thổ chung quanh.� T�nh trạng n�y đ� bắt đầu s�ng tỏ với sự đến nơi của quyền lực của Trung Hoa tr�n Biển Nam Trung Hoa hồi thế kỷ thứ tư TCN.� Phần lớn c�c học giả đ� nhấn mạnh đến vị thế quan trọng của c�c phụ nữ trong x� hội Lạc (Maspero 1918: 12; Taylor 1983: 13; O�Harrow 1979: 159).� Trong mọi giả thiết, một hệ thống song phương hay lưỡng hệ đ� hiện hữu, trong đ� c�c quyền thừa kế c� thể được chuyển giao qua cả ph�a cha lẫn ph�a mẹ.� Điều n�y sẽ c� c�c h�m � đ�ng kể cho sự kiểm so�t ch�nh trị sau n�y của Trung Hoa (th� dụ, cuộc khởi nghĩa của hai B� Trưng trong năm 40 SCN).� Trong năm 257 TCN, An Dương Vương đ� thay ng�i vua H�ng cuối c�ng, v� vương quốc Văn Lang ngưng hiện hữu.� Sử k� Việt Nam truyền thống kể lại rằng An Dương Vương đến từ Pa Shu (Ba Thục) (thường được nghĩ tại tỉnh Tứ Xuy�n ng�y nay).� Vương quốc �u Lạc kế ng�i tượng trưng cho một sự hỗn hợp của c�c vị tướng d�n �u (Ou) (bi�n giới) với c�c Lạc Tướng cư d�n v� l�m li�n tưởng đến sự kết hợp người Việt Nam thuộc v�ng thượng du với c�c người ở c�c đồng bằng.� �u Lạc tượng trưng cho một sự chuyển đổi, cả về mặt địa dư lẫn ch�nh trị.� C�c tổng h�nh dinh mới đ� được chuyển từ v�ng trung du đến T�y Vu, khu vực truyền thống của sức mạnh d�n Lạc.� An Dương Vương được nghĩ theo truyền thống l� kẻ đ� x�y dựng th�nh Cổ Loa, l� nơi m� �ng đ� cai trị cho đến khi thất trận trước tay Triệu Đ�, nh� l�nh đạo vương quốc Nam Việt.� Th�nh Cổ Loa được x�y dựng để phản ảnh một x� hội cam kết bảo vệ cả đất liền lẫn biển cả, v� c� năng lực của một cơ sở kinh tế để ủng hộ cho c�c c�ng việc như thế.� C�c k�ch thước của n� th� g�y nhiều ấn tượng � chu vi v�ng ngo�i c�ng của ba th�nh lũy d�i khoảng 8 c�y số.� Phức hợp bao gồm ch�n lũy bằng đất c� tường x�y theo h�nh vỏ ốc, chứa chấp một doanh trại qu�n đội, một chợ trung t�m, v� một số loại kiến tr�c h�nh ch�nh � t�n gi�o bằng gạch v� ng�i nung.� Được ki�n cố bởi c�c vọng g�c v� c�c c�ng sự ph�ng thủ, c�c bức tường vươn cao từ 3-4 m�t v� được bổ t�c bởi c�c mương r�nh như đường h�o s�u rộng dẫn đến s�ng Hồng, r� r�ng c� � định tạo thuận lợi cho sự phối hợp c�c sự ph�ng thủ đất liền v� hải phận.� Sự sử dụng gạch v� ng�i nung l� trong sự x�y dựng t�a th�nh, cũng như c�c sự kh�m ph� đ�ng kể c�c vũ kh� bằng kim loại tại khu vực chung quanh, chỉ c�ng l�m tăng th�m ấn tượng m� người ta c� được về một d�n tộc kh�c biệt với những người m� người Trung Hoa m� tả một c�ch khinh thị trong c�c sự tiếp x�c của họ (O�Harrow 1979: rải r�c).� Cổ Loa tượng trưng cho một đơn vị ch�nh trị v� x� hội được tổ chức chặt chẽ, cam kết v� c� khả năng ph�ng vệ c�c quyền lợi của n�.� Sự hiện diện của th�nh lũy đ�ng nể ở Cổ Loa đ� dẫn dắt O�Harrow (1986: 256-257) đến việc ức đo�n vượt qu� c�c kh�i niệm được đề xuất về sự thống nhất v� li�n minh chinh trị đến một số h�nh thức của ng�n ngữ chung cho sự truyền th�ng khắp v�ng trong thời tiền-Trung Hoa.

Bằng chứng từ c�c ch�u thổ s�ng Hồng v� s�ng M� tại miền bắc Việt Nam, khi đ�, thật r� rệt.� C�c sự duyệt x�t hiện nay về khảo cổ học Việt Nam (Davidson 1975; Nguyễn Ph�c Long 1975; H� 1980) x�c nhận c�c bộ lạc hay c�c quốc gia nguy�n mẫu thời tiền H�n trong khoảng giữa của thi�n ni�n kỷ thứ nhất TCN.� Thời Đ�ng Sơn cho thấy sự khởi đầu của sự tập trung h�a ch�nh trị v� sự thiết lập vương quốc Văn Lang cổ truyền, trước đ�y bị xem l� truyền thuyết.� Từ năm 500 TCN trở đi, x� hội Văn Lang biểu lộ một tổ chức hệ cấp nhiều hơn, được ph� b�y bởi c�c ng�i mộ c� nh�n với c�c mức độ gi�u c� kh�c nhau.� Nghệ thuật v� kỹ thuật đồ đồng thiếc đ� vươn tới đỉnh điểm (c�c trồng đồng); sắt v� sơn m�i đ� xuất hiện kế tiếp, minh chứng cho c�c cơ xưởng ng�nh nghề chuy�n m�n h�a.� Đ�ng Sơn bản th�n đ� l� một th�nh phố hải cảng t�ch cực tr�n s�ng M� với c�c sự tiếp x�c khắp v�ng Đ�ng Nam �.� C�c c�ng tr�nh tưới ti�u đại quy m� xảy ra tại ch�u thổ s�ng Hồng trong thời kỳ n�y c�ng với c�c sự tiến bộ kỹ thuật n�ng nghiệp đi k�m về đồ đồng thiếc v� đồ sắt.� Sự x�y dựng th�nh Cổ Loa (khoảng 225 TCN) x�c nhận sự tinh vi về kinh tế, x� hội, ch�nh trị v� ng�n ngữ cần thiết cho sự th�nh lập quốc gia.� Davidson (1979: 306) kết luận rằng v�o năm 208 TCN, thị trấn n�y như một kh�ng gian ch�nh trị, x� hội, v� kinh tế đ� được thiết lập ho�n hảo tại ch�u thổ s�ng Hồng, gi�p cho cả c�c cư d�n th�nh thị (tầng lớp kh�ng sản xuất) lẫn c�c n�ng d�n đạt được một mối quan hệ cộng sinh.� Ngay cả v�o khoảng giữa thế kỷ thứ nh� TCN, khi b� quyền Nam Việt tr�n danh nghĩa đ� được thiết lập tr�n c�c phần đất của người Việt Nam, điều nhấn mạnh cần phải được n�u ra về bản chất quy m� nhỏ của c�c hoạt động n�y trong mọi giai đoạn của n� (như c�c nh� mậu dịch với �t cư d�n gốc Trung Hoa).� Chưa c� c�c di t�ch khảo cổ được ph�t hiện để hậu thuẫn cho bất kỳ sự giả định về sự chiếm đ�ng hay kinh doanh kiểu Trung Hoa đại quy m� tại miền bắc Việt Nam trong suốt thời kỳ n�y.� C�c đồ vật được t�m thấy tại c�c ng�i mộ ở Đ�ng Sơn l�m li�n tưởng đến một mức độ n�o đ� của sự mậu dịch với phương bắc, nhưng phần lớn đồ vật l� của nh� chế tạo địa phương, được l�m bằng vật liệu địa phương v� trong c�ch diễn đạt địa phương.� C�c Lạc Tướng tiếp tục cai trị trong một cung c�ch �t nhiều kh�ng bị ngăn trở v�o l�c n�y.� Ch�ng ta chứng kiến sự tiến h�a chậm chạp của mối quan hệ từ một loại c�c loạt mậu dịch thuần t�y th�nh một loại kiểu triều cống.� Năm 111 TCN v� sự sụp đổ của vương quốc Nam Việt thường được nh�n như thời điểm m� Việt Nam được kết hợp một c�ch lỏng lẻo v�o đế quốc H�n-Hoa th�nh c�c quận Giao Chỉ (ch�u thổ s�ng Hồng), Cửu Ch�n (Thanh H�a), v� Nhật Nam (Huế).� Phải đợi m�i đến năm 43 SCN, với sự thất trận của hai b� Trưng v� li�n minh 65 th�nh, sự kiểm so�t h�nh ch�nh v� qu�n sự thực sự của nh� H�n mới được thiết Lập

.

MIỀN T�Y NAM V�N NAM V�

VĂN MINH XỨ ĐIỀN [VIỆT]

������ Khoảng 50 ng�i mộ đ� được kh�m ph� giữa c�c năm 1955 v� 1960 tại Shizhai Shan: Thạch Trại Sơn, dọc theo ngoại vi ph�a đ�ng của Điền Tr� (Lake Tien) thuộc tỉnh V�n Nam.� Được biết l� vương quốc Điền trong thời T�y H�n (206 TCN � 9 SCN), nền văn minh n�y được ph� b�y đ� sở đắc một văn h�a Thời Đồ Đồng Thiếc cho đến nay ho�n to�n kh�ng được hay biết đối với c�c nh� khảo cổ học v� c�c sử gia về Trung Hoa thuộc người H�n.� Kể từ 1955, c�c sự khai quật kh�c tại V�n Nam đ� trợ lực v�o việc ho�n tất v� chứng thực c�c sự kh�m ph� phong ph� n�y.� Một ng�i mộ cổ Thời Đồ Đồng Thiếc trước thời c�c ng�i mộ Thạch Trai Sơn, được khai quật tại l�ng Dapona, đ�ng nam Đại L�, trong năm 1964.� Trong v�ng b�n k�nh 40 c�y số của Tấn Ninh (Jinning), hai địa điểm kh�c thuộc c�ng thời kỳ, cũng li�n hệ đến vương quốc Điền [Việt], đ� được kh�m ph�: Taiji Shan trong năm 1964 (17 ng�i mộ) v� Lijia Shan (L� Gia Sơn) trong năm 1972 (27 ng�i mộ).� Trong c�ng v�ng n�y, 117 ng�i mộ kh�c từ Shibei Cun đ� được khai quật cuối thập ni�n 1970 v� đầu thập ni�n 1980 (Dewall 1984: 215).� X�t đến bằng chứng nguy�n bản tương đối sơ s�i của c�c sử gia người H�n đương đại, c�c ng�i mộ được kh�m ph� quanh Điền Tr� tạo th�nh một nguồn th�ng tin đặc biệt qu� b�u.� Văn minh xứ Điền, theo c�c sự kh�m ph� khảo cổ học, c�c nguồn sử liệu, v� một số sự so s�nh d�n tộc học, được đặc trưng bởi một nh�m cụ thể c�c sản phẩm vật chất v� c�c đặc t�nh văn h�a.� C�c điều n�y bao gồm tầm quan trọng của th� nu�i (ngựa, v� tr�u b�), h�nh thức v� sự trang tr� nơi ở, y phục, c�c tập qu�n chiến tranh, một số di t�ch của �quyền hạn người mẹ�, tục săn bắt v� chặt đầu người, một số d�ng con người để l�m vật tế lễ, sự sử dụng trống đồng, một thị hiếu qu� tộc về đồ trang sức, v� một danh mục to�n thể th� vật vừa cho t�nh chất biểu tượng lẫn trang tr�, cũng như một cảm nhận về c�c sự kết hợp đặc biệt c�c mẫu trang tr� theo kỷ h� học (Pirazzoli- T Serstevens 1979: 125).

Bản th�n Thạch Trại Sơn c�ch Tấn Ninh 19 dặm Anh về ph�a nam tại V�n Nam.� Địa điểm c� thể đ� từng c� thời l� một h�n đảo của Điền Tr�.� Một số dấu in hạt ngũ cốc được t�m thấy tr�n c�c mảnh s�nh c�ng thời, nhưng cho thời kỳ n�y c�c di t�ch bao gồm gần như chỉ c� c�c đồ vật t�y t�ng (Pearson 1962: 27-29).� 20 ng�i mộ gi�u c� nhất của Shizhai Shan c� thể l� c�c ng�i mộ của vua xứ Điền v� d�ng họ �ng ta.� C�c phong tục mai t�ng, c�ng với thể c�ch v� kỹ thuật của c�c vật t�m thấy tại c�c ng�i mộ n�y, cho thấy một sự tiến h�a ngắn theo ni�n lịch, x�c định ni�n đại nghĩa trang ho�ng gia n�y cho thời nh� T�y H�n, giữa c�c năm 150-120 TCN v� 86 TCN, năm của đợt đầu ti�n trong chuỗi c�c sự phản kh�ng v� c�c sự đ�n �p nặng nề theo sau sự thực d�n h�a khởi đầu của Trung Hoa.� Trong số c�c đồ vật ngoạn mục được kh�m ph� ở đ�y gồm một triện c� khắc dấu của vương quốc Điền [Việt].� Tại� Thạch Trại Sơn, 706 dụng cụ đ� được b�o c�o � 558 đồ đồng thiếc, 92 đồ sắt, 43 đồ đ�, v� 13 đồ bằng đất s�t (c�c đĩa xoay con suốt), kể cả 21 c�i c�y.� C�c dụng cụ bằng đồng thiếc bao gồm c�y, cuốc, cưa, r�u, đục, liềm, v� dao.� Một số lượng kh� lớn c�c r�u lưỡi v�m, r�u, dao � c�c vật dụng thực dụng � bằng sắt cho thấy một tr�nh độ trong sự ph�t triển kỹ thuật bản xứ.� Bản kiểm k� đồ kim loại cũng bao gồm: hai loại k�ch, năm loại gi�o, c�c thanh kiếm hai cạnh lưỡi, c�c r�u h�nh quạt, c�c r�u c� lưỡi h�nh trăng lưỡi liềm, cuốc đất, c�c mũi t�n, ổ kh�a thắt lưng mạ kim loại, c�c chiếc gương, c�c đồ trang tr� h�nh chim bằng đồng thiếc c� khảm vỏ x� cừ v� r�a, xẻng, cung bắn t�n, v� c�c bộ chu�ng (Chang 1977: 458-463; Dewall 1979; Pearson 1962: 27-29).

C�c đồ đồng thiếc, bao gồm cả c�c kiểu mẫu v� c�c trống, đ� kh�ng chỉ biểu lộ nghệ thuật tinh tế v� kỹ năng kỹ thuật m� c�n l� một nguồn quan trọng cho sự t�i dựng x� hội xứ Điền Thời Đồ Đồng Thiếc.� Th� dụ, một chiếc trống bằng đồng, c� h�nh 41 nh�n vật đứng theo v�ng tr�n tr�n mặt trống.� Một chiếc trống kh�c tr�nh b�y việc một t� trưởng l�n ng�i, v� một chiếc trống kh�c nữa tr�nh b�y một gi�o ph�i bao gồm cả cảnh giết người để tế lễ, v� một chiếc cột, với c�c con rắn quanh đỉnh cột v� một con hổ tr�n đỉnh cột.� Sự trang tr� được chạm khắc ở th�n trống cho thấy c�c tu sĩ, c�c th�y tế lễ, v� c�c th�y ph�p đội n�n h�nh ch�p cao, rung chu�ng v� nhảy m�a (Pearson 1962: 28).� Một trống thu nhỏ với tượng th� vật tr�n mặt trống đ� mang dấu vết về tới Đ�ng Sơn.�

Sử dụng c�c biểu tượng ẩn dụ v� tạo h�nh n�y c�ng với c�c t�i liệu về khảo cổ học v� lịch sử chủng tộc, ch�ng ta c� thể kết luận rằng d�n ch�ng xứ Điền trong giai đoạn cuối c�ng thực h�nh n�ng nghiệp dẫn nước tưới ti�u.� Tr�u b�, cừu, ch�, ngựa, g� v� lợn (heo) được biểu hiệu trong nghệ thuất trang tr� v� tạo h�nh v� v� thế hẳn phải đ�ng giữ một vai tr� trong nền kinh tế.� C�c con ngựa được d�ng để cưỡi v� cho chiến tranh; tr�u b� c� thể được sử dụng l�m chất thịt tế lễ.� C�c con ch� c� lẽ được d�ng trong việc săn bắn v� như một nguồn thực phẩm.� Đồ thủ c�ng của văn h�a Điền chắc chắn gồm c� sản phẩm b�nh đựng rượu, bằng đồng v� sắt đ� luyện, sản phẩm bằng đ� mắt m�o (opal), v� đồ bằng da th�.� Khung dệt nằm ngang được mi�u tả, như thế việc dệt vải đ� được biết đến, với gai trồng được l� nguồn vật liệu để dệt.� Ngo�i ra, một bộ c�c đồ gia dụng h�ng ng�y tinh xảo được mi�u tả (Chang 1977: 458-463).�

H�ng trăm ngh�n vỏ ốc tiền được t�m thấy trong c�c b�nh đựng h�nh trống tại một số mộ, cho thấy một hoạt động mậu dịch v� hối đo�i c� lợi nhuận v� phổ biến.� Cảnh chợ cũng thường được mi�u tả trong nghệ thuật tạo h�nh của xứ Điền.� Một số tiền đồng, gương soi, đồ sơn m�i, c�c chiếc k�ch kiểu ko [ko halberds, kh�ng r� nghĩa, ch� của người dịch], c�c mũi t�n, v� c�c chiếc k�ch kiểu chi (chi halberts) được nhập cảng từ miền bắc Trung Hoa.� C�c nh� ở dựng tr�n cột chống, được biểu lộ trong c�c mẫu tạo h�nh, l� c�c chỗ nơi cư tr� lợp m�i tranh, c� hai tầng, tầng tr�n d�nh cho người, tầng dưới d�nh cho c�c s�c vật (Chang 1977: 458-463).

Một x� hội ph�n chia giai tầng x� hội nhiều phần hiện hữu, với ba giai cấp kh�c nhau dựa tr�n kiểu để t�c v� y phục: giới qu� tộc v� c�c người gi�u c�, giới người d�n tự do v� c�c n� lệ.� Một số lượng lớn c�c vũ kh�, ngựa v� thiết bị cho xe ngựa bằng đồng thiếc, v� sự vẽ lại c�c cảnh bạo động (kể cả một số h�nh ảnh tra tấn) trong nghệ thuật tạo h�nh đều cho thấy sự hiện diện của chiến tranh tr�n một v�i quy m�. C�c xa x� phẩm bao gồm đồ trang sức bằng v�ng, bạc, ngọc thạch, đ� mắt m�o, ngọc lam, v� đồ sơn m�i.� C�c cảnh nghi lễ, nhiều phần trong đ� chưa được hiểu biết ho�n to�n, được tr�nh b�y trong c�c m� h�nh tạo h�nh bằng đồng thiếc hay tr�n c�c trồng đồng.� Nhảy m�a c� lẽ l� một phần của c�c nghi lễ n�y.� C�c nhạc cụ bao gồm c�c trống h�nh c�i b�t (kettledrums) bằng đồng thiếc, s�nh (shen panpipes), s�o, v� d�n 16 chu�ng sắp th�nh 2 h�ng tr�n dưới �(pien bells) (Chang 1977: 458-463).

� Ch�ng ta kh�ng hay biết về nguồn gốc hay giai đoạn tiền trưởng th�nh của nền văn h�a n�y hiện nay.� Một cuộc nghi�n cứu về nghệ thuật của n� (Bunker 1972; Dewall 1972) cho thấy c�c th�nh tố vay mượn từ Trung Hoa thời nh� Chu v� từ loại th� vật của c�c thảo nguy�n.� Nhưng tại Thạch Trại Sơn, c�c th�nh tố n�y xem ra bị đồng h�a một c�ch tuyệt hảo v� bị kết hợp một c�ch tự do, điều dẫn đến giả định rằng một v�i ph�n cảnh trước đ� vẫn c�n chờ được kh�m ph�.� Trong c�ng cung c�ch n�y, th�nh phần ch�ng tộc của d�n số gồm c�c n�ng d�n � chăn nu�i kh�ng được hay biết.� Ảnh hưởng từ c�c thảo nguy�n (tức h�nh thức v� sự trang tr� của một số vũ kh�, c�c sự tr�nh b�y về c�c trận đ�nh của th� vật, c�c sự li�n kết kỷ h� học), tầm quan trọng của việc chăn nu�i s�c vật, v� li�n hệ họ h�ng gần gũi của c�c bộ lạc lưu động, tất cả n�u l�n vấn đề về một nguồn gốc du mục đối với �t nhất một phần trong d�n số xứ Điền.� Ngo�i ra, sự phổ biến ch�nh x�c văn minh xứ Điền vẫn c�n kh� để ấn định giới hạn với sự chuẩn đ�ch.� Từ quan điểm khảo cổ học, l�nh địa văn h�a của xứ Điền cho đến nay kh�ng thể được x�c định vượt qu� địa phương Thạch Trại Sơn v� c�c địa điểm li�n hệ chặt chẽ kh�c.� Giai đoạn Đ� Mới trước đ� tại khu vực, với kh� nhiều địa điểm quanh hồ Điền Tr�, cho thấy một khu�n mẫu văn h�a kh� đồng nhất, được biểu trưng bởi c�c tầng vỏ ốc phế thải nằm lẫn lộn với c�c mảnh gốm vỡ, ch�nh yếu của một m�n đồ gốm m�u đỏ chưa được nung tới đủ độ cứng, v� bởi một loại r�u bằng đ� kiểu thảo nguy�n kh�ng được t�m thấy ở nơi n�o kh�c của V�n Nam.� Rất nhiều phần rằng ch�nh m�i trường sinh th�i thuận lợi � hồ nước v� đất khả dĩ canh t�c quanh hồ -- biện minh cho sự kh�c biệt của văn h�a Đ� Mới địa phương n�y khi so s�nh với c�c văn h�a kh�c xa hơn về ph�a t�y (Dewall 1967: 8-9).

Trong khi c�c d�y li�n kết trực tiếp giữa c�c giai đoạn li�n tiếp nhau bị mất t�ch trong v�ng, c�c khu vực kh�c tại V�n Nam mang lại bằng chứng giải th�ch l�m li�n tưởng đến sự chuyển tiếp từ Thời Đ� Mới sang Thời Đồ Đồng Thiếc như một tiến tr�nh giao thoa địa phương hơn l� một sự thay đổi bị ảnh hưởng bởi sự du nhập to�n bộ.� C�c địa điểm thời Đồng Thau [Chalcolithic, hay Cooper Age, một giai đoạn nằm trong Thời Đồng Thiếc (Bronze Age), trước khi kh�m ph� ra việc pha thiếc v�o đồng thau (copper) l�m cho đồng cứng hơn (Bronze, tức đồng thiếc, ch� của người dịch) của Haimen Kou v� của Ma Lung trong v�ng Đại L�, c�c sự kh�m ph� đồ đồng thiếc tản mạn giữa c�c lớp thời Đ� Mới tại Ma Chang, v� c�c sự kh�m ph� đồ đồng thau m�u đỏ trong khung cảnh đồ đồng thiếc của Dapona xem ra đại diện cho c�c giai đoạn kh�c nhau trong tiến tr�nh n�y (Dewall 1967: 10).� Mối quan hệ của c�c đồ đồng mới được kh�m ph� hồi gần đ�y, nhưng chưa được b�o c�o đầy đủ, tại tỉnh Tứ Xuy�n l�n cận kh�ng được hay biết.� Hiện tại, ch�ng ta thiếu một khu�n khổ tổng qu�t cho việc định tuổi c�c sự kh�m ph� n�y tr�n bất kỳ căn bản n�o kh�c ngo�i sự suy luận được r�t ra từ c�c đặc t�nh vật liệu v� thể loại, vốn đ�i hỏi sự cẩn trọng tối đa.

Với c�c sự kh�m ph� của Thạch Trại Sơn, ch�ng ta đứng tr�n một nền tảng vững chắc hơn về phương diện ni�n lịch.� C�c sự kiện được tường thuật về vương quốc bản địa của xứ Điền bởi c�c nh� ch�p sử nh� H�n ho�n to�n ph� hợp với c�c kết quả khảo cổ học � n�ng nghiệp như l� căn bản của kế sinh nhai v� c�c sự định cư vĩnh viễn, như được gợi � bởi c�c sự kh�m ph� ra c�c lưỡi c�y, cuốc, v� c�c dụng cụ n�ng nghiệp tương tự v� bởi c�c m� h�nh c�c ng�i nh� được dựng tr�n c�c cột gỗ v� của k�ch thước chứa chấp một gia đ�nh; v� c�c t� trưởng địa phương triều cống l�n vương quốc Điền [Việt].� Sự cực kỳ phong ph� của một số đồ đạc trong ng�i mộ ở Shizhai Shan c� lẽ tượng trưng cho c�c th�nh vi�n của một tầng lớp thượng lưu, c�c th�n th�ch trong d�ng họ v� c�c nghị thần li�n hệ trực tiếp với triều đ�nh ho�ng gia.

������ C�c sự ch�n cất sau n�y ở đ�y v� ở Taiji Shan th� khi�m tốn hơn v� cho thấy một vị thế x� hội kh�c biệt d�nh cho giới qu� tộc chiến sĩ, được x�c định bởi vị thế v� sự li�n hệ của c�c đồ t�y t�ng (Dewall 1967: 14-19).� C�c trong ng�i mộ n�y, c�c dụng cụ n�ng nghiệp điển h�nh kh�ng c� mặt, như l� c�c loại li�n hệ một c�ch qu� r� r�ng với vị thế kinh tế nhiều thế lực của những kẻ được ch�n cất tại c�c ng�i mộ lớn hơn (t� dụ, c�c b�nh, lọ chum, vại đựng tiền vỏ ốc c� h�nh trống đồng hay c�c chậu (b�nh �) bằng đồng thiếc tương tự).� C�ng với c�c đồ đồng được trang tr� một c�ch kh�o l�o hơn v� c�c h�nh tượng xinh đẹp được đi�u khắc khắp c�c mặt, c�c vật n�y chỉ được t�m thấy trong c�c ng�i mộ lớn hơn, gi�u c�.� Từ sự chứng nhận khảo cổ học, cũng kh�ng c� thể nghi ngờ rằng bất kỳ đồ vật trao đổi với nh� H�n thực sự được gạn lọc xuy�n qua tầng lớp cao hơn của giới qu� tộc l� c�c kẻ xem ra hăng h�i để bảo tồn c�c độc quyền tư thế v� mậu dịch của họ (Dewall 1967: 19-20).

 

THẢO LUẬN

������ Mối quan hệ giữa c�c nền văn h�a s�ng Hồng v� Điền Tr� chưa được điều nghi�n một c�ch c� hệ thống.� C�c luận điểm tổng hợp sớm nhất về lịch sử văn h�a Đ�ng Nam � r�t ra nguồn gốc của phong c�ch Đ�ng Sơn l� từ �c�c sự di d�n Pontic [v�ng Hắc Hải: Black Sea, ch� của người dịch]� thuộc Đ�ng �u Ch�u (Heine Geldern 1937) hay từ văn minh nh� Chu đặt cơ sở ở trung lưu s�ng Dương Tử (Karlgren 1942).� Tương tự, Watson (1970) n�u � kiến rằng V�n Nam thực ra l� trung t�m của sự ph�t triển thể c�ch Đ�ng Sơn, nơi m� từ đ� c�c trống đồng, c�c r�u c� h�nh dạng b�n ch�n (pediform axes), v� c�c dao ngắn được xuất cảng đến phần c�n lại của Đ�ng Nam �.� Bởi� v� c�c ng�i mộ Thạch Trại Sơn xuất hiện sau ni�n đại c� sự chinh phục của Trung Hoa năm 109 TCN, Watson cảm thấy rằng Đ�ng Sơn v� thế nhiều phần kh�ng xưa hơn 100 năm TCN.� Quan điểm n�y kh�ng được hậu thuẫn bởi c�ng t�c khảo cổ v� c�c ni�n đại theo x�t nghiệm chất carbon sau n�y từ D�ng Nam � v� Việt Nam (Bellwood 1979: 189).

������ T�c giả Pearson nh�n nhận sự hợp nhất trong bản chất của văn h�a vật liệu của Thạch Trại Sơn v� Đ�ng Sơn, đặc biệt trong c�c trống đồng v� c�c vũ kh�.� Ngo�i ra sự bổ t�c trọn vẹn c�c chế t�c phẩm Đ�ng Sơn chỉ hiện diện tại miền bắc Đ�ng Dương v� miền t�y nam Trung Hoa.� C�c trống đồng, cuốc, dao ngắn, r�u, v�ng tay (xuyến), v� nhẫn bằng đ� l� c�c sản phẩm duy nhất được phổ biến đến c�c khu vực rộng lớn hơn của Đ�ng Nam �.� Tuy nhi�n, �ng nhận x�t rằng khu vực được giả định bởi nhiều người thuộc v�o v�ng Đ�ng Sơn cho thấy �kh�ng c� sự đồng nhất về văn h�a� (44).� Đ�ng hơn �ng nhận thấy một khu vực hạt nh�n của c�c truyền thống l�u d�i, c� hiệu năng với một khu vực bao quanh rộng lớn.� Đ�ng Sơn chủ yếu l� một trung t�m mậu dịch v� tế lễ tại tr�i tim của một x� hội, một bộ tộc hay một tiền quốc gia hay quốc gia nguy�n mẫu (protostate) ph�n chia đẳng cấp.� Điều n�y ph� hợp với � tưởng của Janse (1958) về Đ�ng Sơn như giai đoạn đầu ti�n của sự th�nh lập một Việt Nam hợp nhất văn h�a.

������ Trong sự tr�nh b�y v� ph�n t�ch của �ng, Pearson đ� nh�n nhận rằng �t nhất tại trung t�m của n�, Đ�ng Sơn l� một x� hội ph�n cấp thực sự.� C�c mộ ch�n cất ở cả Đ�ng Sơn lẫn Thạch Trại Sơn cho thấy một nh�m người hiển nhi�n đ� kiểm so�t khối của cải lớn lao, hoặc dưới h�nh thức tiền bằng vỏ ốc hay c�c vũ kh� v� c�c chậu (vại, b�nh, thạp) bằng đồng thiếc.� Vị thế của vị nữ tế hay nh� cai trị kh�ng c� t�nh chất độc đ�o của c�c x� hội n�y; c�c c� nh�n kh�c, tr�n căn bản c�c phẩm chất kh�c hơn sức mạnh thể lực v� sự sở đắc ph�p thuật, c� khả năng tự thể hiện kh�c biệt với c�c n�ng d�n (Pearson 1962: 46).

������ C�c người sử dụng c�c dụng cụ Đ�ng Sơn tại c�c v�ng nội địa l� c�c nh�m b�nh đẳng hay c�c x� hội ph�n chia cấp bậc (rank society) [theo sự gần gụi trong quan hệ th�n th�ch với tộc trưởng, ch� của người dịch], c�c kẻ thụ đắc c�c sản phẩm kể cả c�c đồ đồng thiếc qua ngả mậu dịch trong bối cảnh của uy t�n hay c�c nền kinh tế t�i ph�n phối của họ.� Sự chấp nhận việc tưới ti�u tại V�n Nam v� cơ cấu li�n x� (l�ng) lỏng lẻo sẽ l�m li�n tưởng rằng c�c d�ng tộc mạnh mẽ hoạt động tại đ�.� C�c d�ng tộc n�y c� c�c người đủ gi�u c� để c� khả năng mua sắm c�c trống đồng.� Tuy nhi�n, trong cộng đồng Đ�ng Sơn, to�n thể khối t�i sản kết tập qua sự thừa kế đ� nắm quyền kiểm so�t sự gi�u c� (Pearson 1962: 46).� Pearson đ� tin tưởng rằng tiền bằng vỏ ốc đ� được sử dụng trong c�c sự giao dịch giới hạn � rằng Đ�ng Sơn, xuy�n qua sự k�ch th�ch của quốc gia nh� Chu tại v�ng trung lưu s�ng Dương Tử ở miền đ�ng nam Trung Hoa, chỉ hướng một c�ch rất chậm chạp đến sự hội nhập được mang lại bởi một nền kinh tế thị trường.

������ Dewall (1967: 17-20) lập lại c�c kh�i niệm n�y trong cuộc thảo luận của b� về h�ng h�a trao đổi với nh� H�n xuy�n qua c�c h�ng ngũ cao cấp hơn của giới qu� tộc Thạch Trại Sơn như l� một cơ chế để bảo tồn c�c độc quyền về vị thế v� mậu dịch.� Nhưng sự x�m nhập thương mại từ c�c trung t�m mậu dịch v� văn h�a Trung Hoa kh�ng phải l� t�c động duy nhất từ b�n ngo�i được hấp thụ bởi giới tinh hoa địa phương, đ� kh�ng ảnh hưởng đến tầng lớp thấp hơn.� Tại c�c ng�i mộ tr�ng lệ của Thạch Trại Sơn, với c�c đường n�t ngoại quốc nổi bật, trong cả c�c kỹ thuật luyện kim lẫn c�c phong c�ch nghệ thuật, cũng n�i l�n c�c sự trao đổi với l�nh địa của phong c�ch s�c vật du mục tại miền t�y bắc v� với văn minh Đ�ng Sơn tại ph�a đ�ng nam.

������ Trong một sự ph�n t�ch lịch sử nghệ thuật v� so s�nh hai nền văn h�a, Bunker (1972: 319-321) truy t�m r�u h�nh b�n ch�n đặc trưng � vật dụng c� nhiều th� dụ được t�m thấy tại V�n Nam v� Đ�ng Dương � về tới khu vực văn h�a Đ�ng Sơn của Việt Nam.� B� c�n x�c định ni�n đại tập hợp chế t�c phẩm của Thạch Trại Sơn cho thời T�y H�n tr�n căn bản c�c tiền đồng, triện ấn, v� c�c tấm gương thu hồi được trong khung cảnh khảo cổ từ cuối thế kỷ thứ nh� TCN cho đến phần tư cuối c�ng của thế kỷ đầu ti�n TCN.

������ T�c giả Chang (1977: 466-467) đ� viết rằng tầm quan trọng của Thạch Trại Sơn (v� c�c địa điểm Taiji Shan v� Lijia Shan (L� Gia Son) gần đ�) kh� c� thể bị uớc lượng th�i qu�.� Sự gần cận với địa điểm kinh điển của Đ�ng Sơn cạnh Vịnh Bắc Việt v� nhiều sự tương đồng về thể loại� m� ba địa điểm n�y c�ng chia sẻ, c� thể chỉ cho thấy ch�ng đại diện c�ng một nền văn h�a, được đặc trưng bởi c�c th�nh phần c� c�ng phong c�ch: c�c trống định �m h�nh c�i b�t (kettledrums) bằng đồng thiếc, c�c r�u bằng đồng h�nh chiếc giầy v� h�nh quạt, nghệ thuật đồ đồng tạo h�nh như một vật bổ t�c trang tr� cho c�c đồ tế lễ, c�c chế t�c phẩm của giới c� uy t�n cao, v� c�c h�nh thức vũ kh� giống nhau; tr�u b� v� chim mỏ cong như sừng s�c vật (hornbills) như c�c chủ đề trang tr� được ưa chuộng với c�c h�m � tế lễ; v� một số chủ đề trang tr� ri�ng biệt kh�c n�o đ�, chẳng hạn như c�c v�ng tr�n đồng t�m nối liền nhau, đường xoắn ốc, c�c hoa văn h�nh r�u con mối (moth antenna) v� c�c khu�n mẫu h�nh chữ S.� Về mặt x� hội v� kinh tế, �ng đ� kết luận, kh�ng c� g� thắc mắc rằng Đ�ng Sơn đ� c� một x� hội ph�n chia đẳng cấp v� tinh vi cao độ v� sự chuy�n m�n h�a c�ng nghiệp s�u rộng.� Mặt kh�c, n� dường như kh�ng c� chữ viết, v� c�c địa điểm cư tr� được x�c định cho đ�n nay cho thấy kh�ng c� bằng chứng về sự đ� thị h�a ho�n chỉnh (Chang 1977: 466-467).

������ Họ Chang cũng l� người đầu ti�n nh�n nhận rằng phần ph�a t�y của văn minh Tứ Xuy�n c� chung c�ng với văn minh đương thời của V�n Nam v� Đ�ng Sơn nhiều chủ đề trang tr� v� c�c loại dụng cụ, cũng như trống định �m (1977: 442-453).� Điều kh�ng r� rằng ph�n khu đ�ng-t�y của văn minh (xứ Thục) Tứ Xuy�n c� được ph�n định một c�ch r� r�ng hay kh�ng.� Tứ Xuy�n như một tổng thể c� chung nhiều đặc điểm thể loại với cả nước Chu (trung lưu s�ng Dương Tử) v� xứ Điền (V�n Nam).� Họ Chang đ� kết luận rằng nền văn minh n�y hẳn phải c� một tổ chức ch�nh trị phức tạp v� một sự ph�n chia đẳng cấp x� hội tinh vi tiến đến c�c tr�nh độ của một cơ cấu quốc gia.� C�c t�i liệu lịch sử n�i rằng Tứ Xuy�n rơi v�o sự kiểm so�t của nh� Tần trong năm 329 TCN.� Điều n�y cũng c� thể gợi nhớ rằng An Dương Vương, người th�nh lập nước �u Lạc v� kẻ x�y dựng th�nh Cổ Loa trong thế kỷ thứ ba TCN, đến từ v�ng đất n�y, theo sử k� cổ truyền của Việt Nam.

������ Thời kỳ 1960-1970 đ� chứng kiến c�c sự khai quật rộng lớn v� b�o c�o bởi c�c nh� khảo cổ học Việt Nam (Davidson 1975, 1979; Nguyễn Ph�c Long 1975; H� 1980; Ho�ng v� B�i 1980; Solheim 1980), cũng như sự �p dụng c� hệ thống v� sự c�ng bố c�c ni�n đại định tuổi bằng x�t nghiệm chất carbon cho nhiều địa điểm Việt Nam (Kohn v� Quitta 1978; Bayard 1984).� Theo dấu sự b�ng nổ th�ng tin n�y, Bayard đ� viết một b�i kiểm điểm về t�nh trạng của khảo cổ học Đ�ng Nam � (1980) rằng Đ�ng Sơn v� xứ Điền, mặc d� xuất hiện hơi muộn về thời gian, r� r�ng đ� ti�n tiến kh�ng k�m v� chắc chắn đ� tham gia v�o sự trao đổi đ�ng kể cả về h�ng h�a lẫn tư tưởng.� Kh�c với c�c sự phản ảnh mờ nhạt của nền văn minh Trung Hoa phương bắc, cả hai x� hội xuất hiện ngang bằng � ngoại trừ c� lẽ việc kh�ng c� chữ viết � với c�c nh� Chu v� nh� H�n c�ng thời.� Quan điểm tr�nh b�y trong thực chất tương tự như quan điểm từ Th�i Lan v� Miến Điện đương thời: một sự ph�t triển phần lớn c� t�nh chất bản xứ về kỹ thuật v� x� hội (Bayard 1980: 98).� Tương tự, Kempers (1988: 311-326) ghi nhận rằng trống V�n Nam, ngoại trừ một số trống kim loại giống loại Heger 1, từ nền tảng kh�c biệt với nhiều loại trống định �m kh�c nhau được t�m thấy tại phần c�n lại của Đ�ng Nam �.� V�n Nam c� thể l� một trung t�m địa phương sau n�y của đồ kim loại, nơi một sự b�ng nổ c� biệt cao độ của một loại đ�c đồng thiếc đ� xảy ra.

������ Dewall (1984) đ� c� một c�i nh�n bao qu�t hơn về c�c sự tiếp x�c bộ lạc với người H�n Hoa tại miền t�y nam Trung Hoa trong thi�n ni�n kỷ đầu ti�n TCN.� B� đ� nh�n nhận c�c sự kh�c biệt trong sự can dự x� hội nơi ba loại kh�m ph� � c�c đồ nhập cảng c� nguồn gốc Trung Hoa, c�c c�ng cụ chế bằng sắt, v� c�c trống định �m từ c�c khung cảnh ch�n cất � tr�n một dải đất rộng của miền t�y nam Trung Hoa, bao gồm V�n Nam, Tứ Xuy�n, v� miền t�y Qu� Ch�u v� Quảng T�y.� Diễn biến của h�ng nhập cảng gốc H�n trong khung cảnh bộ lạc đ�i hỏi một sự kiện �c�i cắm v� sự chấp nhận� như một hậu quả của sự gặp gỡ v� tiếp x�c (188-189).� Ngược lại, chế tạo đồ sắt đại diện cho th�nh quả b�n trong, trước khi c� sự tiếp x�c với người H�n, v� truyền tải sự chấp nhận v� chấp thuận sự canh t�n v� cải thiện trong nghệ thuật thủ c�ng� trước bối cảnh đ� c� trước của kỹ thuật sử dụng đồng thiếc.� Trống định �m v� c�c trống tương đương của n�, như c�c sản phẩm của nghệ thuật, c�c đồ vật d�ng cho tế lễ, v� c�c vật chuy�n chở � nghĩa tượng trưng c� �c�c phẩm chất ri�ng biệt của sự ủng hộ x� hội gắn liền với c�c tầng lớp tương phản của c�c loại đồ vật�, chẳng hạn như c�c c�ng cụ, vũ kh�, v� c�c đồ trang tr�, vốn tạo th�nh khối lớn trong c�c bản kiểm k� bộ lạc thời cuối Đồ Đồng tại v�ng nội địa (188-189).

������ C�c cung c�ch c� biệt của việc kết hợp ba loại kh�m ph� n�y v�o cơ cấu kinh tế, ch�nh trị v� x� hội bộ lạc của thi�n ni�n kỷ thứ nhất SCN c� thể kh�c biệt một c�ch r� rệt từ đơn vị n�y sang đơn vị kh�c.� Nhưng người ta c� thể lập luận cho một sự tự lực bền vững một c�ch xuất sắc trong phạm vi x� hội bộ lạc � một sự li�n lập văn h�a.� C�c sự th�ch đố từ b�n ngo�i (sự bất qu�n bằng ch�nh trị ở cả hai b�n) v� c�c sự ph�t triển từ b�n trong (sự t�i định hướng t�ch rời khỏi c�c thị tộc địa phương c� cơ cấu theo h�ng dọc v� c�c nh�m định cư) dường như đ� ngăn chặn c�c x� hội tiền quốc gia n�y khỏi việc tự thể hiện ch�nh trị sau đ� tại v�ng kề cận v� theo nhịp với c�c quốc gia Đ�ng Nam � ban sơ.

������ C�c sự tiếp x�c giữa V�n Nam, đ�ng nam Trung Hoa, v� miền bắc Việt Nam trong thời kỳ Thạch Trại Sơn khiến ch�ng ta nghĩ rằng đ� c� hiện diện v�o cuối thi�n ni�n kỷ thứ nhất TCN một loại li�n bang văn h�a bao gồm �t nhất ba trung t�m: Việt [Đ�ng v� T�y] (đ�ng nam Trung Hoa), Đ�ng Sơn (bắc Việt Nam), v� Thạch Trại Sơn (V�n Nam).� Mỗi một trong ba trung t�m n�y đưa ra c�c đặc điểm ri�ng v� m�u sắc địa phương của n�, được nhận thấy ngay trong c�c sự biểu lộ chung của ba nh�m (Pirazzoli-T�Serstevens 1979: 126-127).� Sự hợp nhất của văn h�a vật liệu từ Đ�ng Sơn v� xứ Điền đ� l� ti�u điểm của b�i viết n�y.� C�c nguồn gốc văn h�a chung của Ph�ng Nguy�n � Đ�ng Sơn v� Sham Wan [?] � Kỷ H� Học Duy�n Hải Việt của miền đ�ng nam Trung Hoa đ� được lập luận một c�ch thuyết phục bởi Meacham (1977).� Hơn nữa, người ta t�m thấy bằng chứng l�m li�n tưởng đến một mối quan hệ vật chất giữa miền bắc Việt Nam v� tỉnh Tứ Xuy�n hiện nay với c�c đồ vật được đ�o l�n tại Thạch Trại Sơn như một h�nh lang khả hữu dẫn đến c�c sự nối kết với v�ng t�y bắc ở đ� v� c� thể xa hơn nữa (Chang 1977: 442-453).

������ Để giải th�ch hiện tượng n�y, O�Harrow (1988 th�ng tin c� nh�n) n�u � kiến về to�n thể v�ng Tứ Xuy�n, V�n Nam, đ�ng nam Trung Hoa, v� bắc Đ�ng Dương như một tầng lớp n�ng d�n định cư, ổn cố gắn liền với đất, với một tầng lớp chiến sĩ lưu động tinh hoa lu�n di chuyển.� Những g� ch�ng ta t�m thấy đ� tạo ra, xuy�n suốt một v�nh đai văn h�a bao qu�t, khi đ�, l� một chuỗi c�c x� hội chủng tộc c� chung nhiều n�t văn h�a, nhưng hiện hữu tại c�c điểm kh�c nhau của một phức hợp x� hội-ch�nh trị dọc theo một diễn tiến li�n tục từ quốc gia đến chế độ t� trưởng đến bộ lạc.

 

T�M TẮT

������ Với t�i liệu khảo cổ hiện thời, c� vẻ thực tiễn để kết luận rằng Đ�ng Sơn đ� l� điểm tựa trong thi�n ni�n kỷ thứ nhất TCN của li�n bang văn h�a n�y, dựa tr�n sự ph�t triển li�n tục tại chỗ (in situ) từ thời Đ� Mới sang Thời Đồ Đồng Thiếc v� c�c ni�n đại định tuổi bằng carbon kế tiếp.� X� hội Văn Lang đại diện cho một khu�n mẫu phổ biến v� ng�y c�ng c� hệ cấp của phức hợp ch�nh trị v� x� hội v� sự tập trung h�a, với bằng chứng về sự chuy�n m�n h�a c�ng nghiệp, c�c c�ng tr�nh dẫn nước tưới ti�u tr�n quy m� lớn, v� �t nhất một trung t�m đ� thị nguy�n mẫu.� Tại V�n Nam, sự vắng b�ng c�c địa điểm cư tr�, hay kh�c hơn những địa điểm ch�n cất, c�n g�y nhiều thắc mắc v� biện luận cho một x� hội theo chế độ t� trưởng hay được ph�n chia đẳng cấp ti�n tiến tại v�ng Điền Tr�, nơi m� sự kiểm so�t v� ph�n phối c�c sản phẩm mang lại uy t�n giữa c�c nh� l�nh đạo bộ lạc đ� duy tr� sự gi�u c� v� c�c sự kh�c biệt về vị thế m� ch�ng ta t�m thấy tại c�c mộ ch�n cất nhằm phục vụ cho việc bảo tồn c�c li�n minh ch�nh trị cả b�n trong v�ng lẫn li�n v�ng (Dewall 1984: 216-217)./-�

-----

T�I LIỆU THAM KHẢO

 

BAYARD, DONN T.

 

1980 �The roots of Indochinese civilisation. Pacific Affairs 53(1): 89-114.

 

1984 A checklist of Vietnamese radiocarbon dates, trong tạp ch� Southeast Asian Archaeology at the XV Pacific Science Congress: 305-322, bi�n tập bởi Donn Bayard. University of Otago Studies in Prehistoric Anthropology 16. Dunedin.

 

BELLWOOD, PETER S.

 

1979 Man's Conquest of the Pacific. New York: Oxford University Press.

 

BUNKER, EMMA C.

 

1972 The Tien Culture and some aspects of its relationship to the Dong-Son Culture, trong quyển Early Chinese Art and Its Possible Influence in the Pacific Basin, Vol. 2:291-328, bi�n tập bởi Noel Barnard. New York: Intercultural Arts Press.

 

CHANG, KWANG-CHIH

 

1977 The Archaeology of Ancient China. ấn bản lần thứ 3, New Haven: Yale University Press.

 

DAVIDSON, JEREMY H. C. S.

 

1975 Recent archaeological activity in Viet-Nam. JHKAS 6:80-99.

 

1979 Archaeology in northern Viet-Nam since 1954, trong quyển Early South East Asia: 98-124, đồng bi�n tập bởi R. Smith and W. Watson. New York: Oxford University Press.

 

DEWALL, MAGDALENE VON

 

1967 The Tien Culture of south-west China. A 41 : 8-21.

 

1972 Decorative concepts and stylistic principles in the bronze art of Tien, trong quyển Early Chinese Art and Its Possible Influence in the Pacific Basin, Vol. 2:329-372, bi�n tập bởi Noel Barnard. New York: Intercultural Arts Press.

 

1979 Local workshop centres of the Late Bronze Age in highland South East Asia, trong quyển Early South East Asia: 137-166, đồng bi�n tập bởi R. Smith v� W. Watson. New York: Oxford University Press.

 

1984 Tribal contact with Han Chinese civilization and sociocultural change in China's southwestern� frontier region, trong tập Southeast Asian Archaeology at the xv Pacific Science Congress: 188-217, bi�n tập bởi Donn Bayard. University of Otago Studies in Prehistoric Anthropology 16. Dunedin.

 

GOLOUBEW, VICTOR

 

1929 L'age du bronze au Tonkin et dans Ie Nord-Annam. BEFEO 29: 1-46.

 

1937 L'Archeologie du Tonkin et les Fouilles de Dong-Son. Hanoi: Ecole Fran�aise d'Extreme-Orient.

 

HA VAN TAN

 

1980 Nouvelles recherches pr�historiques et protohistoriques au Vietnam. BEFEO 68: 113-154.

 

HEINE-GELDERN, H. ROBERT

 

1937 L'art pr�bouddhique de la Chine et de I'Asie Sud-est et son influence en Oceanie. Revue des Arts Asiatiques 11(4): 177-206.

 

HOANG XUAN CHINH AND BUI VAN TIEN

 

1980 Dongson Culture arid cultural centers in the Metal Age in Vietnam. AP 23(1): 55-65.

 

JANSE, OLOV R. T.

 

1958 Archaeological Research in Indochina, Vol. III: The Ancient Dwelling-Site of Dong-Son (Thanh Hoa, Annam). Bruges: Institut Beige des Hautes Etudes Chinoises.

 

KARLGREN, BERNARD

 

1942 The date of the early Dong-Son Culture. BMFEA 14: 1-28.

 

KEMPERS, A. J. BERNET

 

1988 The Kettledrums of Southeast Asia: A Bronze Age World and Its Aftermath. MQRSEA 10.

 

KOHL, G., AND H. QUITTA

 

1978 Berlin radiocarbon dates V. Radiocarbon 20(3): 386-397.

 

MASPERO, HENRI

 

1918 Etudes d'histoire d'Annam, IV: Le royaume de Van-Lang. BEFEO 18(3): 1-36.

 

MEACHAM, WILLIAM

 

1977 Continuity and local evolution in the Neolithic of South China. CA 18(3): 419-440.

 

NGUYEN BA KHOACH

 

1980 Phung Nguyen. AP23(1): 23-53.

 

NGUYEN DUY HINH

 

1984 The birth of the first state in Viet Nam, trong tập Southeast Asian Archaeology at the XV Pacific Science Congress: 183-187, bi�n tập bởi Donn Bayard. University of Otago Studies in Prehistoric Anthropology 16. Dunedin.

 

NGUYEN PHUC LONG

 

1975 Les nouvelles recherches archeologiques au Vietnam. Arts Asiatiques (special number) 31.

 

O'HARROW, STEPHEN

 

1979 From Co-Loa to the Trung Sisters' revolt. AP 22(2): 140-163.

 

1986 Men of Hu, men of Han, men of the Hundred Man. BEFEO 75:249-266.

 

PEARSON, RICHARD

 

1962 Dong-Son and its origins. BIEAS 13:27-50.

 

PHAM HUY THONG

 

1983 The dawn of Vietnamese civilization: The Dong Son archaeological culture. Vietnamese Studies 2(72): 43-77.

 

PHAM MINH HUYEN, NGUYEN VAN HUYEN, v� TRINH SINH

 

1987 Trống Đ�ng Sơn (The Dong Son Drum). Hanoi: Institute of Archaeology.

 

PIRAZZOLI-T'SERSTEVENS, MICHELE

 

1979 The bronze drums of Sizhai Shan: their social and ritual significance, trong quyển Early South East Asia: 125-136, đồng bi�n tập bởi R. Smith and W. Watson. New York: Oxford University Press.

 

SOLHEIM, WILHELM G. II

 

1980 Review article. AP 23(1): 9-16.

 

TAYLOR, KEITH W.

 

1983 The Birth of Vietnam. Berkeley: University of California Press.

 

WATSON, WILLIAM

 

1970 Dong Son and the Kingdom of Tien, trong quyển Readings in Asian Topics: 45-71. Scandinavian Institute of Asian Studies Monograph 1. Copenhagen.

 

WHEATLEY, PAUL

 

1983 Negara and Commandery. University of Chicago Department of Geography Research Papers Nos. 207-208. Chicago.

_____

Nguồn: John Tessitore, View from the East Mountain: An Examination of the Relationship between the Đ�ng Sơn and Lake Tien Civilizations in the First Millennium B.C., Asian Perspectives XXVIII (1), 1988-1989, c�c trang 31-44.

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

28.03.2016

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2016