Thomas Su�rez

 

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CH�N

V� VIỆC VẼ BẢN ĐỒ

V�NG NỘI ĐỊA Đ�NG NAM �

 

Ng� Bắc dịch

 


 

*****

Lời Người Dịch:

������ Dưới đ�y l� bản dịch một loại t�i liệu hiếm hoi về chủ đề địa l� v� việc vẽ bản đồ v�ng Đ�ng Nam �, trong đ� bao gồm cả Việt nam.� Ngo�i phần b�i dịch ch�nh, để c� được một � niệm tổng qu�t về tư tưởng địa dư học từ nhiều v�ng của thế giới, từ thời thượng cổ cho đến nay, đối với địa h�nh Đ�ng Phương n�i chung v� của Việt Nam n�i ri�ng, người dịch đ� tr�ch dich c�c đoạn quan trọng li�n hệ đến địa l� v� lịch sử Việt Nam, trong c�ng t�c phẩm bao gồm b�i dịch ch�nh. Người dịch c� bổ t�c một số c�c phụ lục đ�nh số A, B,C, D li�n quan đến lịch sử v� địa dư Việt Nam c�ng một số ch� giải rải r�c trong bản văn.�

������ Bản dịch c� k�m theo nhiều bản đổ cổ, hiếm thấy đối với c�c độc giả Việt Nam, v� �t nhiều hữu �ch cho việc nghi�n cứu về địa dự, lịch sử Việt Nam.� C�c bản đồ được giữ nguy�n số thứ tự như ghi trong nguy�n bản,� ngoại trừ c�c bản đồ hay t�i liệu bổ t�c kh�c sẽ được n�u r� xuất xứ.

������ V� bản văn kh� d�i, dưới đ�y l� d�n b�i để gi�p độc giả dễ nắm bắt nội dung hơn:

 

Phần I: ������ THẾ KỶ THỨ MƯỜI CH�N V� VIỆC VẼ BẢN ĐỒ V�NG NỘI ĐỊA Đ�NG NAM �

Phần II: C�C PHỤ LỤC TR�CH DỊCH TỪ NGUY�N BẢN

01. � Niệm Của Người Việt Nam Về Xứ Sở

02.� Ph�n Loại Ch�nh C�c Bản Đồ Về Đ�ng Nam �

03. Bản Đồ Vũ Trụ (Cosmographic Maps) Của Đ�ng Nam � v� Việt Nam

04. Địa Dư Thực Nghiệm: Việc Vẽ Bản Đồ Tại Đ�ng Nam � v� Việt Nam

05. Ph� Nam

06. An Nam & Đ�ng Dương

07. Xứ Ch�m Trong Bản Đồ Giữa Thế Kỷ Thứ Mười Hai Của Sharif al-Idrisi

08. Xứ Ch�m Trong Bản Đồ Năm 1522 Của Lorenz Fries

09. Trịnh H�a V� Tập Bản Đồ Vũ Bị Ch� (Wubei-zhi)

10. Số Phận Của Cattigara v� Mũi Đất Vĩ Đại Của Ptolemy � Cattigara C� Thể L� H� Nội?

11. Đảo C�n Sơn

12. Đ�ng Dương

13. �Bản Đồ B�n Tay� V�ng Đ�ng Nam � Của Barros, Năm 1552

14. Vịnh Bắc Việt, Đảo Hải Nam, Quần Đảo Ho�ng Sa, v� Biển Trung Hoa (China Sea)

15. Lục Địa Đ�ng Nam � Tr�n Bản Đồ Của Gastaldi năm 1548

16. Lục Địa Đ�ng Nam � Tr�n Bản Đồ Của Ramusio Năm 1554 v� Tr�n Bản Đồ Của Gastaldo Năm 1561.

17. C�c Ph�i Bộ Truyền Gi�o �u Ch�u Đến Việt Nam

18. Hải Lộ Singapore � Trung Hoa v� Quần Đảo Ho�ng Sa

19. C�c Bản Đồ Của �u Ch�u Được Lập Tại Đ�ng Nam �

20. Xứ Ch�m Tr�n Bản Đồ Của Johann Ruysch, 1507 v� Trong Cac Văn Bản Của Odoric, Mandeville v� Tom� Pires

21. Huyền Thoại �u Cơ

22. Claudius Ptolemy

23. Tom� Pires

24. Giovanni Ramusio, Người Đ� Khai Sinh Ra Quần Đảo Ho�ng Sa Tr�n Bản Đồ

25. Giacomo Gastaldi

26. William Dampier

 

Phần III: C�C PHỤ LỤC CỦA NG� BẮC

Phụ Lục A: Lễ Thi�n Th�nh� v� N�i Vạn Thọ Nam Sơn thời nh� L�

Phụ Lục B: Truyền Thuyết Lạc Long Qu�n v� �u Cơ, theo t�c giả Keith Weller Taylor

Phụ Luc C: Bi�n Giới Địa L� Nh�n Văn: Trường Hợp Việt Nam

Phụ Lục D: Đất V�nh: Địa L� Ch�nh Trị Của Việt Nam hay Ban Lơn Quay Ra Th�i B�nh Dương

*****

PHẪN I:

THẾ KỶ THỨ MƯỜI CH�N V�

VIỆC VẼ BẢN ĐỒ VŨNG NỘI ĐỊA Đ�NG NAM �

 

V�o l�c khởi đầu thế kỷ thứ mười ch�n, bất kể ba thế kỷ hiện diện của �u Ch�u dọc theo c�c bờ biển của Đ�ng Nam � lục địa, phần lớn v�ng nội địa h�y c�n chưa được biết đến v� bị che phủ trong sự b� ẩn.� N�i theo lời Trung �y James Low, một người Anh d�nh l�u đến việc vẽ bản đồ Đ�ng Nam � v�o l�c đ�, �C�c Bản Đồ Thế Giới hiện c� cho thấy [Xi�m La, Căm Bốt, v� L�o] gần như một giải đất trống trơn.� 1 Ngay c�c vương quốc h�ng mạnh, được che chắn của Trung Hoa v� Nhật Bản từ l�u đ� nhường bước trước T�y Phương hơn nhiều so với v�ng nội địa của Đ�ng Nam � đất liền.� Song n� l� một nơi ấn chứa nổi tiếng của sự gi�u c� đ�ng kể, v� hệ thống s�ng ng�i của n� hứa hẹn một thủy lộ thực tế dẫn đến Trung Hoa.

Sự thất vọng cảm thấy bởi một số người �u Ch�u thế kỷ thứ mười ch�n v� sự cự tuyệt của v�ng nội địa Đ�ng Nam � trong việc bộc lộ c�c sự b� mật của n� khiến v�ng đất n�y trở th�nh người t�nh định mệnh [femme fatal, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] của kẻ đi chinh phục.� Như một vi�n chức thực d�n ở M� Lai thuộc Anh hồi cuối thế kỷ thứ mười ch�n đ� viết, �Giống như tượng nữ thần m�nh sư tử ở Ai Cập (Sphinx), v�ng đất đ� đề ra c�c c�u đố m� �t người c� thể giải đ�p được, c�m dỗ ch�ng ta tiến tới với c�c hy vọng h�o huyền về c�c sự ph�t hiện đầy hứng khởi, song m�i m�i che dấu trong bầu ngực tuyệt trần, tả tơi của n�, c�c điều b� mật của một trong c�c lịch sử con người được ghi ch�p cổ xưa nhất nhưng cũng �t đầy đủ nhất.� 2 C� một sự th�c dục để chiếm ngự v�ng �t được hay biết v� huyền b� n�y: �Phương Đ�ng phỉnh gạt trong khi n� m� hoặc ch�ng ta: m� hoặc ch�ng ta bởi v� n� phỉnh phờ,� c�ch n�i b�ng bẩy tiếp tục như thế.

C�ng l�c, c�c sự quan t�m được cho l� nh�n đạo đ� biện minh một c�ch giả dối cho sự th�m hiểm v� vẽ bản đồ v�ng nội địa Đ�ng Nam �.� �C�c� nh�n vật cao cấp v� đặc biệt c�c vị ở Ấn Độ,� một vi�n chức người Anh tại M� Lai đ� viết hồi đầu thế kỷ thứ mười ch�n, �kh�ng bao giờ được qu�n� sự kiện rằng c�c bản đồ tốt hơn của v�ng nội địa Đ�ng Nam � �sẽ cung cấp c�c phương tiện hay nhất gi�p ch�ng ta ph�t t�n trong những đồng loại k�m may mắn v� man rợ hơn của ch�ng ta c�c �n ph�c của kiến thức hữu dụng v� c�c tiện nghi của cuộc sống văn minh h�a�. 3 C�c cảm nghĩ tương tự cũng được ph�t biểu bởi người Ph�p tại Đ�ng Dương.� V�o giữa thế kỷ thứ mười ch�n, Francis Garnier, nh� th�m hiểm nổi tiếng nhất c�c d�ng s�ng của Đ�ng Dương, đ� khoa trương về �nước Ph�p, vị trọng t�i của �u Ch�u, chỉ sử dụng ảnh hưởng của m�nh nhằm tạo hạnh ph�c v� cho sự cải thiện đạo đức của c�c d�n tộc.� 4� Ch�nh v� thế, việc� vẽ� bản đồ v�ng nội địa Đ�ng Nam � th� cần thiết cho cảm nghĩ về �định mệnh hiển nhi�n� của c�c cường quốc �u Ch�u, để truyền b� phong c�ch văn h�a v� lối sống cụ thể của n� cho c�c d�n tộc Đ�ng Nam �, v� để cứu vớt c�c người dễ bị x�m hại khỏi c�c kẻ chinh phục kh�ng xứng đ�ng, bởi mỗi d�n tộc Ph�p v� Anh đều xem sự bảo hộ của m�nh sẽ phục vụ cho c�c quyền lợi tốt nhất của c�c d�n tộc bản địa trong v�ng.

Đ�ng Dương

������ Garnier đ� trưng dẫn c�c di sản Anh Quốc trong c�c cuộc Chiến Tranh Nha Phiến tại Trung Hoa v� sự suy đồi của văn minh Ấn Độ dưới sự cai trị của Anh như một bằng cớ rằng Căm Bốt, L�o v� Việt Nam phải n�n ch�o đ�n chế độ bảo hộ của Ph�p hầu tr�nh cho c�c vương quốc của họ c�ng sự thống khổ như thế.� �H�y đi sang Ấn Độ, � �ng ta c�o gi�c, để thăm viếng xứ sở bị t�n ph� v� bần c�ng h�a bởi c�c sự cướp đoạt của C�ng Ty Anh Quốc.�� V� về c�c cuộc Chiến Tranh Nha Phiến, �ai l� kẻ m� kh�ng gh� tởm khi [Anh quốc, v� c�c lợi nhuận về thuốc phiện, đ� tuy�n chiến với Trung Hoa nhằm cưỡng b�ch] vị Ho�ng Đế � chuẩn thuận việc đầu độc ba trăm triệu con người?� 5

������ Tuy nhi�n, ch�nh c�c giấc mơ gi�u c� vẫn tiếp tục l� l� do ch�nh cho việc tại sao c�c người �u Ch�u đ� ch� � đến việc thủ đắc một hồ sơ bản đồ ch�nh x�c của Đ�ng Dương v� c�c s�ng ng�i của n�.� August Pavie, một nh� th�m hiểm quan trọng v�ng Đ�ng Dương v� s�ng Cửu Long trong thập ni�n cuối của thế kỷ thứ mười ch�n, vẫn c�n c� thể đồn đo�n rằng Căm Bốt cổ thời kh�ng g� kh�c hơn l� xứ Ophir [theo Th�nh Kinh Thi�n Ch�a Gi�o, l� xứ đầy v�ng, ch� của người dịch] của Nh� Vua Soloman.� Nhưng trong sự khiếm khuyết bất kỳ bằng chứng vững chắc n�o rằng Đ�ng Dương vẫn c�n cất chứa sự gi�u c� huy�n thoại như thế, c�c người Ph�p t�m kiếm sự gi�u c� thay v�o đ� đ� trở n�n say đắm với huyễn tượng rằng c�c d�ng s�ng của n� c� thể cung cấp c�c luồng mậu dịch tr�n nước xuy�n qua �c�c xứ sở hoang dại� đến �cac v�ng gi�u c� nổi tiếng của Miền T�y Trung Hoa,� l� miền m� họ tin rằng �Thi�n Triều khư khư ph�ng vệ chống lại sự t� m� của c�c cặp mắt �u Ch�u.� 6 �����

������ C�c � tưởng n�y c� được truy tầm ngược lại kh� xa trong t�i liệu bản đồ.� Bản đồ hải h�nh (portolan) năm 1641 của Antonio Sanches (H�nh 80) [số đ�nh theo nguy�n bản, ch� của người dịch],th� dụ, cho thấy một thủy lộ khổng lồ tại v�ng phụ cận Ch�u Giang (Pearl River), trong tỉnh Quảng Đ�ng, nam Trung Hoa, chảy th�nh thang v� tương đối thẳng đến hết đường xuy�n qua quanҫi (Kwangsi: Quảng T�y), nơi c� một c�i hồ lớn hiể:n nhi�n sẽ cung cấp c�c cơ sở cặp bến v� du h�nh dễ d�ng trong v�ng.� Từ c�ng c�i hồ đ� hai chi lưu kh�c của con s�ng tiếp tục chạy về ph�a t�y đến quacheu (Kweichou: Qu� Ch�u), trong khi c�c nh�nh kh�c c� thể đ�n nhận c�c thuyền mậu dịch đi xa hơn về hướng bắc tiến v�o nội địa Trung Hoa.� Trong thế kỷ thứ mười ch�n, trong khi người Anh nh�n c�c con s�ng của Miến Điện như l� c�c thủy lộ đầy tiềm năng hứa hẹn dẫn v�o nội địa Trung Hoa, c�c nh� th�m hiểm Ph�p nhắm tới s�ng Cửu Long v� s�ng Hồng với c�ng mục đ�ch đ�.� Trong hai con s�ng n�y, ch�nh con s�ng m�nh m�ng Mekong, được gọi l� �S�ng Căm Bốt� (River of Cambodia), xem ra l� thủy lộ ở vị tr� thuận tiện nhất với một lượng nước cung cấp phong ph� sẽ cung cấp sự tiếp cận đến miền bắc xa x�i.

Jean Marie-Dayot v� John White

 

H�nh 158: Map of the River of Don Nai, from Cape St. James to the City of Saigon (Bản Đồ S�ng Đồng Nai, từ Vũng Tầu đến Th�nh Phố S�ig�n).� S�ng Donnai [Đồng Nai] ở Việt Nam với S�ig�n nằm ở g�c tr�n b�n tr�i.� John White, 1823 (43.5 x 57.5 cm) [Edward Lefkowicz, Providence]

 

 

������ Trong sự kỳ vọng rằng con s�ng Mekong sẽ trở th�nh một th�ng lộ vĩ đại tiền v�o nội địa miền nam Trung Hoa, một nỗ lực đ� được thực hiện để cung cấp một sự nối kết giữa s�ng Mekong với S�ig�n.� Một kinh đ�o v� thế đ� cắt ngang để nối liền c�c phụ lưu của s�ng Mekong v� s�ng Đồng Nai, một trong những con s�ng ch�nh tiến tới th�nh phố.� Khi một cuộc viễn chinh từ Hoa Kỳ, dưới sự chỉ huy của John White, đ� đến Việt Nam trong năm 1819, vi�n chỉ huy đ� b�o c�o rằng:

Từ ph�a t�y của th�nh phố, một con s�ng hay một kinh đ�o đ� được mở ra hồi lgần đ�y, (trong thực tế mới chỉ được ho�n tất v�o l�c ch�ng t�i đến đ�) d�i hai mươi ba dậm Anh, nối liền với chi lưu của s�ng Căm Bốt [tức Mekong], theo đ� một sự lưu h�nh bằng đường s�ng th�ng tho�ng đ� được khai mở đối với Căm Bốt.

������ Ch�nh S�ig�n �nằm trong v�ng v�i dặm từ bước khởi đầu cuộc hải h�nh tr�n chi nh�nh đ� của s�ng Đồng Nai [nguy�n bản ghi sai la Don-nai, ch� của người dịch], tr�n đ� th�nh phố tọa lạc.�� Tập tường thuật năm 1823 về cuộc viễn chinh của �ng White bao gồm một bản đồ chi tiết của s�ng Đồng Nai v� kinh đ�o mới của n� (H�nh 158) [số thứ tự được đ�nh trong nguy�n bản, ch� của người dịch], bởi v� một việc vẽ họa đồ ch�nh x�c hệ thống thủy lộ rắc rối đ� l� ch�a kh�a đối với c�c sự ch� � đến việc đặt cơ sở ở S�ig�n, hy vọng khai quật được tiềm năng của s�ng Cửu Long.� Bản đồ được dựa tr�n c�c sự thăm d� được thực hiện v�o năm 1791 bởi Jean-Marie Dayot, �nh� thủy đạo học của vị Vua miền Nam Kỳ,� được cập nhật h�a với c�c sự quan s�t của ch�nh White v� gồm kinh đ�o mới.� Khi White đi thuyền xuy�n qua một vịnh được gọi l� Ng� Bẩy [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch] hay sete-bocas (bẩy cửa s�ng) tại c�c thủy đạo gần S�ig�n, �ng đ� viết rằng:

Cảnh tr� từ lưu vực bao la n�y, mặc d� chỉ c� �t đường n�t của sự tuyệt diệu, th� đẹp đẽ v� thơ mộng.� C�c c�y cao v� đ�ng sợ phủ k�n c�c đầu ngọn song được tạo th�nh bởi tr�o lượng của nhiều d�ng nước, chia nh�nh ra nhiều hướng kh�c nhau, giống như thật nhiều đường b�n k�nh từ một t�m điểm, ph�t hiện ra c�c phối cảnh trải d�i, được viền mỗi b�n c�c ch�m l� với c�c sắc độ kh�c nhau của m�u xanh, trong khi ch�ng đ�nh b�ng mặt nước phản chiếu,với một vẻ đẹp trinh nguy�n, c�c sắc th�i biến đổi của c�c khu rừng lơ lửng.

 

Bức Trường Th�nh Tại Việt Nam � Tập Bản Đồ Thế Giới (Atlas Universel) năm 1827 của Vander Maelen.�

Một c�i nh�n s�t cận Đ�ng Dương v�o l�c khởi đầu của cuộc th�m hiểm s�u rộng của người Ph�p tại v�ng c� thể được t�m thấy trong c�c bản đồ của Philippe vander Maelen,t�c giả quyển Atlas Universel năm 1827 đ� l� tập bản đồ đầu ti�n � ngo�i c�c bản h�nh tam gi�c vẽ địa cầu được đ�ng th�nh bộ của Coronelli � đ� sử dụng một tỷ lệ x�ch đồng nhất trong suốt tập s�ch.� Phương tiện tương đối mới của c�ch in thạch bản đ� được sử dụng cho bốn trăm bản đồ của tập bản đồ to�n thư. S�ng sủa nhưng kh�ng thực dụng, sự ấn h�nh n� c� lẽ kh�ng thể tồn tại nếu t�c giả đ� kh�ng thừa hưởng vốn liếng đ�ng kể từ doanh nghiệp x� ph�ng thịnh đạt của cha mẹ �ng.

 

H�nh 159: Indochina, Philippe vander Maelen, 1827.� (46.8 x 54.7 cm)

 

 

 

H�nh 160:� �Bức Ttrường Lũy ngăn đ�i hai vương quốc� của Việt Nam được vẽ tr�n bản đồ n�y dựa theo c�c nguy�n mẫu được c�ng bố bởi Jean Baptiste d�Anville trong thập ni�n 1730.� Solomon Bolton, 1755.

������

Bản đồ Camboge et Anam (Căm Bốt v� An Nam) H�nh 159) trong to�n tập tr�nh b�y một khu vực �gần như trống trơn� (như James Low đ� than phiền), bất kể cơ hội để ghi nhiều chi tiết trong nội địa được cung cấp bởi tỷ lệ x�ch to lớn của n�, đ� c� c�c dữ kiện khả t�n được cung cấp.� Tuy nhi�n, một đặc điểm kh�ng thể sai lầm được l� bức trường thằnh (Muraille: tức Lũy Thầy) chạy từ bờ biển, gần Đồng Hới (kh�ng được ghi t�n), cho đến Rặng An Nam [tức rặng Trường Sơn, ch� của người dịch].� Bức tường th�nh n�y nguy�n thủy được x�y dựng bởi Trung Hoa [China [?][sic, nhiều phần kh�ng đ�ng, ch� của người dịch] khoảng năm 1540 để trung giải một cuộc tranh chấp giữa hai phe Việt Nam tranh d�nh nhau, họ Trịnh v� họ Nguyễn. 7 William Dampier, kẻ đ� thăm viếng Việt Nam năm 1688, thuật lại rằng bức tường th�nh l� một c�ng sự duy nhất c�n t�n tại sau chiến sự li�n mi�n trong nước, nhưng bất kể c� c�c b�o c�o như thế, bức tường th�nh đ� kh�ng được ghi lại tr�n c�c bản đồ được ấn lo�t cho đến khi nh� địa dư người Ph�p, �ng Jean-Baptiste d�Anville, phổ biến n� hồi đầu thế kỷ thứ mười t�m (H�nh 160).� Được dựng ở ph�a bắc của vĩ tuyến thứ 17, n� nằm s�t cận một c�ch kỳ dị với đường được vạch ra bởi Hội Nghị Geneva năm 1954 để ph�n chia tạm thời Việt Nam cho đến khi c� cuộc tổng tuyển cử, dự tr� c� thể được tổ chức trong năm 1956 (c�c cuộc bầu cử đ� kh�ng bao giờ xảy ra).

Căm Bốt, bị kẹp giữa Việt Nam v� Th�i Lan

������ Vander Maelen cung cấp một ti�u điểm nhắm v�o Căm Bốt trong cao điểm của c�c lời tuy�n x�c cạnh tranh về sự lệ thuộc của vương quốc n�y bởi c�c l�ng giềng h�ng mạnh của n�, Th�i Lan v� Việt Nam.� Bẩy trăm năm trước đ�y, trong thời cực thịnh của đế quốc Khmer, l�nh địa kiểm so�t bởi Angkor trải d�i đến tận miền ng�y nay l� Th�i Lan v� Việt Nam.� Khi Angkor bắt đầu suy sụp trong thế kỷ thứ mười bốn, Sukhothai v� sau n�y Ayuthaya [c�c kinh đ�, trung t�m quyền lực của Th�i Lan khi đ�, ch� của người dịch] đ� nới rộng sự kiểm so�t của ch�ng tr�n Căm Bốt, sau rốt tuy�n bố Căm Bốt l� một vương quốc triều cống.� V�o thế kỷ thứ mười bẩy, Việt Nam cũng đ� đưa ra c�c đ�i hỏi tr�n Căm Bốt, v� năm 1834 đ� chứng kiến sự khởi đầu của mười bốn năm giao chi�n c�ng khai giữa Xi�m La v� Việt Nam để quyết định xem nước n�o sẽ sở hữu Căm Bốt.� Năm 1847, Căm Bột, giờ đ�y lại �độc lập� một lần nữa, song cũng th�m một lần bị kẹt giữa hai l�ng giềng h�ng mạnh của n�, bị t�n ph�.

������ Bản chất bất định h�nh của �bản đố bản xứ của Đ�ng Nam � được vẽ một c�ch tuyệt vời theo lời thỉnh cầu của nh� vua xứ Căm Bốt với hai vương quốc l�ng giềng của �ng v�o l�c kết th�c cuộc chiến.� �ng ta đ� hiểu rằng bởi vị tr� địa dư của l�nh thổ của �ng, Căm Bốt sẽ kh�ng bao giờ được để y�n chừng n�o n� l� chư hầu của chỉ một trong hai l�ng giềng khổng lồ của n�.� Ch�nh v� thế, nh� vua đ� khẩn cầu sẽ được �chinh phục� tr�n danh nghĩa bởi cả hai nước.: �Xin vui l�ng để t�i được thần phục trước c�ng đức v� sức mạnh của cả hai vương quốc vĩ đại [Xi�m La v� Việt Nam], sao cho người d�n của t�i c� thể sống trong h�a b�nh v� hạnh ph�c.� 8

Sự Huyền B� Của S�ng Cửu Long

������ Trong c�c năm 1858-60, nh� thi�n nhi�n học Henri Mouhot du h�nh xa về hướng bắc l�n tới Xi�m La, Căm Bốt v� L�o, nơi m� �ng đến được Luang Prabang v� thu lượm được một h�nh ảnh th� sơ về d�ng chảy của s�ng Cửu Long.� Bản đồ Đ�ng Nam � năm 1863 của Edward Weller (chi tiết ph�ng lớn, H�nh 161) ti�u biểu cho thời kỳ n�y, tr�nh b�y một c�ch ch�nh x�c về con s�ng Cửu Long đổi hướng sang ph�a đ�ng ở kinh đ� M. Udong (Phnom Penh).� Nhưng cả kh�c ngoặt ngoạn mục về hướng bắc ngay bờ ph�a đ�ng của Vạn Tượng (Vientiane), lẫn phần quay ngoặt hai lần một c�ch gắt gao về hướng t�y ở b�n tr�n Luang Prabang, đ� giới hạn sự hải h�nh ở ph�a cực bắc của con s�ng, vẫn chưa được vẽ ra (Luang-Prabang trong bản đồ của Weller được ghi l� Muang-luang Prabang, muang: c� nghĩa l� th�nh phố).

 

H�nh 161: Đ�ng Nam � lục địa (chi tiết ph�ng lớn), Edward Weller, 1863 (45 x 30.5 cm).� Bất kể c�c bi�n giới r� r�ng được h�m � bằng c�c đường n�t t� m�u, Weller cố gắng chỉ cho thấy sự tế nhị trong việc sắp xếp ch�nh trị v�ng Đ�ng Nam � qua việc ghi dấu một số khu vực n�o đ� như �c�c nước nhỏ b�: petty states� v� cho thấy quy chế triều cống của c�c vương quốc của ch�ng.� Khu vực bao quanh bởi đường t� m�u t�m, được cư tr� bởi nhiều bộ tộc nhỏ kh�c nhau, đ�ng để � trong kh�a cạnh n�y.� Sự kiện rằng s�ng Cửu Long chảy ra l�nh địa tập hợp của ch�ng v� rằng ch�ng nằm ở đường ph�n c�ch giữa Xi�m La v� Đ�ng Dương bị chiếm đ�ng, c� nghĩa rằng trong v�ng �t thập ni�n sắp tới c�c nh�m n�y đ�ch thực bị x�a bỏ sự hiện hữu khi Xi�m La v� Ph�p lấn sang từ ph�a b�n đối lập.� Miến Điện h�nh diện c� nhiều chi tiết nhất tr�n bản đồ, một kết quả của việc vẽ bản đồ cần mẫn của người Anh về c�c phần đất khai th�c của họ tại đ�.� Mặc d� vương quốc Lan Na (ở giữa, b�n tr�i) h�y c�n độc lập, sự li�n kết chặt chẽ với Xi�m La đ� khiến Weller bao gồm vương quốc n�y v�o trong c�ng phần b�n trong đường bao bọc chung quanh m�u cam, t�ch biệt hai nước cựu đối thủ với một đường vẽ bằng n�t thanh, m�u đỏ.� Kinh đ� của n�, Chiang Mai (ở đ�y ghi l� Zimm�), nơi m� địa điểm từ l�u chỉ được phỏng đ�an, sau hết đ� được vẽ một c�ch ch�nh x�c. �

 

 

������ C�c phần bổ t�c n�y cho bản đồ xẩy ra kh�ng l�u sau thời kỳ của Mouhot, nhờ ở c�c kẻ năng nổ Doudart de Lang�e [sic, Lagr�e?] v� Francis Garnier, c�c kẻ m� cuộc th�m hiểm trong c�c năm 1866-68 sau hết đ� mang lại cho �u Ch�u sự hiểu biết cặn kẽ về miền thượng nguồn s�ng Cửu Long v� v�ng bi�n cương n�i đồi của miền n�y với Trung Hoa.� T�i liệu từ cuộc th�m hiểm của Garnier mau ch�ng được khai th�c bởi nh� vẽ bản đồ người Đức, Justus Perthes trong bản đồ Ubersichtskarte der Franzosischen Expedition in Hinterindien vom Me-khong bis zum Jang-tse-kiang 1867-1868 (H�nh 162), được c�ng bố trong năm 1869, ngay năm khi m� cuộc th�m hiểm vừa được ho�n tất.

������ Garnier đ� m� tả Luang Prabang như l� kinh đ� của L�o,

� đẹp như tranh vẽ v� th�ch th� để ngắm nh�n, [với nhiều ng�i nh�] được sắp theo c�c đường song song chung quanh kmột ngọn đồi nhỏ ở trung t�m, tr�ng giống như một c�i v�m m�u xanh, mọc l�n b�n tr�n khối m�i tranh m�u x�m � tr�n đỉnh đồi một ngọn th�p hay lăng [tat, tiếng L�o], hay dagoba, [tiếng Sinhgalese, trong nguy�n bản, ch� của người dịch] chỉa ch�p nhọn như mũi t�n b�n tr�n một v�nh đai c�c c�y cối, tạo th�nh một điểm chuẩn cho tất cả v�ng đất chung quanh.

������ M�i đỏ của c�c ng�i ch�a �tương phản một c�ch sống động với c�y cỏ m�u xanh đậm,� v� đ� c� một th�nh phố tr�n s�ng với c�c t�p lều được dựng tr�n c�c chiếc b�, �nối liền với ch�nh th�nh phố kinh đ� bởi c�c lối đi ngoằn ngo�o, s�ng rực l�n như c�c giải băng m�u trắng từ xa.�� Ch�nh d�ng s�ng l� một th�ng lộ nhộn nhịp cho t�u thuyền đủ mọi cỡ, nơi m� �tiếng x�o xạc trộn lẫn với tiếng r� r� của d�ng nước, v� tiếng th� thầm của c�c c�y dừa [phe phẩy] t�n l� b�n tr�n c�c bờ s�ng m�u mỡ v� tươi tỉnh.� 9 Ngược d�ng từ Luang Prabang, Garnier nhận thấy con s�ng Cửu Long �hẹp lại một c�ch đ�ng kể, v� lập lại kh�a cạnh hoang dại v� thơ mộng của n�.�

 

H�nh 162: Northern Indochina (Bắc Đ�ng Dương), vẽ d�ng chảy của s�ng Mekong,

như được ph�c họa th�nh bản đồ bởi Garnier.� Justus Perthes, 1869.� (26 x 20.5 cm)

 

 

������ Nhiều kh�c căng d�i của d�ng s�ng th� kh�ng lưu th�ng được, buộc c�c kẻ ti�n phong phải khi�ng thuyền v� đồ tiếp liệu của họ theo đường bộ.� Sau sự khổ nhọc lớn lao (de Lang�e [sic] bị chết tr�n đường đi [en route, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch], Garnier v� đồng đội đ� th�nh c�ng trong việc đi tớiV�n Nam xuy�n qua s�ng Cửu Long, nhưng c�c sự thử th�ch của s�ng Mekong đ�ng kinh sợ đến nỗi họ đ� kh�ng t�m c�ch đi lại con đường đ� qua.� Thay v�o đ�, đo�n th�m hiểm, cầm đầu bởi Garnier, đ� quay về S�ig�n bằng ngả s�ng Dương Tử v� Biển Trung Hoa (China Sea).� Kh� khăn qu� mức v� kh�ng thực dụng tột c�ng, d�ng s�ng vĩ đại đ� kh�ng to�n th�nh cho giấc mơ của họ về một hải lộ Đ�ng Dương to rộng vươn tới Vương Quốc Thi�n Triều.

������ Cuộc th�m hiểm chứng minh rằng những g� m� Engelbert Kaempfer thu lượm được từ Th�i, li�n quan đến L�o, gần hai thế kỷ trước đ�, l� ch�nh x�c.� Trong khi cư tr� tại Ayuthaya năm 1690, Kaempfer c� được n�i cho biết rằng việc du h�nh tr�n c�c con s�ng thượng nguồn

� l� cuộc du h�nh đến đ� rất bất tiện v� phiền phức tr�n đường bộ, bởi c� c�c rặng n�i cao, v� bằng đường s�ng, bởi c� đ� v� c�c th�c nước lớn, đến nỗi c�c t�u thuyền, hay Prows như họ gọi ch�ng, được đ�ng theo c�ch m� ch�ng c� thể được th�o ra th�nh từng mảnh, v� khi�ng qua c�c ghềnh th�c nh� cao, hầu tiếp tục cuộc h�nh tr�nh tr�n nước.

������ Song, mặc d� Francis Garnier bỏ lại sau lưng c�c hy vọng của m�nh về s�ng Mekong,� giấc của �ng về một tuyến đường thủy đến Trung Hoa vẫn c�n.� �ng giờ đ�y tin tưởng rằng trong số năm con s�ng vĩ đại của Đ�ng Nam � � Irrawaddy, Salween, Chao Phraya, Mekong, v� s�ng Hồng � ch�nh d�ng s�ng cuối c�ng của c�c con s�ng n�y, vẫn thực sự chưa được biết đến đối với T�y phương, theo đ� �sự thừa mứa của c�c sự gi�u c� ở miền T�y Trung Hoa chỉ trong một ng�y sẽ tr�i xuống một hải cảng của Ph�p.�� Hơn nữa, ch�nh lưu vực s�ng Hồng v� miền Bắc Kỳ (Tongkin), với th�nh phố ch�nh của n� l� H� Nội, sẽ l� �một tiếp nối cần thiết cho sự thiết dựng ngọn cờ Ph�p tại s�u tỉnh Nam Kỳ.�� Garnier bị giết chết tại H� Nội năm 1873 trong cuộc chiếm đoạt th�nh phố n�y cho Ph�p.

������ Tầm hữu dụng của s�ng Hồng nằm ph�a nam H� Nội, trong sự tiếp cận với c�c sản vật Trung Hoa xuy�n qua Vịnh Bắc Việt v� Biển Nam Hoa [South China Sea, hay Biển Đ�ng theo c�ch gọi của Việt Nam, ch� của người dịch], đ� l�, trong thực tế, một sự cứu x�t của người Việt Nam một ngh�n năm trước đ�, khi kinh đ� được th�nh lập gần th�nh phố H� Nội ng�y nay.� Một bia k� c� nhật kỳ từ năm 870 bảo tồn truyền thống rằng �quyền lực khuấy động của sấm s�t� đ� khiến cho biển �tạo th�nh một tuyến đường, nơi m� c�c t�u thuyền c� thể đi qua một c�ch an to�n, với biển s�u k�o d�i ra một c�ch h�a dịu, một th�ng lộ cung cấp tiếp liệu cho th�nh phố ch�ng ta� � khu vực khởi nguy�n của s�ng Hồng. 10 H� Nội về mặt biểu tượng được xem như �bụng con Rồng� [Long đỗ, tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], trung t�m tinh thần của vương quốc.

 

H�nh 163: (tay tr�i) H� Nội v� c�c v�ng phụ cận, [H� Nội To�n Đồ,t�n của bản đồ b�n tay phải, ch� của người dịch] từ một tập bản đồ to�n thư Việt Nam v� danh.� Bản vẽ tay, khoảng 1870.� [Rodolphe Chamonal, Paris]

 

 

 

 

 

H�nh 164 (b�n dưới)� B�a của To�n Thư Bản Đồ Việt Nam,� v� danh, được tr�nh b�y b�n tr�i.

 

 

C�c Tập Bản Đồ Lộ Tr�nh Ph�p-Việt

������ Một th� dụ về sự hiện diện mới, �p đặt của Ph�p tại Việt Nam được phản ảnh bởi một tập bản đồ vẽ tay của đất nước nhan đề Ho�ng Việt Dư Đồ (Atlas of Vietnam), từ đ� bản đồ H� Nội tr�nh b�y nơi H�nh 163 được r�t ra.� Bản đồ c� nhật kỳ khoảng 1870, v�o l�c H� Nội được thiết lập th�nh thủ đ� của Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� Mặc d� c� t�nh chất � Ch�u trong c�ch thực hiện của n�, quyển s�ch tuy thế đ� l� một trong c�c tập bản đồ Việt Nam sớm nhất với danh biểu cả bằng tiếng Ph�p lẫn chữ H�n.� Bản đồ tượng trưng một c�ch to�n hảo kh�i niệm của người Việt Nam về xứ sở của họ như Non Nước [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], c� nghĩa �n�i v� s�ng nước�, với c�c hệ thống s�ng ng�i quanh H� Nội được vẽ ngo�i tỷ lệ [để l�m nổi bật l�n], trong khi c�c ngọn n�i nội địa mọc l�n theo c�ch vẽ thể loại h�a ở ph�a t�y bắc, như thể trong một bức họa của Trung Hoa.

������ Trong khi đ�, c�c kẻ b�nh trướng Ph�p tiếp tục th�m hiểm nội địa Đ�ng Dương v� c�c nh�nh thượng nguồn của S�ng Cửu Long.� Hồi đầu năm 1877, Franҫois Jules Harmand khởi sự th�m hiểm Cao Nguy�n Boloven (Boloven Plateau) v� c�c thung lũng của con s�ng tại miền Trung L�o, hy vọng thiết lập được một con đường từ Bassac tr�n s�ng Mekong đến Huế b�n bờ biển Việt Nam.� Một bản vẽ tay được lưu giữ trong c�c b�o c�o của �ng được tr�nh b�y nơi H�nh 165.

 

H�nh 165: Bản đồ vẽ tay một mảnh đất rộng� 20 x 35 km trong nội địa Đ�ng Dương, được vẽ cho Bộ Bản Xứ Sự Vụ (Ministry of Indigenous Affairs), 1874-75.� Được t�m thấy trong c�c t�i liệu của nh� th�m hiểm người Ph�p, F. J. Harmand, v� được k� t�n bởi Dr. Nansot (27.5 cm x 39 cm) (xin cảm ơn hảo � của Thư Viện Đại Học Cornell).

 

 

������ Để thưc hiện dự kiến của m�nh về một nước L�o thuộc Ph�p, Harmand tin rằng người d�n bản xứ trước ti�n phải được thay thế.� Trong năm 1880, �ng c� viết rằng �điều cần thiết trước ti�n l� người L�o phải bị loại trừ, kh�ng phải chỉ bằng c�c phương c�ch bạo lực, m� bởi c�c hiệu quả tự nhi�n của sự cạnh tranh v� giống d�n chủ tể l� sắc d�n th�ch nghi nhất.� Để ho�n tất điều n�y, �ng dự kiến chuy�n chở �người An Nam� (người Việt Nam), một khi đ� được khuất phục, �để thực d�n h�a c� lợi cho ch�ng ta tại phần lớn [Thung Lũng s�ng Mekong tại L�o] nơi m� họ sẽ mau ch�ng thế chỗ cho c�c mảnh vụn của c�c sắc d�n gi� yếu đang cư ngụ ở đ�.� 11

������ Sau Harmand, Auguste Pavie đ� thực hiện một loạt c�c cuộc th�m hiểm gian tru�n khắp miền trung Đ�ng Dương từ năm 1886 đến 1895. �Du h�nh bằng voi, b�, ngựa v� ch�n, Pavie đ� t�m c�ch ho�n tất được một cuộc khảo s�t th�ng suốt chưa từng c� về xứ L�o.� Bản đồ ph�t sinh từ c�ng t�c tại chỗ của �ng được c�ng bố năm 1899 v� vẫn c�n l� kiểu mẫu cho việc vẽ bản đồ của v�ng trong hai thập ni�n kế tiếp.� Sự m� hoặc của s�ng Mekong như một th�ng lộ con thoi đến Trung Hoa kh�ng ho�n to�n bị l�ng qu�n, một thế hệ mới c�c kẻ ủng hộ tin tưởng rằng n� c� thể phục vụ c�ng việc như thế nếu một lối th�ng h�nh kh� tốt v�ng qua con s�ng ở th�c Khone được t�m thấy.� Ngay ch�nh L�o vẫn c�n được l� tưởng h�a như một v�ng gi�u c� bao la � trong sự dự liệu cuộc viễn th�m của Pavie, Hội Địa Dư Thương Mại Ba L� (Commercial Geographic Society of Paris) c� �m chỉ đến �c�c sự gi�u c� kh�ng thể t�nh to�n được� của đất nước n�y.

������ C�c tiểu quốc nhỏ nhặt của L�o kh�ng thể kh�ng cự sự b�nh trướng của Ph�p.� Nhưng nh� vua Xi�m La, nhận thức sắc b�n rằng nước Ph�p đang thu v�t c�ng nhiều c�ng tốt phần đất �chưa được x�c lập� của Đ�ng Dương, đ� t�m c�ch mở rộng quyền chủ tể của n� sang bờ ph�a đ�ng của con s�ng, v� khởi đầu một cuộc đ�nh cờ địa dư với người Ph�p.

Miến Điện v� Th�i Lan

������ Trong số c�c nguy�n nh�n kh�c nhau đằng sau c�c cuộc tranh chấp Miến Điện � Anh Quốc đ� dẫn người Anh đến việc x�m chiếm Miến Điện, �c� một điều khiến ch�ng ta quan t�m ở đ�y, tức một sự đụng độ của c�c kh�i niệm địa dư kh�c nhau l�m trầm trọng hơn sự bế tắc trong vũng lầy.� Miến Điện tuy�n nhận một số lời thề trung th�nh từ c�c vương quốc Assam, Maniput, v� Arakan, nhưng b�c bỏ sự quy tội về bất kỳ cuộc đột k�ch n�o m� c�c vương quốc đ� c� thể đ� thực hiện v�o c�c phần đất đ� sẵn bị chiếm hữu bởi C�ng Ty Đ�ng �n tại Ấn Độ.� Anh Quốc, với kh�i niệm T�y phương của m�nh về kh�ng gian ch�nh trị, kh�ng thể hiểu được kh�i niệm của Đ�ng Nam � về c�c khu vực bi�n cương v� quyền chủ tể kh�ng r� r�ng.� Nh� Vua Bagyidaw của Miến Điện kh�ng nghĩ về mặt c�c bi�n giới ch�nh x�c, m� đ�ng hơn đ� nh�n Assam, Maniput, v� Arakan như c�c v�ng tự trị trong bản chất, vốn chỉ được kỳ vọng sẽ kh�ng h�nh động chống lại c�c quyền lợi của Miến Điện.� �ng đ� kh�ng nhận thức c�c bi�n giới quốc gia theo c�c điều kiện tuyệt đối, r� r�ng của đ�m con bu�n tr�i ph�p �u Ch�u, m� thay v�o đ�, tưởng kiến c�c bi�n giới c� t�nh c�ch phỏng chừng v� c� thể thẩm nhập qua lại.� Nhưng t�ch ri�ng c�i nh�n hậu kiểm, Quốc Vương Bagyidaw đ� phạm phải một quyết định c� thể tệ hại nhất khi đ�p ứng c�c sự dương danh h�o huyền leo thang giữa �ng v� người Anh: �ng đ� x�m lăng xứ Bengal.� Chinh từ đ� đ� được tiếp nối bởi cuộc chiến tranh Anh-Mi�n Điện c�c năm 1824-26.

������ Người Anh đ� ph�i c�c lực lượng ngược d�ng s�ng tới Prome v� đ� đ�i hỏi rằng Arakan v� Tenasserim phải được nhượng lại cho C�ng Ty [Đ�ng Ấn].� Khi Nh� Vua từ chối, qu�n Anh tiến l�n ph�a bắc, sau hết đ� buộc Vua Bagyidaw phải từ bỏ Tavoi, Mergui, v� Tenasserim.� Với việc đoạt được c�c phần đất chiến lược n�y, C�ng Ty Đ�ng Ấn đ� chiếm đ�ng to�n thể giải duy�n hải sinh tử từ Ấn Độ đến Xi�m La, thực sự b�p cổ Ava [kinh đ� của Miến Điện khi đ�, ch� của người dịch].� Mặc d� kh�ng c� cuộc tiến qu�n xa hơn được thực hiện trong hai mươi s�u năm kế đ�, đế quốc thực d�n Anh tại Miến Điện đ� được khai sinh.

Sidney Hall, Miến Điện v� C�c V�ng Chung Quanh, 1829 �

������ Bản đồ năm 1829 của Sidney Hall mang t�n Birmah, with part of Anam and Siam (H�nh 166), ghi nhận Miến Điện trong thời kỳ chuyển tiếp của n� th�nh một thuộc địa của Anh Quốc, được ấn h�nh ba năm sau khi c� cuộc chinh phục của Anh.� �ng Hall đ� chấm định một số địa điểm nổi bật dọc theo s�ng Irrawaddy, ph�a bắc xuy�n qua Mandalay (Amaraputa), với chi tiết đ�ng kể, c�n vươn xa hơn nữa về ph�a bắc, hầu l�m bắng cớ cho mức độ theo đ� người Anh v�o l�c n�y đ� x�m nhập Miến Điện đến đ�u.� C�c bản đồ của Anh Quốc về d�ng s�ng xa đến tận Mandalay đ� được tu bổ đ�ng kể như kết quả của một cuộc thăm d� dưới t�n của Trung �y (Lieutenant) Woods, người đ� th�p t�ng một sứ bộ Anh Quốc đ�n Ava trong năm 1795 được cầm đầu bởi Thuyền Trưởng Michael Symes.� H�nh tr�nh tr�n s�ng đến Mandalay đ� trở n�n rất nổi tiếng đối với phe b�nh trướng Anh Quốc, bởi v� sự miễn cưỡng của Miến Điện chuẩn cấp cho họ c�c đặc quyền mậu dịch rộng r�i đ� dẫn dắt họ nhiều lần đến kinh đ� v�o l�c đ�.

 

H�nh 166: Burma and Thailand (Miến Điện v� Th�i Lan) Sidney Hall, 1829.� (42 x 51 cm)

 

 

Phần đất ph�a đ�ng của Miến Điện vẫn c�n, phần lớn, một v�ng b� ẩn v� chưa được khai ph� tr�n bản đồ của Hall.� Tại v�ng n�i thuộc bi�n giới Miến Đi�n � Xi�m La c� một phần được đ�nh dấu l� �Giải Đất N�i Đồi Rộng Lớn chiếm ngụ bởi người Karen.� �ng Hall đề cập đến người Karen, một trong những sắc d�n được gọi l� �bộ tộc miền nui đồi� sinh sống tại n�i đồi ph�a t�y v� bắc Th�i Lan v� v�ng bi�n cương của n� với Miến Điện.� Trong c�c nh�m n�y, người Karen c� thể đ� sống tại v�ng n�i đồi miền t�y Th�i Lan (v�o l�c n�y, vẫn c�n đất của vương quốc Lan Na) trong h�ng trăm năm, trong khi người Hmong, Akha, Lisu, Yao, v� c�c sắc d�n kh�c bắt đầu định cư tại miền bắc Th�i Lan từ Miến Điện v� L�o khoảng năm 1880. 12 Mặc d� người Karen hiếm khi được đề cập tới tr�n c�c bản đồ, họ đ� được hay biết bởi người �u Ch�u từ thế kỷ thứ mười s�u.� T�c giả Camoes, nhắc lại lời đồn đại, đ� m� tả người Karen như �c�c bộ tộc man dại cư ngụ tại c�c đồi n�i xa x�i hơn, ăn thịt qu�n th� v� x�m m�nh một c�ch hung bạo tr�n ch�nh th�n thể họ với thanh sắt nung đỏ,� c� lẽ li�n kết họ với sắc d�n đ�ng sợ Gueos.

 

Sự T�i Sinh Của Chiang Mai

������ Tiếp tục theo hướng đ�ng v�o vương quốc Lan Na, được đ�nh dấu gồm cả Lao v� An Nam, ch�ng ta t�m thấy Chiang Mai (Xi�ng Mai) v� chỉ định bởi danh xưng hiện đại của n�, một sự chứng nhận ban đầu cho sự phục sinh của miền n�y.� V�o l�c kết th�c thế kỷ thứ mười t�m, Chiang Mai, trong một t�nh trạng suy đồi dần dần kể từ khi n� bị chiếm đoạt bởi Miến Điện trong thế kỷ thứ mười s�u, thực sự bị bỏ hoang, v� gần như đ� bị l�ng qu�n bởi ngọn b�t của nh� vẽ bản đồ, (mặc d� n� c� xuất hiện, th� dụ, tr�n bản đồ Xi�m La của La Loub�re, H�nh 129 [thuộc một chương kh�c, ch� của người dich]).� C�c trung t�m d�n số quan trọng của phần giờ đ�y l� miền bắc Th�i Lan đang trong cơn t�n ph�, d�n ch�ng của ch�ng sống rải r�c tại v�ng th�n qu�.� Trong năm 1775 � ch�nh năm m� Xi�m La tự m�nh mở cửa trở lại đới với khối T�y � triều đ�nh ho�ng gia tại Chiang Mai di chuyển xuống một trại ở ph�a nam Lamphun.

������ Biến cố định mệnh đ� đặt Chiang Mai trở lại tr�n bản đồ, một c�ch mỉa mai, l� sự t�n ph� của Miến Điện tr�n th�nh phố Ayuthaya [kinh đ� của Th�i Lan khi đ�, ch� của người dịch] năm 1767.� Cuộc tấn c�ng đ� khiến cả Xi�m La lẫn Lan Na nhận thức r� r�ng rằng v� quyền lợi hỗ tương, ch�ng cần li�n kết lực lượng để chống lại Miến Điện.� Tiếp theo sau cuộc lục so�t Ayuthaya, kinh đ� của Xi�m La được t�i thiết lập xa hơn về hướng nam b�n bờ ph�a đ�ng của con s�ng Chao Phraya tại Thonburi.� N� vẫn c�n ở lại đ� cho đến năm 1782, khi kinh đ� được di chuyển một lần nữa, về ph�a hạ lưu b�n bờ t�y, tại Bangkok.� Trong năm 1797, nh� vua xứ Lan Na t�i nhập Chiang Mai, được bảo vệ bởi một li�n minh với Xi�m La.� Trong nhiều năm kế đ�, lực lượng kết hợp của Xi�m La v� Lan Na đ� đ�nh trả thắng lợi c�c cuộc tấn c�ng li�n tiếp của Miến Điện.� Miến Điện, trong khi đ�, ng�y c�ng trở n�n bận t�m với người Anh.

������ Li�n minh Xi�m La � Lan Na l�nh đạo trực tiếp Chiang Mai, Chiang Rai v� c�c bang quốc kh�c ở miền bắc, sau hết đ� trở th�nh một phần của Th�i Lan.� Chiang Rai, nằm gần c�c bi�n cương với cả Miến Điện v� L�o, đ� kh�ng ch�nh thức được t�i lập cho m�i đến năm 1844 v� ch�nh v� thế chưa xuất hiện tr�n bản đồ của Hall.� C�c bi�n giới hiện đại của miền bắc Th�i Lan, Miến Điện v� L�o l� kết quả của c�c hiệp ước với Ph�p v� Anh được soạn thảo giữa c�c năm 1894 v� 1904 (xem bản đồ năm 1904 về Chiang Mai, H�nh 168).

 

Người Anh Khai Th�c C�c Nguồn T�i Liệu Bản Xứ

������ Trong khi c�c bản đồ �u Ch�u theo truyền thống bao gồm một tỷ lệ khoảng c�ch được t�nh to�n trong một hay nhiều loại đơn vị dặm (mile) đường của �u Ch�u, Hall đ� ghi lại tỷ lệ x�ch của �ng theo dặm Anh v� �Ro�-ning của Xi�m La�, từ �ro�-ning� được nghĩ ph�t sinh từ từ ngữ nueng-roi, con số một trăm trong tiếng Th�i � n� c� thể tương đương với một l� [league, đơn vi đo đường d�i, thay đổi t�y nơi v� thời gian; tại c�c nước theo đơn vị của Anh, thường bằng ba (3) dặm Anh hay ba hải l�, ch� của người dịch].� 13 Nỗ lực n�y để chỉ dẫn bằng số đo lường đường thẳng của Th�i chỉ l� một mảnh bằng cớ của sự quan t�m của Anh Quốc trong việc thu thập những g� họ c� thể r�t ra được từ c�c đồng sự bản xứ của họ.� Trong năm 1795, Francis Hamilton, cư d�n tại Miến Điện trong t�m th�ng như một phụ t� cho vi�n đại sứ đầu ti�n của nước �ng ở nước n�y, đ� thu thập, nghi�n cứu, v� gi�m s�t việc vẽ bản đồ Miến Điện.� Trong khi Hamilton quan t�m đến c�c bản đồ Miến Điện v� c�c sự ch� � học thuật của họ, �ng cũng lấy l�m toại nguyện bởi họ �c� khuynh hướng chiếu rọi nhiều �nh s�ng v�o địa dư của v�ng � được gọi l� V�ng Xa Hơn B�n Đảo Ấn Độ (Further Penisula of India).�� Chắc chắn điều n�y được ch� � một c�ch đặc biệt, xảy ra v�o một l�c khi m� người Anh đang tranh đua để chiếm hữu đất đai của Miến Điện.� Th� dụ trong số c�c bản đồ thụ đắc được, l� một bản đồ về xứ Lan Na, m� trong năm 1795, vẫn c�n được săn t�m bởi Miến Điện, v� ch�nh từ đ� nhiều phần l� một đối tượng của c�c bản vẽ của Anh Quốc.

������ Một nh� vẽ bản đồ Anh Quốc kh�c quan t�m đến c�c bản đồ bản xứ l� James Low.� Tại Penang (c� t�n Anh ngữ l� Prince of Wales Island), trong năm 1824, Trung �y Low đ� đề tr�nh l�n c�c nh� chức tr�ch Anh Quốc tr�n h�n đảo một bản đồ của nước Xi�m La, Căm Bốt v� L�o m� theo l� thư đ�nh k�m, �ng đ� ho�n tất đầu ti�n hồi năm 1822, �từ một khối lượng lớn lao c�c nguy�n bản, v� t�i tin tưởng chắc chắc, l� c�c Họa Đồ Bản Xứ đ�ch thực, C�c Lộ Tr�nh, v� c�c tin tức truyền khẩu.� 14 Bản đồ của Low chứa đựng kh� nhiều c�c dữ liệu địa h�nh nhưng kh�ng đạt được lời hứa hẹn của t�c giả rằng n� ch�nh x�c �trong mọi h�nh thể v� ranh giới ch�nh yếu của n�.�� Kh�ng bao l�u sau khi bản đồ được c�ng bố, �ng Low đ� tham dự v�o cuộc Chiến Tranh Anh-Miến Đầu Ti�n (First Anglo-Burmese War).

Việc Vẽ Bản Đồ S�ng Mekong v� Số Phận Của Th�i Lan

������ Năm 1830, �ng Low đưa ra một bản đồ mới cho v�ng trong khi cư tr� tại Calcutta. 15 T�c phẩm n�y mang lại một số cải tiến khi�m nhường trong sự ph�c họa c�c bờ biển như được khảo s�t bởi John Crawfurd, một sứ giả người Anh x�ng x�o được ph�i đến Bangkok năm 1821, cũng như một số bờ biển được vẽ bởi ch�nh �ng Low.� Tuy nhi�n, khuyết điểm ch�nh của bản đồ rằng n� đ� lưu truyền quan điểm �u Ch�u sai lầm về Vương Quốc Xi�m La hẹp hơn nhiều (từ t�y sang đ�ng [tức chiều ngang]) so với thực địa bằng c�ch đặt S�ng Mekong qu� xa về ph�a t�y.� Bởi v� s�ng Mekong được nh�n như ranh giới giữa Xi�m La v� c�c nước l�ng giềng của n� ở ph�a đ�ng, sự ngu dốt về d�ng chảy của con s�ng đ� di chuyển phần thực sự l� miền đ�ng của Xi�m La v�o nước L�o v� Căm Bốt.� Sự tăng cường của Low tr�n l�i lầm n�y c� thể đ� ảnh hưởng đến diễn biến trong c�c cuộc tranh d�nh thuộc địa tại Đ�ng Nam � hồi thế kỷ thứ mười ch�n.�

������ C� hai nguy�n do cho sự kiện n�y.� Trước ti�n, nếu tầm trải rộng thực sự của Xi�m La được nhận biết bởi c�c nh� chức tr�ch Anh Quốc tại Ấn Độ hay c�c kẻ đi t�m kiếm thuộc địa người Ph�p tại Đ�ng Dương, sự chinh phục Xi�m La sẽ mang thứ tự ưu ti�n cao hơn, vừa như một phần thưởng cụ thể tự bản th�n n�, vừa để n� tr�nh c�c sự tranh chấp với Xi�m La trong tương lai.� L� do thứ nh� l� cung c�ch theo đ� Xi�m La đ� t�nh to�n trong c�c thỏa ước Anh-Ph�p để chia cắt v�ng Đ�ng Nam � lục địa.� Trong khi người Anh đang khống chế Miến Điện, người Ph�p bắt đầu củng cố sự tuy�n x�c của họ tại Đ�ng Dương, Anh v� Ph�p đồng � d�ng Xi�m La như một v�ng tr�i độn giữa hai nước � một sự thỏa thuậm xem ra hợp l� nếu c�c nh� thương thuyết tin rằng Xi�m La l� một mảnh đất thon gọn.� Ch�nh v� thế Xi�m La được dự tưởng như một khu vực bi�n cương, hay một quốc gia [nguy�n bản tiếnh Anh in sai, sate (l�m cho thỏa th�ch), đ�ng ra phải l� state: quốc gia, ch� của người dịch] tr�i độn, bởi Anh v� Ph�p.� Kh� l�u sau n�y, c�ng nguy�n tắc địa dư n�y c� thể được nhận thấy nơi c�c DMZ (demilitarized zones: khi phi qu�n sự) của H�n Quốc v� Việt Nam.

 

Bưu Thiếp Với Bản Đồ V�ng Đ�ng Nam � Lục Địa

 

 

������ Bản đồ Weller cho thấy vương quốc Lan Na như �C�c Bang Quốc d�n Shan: Shan States�, mới được s�p nhập v�o Xi�m La như c�c v�ng đất triều cống trong một li�n minh để chống lại Miến Điện.� C�c Bang Quốc d�n Shan xa hơn về ph�a bắc được ph�n định l� triều cống đối với Ava (Miến Điện).� Bi�n giới ph�n chia hai vương quốc ở ph�a bắc được vạch thẳng ở kinh độ 20 o bắc, gần nơi m� bi�n giới bất thường hiện đại tọa lạc giờ đ�y.� Chiang Mai được ghi l� Zimm�, �vốn l� một c�ch phi�n dịch trong Anh ngữ thế kỷ thứ mười ch�n c�ch ph�t �m của người Miến cho danh xưng đ�.� Vientiane (Vạn Tượng), thủ đ� hiện đại của L�o, đ� bị chiếm đ�ng v� bị ph� hủy phần lớn bởi Xi�m La năm 1827, v� xuất hiện chỉ như l�ng Ban-chan hay Vien-chan c�ch xa con s�ng Mekong v�i dặm.

� ���� C�c cuộc thương thuyết của Anh Quốc với triều đ�nh Xi�m La chứng tỏ �t nhất đ� khiến cho người Anh thất vọng, y như c�c cuộc điều đ�nh với Miến Điện.� Anh Quốc đ� mong muốn ấn định một bi�n giới theo � niệm T�y phương, r�nh mạch giữa c�c phần đất cưỡng chiếm của n� tại Miến Điện với phần đất tuy�n nhận bởi Xi�m La, nhưng Bangkok đ� kh�ng hiểu l� do tại sao lại cần thiết để x�c định một ranh giới ch�t n�o, v� khi bị th�c đẩy để l�m như thế, n� chỉ c� thể đưa ra một sự m� tả của một kh�ch du lịch về một v�ng �bi�n cương� mơ hồ hơn l� một ranh giới.� C�c con s�ng v� n�i non, dĩ nhi�n, l� bộ phận của c�c trụ cột hướng dẫn, nhưng c�c điểm mốc cũng l� �c�c rừng gỗ teak, c�c ngọn n�i b�n tr�n c�c ngọn n�i, c�c ao b�n nơi c� ba ng�i ch�a, c�c c�y Maprang [?], ba đống đ�,� v.v� 16 C�c thương thuyết gia người Anh c�n sững sờ hơn nữa khi Xi�m La li�n tiếp cho thấy kh�ng quan t�m đến việc thực sự đi đến nơi để x�c định v� vẽ c�c bi�n giới tuy�n nhận của họ, để mặc người Anh l�m việc đ� nếu họ thực sự cảm thấy l� cần thiết.

������ Kh�ng l�u trước khi c� bản đồ Weller, một vụ tranh chấp đ� xảy ra tại một ng�i l�ng người Karen tr�n n�i giữa Chiang Mai v� Ava � một khu vực kh� trống trơn tr�n bản đồ.� Người Anh ngạc nhi�n nhận thấy người d�n ở Chiang Mai kh� thờ ơ với sự rắc rối, n�i rằng thị trấn Karen đ� �kh�ng thuộc v�o ai cả.�� Dĩ nhi�n, trong c�i nh�n của người Anh, một thị trấn kh�ng thể �kh�ng thuộc ai cả�, nhưng ngay cho đến ng�y nay, nhiều bộ tộc miền n�i kh�c nhau dọc theo bi�n cương Th�i � Miến phần lớn sống dửng dưng với căn cước d�n tộc, v� nhiều kẻ sống trong phạm vi l�nh thổ Miến Điện đ� kh�ng cự một c�ch dữ dội thẩm quyền t�i ph�n của Rangoon tr�n đời sống của họ.� Trong khai niệm về kh�ng gian địa dư của họ, họ sống tại �c�c kẽ hở� (cracks) giữa c�c l�ng giềng lớn hơn � nh� của họ kh�ng nằm tr�n �bản đồ� của bất kỳ nước n�o.�

������ Bi�n giới t�y bắc của khu vực trống trơn tr�n bản đồ Weller l� S�ng Salween.� C� nhiều rừng gỗ teak dọc theo c�c bờ của con s�ng n�y v� trong miền của Lan Na (phần lớn khu vực trống trơn) m� người Anh hắng h�i chiếm hữu.� Ở đ�y người Anh nhận thấy m�nh ở trong một �l�nh địa� kh�i niệm kh�c thường hơn nữa so với trước đ�y, bởi c�c miền ph�a bắc bị ph�n h�a nhiều hơn những miền m� họ đ� sẵn c� kinh nghiệm tại Miến Điện v� Xi�m La ch�nh danh.� Nhiều ng�i l�ng kh�c nhau đ� thuộc về một hay nhiều vương quốc v� người d�n sống dọc bi�n cương với v�ng giờ đ�y trở th�nh Miến Điện thuộc Anh kh�ng thể hiểu được tại l�m sao m� họ kh�ng c�n c� thể vượt qua một lằn ranh v� h�nh n�o đ� (bi�n giới do Anh x�c định của Miến Điện] để tiếp tục mậu dịch, săn bắn hay đ�nh c� như họ đ� từng l�m trước đ�y, kh�ng cần để � tới �quyền sở hữu� tr�n đất đai.� Giống y như c�c nh� chức tr�ch Xi�m La n�u � kiến với người Anh rằng họ cứ tiến tới v� vẽ c�c ranh giới đề nghị m� kh�ng cần c� họ [vi�n chức Th�i, ch� của người dịch] đi theo, Chiang Mai cũng b�y tỏ kh�ng quan t�m đến việc vẽ bản đồ con s�ng Salween, nhưng khuyến kh�ch người Anh h�y tự m�nh l�m như thế.� Kết quả, giữa c�c năm 1847 v� 1849, c�c nh� địa ch�nh Anh Quốc đ� vẽ bản đồ s�ng Salween với chi tiết, v� từ đ�, c� sự cải tiến trong việc ph�c họa con s�ng đ� giữa bản đồ của Hall năm 1829 với bản đồ của Weller năm 1863.

������ Tuy nhi�n, Weller nhận biết sự kiện rằng nhiều vương quốc nhỏ b� nằm ở c�c kẻ hở giữa c�c cuờng quốc Đ�ng Nam � quan trọng.� Dọc bờ t�y của s�ng Cửu Long tại miền bắc-đ�ng bắc Th�i Lan, ch�ng ta t�m thấy �c�c Bang Quốc Nhỏ triều cống Trung Hoa, Xi�m La v� Nam Kỳ�.�� C�c �Bang Quốc d�n Shan� ph�a bắc (giờ đ�y l� miền d�n Shan của Miến Điện) được ghi nhận như thần phục đối với Ava, trong bkhi C�c Bang Quốc d�n Shan miền nam (Chiang Mai) th� thần phục Xi�m La.� Căm Bốt được vẽ phủ ch�m, một c�ch mơ hồ, l�n Th�i Lan v� Việt Nam.� B�n dưới n�, phần c�n lại của �Camboja Độc Lập: Inđepenent Camboja�, v�ng m� hồi đầu của thế kỷ thứ mười ch�n được d�ng như một quốc gia tr�i độn giữa Việt Nam v� Th�i Lan.

 

H�nh 168: Bản Đồ Chiang Mai, v�o khoảng 1904.� Theo một sự ghi ch� ở cuối, viết bởi một sĩ quan qu�n đội năm 1972, bản đồ được �lập ra năm 1904 khi �ng Tướng Ho�ng Th�n (General Prince) NakhonCaisi Suradet du h�nh đến c�c tỉnh miền bắc.� [được vẽ lại bởi H. Penth (1986) từ một bản sao tại Bảo T�ng Viện Quốc Gia, Chiang Mai, Th�i Lan.� Nguy�n bản được lưu trữ tại Ban Bản Đồ (Map Division), Qu�n Đội Ho�ng Gia Th�i, Bangkok.]

 

 

Chuyển Tiếp Sang Kỷ Nguy�n Hiện Đại

������ Anh Quốc v� Ph�p đ� vẽ bản đồ Miến Điện v� Đ�ng Dương theo c�c điều kiện của ch�nh họ, bởi họ l� c�c kẻ chiếm đoạt trong c�c v�ng n�y � họ đơn giản du nhập việc vẽ bản đồ phương T�y như một phần của đặc ưu quyền của sự chinh phục.� Xi�m La, ngược lại, vẫn c�n độc lập.� Tuy thế, kh�t vọng để hiện đại h�a hạ tầng cơ sở của vương quốc, cũng như sự tranh d�nh để ấn định c�c bi�n giới thuận lợi nhất khả hữu trong bản đồ ch�nh trị đang� thay đổi của v�ng, dẫn vương quốc đến việc nhập cảng c�ch vẽ bản đồ T�y phương.

������ Sự� tiếp nhận c�c kỹ thuật vẽ bản đồ T�y phương tại Th�i Lan được gia tốc dưới thời trị v� của Quốc Vương Mongkut (1851-68).� Mặc d� Mongkut đ� sẵn quen thuộc với c�c bản đồ T�y phương, nhưng ch�nh ch�nh s�ch đế quốc của Ph�p tại Đ�ng Dương đ� cung cấp một chất x�c t�c cho việc vẽ bản đồ vương quốc kiểu �T�y phương� cho ch�nh Xi�m La .� Sau khi Ph�p đ� thực sự chinh phục được Việt Nam, n� bắt đầu di chuyển s�u v�o nội địa, x�m nhập nhiều bộ tộc nhỏ nằm ở c�c giải đất lờ mờ ph�n c�ch Xi�m La với Việt Nam v� Căm Bốt.� Trong năm 1866, Mongkut hay biết rằng c�c nh� th�m hiểm Ph�p đang khảo s�t c�c khu vực nằm dọc theo s�ng Mekong v� hiểu được c�c h�m � ch�nh trị của việc vẽ bản đồ như thế, đ� thu� mướn một nh� địa ch�nh H�a Lan cầm đầu một to�n đến s�ng Cửu Long để vẽ bản đồ miền n�y cho Th�i.

������ Việc n�y ch�m ng�i cho một cuộc tranh đua c� hiệu quả x�a bỏ �t�m l� m� h�nh tiểu vũ trụ thu nhỏ: mandala psychology� cổ xưa của địa l� ch�nh trị Đ�ng Nam �, trong đ� quyền lực v� chủ quyền chiếu rọi ra b�n ngo�i từ trung t�m của một vương quốc.� Cả Ph�p lẫn Xi�m La đều vội v� để đặt bước ch�n đầu ti�n đến nơi lu�n lu�n l� c�c-v�ng-đất-nằm-ở-c�c-kẽ-hở -- những miền được chiếm ngụ bởi c�c t� trưởng v� d�n miền n�i c� thể ch�nh thức t�n dương một hay nhiều vương quốc to lớn với cống phẩm v� biểu tượng của l�ng trung th�nh, nhưng trong bản chất vẫn tự trị.� Đột nhi�n, c�c khoảnh đất xa x�i n�y bị �p lực phải tự xếp h�ng hoặc l� với Xi�m La hay với Ph�p, để bao gồm cộng đồng của họ với b�n n�y hay b�n kia của một lằn ranh tưởng tượng x�c định quyền sở hữu ch�nh trị.� Sự ph�n chia địa l� ch�nh trị n�y, theo định nghĩa, c� nghĩa sự loại bỏ ch�nh c�c tiểu quốc t� hon n�y.

������ Xi�m La cũng thu� mướn c�c kỹ thuật gia ngoại quốc, d� kh�ng nhất thiết phải l� c�c nh� địa ch�nh hay c�c người vẽ bản đồ chuy�n nghiệp, để thực hiện việc vẽ bản đồ được tiếp nối bởi c�c dự �n canh t�n h�a.� Ước vọng x�y dựng c�c đường lộ, đường rầy xe lửa, v� đường d�y điện t�n đều đ�i hỏi rằng c�c cuộc khảo s�t địa ch�nh t�n tiến phải được tiến h�nh.� Ngay Auguste Pavie, sau n�y trở n�n nổi tiếng như một nh� th�m hiểm người Ph�p tr�n phần nội địa Đ�ng Dương, đ� l�m việc tại Xi�m La trong khoảng 1878-79, chỉ huy sự x�y dựng một đường d�y điện t�n từ Bangkok đến Battambang (nay nằm tại Căm Bốt), được nối liền với đường d�y của Ph�p đến tận S�ig�n.

������ Trong năm 1880, �một động lực mới đến từ l�ng giềng thực d�n ph�a t�y của Xi�m La.� Anh quốc đ� thực hiện c�c cuộc khảo s�t địa ch�nh theo ph�p đo tam gi�c s�u rộng tại Ấn Độ v� Miến Điện, nhưng cần tiến v�o Xi�m La để ho�n tất tiến tr�nh.� Nhiều người trong triều đ�nh Xi�m La đ� nh�n lời y�u cầu trắc địa theo ph�p đo tam gi�c tại Bangkok với sự ngờ vực, đặc biệt bởi v� hai trong c�c mốc l�m chuẩn cụ thể l� c�c địa điểm t�n gi�o quan trọng.� Nhưng Quốc Vương Chulalongkorn đồng � với đề nghị khi được n�u � kiến rằng ph�p trắc địa theo tam gi�c sẽ được thực hiện bởi c�c kỹ sư người Anh nhằm thiết lập một bản đồ của ch�nh nước Xi�m La.

������ Việc n�y, kế đ�, đ� dẫn đến c�c dự �n vẽ bản đồ của Xi�m La do người Anh cầm đầu hồi đầu thập ni�n 1880.� C�c dự �n trải khắp vương quốc v� c� t�nh chất đa trạng về mục đich: một đường d�y điện t�n được khảo s�t địa ch�nh v� x�y dựng nối liền thị trấn Tak của Xi�m La với Miến Điện; một bản đồ khu phố Trung Hoa tại Bangkok được thực hiện nhằm l�m dễ d�ng cho việc thu một sắc thuế hữu hiệu hơn tr�n c�c cư d�n Trung Hoa; một bản đồ v�ng bi�n cương giữa Chiang Mai v� v�ng l�n cận Th�i Lan đ� được vẽ để giải quyết một cuộc tranh chấp về thuế chặt c�y; v� một bản đồ được ph�c họa về ranh giới giữa Pattani, một bang quốc M� Lai nằm dưới sự kiểm so�t của Th�i Lan, với một bang quốc M� Lai thuộc quyền người Anh.� Tuy nhi�n, c�c nh� địa ch�nh Anh đ� tuy�n bố rằng nhiều người Th�i, c�c vi�n chức cao cấp cũng như thường d�n, nghi ngờ c�ng việc của họ, v� đ� cản trở c�c cuộc khảo s�t.� Nhưng trong năm 1882, một trường dạy vẽ bản đồ đ� được thiết lập bởi Ho�ng Th�n Damrong v� ba năm sau đ�, Xi�m La đ� th�nh lập Ban Khảo S�t Địa Ch�nh Ho�ng Gia (Royal Survey Department), kết hợp một c�ch hữu hiệu việc vẽ bản đồ T�y Phương như một phần ch�nh thức của văn h�a Th�i Lan.

������ C�ng l�c m� người Anh v� người Ph�p tranh nhau quyền kiểm so�t tr�n c�c miền nội địa v� c�c kỹ thuật vẽ bản đồ T�y Phương được tiếp nhận bởi nước Xi�m La độc lập, c�c sự chuyển đổi trong sự sử dụng đất đai cũng g�y ra c�c sự thay đổi mạnh mẽ đối với �bản đồ� của cả hai v�ng Đ�ng Nam � đại lục v� hải đảo.� Một n�ng phẩm thu hoạch tại Đ�ng Nam � c� một hiệu ứng đặc biệt dễ nhận thấy l� cao su.� Cao su, l� một chất c� �t sự ứng dụng thực tế cho đến khi c�c sự tiến bộ khoa học của thế kỷ thứ mười ch�n ph�t triển c�c phương thức gi�p n� được chế biến th�nh một chất liệu bền chắn tương đối kh�ng bị ảnh hưởng bởi thời tiết.� Nguy�n thủy n� chỉ được cung cấp từ c�c nguồn tiếp liệu đắt gi� v� kh�ng mấy tin cậy ở Nam Mỹ Ch�u, nhưng trong suốt hai thập ni�n cuối của thế kỷ thứ mười ch�n, cao su đ� được cấy trồng ở Đ�ng Nam � nơi m� n� được nhận thấy l� s� tăng trưởng một c�ch sinh lợi.� Việc n�y tr�ng hợp với cao tr�o mạnh mẽ trong nhu cầu to�n thế giới về chất liệu n�y, v� kh�ng l�u c�c đồn điền cao su đ� phủ k�n c�c khu vực bao la ở Việt Nam, Căm Bốt, M� Lai, Sumatra, v� Java, chiếm chỗ c�c hoa m�u đương hữu v� khai khẩn c�c khu rừng v� c�c giải đất rộng lớn trước đ�y kh�ng được canh t�c.� Kế tiếp đ�, sự đầu tư đ�ng kể m� c�c đồn điền n�y đ�i hỏi đ� củng cố hơn nữa sự kiểm so�t của thực d�n tr�n c�c miền n�y.

������ V�o c�c thập ni�n đầu của thế kỷ thứ hai mươi, phần cướp đoạt của thực d�n v� vị thế của Xi�m La đ� đặt định nền tảng cho c�c sự ph�n chia ch�nh trị m� ch�ng ta c� ng�y nay, v� sự th�m hiểm năng nổ tiếp diễn v�ng nội địa đ� khai mở nhiều b� mật địa dư quan trọng của miền n�y.� Nhưng kh�ng phải Đ�ng Nam �, cũng như bản th�n việc vẽ bản đồ, lại bất động, v� việc vẽ bản đồ đất đai, nh�n chủng, c�c nguồn t�i nguy�n thi�n nhi�n, đ�y đại dương, v� v� số c�c kh�a cạnh kh�c, vẫn được li�n tục cho đến thời đại của ch�ng ta./-�� ��������

_____

CH� TH�CH

1. Trung �y James Low trong một l� thư năm 1824 gửi Bộ Trưởng Ch�nh Phủ Penang (Secretary to the Government of Penang (khi đ� l� Đảo Prince of Wales Island).� Xem Sternstein, Larry, �LOW� Maps of Siam, trong tạp ch� The Journal of� the Siam Society, Vol. 73, part 1 & 2, Jan-July, 1985, Bangkok, trang 132.

2. Clifford, Hugh, Further India being the Story of Exploration from the Earliest Times in Burma, Malaya, Siam, and Indo-China.� London: Lawrence and Bullen, Ltd., 1904,� c�c trang 1-14.

3. Tr�ch từ một l� thư của W. E. Phillips trong Hồ Sơ X� Nghiệp C�c Khu Định Cư Eo Biển (Straits Settlements Factory Records, 15 April, 1824, c�c trang 442-445; được tr�ch dẫn bởi Larry Sternstein, trong b�i �LOW� Maps of Siam, tr�n tạp ch� The Journal of the Siam Society, Vol. 73, trang 135.

4. Clifford, s�ch dẫn tr�n, c�c trang 131-133.

5. Francis Garnier, trong Clifford, s�ch dẫn tr�n,c�c trang 133-134.� Một c�ch mỉa mai, l� thư từ đ� điều n�y được r�t ra được giả định viết bởi Garnier khi anh ta v�o khoảng hai mươi tuổi, c� nhật kỳ ba năm trước khi c� cuộc Chiến Tranh Nha Phiến, trong đ�, nước Ph�p đ� li�n kết với Anh Quốc trong việc cưỡng b�ch Trung Hoa mở cửa cho thuốc phiện.

6. The French in Indochina , t�c giả v� danh, Edinburgh: T. Nelson & Sons, 1884 [S�ch in lại, với lời đề tựa của Dean Meyers, Bangkok, White Lotus Co. Ltd., 1994], trang 1.

7. Sar Desai, D. R., Southeast Asia Past & Present, Boulder and San Francisco: Westview Press, 1989 (1994), trang 73.

8. Như được tr�ch dẫn trong Winichakul, Thongchai, Siam Mapped a History of the Geo-body of a Nation, Honolulu: University of Hawaii Press, 1994 [Chiang Mai, Silkworm Books], trang 85.

9. The French in Indochina, s�ch dẫn tr�n, trang 40.

10. Taylor, Keith Weller, The Birth of Vietnam, University of California Press, Berkeley and Los Angeles, trang 252.

11. Tr�ch dẫn bởi Martin Stuart-Fox, A History of Laos, Cambridge University Press, 1997, trang 47.

12. Penth, Hans, A Brief History of Lan Na, Chiang Mai: Silkworm Books, 1994, trang 39.

13. Xem, Lotika Varadarajan, �Glimpses of Seventeenth Century Currency and Mensuration in Siam�, trang 207, ch� th�ch số 13, trong tạp ch� Journal of the Siam Society, Vol. 83, Parts 1 & 2, 1995.

14. Tr�ch dẫn từ Sternstein, �LOW� Maps of Siam, tạp ch� đ� dẫn tr�n, c�c trang 132 & 135.

15. Bản đồ thứ nh� n�y c� nhan đề A Map of Siam, North Laos, Martaban, Tennasserim and Part of the Malayan Peninsula � Xem, Sternstein, �LOW� Maps of Siam, tạp ch� đ� dẫn tr�n, trang 153, v.v�

16. Tr�ch dẫn từ Winichakul, s�ch dẫn tr�n c�c trang 67-70.

_____

PHẪN II

C�C PHỤ LỤC TR�CH DỊCH TỮ NGUY�N BẢN

 

*****

 

Phụ Lục 1

� Niệm Của Người Việt Nam Về Xứ Sở

(c�c trang 16-17)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch] � C�c con s�ng, c�ng với n�i hay rừng, l� chủ điểm ch�nh yếu trong địa dư Đ�ng Nam � v� trong đời sống Đ�ng Nam �.� C�c từ ngữ trong tiếng Phạn (Sanskrit) v� tiếng Pali chỉ �đại lục hay ch�u: continent� lần lượt l� dvipa v� dipa, vốn bao gồm dvi = hai, v� apa = nước, ch�nh từ đ� tạo ra h�nh ảnh trong tinh thần về một khối đất như một vật g� đ� nằm giữa hai d�ng nước, bất luận l� biển cả hay s�ng ng�i. 1 Một trong những từ ngữ bản địa của người Việt Nam để chỉ xứ sở của họ l� Non Nước [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], c� nghĩa l� �n�i v� nước� . 2 Bởi do h�nh dạng v� lộ tr�nh của c�c con s�ng, c�c ngọn n�i v� c�c h�n đảo ấn định sự di chuyển của người d�n Đ�ng Nam �, một bản đồ về sự sinh hoạt con người h�ng ng�y tại v�ng đất liền Đ�ng Nam � v� c�c h�n đảo Nam Dương c� thể h�nh dung như c�c đường �dọc: vertivcal� v� �ngang: horizontal� v� tận.� Đối với d�n ch�ng v�ng b�n đảo v� nội địa, đời sống được chia sẻ c�ng với c�c d�ng s�ng v� sự di chuyển tổng qu�t của họ theo hướng bắc-nam, trong khi sư du h�nh duy�n hải hay xuy�n-hải đảo của d�n ch�ng v�ng Đ�ng Nam � hải đảo phần lớn theo trục đ�ng-t�y.� Trong khi c�c hải đảo c� nhiều hệ thống s�ng ng�i đa cấp, v�ng lục địa lệ thuộc v�o c�c mạch ch�nh của s�ng lớn v� c�c đồng bằng ph� nhi�u của ch�ng.� C�c vương quốc cổ xưa ở Pagan [Miến Điện], Angkor [Căm Bốt], v� Việt Nam đều bắt nguồn tại c�c đồng bằng l�a gạo ph� nhi�u (lần lượt, đồng bằng s�ng Irrawaddy, T�nle Sap, lưu vực s�ng Hồng).� C�c hệ thống s�ng ng�i, như ch�ng ta sẽ thấy, cũng l� c�c mạch ch�nh của quyền lực ch�nh trị, bởi v� bản chất của địa h�nh Đ�ng Nam � khiến cho sự kiểm so�t ch�nh trị trực tiếp tr�n d�n ch�ng xa x�i trở n�n kh� khăn.

������ C�c sự kh�c biệt về n�ng nghiệp c� để lại dấu vết của ch�ng tr�n bản đồ.� Một số c�c sự kh�c biệt n�y ph�t sinh từ sự th�ch ứng với m�i trường, chẳng hạn như c�c kỹ thuật canh t�c m� người d�n đồi n�i sử dụng để sống s�t tại c�c n�i đồi ở L�o, Th�i Lan v� Miến Điện.� C�c sự kh�c biệt kh�c nặng về văn h�a, tạo ra sự tương phản địa h�nh trong c�ng m�i trường.� Người đ�n b�n ph�a Việt Nam v� Căm Bốt của s�ng Mekong dồn sức cho c�c c�nh đồng l�a gạo l�m ra hai m�a gặt trong một năm, trong khi d�n b�n ph�a t�y th� biến đổi v� hoang dại hơn. �

������ � Địa l� Đ�ng Nam � ngăn c�ch c�c văn h�a tiến triển của Ấn Độ v� Trung Hoa với nhau; c�ng l�c, với c�c mực độ kh�c nhau, c�c nền văn minh của Đ�ng Nam � đ� vay mượn từ cả hai, th�ch ứng v� biến đổi c�c tư tưởng của Ấn Độ v� Trung Hoa cho ph� hợp với c�c nhu cầu của ch�ng.� Ảnh hưởng của Trung Hoa mạnh nhất ở Việt Nam, nhưng kh�ng trải d�i xuống tới miền nam Đ�ng Dương m�i cho đến thế kỷ thứ mười t�m.� Miền nam Đ�ng Dương, bao gồm Ch�m v� Căm Bốt, tương đồng về mặt văn h�a với phần c�n lại của Đ�ng Nam �.

������ Việc �Ấn Độ hoa� v�ng Đ�ng Nam � thường hay được thảo luận, bắt đầu sớm sủa ngay từ thế kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n, kh�ng bao giờ l� một sự tiếp nhận m� qu�ng c�c gi� trị Ấn Độ, m� đ�ng hơn, sự tiến h�a của văn h�a Đ�ng Nam � r�t ra từ kinh nghiệm v� nguồn cảm hứng của văn minh Ấn Độ.� C�c t�n ngưỡng địa phương v� Ấn Độ đan lẫn v�o nhau đến nỗi c�c nh� x� hội học thường tranh luận nhau về việc liệu một truyền thống hay vị thần n�o đ� l� c� t�nh chất bản địa, Ấn Độ, hay bản địa với một danh xưng hay vỏ bọc Ấn Độ.� C�c miền v�ng ngo�i, nổi bật nhất l� Phi Luật T�n, chỉ c� �t kinh nghiệm hay kh�ng chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ bởi c� khoảng c�ch địa l� đ�ch thực của n�.

������ Cũng như văn h�a Trung Hoa cũng kh�ng được tiếp nhận chỉ v� văn h�a; ngay ảnh hưởng mạnh mẽ trong truyền thống của Trung Hoa tr�n Việt Nam bị giới hạn nhiều trong lớp thường d�n hơn l� c�c định chế ho�ng triều.� Th� dụ, trong khi người d�n Việt Nam chấp nhận sự sử dụng đũa để ăn từ Trung Hoa v� từ bỏ c�c nh� s�n, được dựng tr�n c�c c�y cột, �m nhạc Việt Nam chỉ vay mượn cơ cấu �m vực Trung Hoa [tức hệ thống ngũ cung, ch� của người dịch] b�n trong phạm vi c�c c�nh cổng triều đ�nh.� Trong thực tế, sự thất bại của tầng lớp tinh hoa ban sơ tại Ch�u Thổ s�ng Hồng để tạo lập một quốc gia khả dĩ sinh tồn một phần bởi c� sự ngần ngại du nhập c�c truyền thống bản xứ v�o � thức hệ Khổng học của họ. 4 �.�� �

*****

Phụ Lục 2

Ph�n Loại Ch�nh C�c Bản Đồ Về Đ�ng Nam �

(trang 33)

������ [Bắt đầu tr�ch] � Với c�c giới hạn n�y ghi nhớ trong đầu, ch�ng ta c� thể nh�n v�o c�c loại bản đồ Đ�ng Nam � kh�c nhau v� c�c ni�n đại của c�c th� dụ c�n tồn tại của mỗi loại, v� sau đ� b�nh luận về c�c loại bản đồ đối chiếu tại T�y Phương, c�c bản đồ Đ�ng Nam � c� thể được ph�n chia th�nh bốn loại ch�nh:

1) c�c bản đồ thuần t�y c� t�nh chất vũ trụ quan (trong khung cảnh n�y, c� nghĩa �si�u h�nh� hay �tinh thần� trong bản chất, hay n�i c�ch kh�c, kh�ng c� t�nh chất bản đồ địa dư;

2) c�c bản đồ đại diện một c�ch biểu trưng c�c đặc t�nh địa dư c� thực nhằm c�c mục đ�ch t�n gi�o hay ph�c họa vũ trụ quan;

3) c�c bản đồ cố gắng vẽ lại địa dư ch�n thực, bất luận theo b�o c�o hay sự quan s�t thực nghiệm;

4) c�c lộ tr�nh, c� thể được viết th�nh văn bản, được học thuộc l�ng, hay k� �m th�nh b�i h�t, d�ng để kiến tạo một h�nh ảnh tinh thần về thời gian v� kh�ng gian, chiều hương v� vị tr�, địa h�nh, v� c�c thắng t�ch. �[hết tr�ch dịch] ��

*****

Phụ Lục 3

Bản Đồ Vũ Trụ (Cosmographic Maps)

Của Đ�ng Nam � v� Việt Nam

(trang 34)

 

������ Tại Đ�ng Nam � thời tiền hiện đại, ph�c họa con đường của người ta đi đến một mức độ kh�c biệt của sự hiện hữu c�ng quan trọng y như vẽ con đường đến thung lũng b�n cạnh.� C�c bản họa tượng trưng cho thế giới v� h�nh hay si�u h�nh dưới h�nh thức c�c ng�i đền hay dinh thự bằng đ� l� c�c th� dụ cổ xưa nhất c�n sống s�t về c�c họa đồ của Đ�ng Nam �.

������ Để nh�n v�o c�c bản đồ vũ trụ của Đ�ng Nam �, cần nh�n v�o vị tr� của của c�c ngọn n�i trong đời sống Đ�ng Nam �.� Kh�ng chỉ c�c ngọn n�i l� một đặc điểm ch�nh yếu trong phong cảnh cụ thể của Đ�ng Nam �, ch�ng cũng c�n l� một phần li�n hợp của cảnh tr� tinh thần của to�n miền.� Quyền chủ tể của một nh� vua thường được li�n kết một c�ch rắc rối với một ngọn n�i, hoặc c� thực hay chỉ c� t�nh c�ch biểu trưng.� C�c ngọn n�i c� thể tượng trưng cho sự hiện th�n của c�c trạng th�i cao si�u hơn của sự hiện hữu v� đồng thời l� nơi cư ngụ của c�c thần linh.� Sự t�n k�nh d�nh cho n�i non n�y c� t�nh c�ch bản địa, nhưng được bổ t�c bởi c�c ảnh hưởng ngoại lai.� Ngọn n�i nổi tiếng nhất trong c�c ngọn n�i tinh thần l� Sumeru, được tin nằm ở ph�a bắc, tại trung t�m thế giới, c� nghĩa, tại n�i Hi M� Lạp Sơn (Himalayas) , T�y Tạng hay Rặng N�i Pamir thuộc Trung � Ch�u.

������ Khi Ấn Độ Gi�o lan truyền khắp Đ�ng Nam �, bắt đầu v�o khoảng thế kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n, n� mang theo c�ng với m�nh � tưởng về Sumeru v� c�c niềm tin Ấn Độ kh�c về c�c ngọn n�i, kế đ� h�a trộn với c�c t�n ngưỡng thờ thần linh bản địa.� Vị thần Ấn Độ, Indra (Đế Th�ch), l� ch�a tể của ngọn n�i Sumeru, v� cư ngụ tại một nơi gọi l� Trayastrima ở định n�i.� Người d�n Khmers của Căm Bốt c� ngọn n�i ri�ng của họ tương đương như Sumeru, m� họ gọi l� Ngọn Mahendra; khi t�n ngưỡng Ấn Độ vươn tới Căm Bốt, ch�ng trộn lẫn với c�c kh�a cạnh t�n gi�o của Mahendra, với c�c nh� l�nh đạo ban đầu của Khmer được x�c định như c�c sự hiện th�n tại thế gian của c�c vị thần linh của ngọn n�i vũ trụ n�y.� 42 Siva, vị thần uy quyền nhất trong c�c vị thần Ấn Độ, l� �Vị Qu�n Vương Của Ngọn N�i: Lord of the Muontain�, v� sự t�n thờ Siva như một vị thần� n�i đ� hiện diện tại Căm Bốt ngay từ thế kỷ thứ năm. 43 Tại Miến Điện cũng vậy, sự t�n k�nh n�i non nhập cảng từ Ấn Độ đ� đồng h�a với c�c v� thần linh bản địa. 44 Kh�i niệm c�c ngọn n�i linh thi�ng tiếp tục với sự du nhập của Phật Gi�o; c�c ni�n sử Trung Hoa đầu thế kỷ thứ mười ba ghi ch�p rằng tại một nước nằm ph�a t�y Căm Bốt, �c� một ngọn n�i được gọi l� Wu-nung [c� thể từ một từ ngữ M� Lai để chỉ n�i, gunong]� từ đ� người ta nhập v�o c�i Niết B�n (Nirvana).� 45

������ H�n đảo Bali, theo truyền thuyết địa phương, nguy�n thủy l� một v�ng đất phẳng, kh�ng c� n�i.� Tuy nhi�n, khi Hồi Gi�o thay thế cho Ấn Độ Gi�o tại phần lớn đảo Java, c�c vị thần Ấn Độ, lựa chọn để t�i định cư tại đảo Bali b�n cạnh, trước ti�n cần tạo ra, tr�n qu� hương hải đảo mới của họ, c�c ngọn n�i đủ cao l�m nơi cư ngụ.� Trong một phi�n bản kh�c, c�c ngọn n�i đ� được di chuyển từ miền đ�ng Java.� Ngọn n�i được t�n dương nhất trong số c�c nơi cư ngụ của cac thần linh n�y, ngọn �Sumeru� của Bali, l� n�i Gumung Agung, nằm miền đ�ng h�n đảo. 46 Bali l� thế giới, v� Ngọn Agung l� �rốn� (navel; pus�h).� C�c biểu trưng về Sumeru, trong thực tế l� c�c họa đồ vũ trụ, lu�n lu�n được t�m thấy trong c�c ng�i đền của ngay cả c�c ng�i l�ng Bali ngh�o h�n nhất.

������ C�c ngọn n�i đ� l� suối nguồn của đời sống tinh thần; ch�ng cũng l� căn nguy�n của �th�nh tố� kh�c của thế giới, c�c con s�ng, ch�nh v� thế, cũng l� suối nguồn của sinh hoạt thực tế.� Trong kh�a cạnh sau c�ng n�y, chiếc b�ng tuyệt hảo của một ngọn n�i Nam Dương, vươn cao tr�n nền thung lũng hay trổi l�n từ biển, đ�i khi được so s�nh với h�nh ảnh của một bầu v�.

������ Sự ph� nhi�u của đất đai l� một bộ phận của tượng dung học (iconography) của một loại họa đồ biểu trưng được biết dưới h�nh thức c�c bức chạm khắc tr�n đ� từ xứ Ch�m (ph�a đ�ng miền trung Việt Nam). 47� C�c bức chạm khắc n�y c� nguồn gốc như �c�c tảng đ� của nền đất� thần diệu, trong đ� h�n đ� thể hiện vị thần đất; kh�ng giống như c�c t�n ngưỡng nhập nội, trong đ� c�c thần linh cư ngụ (inhabited) ở c�c thực thể trần gian, quan điểm bản địa c� thể đ� xem bản th�n tr�i đất như một vị thần.� C�c đối tượng huyền b� như thế tương tự� như c�c h�n đ� hay g� đất được thờ c�ng bởi người Việt Nam hay Trung Hoa.� C�c tảng đ� độc kh�i của Ch�m mang h�nh thức linga, biểu tượng cho dương vật theo Ấn Độ Gi�o, tượng trưng thần Siva, hay năng lực t�i sinh sản của thi�n nhi�n.� Ch�ng được đặt ở giữa một ng�i l�ng v� r� r�ng đ� tạo ra một tiểu vũ trụ quan� đa diện về l�nh thổ, sự hiện th�n của vương quốc hay nh�m phong kiến trong đ� linga l� trung t�m.� Đ�nh tảng đ� l� vật biểu trưng cho Siva.� Siva được được đặt tr�n đỉnh h�n đ� bởi v� �ng l� �Vị Qu�n Vương Của N�i� (Meru) v� cũng bởi v� quyền lực ch�nh trị tại xứ Ch�m v� Căm Bốt ban sơ được ch�nh thống h�a qua sự đồng nhất h�a nh� vua với thần Siva.� Một phần h�nh b�t gi�c b�n dưới đầu mũi n�y tượng trưng cho thần Vishnu, v� một phần bốn mặt b�n dưới n� biểu trưng cho Brahma, kẻ gi�m s�t tất cả sự vật linh thi�ng (một th� dụ kh�c về � nghĩa đặc biệt của c�c con số n�y).� Phần dưới c�ng nhất tượng trưng cho nền đất, tức vương quốc.� Ch�nh v� thế, h�n đ� đ� tức thời l� một biểu đồ về trật tự của vũ trụ, một biểu tượng của thần quyền của nh� vua v� sự hiện th�n độc hữu của �ng với Siva, v� một họa đồ của c�c quyền lực ban sủng sự ph� nhi�u đến cho đất đai v� d�n ch�ng.� �Họa đồ� n�y về quyền lực, sự phồn sinh, v� tr�i đất c� thể phục vụ như một c�ng cụ linh thi�ng trong c�c nghi lễ sinh sản.� C�c h�nh tượng chạm khắc đ� kh�c của Ch�m c� nội dung nửa như sổ địa bạ, v� sẽ được đề cập tới trong phần li�n quan đến c�c bản đồ thực nghiệm (empirical maps) (xem trang 38) [trong nguy�n bản, ch� của người dịch].

������ Sumeru đ� được m� phỏng về mặt biểu tượng tại khắp v�ng Đ�ng Nam � theo Phật Gi�o-Ấn Độ Gi�o (Hindu-Buddhist).� C�c đền thờ Ấn Độ Gi�o tập trung v�o c�c đền thờ tượng trưng cho Sumeru, trục của vũ trụ, c� ni�n đại từ thế kỷ thứ bẩy tại Java, v� c�c c�ng thự với c�c biểu tượng kiến tr�c Phật Gi�o dựa theo ng�i đền vĩ đại tại Borobudur (khoảng 800 sau C�ng Nguy�n).� Borobudur v� c�c ng�i đền Phật Gi�o-Ấn Độ Gi�o l�n cận ph�c họa nhiều trạng th�i kh�c nhau của sự hiện hữu, l� c�c họa đồ l�u đời nhất c�n tồn tại ở Đ�ng Nam �.� C�c tầng thấp b�n dưới của Borobudur diễn tả c�c vấn đề thế tục v� tượng trưng cho c�c trạng th�i thấp k�m của � thức tinh thần: khi một người leo l�n c�c tầng tr�n, chủ đề được dần n�ng cao v� c� t�nh c�ch si�u h�nh, với thượng đỉnh biểu thị cho sự th�nh đạt được sự gi�c ngộ ch�n thực.� Nh�n như một to�n bộ, cơ cấu ph�c thảo nhất thể của vũ trụ.

������ C�c chủ điểm tương tự, mặc d� sử dụng c�c phương tiện kh�c, được ghi nhận tại Việt Nam thời ban sơ.� V�o cuối thế kỷ thứ mười, khoảng thời gian Việt Nam d�nh lại sự độc lập từ Trung Hoa sau gần một ngh�n năm lệ thuộc, c�c nghệ nh�n Việt Nam đ� ph�c thảo c�c t�n ngưỡng vũ trụ bằng việc x�y dựng một �ngọn n�i� bằng tre tr�n một con s�ng, v� trong thế kỷ theo sau, bằng việc kiến tạo một c�ng thự bằng gạch với c�c hồ nước kề cận. 48� [Xem th�m: Phụ Lục A của người dịch b�n dưới].

������ Tại Căm Bốt, c�c đền đ�i uy nghi�m tại khu Angkor (đầu thế kỷ thứ mười hai) cũng cấu th�nh một họa đồ vũ trụ, ph�c thảo cả kh�ng lẫn thời gian.� C�c nh� nghi�n cứu hiện đại kh�m ph� rằng khoảng c�ch giữa c�c th�nh tố của ng�i đền, đi từ đ�ng sang t�y, tương ứng với số c�c năm trong kỷ nguy�n hiện tại � [cũng ch�nh l� hồi] chung cuộc � của tr�i đất, theo như t�n ngưỡng Ấn Độ, được đo bằng hat ( 1 hat = tương đương 0.4 m�t). 49 �.

*****

Phụ Lục 4

Địa Dư Thực Nghiệm:

Việc Vẽ Bản Đồ Đ�ng Nam � Tại Bản Địa

(trang 38)

������ Việc vẽ bản đồ nền đất Đ�ng Nam �, trong một � nghĩa th� sơ nhất, c� thể t�m thấy tại c�c h�nh tượng chạm khắc tr�n đ� nửa c� t�nh chất vũ trụ, nửa c� t�nh chất �trần thế� được đặt tại trung t�m một số ng�i l�ng hay nh�m đất đai của người Ch�m. 53 C�c tảng đ� độc khối như thế l� một tiểu vũ trụ về một l�nh địa được x�c định r� r�ng v� được nối kết về mặt nghi lễ với c�c tảng đ� tọa lạc tại đường ranh giới l�nh địa.� Tảng đ� trung t�m mang tất cả tầm quan trọng một phần l� một biểu tượng địa bạ sơ đẳng, một �bản đồ� về đất đai, c�ng l�c n� l� vật bảo đảm cho sự ph� nhi�u v� một đối tượng cho sự t�n k�nh về t�n gi�o.� Bởi c�c ph�p quy đất đai v� t�n gi�o đan lẫn v�o nhau, v� bởi v� t�n gi�o phần n�o phục vụ cho việc hợp thức h�a c�c quyền hạn tr�n đất đai, c�c kh�a cạnh t�n gi�o v� địa bạ của tảng đ� độc khối cộng t�c với nhau trong sự h�a hợp.

������ Ngo�i bằng cứ ho�n to�n c� t�nh c�ch phỏng định được trưng dẫn trước đ�y li�n quan đến một lịch sử l�u d�i của việc vẽ bản đồ tại bản địa, t�i liệu hay biết về thuật vẽ bản đồ của Đ�ng Nam � khởi đầu qua sự c�c sự tham chiếu văn bản với c�c bản đồ của Việt Nam, Java v� Th�i Lan.� Mặc d� kh�ng bản đồ n�o trong số n�y c�n tồn tại, ch�ng c� ni�n đại trước c�c họa đồ ng�i đền tại Chiang Mai v� Chiang Rai nửa c� t�nh c�ch đia dư.� C�c bản đồ Việt Nam bắt nguồn từ c�c nhu cầu của ch�nh quyền, dĩ nhi�n đ� l� một động lực quan trọng cho việc lập bản đồ, vừa để bảo vệ c�c bi�n giới, vừa cho sự gi�m định d�n số v� c�c sắc thuế.� Trong năm 1075, theo một quyển sử k� Việt Nam năm 1479, một bản đồ được được lập cho bi�n cương ph�a nam với xứ Ch�m; c�ng quyển sứ k� n�y ghi nhận một bản đồ được lập ra trong thập ni�n 1170 l� kết quả của �một cuộc tuần tra của nh� vua v�ng bờ biển v� c�c bi�n cương.� 54 Với truyền thống Trung Hoa l�u d�i về việc lưu trữ t�i liệu kỹ lưỡng v� ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Hoa tr�n c�ng việc ch�nh phủ của Việt Nam, kh�ng c� g� đ�ng ngạc nhi�n rằng ch�nh ở Việt Nam ch�ng ta t�m thấy t�i liệu cổ xưa nhất c�n tồn tại về c�c bản đổ Đ�ng Nam � �c� t�nh c�ch thực dụng�.

������ Việt Nam đ� khởi đầu một cuộc vẽ bản đồ địa bạ triệt để hơn về đất đai v� d�n số của n� trong hậu b�n thế kỷ thứ mười lăm, khi triều đ�nh của n� du nhập c�c � niệm của Trung Hoa về hạ tầng cơ cấu x� hội v� về một ch�nh quyền tập trung hơn, mạnh hơn.� Trang bị cho ch�nh quyền với sự kiểm so�t hữu hiệu hơn tr�n l�nh thổ v� d�n ch�ng của n�, c�c cơ chế đ� được thiết lập cho một cuộc khảo s�t địa ch�nh c� phương ph�p, th�ng suốt khắp to�n thể xứ sở.� Trong năm 1467, nh� vua đ� ra lệnh mười hai tỉnh (khi đ�) của Việt Nam vẽ bản đồ tỉnh hạt của m�nh.� C�c bản đồ đ� ph�c họa lại địa h�nh, c�c đặc t�nh thi�n nhi�n v� nh�n tạo, c�c đường lộ du h�nh,� v� c�c dữ liệu li�n hệ kh�c.� Triều đ�nh thu thập c�c cuộc khảo s�t địa ch�nh ri�ng rẽ th�m v�o đ�, họ đ� bổ t�c c�c thống k� phụ trội về thường d�n v� xứ Ch�m mới vừa s�p nhập, v�ng m� Việt Nam đ� chinh phục trong thập ni�n 1470.� Tin tức tổng hợp đ� được tuy�n bố l� tập bản đồ ch�nh thức của vương quốc v�o năm 1490, ngay trước khi c� cuộc tấn c�ng của �u Ch�u, mặc d� c�c bản đồ xưa nhất c�n tồn tại của Việt Nam, c� ni�n đại từ thế kỷ thứ mười bẩy (c� thể từ thế kỷ thứ mười s�u). 55 Tập bản đồ của Việt Nam trong thế kỷ thứ mười ch�n được tr�nh b�y nơi H�nh 163 [xem trong phần ch�nh của b�i dịch b�n tr�n, ch� của người dịch] c� thể mang c�c sự tương đồng về c�ch vẽ của c�c t�c phẩm sớm hơn như thế�. � [hết tr�ch dịch]�����

*****

Phụ Lục 5

Ph� Nam

(c�c trang 29-30)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch] � Vương quốc Ph� Nam, được thiết lập tại Ch�u Thổ S�ng Cửu Long v�o khoảng thế kỷ thứ nhất sau C�ng Nguy�n, thường được nh�n như quốc gia được biết đến đầu ti�n của Đ�ng Nam �, mặc d� t�i liệu th�nh văn x�c định duy nhất về n� l� từ c�c đoạn văn trong một tập tường thuật bởi hai sứ giả Trung Hoa trong thế kỷ thứ ba. 29 Sự th�nh c�ng kinh tế của Ph� Nam phần lớn do vị tr� chiến lược của n� nằm giữa c�c địa điểm đ�ng v� t�y, bởi đ� l� một nơi chốn l� tưởng để phục vụ c�c thương nh�n v� c�c người h�nh hương t�n gi�o xuy�n qua eo biển Kra (isthmus of Kra) [Th�i Lan], hay qua lại giữa Ấn Độ v� Trung Hoa bằng c�ch l�i thuyền bọc quanh B�n Đảo M� Lai.� C�c kh�m ph� khảo cổ học được khai quật tại hải cảng của Ph� Nam ở �c Eo, bao gồm c�c chế tạo phẩm La M� v� Ấn Độ được tin l� c� ni�n đại từ c�c thế kỷ thứ nh� v� thứ ba, cho thấy n� l� một trung t�m thịnh đạt về mậu dịch đường biển. 30

������ Một vị vua đ� sử dụng c�c bản đồ để ghi ch�p c�c cuộc chinh phục của �ng v� tạo ấn tượng tr�n người d�n về tầm mức quyển chủ tể của �ng, để ghi ch�p c�c phần đất nằm dưới thẩm quyền t�i ph�n của �ng cho việc đ�nh c�c sắc thuế từ c�c thần d�n, v� để l�m dễ d�ng cho việc tạo dựng c�c đường x� v� c�c hệ thống dẫn nước tưới ti�u.� Hai ngh�n năm trước đ�y � khoảng c�ng l�c m� người d�n Nam Dương mở đường cho cuộc du h�nh đến Madagascar v� Ph� Nam đ� được th�nh lập tại phần giờ đ�y l� miền nam Việt Nam � người d�n Banaue tại miền bắc Luzon [Phi Luật T�n] đ� kiến tạo c�c v�ng ruộng bậc thang đồ sộ phần lớn c�n nguy�n vẹn cho đến ng�y nay.� C�c cấu tr�c bằng đ� tạo th�nh c�c bực thang ruộng m�nh m�ng n�y vươn l�n cao đến gần một dậm Anh (mile) từ đ�y thung lũng cho đến đỉnh n�i.� Một b�u vật của thi�n t�i v� việc x�y dựng, bản thiết kế đ� tạo ra c�c th�c nước nh�n tạo, khoan thai dẫn nước cho c�c c�y trồng theo bậc thang b�n dưới.� Mặc d� c�c ruộng l�a bậc thang tại Luzon ngoạn mục nhất trong c�c hệ thống dẫn nước tươi ti�u ban sơ, c�c phức thể dẫn nước tưới ti�u tinh vi với việc tạo c�c thang ruộng trồng l�a được biết đến trong to�n v�ng Đ�ng Nam �.� Ph� Nam v� vương quốc Căm Bốt ở khu đền Angkor tiếp nối n� tại miền nam Đ�ng Dương, cả hai đều t�y thuộc nhiều v�o c�c hệ thống dẫn nước tưới ti�u s�u rộng của ch�ng. �

������ � C�c cấu tr�c bằng đ� hướng đến vũ trụ quan c�n sống s�t tại Căm Bốt, nhưng kh�ng c� c�c bản đồ địa dư.� V�o giữa thế kỷ thứ ba sau C�ng Nguy�n, Ph� Nam, quốc gia quan trọng nhất tại miền nam Đ�ng Dương, trước khi c� sự trổi dậy của đế quốc Khmer, đ� được đến thăm bởi c�c sứ giả triều đại nh� Ng� (Wu) của Trung Hoa.� C�c sứ giả Trung Hoa đ� m� tả Ph� Nam như một địa điểm nơi m� d�n ch�ng �sống trong c�c th�nh phố, c�c cung điện, v� nh� cửa c� tường th�nh bao quanh�, 34� Tuy nhi�n, ch�ng ta kh�ng hay biết rằng liệu �c�c đồ vật kh�c� trong c�c văn khố của họ c� thể gồm cả c�c bản đồ hay kh�ng�.[hết trich]

������ Theo nh� văn Sơn Nam, �Ph� Nam chỉ l� phi�n �m tiếng Phnom � theo tiếng Mi�n l� n�i (như trường hợp Phnom Penh), chưa ắt vua ch�a xưa gọi Vương Quốc của họ l� Phnom!� (Sơn Nam, Văn Minh Miệt Vườn, Nh� Xuất Bản Văn H�a, [kh�ng ghi nơi xuất bản], 1992� [kh�ng r� c� phải s�ch in lại hay kh�ng, t�c giả c� ghi nhật kỳ viết xong l� ng�y 1-7-1970 tại S�ig�n], trang 29.

*****

Phụ Lục 6

An Nam, Đ�ng Dương

(c�c trang 46, 51)

������ [Trang 46] (Bắt đầu tr�ch) Một số thư lại ch�nh quyền nh� Tống tuy thế đ� ghi ch�p theo ni�n lịch c�c b�o c�o m� họ nghe được về c�c v�ng đất ở ph�a nam v� hai văn bản c�n tồn tại với c�c chi tiết li�n quan đến Đ�ng Nam �.� Một văn bản được viết v�o năm 1178 bởi Chou Ch�u-fei (Chu Khứ Phi), một vi�n chức của tỉnh h�ng hải tại Kuang-hsi (Quảng T�y), văn bản thứ nh� nửa thế kỷ sau đ�, viết bởi Chao Ju-kua, Ủy Vi�n về Ngoại Thương tại Ch�uan-chou (tỉnh duy�n hải Ph�c Kiến).� Chou Ch�u-fei giải th�ch rằng

Đại Dương Bao Quanh (Encircling Ocean) vĩ đại bao bọc c�c nước man rợ [Đ�ng Nam �].� Ở mọi nơi, họ c� c�c vương quốc của họ, mỗ� nơi đều c� c�c sản phẩm đặc th� của n�, mỗi nơi đều c� thị trường tr�n đ� sự thịnh vượng của nh� nước lệ thuộc.� C�c vương quốc nằm ngay ph�a nam [của Trung Hoa] c� quốc gia h�ng hải Sumatra ở Srivijaya] l� thị trường của ch�ng; những vương quốc ở ph�a đ�ng nam [Trung Hoa] c� She-p�o [Java]. 75

������ Đề cập đến Đ�ng Dương, họ Chou cho hay mặc d�

������ Kh�ng thể liệt k� c�c nước ở Nam T�y Dương (South Western Ocean) � ch�ng ta c� ở ph�a nam [của Chiao-chih: Giao Chỉ = Bắc Kỳ (Tongkin), Chan-ch�eng [(Chi�m Th�nh]?: Annam], Chen-la [Ch�n Lạp tức Căm Bốt] v� Fo-lo-an [?]. [hết tr�ch]

������ (Trang 51) C�c chuy�n khảo hải h�nh Ả Rập c�n tồn tại xưa nhất ghi chi tiết sự du h�nh tại c�c v�ng biển Đ�ng nam � tương đối muộn, c� ni�n kỳ v�o khoảng cuối thế kỷ thứ mười lăm hay đầu thế kỷ thứ mười s�u, nhưng bao h�m c�c dữ liệu từ nhiều thế kỷ hải h�nh trước đ�.� Ch�ng được viết bởi hai thuyền trưởng đi biển trong thế kỷ thứ mười lăm, Ahmad ibn Majid, kẻ m� truyền t�ch k�n đ�o đề cập đến như l� kẻ hướng đạo do Vasco da Gama thu� mướn để hướng dẫn đội thuyền của m�nh băng ngang từ đ�ng bắc Phi Ch�u sang Ấn Độ, v� Sulaiman al-Mahri.� T�c phẩm của Ibn Majid được viết th�nh thơ để tạo dễ d�ng cho việc nhập t�m c�c chỉ dẫn của quyển s�ch.� C�c cẩm nang chỉ đường n�y xem ra đ� l� đỉnh cao nhất của c�c văn bản như thế �t nhất trong bốn thế kỷ qua; ibn Majid, trong thực tế, c� trưng dẫn c�c soạn giả đi trước t�c phẩm của �ng c� ni�n đại l�i lại từ đầu thế kỷ thứ mười hai, v� một du h�nh k� từ l�c bắt đầu thế kỷ thứ mười một.� Tuy nhi�n c�c cẩm nang hải h�nh n�y đ� kh�ng c� t�c động r� rệt tr�n việc vẽ bản đồ của người Ả Rập.

������ � C�c văn bản kể gộp chung bờ biển M� Lai với Xi�m La, v� v�ng lục địa ph�a đ�ng với Trung Hoa, mặc d� Zaiton [Quanzhou] được xem l� ngưỡng cửa của vương quốc Trung Hoa ch�nh danh.� Dọc con đường từ Singapore đến Trung Hoa, c�c hải cảng được tr�nh b�y bao gồm Shahr-I Naw, chỉ kinh đ� của Th�i tại Lop Buri hay Ayuthaya.� Từ ngữ Shahr-I Naw (th�nh phố mới) sau n�y được vay mượn bởi c�c người �u Ch�u quen biết với người Ả Rập chẳng hạn như Mendes Pinto, v� được tiếp nhập bởi một số người vẽ bản đồ (xem H�nh 80).� Xa hơn đ�, dọc theo bờ biển ph�a đ�ng của Đ�ng Dương, c�c nh� h�ng hải thường hay gh� lại Champa (Shanba), v� hải cảng Kiao-Chi (Giao Chi?) tại An Nam.� �[hết tr�ch]��

*****

Phụ Lục 7

Xứ Ch�m

Trong bản đồ giữa thế kỷ thứ mười hai

của Sharif al-Idrisi

(c�c trang 56-57, v� trang 52)

(C�c trang 56-57) [Bắt đầu tr�ch dịch] �C�ng tr�nh của nh� địa dư Sicilian, [Sharif ] al-Idrisi trong thế kỷ thứ mười hai l� quan điểm xưa nhất c�n tồn tại của Ả Rập về Đ�ng Nam �.� Tập bản đồ của Al-Idrisi được chia th�nh một bản đồ thế giới (H�nh 27) v� bảy mươi bản đồ cấp miền, trong đ� s�u bản đồ bao gồm miền nam v� đ�ng nam � Ch�u (gh�p liền nhau trong H�nh 28).� Bản đồ của �ng l� một sự tổng hợp c�c nguồn t�i liệu.� Một số c�c dữ liệu của �ng c� thể truy t�m ngược lại đến văn bản hồi giữa thế kỷ thứ ch�n, Akhbar al-Sin, v� nh� địa dư học, Ibn Khurđahbih; phần lớn dữ liệu c� nguồn gốc từ c�c nh� địa dư học thuộc giai đoạn nằm ở giữa, v� một số l� mới, hay �t nhất được giải th�ch theo c�ch mới.� C�c bản đồ trưng b�y l� từ một bản sao c�n tốt của tập bản đồ của al-Idrisi, c� ni�n đại l� 960 AH (tức 1553 sau C�ng Nguy�n).

������ Khối lục địa chạy dọc b�n tr�n c�ng (hướng nam) l� Phi Ch�u, m� al-Idrisi, bị ảnh hưởng bởi c�c nh� địa dư học trước đ�, uốn m�nh chung quanh một giải đất m� Ptolemy tin rằng đ� nối liền Đ�ng Nam � với Phi Ch�u (xem bản đồ thế giới của al-Idrisi, H�nh 27).� Kh�i niệm n�y, một sự nhượng bộ ngoạn mục của c�c nh� địa dư học Ả Rập đối với Ptolemy, c� nhiều ảnh hưởng, được nhận thấy trong c�c nguồn t�i liệu T�y Phương chẳng hạn như bản đồ thế giới mappamundi năm 1320 của Sanudo (H�nh 3).� Nhưng tr�i với Ptolemy, al-Idrisi đi theo sự đồng thuận �p đảo của Ả Rập trong việc để mở ngỏ bờ ph�a đ�ng (tay tr�i) của Ấn Độ Dương .

H�nh 27: Bản đồ thế giới của al-Idrisi, giữa thế kỷ thứ mười hai, một bản sao đề ni�n đại 960AH (1553 sau C�ng Nguy�n).� Định hướng với ph�a nam ở tr�n c�ng, Phi Ch�u bọc quanh ph�a nam Ấn Độ Dương,.� Nhan đề tiếng Ả Rập của địa đồ của al-Idrisi được phi�n dịch l� �The Recreation for Him Who Wishes to Travel Through The Countries: Bản Sao Vẽ Lại D�nh Cho Ng�i L� Kẻ Mong Ước Du H�nh Xuy�n Qua C�c Nước� (đường k�nh khoảng 25 cm) [Bodleian Library, Oxford, ms. Poc. 375]

 

 

***

 

H�nh 28: Đ�ng Nam �, trong tập bản đồ của al-Idrisi, giữa thế kỷ thứ mười hai, theo một bản sao c� ni�n đại 960 AH (1553 Sau C�ng Nguy�n).� S�u trang của tập bản đồ được xếp liền nhau trong h�nh n�y; hướng nam l� ở tr�n c�ng.� (Mỗi tờ khoảng 21 x 30.5 cm) [Bodleian Library, Oxford, ms. Poc. 375, fol. 33v-34r, 38v-39r, 42v-43r, 77v-78r81v-82r, 84v-85r]

 

 

������ Quần đảo ph�a cực đ�ng nam (b�n tr�n, tay tr�i) bao gồm c�c h�n đảo của Waq-Waq, một v�ng đất m�u m� với đầy v�ng v� c�y cối c�ng nhiều đ�n thiếu nữ.� C�c đảo n�y nằm ở biển ngo�i khơi Trung Hoa, ch�nh l� bờ biển của lục địa nằm b�n dưới.� Về ph�a tr�i của mỏm lục địa tọa lạc quần đảo Sila, được x�c định l� H�n Quốc.� Nhảy sang b�n tr�n, tay phải (ph�a t�y), một h�n đảo h�nh tr�n rộng lớn trong g�c l� T�ch Lan (Ceylon), v� đảo bằng phẳng, rộng lớn gần lục địa ở ph�a b�n dưới, tay tr�i (đ�ng bắc) của T�ch Lan l� Ramni, một vương quốc của Sumatra m� đ�i khi đ� được d�ng để gọi t�n h�n đảo.� Nhiều đảo �Java� nhỏ kh�c nhau nằm ở ph�a đ�ng (tay tr�i) của Ramni, gồm cả Salahit, đ� được thăm viếng bởi Sindbad v� c� thể l� một phần của Sumatra, c�ng với Harang, một trong c�c điểm xuất ph�t đến c�c H�n Đảo Gia Vị v� c� thể l� một bộ phận của Sumatra hay Java.� Sanf, tức xứ Ch�m ở Đ�ng Dương, l� h�n đảo nằm ngay giữa ph�a đ�ng của Ramni v� miền lục địa.� Trong số c�c th�nh phố duy�n hải của lục địa gần bờ ph�a đ�ng của Ramni l� Cattigara, một thị trường ghi nhận bởi Ptolemy m� địa điểm đ� được hăng h�i đi t�m trong suốt thời Phục Hưng (Renaissance).

������ Giờ đ�y ch�ng ta tiến tới đảo d�i, nổi tiếng hẹp bề ngang vốn chế ngự Ấn Độ Dương, al-Idrisi x�c định đảo n�y l� al-Qumr, tức Madagascar, h�n đảo nằm ở vị tr� �x�c thực� của n� ngo�i khơi bờ biển Phi Ch�u hoang dại bị ch�m định sai lạc.� Al-Idrisi ghi nhận c�ng đảo n�y c�n được gọi l� Mala�i.� Danh xưng n�y c� thể để chỉ một địa danh tr�n đảo Madagascar, hay để chỉ Malayu của c�c nh� địa dư Ả Rập kh�c, l� một phần của Malaya (M� Lai) hay Sumatra.� Ngo�i ra, một trong c�c địa phương tr�n h�n đảo rộng lớn l� Qmar, tức Căm Bốt (hay Khmer).� Ch�nh v� thế, h�n đảo c� thể vừa l� Madagascar lẫn một phần của v�ng lục địa Đ�ng Nam � v� Sumatra.

������ Xứ Ch�m (Sanf) bị tr�nh b�y sai lạc như một h�n đảo bởi v� �t điều được hay biết về n� ngoại trừ việc n� l� một cảng dừng ch�n tr�n đường đến Trung Hoa.� Một th� dụ r� rệt hơn về c�c cạm bẫy của việc vẽ c�c v�ng đất dựa tr�n c�c sự tham khảo bản văn kh�ng ch�nh x�c c� thể được nhận thấy nơi ba quần đảo ngo�i khơi ph�a đ�ng �Madagascar�.� Ch�ng l� Ma�id, một đảo lớn nằm giữa �Madagascar� v� lục địa, ph�n c�ch đồng đều giữa c�c mảnh bản đồ b�n tr�n tay tr�i với b�n tr�n, ở giữa; Muja, một trong những h�n đảo ngo�i khơi bờ biển đ�ng nam của �Madagascar�; v� Qamrun, nh�m năm đảo nhỏ bị kẹp giữa �Madagascar� v� bờ biển Phi Ch�u trong bản đồ của Ptolemy.� Cả ba địa điểm n�y đều được m� tả trong văn bản hồi giữa thế kỷ thứ ch�n, quyển Akhbar al-Sin, l� nằm giữa Ấn Độ v� Trung Hoa, điều m� al-Idrisi đ� giải th�ch c� nghĩa rằng ch�ng nằm tr�n hải tr�nh giữa hai nước.� Trong thực tế, ch�ng nằm tr�n lộ tr�nh đường bộ: Qamrun l� Assam, trong nlhi Ma�id v� Muja l� c�c vương quốc nằm dọc bi�n giới giữa Miến Điện v� V�n Nam. [hết tr�ch]

***

�(trang 52) [bắt đầu tr�ch dịch] Xứ Ch�m được tr�nh b�y trong nhiều văn bản, khi n�i đến vương quốc Sanf.� N� được n�i nằm tr�n hải lộ đến Trung Hoa nằm giữa Qmar (Khmer, tức Căm Bốt) v� Luqin (Lung-p�ien: Long Bi�n [tức H� Nội, ch� của người dịch], một hải cảng ở cửa s�ng Hồng).� T�c giả Akhbar al-Sin wa �l-Hind (khoảng 850) ghi nhận số xuất cảng của vương quốc n�y về gỗ trầm hương (aloeswood), v� rằng c�c người đi biển tr�n đường đến Trung Hoa kế đ� dừng ch�n tại một h�n đảo c� nước ngọt được gọi l� Sundur Fulat (một c�ch hợp l�, l� đảo Hải Nam, nhưng c� thể l� Pulo Condore (đảo C�n Sơn). [hết tr�ch]

*****

Phụ Lục 8

 

Xứ Ch�m Trong Bản Đồ Năm 1522 Của Lorenz Fries

�(c�c trang 118-119)

������ [Bắt đầu tr�ch] Bản đồ mới kh�c của v�ng Đ�ng � m� Fries đ� bổ t�c v�o tập bản đồ của Waldseemuller c� t�n l� Tabula Superioris Indiae et Tartariae Majoris (Map of Upper India and Greater Tartary).� Giống như bản đồ trước, n� được dựa hoặc tr�n bản đồ thế giới h�nh tr�i tim (cordiform) của Waldseemuller năm 1507, hay tr�n c�c bản đồ cấp miền li�n hệ của Waldseemuller kh�ng c�n tồn tại nữa.

������ Trong dịp n�y, Fries tr�nh b�y tất cả Trung Hoa, Tartary, Nhật Bản v� Đ�ng Nam � nằm ở ph�a bắc của đường x�ch đạo.� Thực sự, tất cả v�ng Đ�ng Nam � đều nằm b�n tr�n đường x�ch đạo ngoại trừ phần lớn Quần Đảo Indonesia, nhưng khung vẽ tr�n đ� Fries ph�c thảo � nền tảng m� �ng đ� thừa hưởng từ Martellus v� c�c vết t�ch của khu�n mẫu Mũi Đất Vĩ Đại � đ� đẩy tất cả miền đất Đ�ng Nam � được tường thuật bởi Marco Polo, ngoại trừ xứ Ch�m (Việt Nam), xuống nam b�n cầu.

������ Địa Hạt Vĩ Đại Ch�m (The Great Province of Champa: Cianba Provicial Magna [tr�n bản đồ trong H�nh 63 dưới đ�y, ch� của người dịch] được tượng trưng bởi h�nh vẽ vị vua ngồi tr�n ngai của xứ n�y, kẻ g�y ngạc nhi�n cho người �u Ch�u về số đ�ng đảo c�c b� vợ, con c�i v� đ�n voi của �ng, c�ng sự phong ph� về gỗ mun v� trầm hương trong c�c khu rừng của �ng.� B�n dưới Champa l� tỉnh hạt Bocat, m� như ch�ng ta nh�n thấy trong bản đồ của Ruysch, ch�nh l� Căm Bốt (Cambodia) (boja c� nghĩa l� �xứ sở: country) trong tiếng Pali, Bocat = Cambocati). 179

������ Gi�p ph�a đ�ng của Cambodia l� Hồ Nước Xi�ng Mai (Lake Chiang Mai) (Lamia Lacq), suối nguồn theo truyền thuyết của c�c con s�ng ch�nh của Đ�ng Nam � v� địa điểm thuận lợi cho sự th�nh lập Chiang Mai.� Ở ph�a t�y c� tọa lạc một số địa danh trong danh ph�p Ấn Độ của Polo v� �Vịnh Vĩ Đại: Great Gulf� của Ptolemy.� Ở g�c b�n dưới, ph�a tay tr�i l� v�ng Malaya/Indochina nguy�n thủy, �ch�nh x�c (correct)�của Ptolemy, đuợc bỏ trống d�nh chỗ cho danh ph�p Đ�ng Nam � bởi c�c nh� vẽ địa đồ t�n đồng về một b�n đảo mới được s�ng chế ra từ dấu vết của cầu đất Phi-� ch�u (Africa-Asia land bridge) của Ptolemy�� [hết tr�ch]

H�nh 63: Trung Hoa v� Nhật Bản, Lorenz Fries, 1522 (28.8 x 45.2 cm) [Roderick M. Baron]

 

 

 

*****

Phụ Lục 9

Trịnh H�a V� Tập Bản Đồ Wubei-zhi

(c�c trang 48-49)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch] Trịnh H�a, tuy thế, đ� thu đạt sự th�nh c�ng đ�ng kể trong việc khai th�ng Trung Hoa đến phần lớn v�ng nam � Ch�u v� c�c phần của miền đ�ng Phi Ch�u.� Trong những năm 1405 v� 1433 � một c�ch mỉa mai, v�o đ�ng thời kỳ m� Bồ Đ�o Nha khởi sự dương oai v� tiến bước xa hơn quanh Phi Ch�u � nh� h�ng hải Trung Hoa n�y, kẻ trở n�n nổi tiếng l� �th�i gi�m tam bảo[?] (three-jewel ennuch), đ� cầm đầu bẩy cuộc viễn th�m đến c�c biển miền nam, đi theo bờ biển Đ�ng Nam � v�o Ấn Độ Dương, v� dọc theo bờ biển ph�a đ�ng của Phi Ch�u, c� thể đ� vươn m�i tới Đảo Kerguelen tại miền nam Ấn Độ Dương.� Quy m� của c�c cuộc mạo hiểm n�y thật dị thường.� Cuộc th�m hiểm đầu ti�n được khoa trương gồm 62 chiếc thuyền lớn, 225 thuyền nhỏ hơn, v� một thủy thủ đo�n gồm 27,000 người; n� đ� đến c�c bờ biển Sumatra trong lượt đi, v� Xi�m La c�ng Java trong lượt về.� T�nh đến cuộc h�nh tr�nh thứ bẩy, Trịnh H�a đ� d�nh đạt cho Trung Hoa c�c quan hệ thương mại v� ngoại giao với 35 nước tại Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư, v� miền đ�ng Phi Ch�u.� Fra Mauro, trong bản đồ thế giới năm 1459 của �ng, ghi ch�p c�c thuyền buồm hải qu�n Trung Hoa ngo�i khơi bờ biển ph�a đ�ng của Phi Ch�u � c� thể l� c�c thuyền của Trịnh H�a � r�t ra từ c�c nguồn t�i liệu Ả Rập.

������ Một bản đồ dựa tr�n c�c cuộc du h�nh của Trịnh H�a (H�nh 23) được t�m thấy trong một ấn phẩm c� nhan đ� Wubei-zhi (Treatise on Military Preparations: Vũ Bị ch� [?]�, được ho�n th�nh bởi Mao Yuanji v�o khoảng 1621 (ni�n kỳ của lời đề tựa quyển s�ch), v� đệ tr�nh l�n nh� vua năm 1628.� T�c giả họ Mao đ� kh�ng n�u nguồn t�i liệu của bản đồ, nhưng kh�ng c� mấy thắc mắc rằng n� đ� dựa s�u rộng tr�n c�c cuộc du h�nh của họ Trịnh.� �C�c bản đồ của �ng ta,� họ Mao cho hay, �ghi ch�p một c�ch cẩn thận v� ch�nh x�c c�c khoảng c�ch của lộ tr�nh v� c�c quốc gia kh�c nhau v� t�i đ� gộp ch�ng để bảo truyền tin tức cho hậu th� v� như một sự ghi nhớ (momento) c�c th�nh t�ch qu�n sự cvủa �ng,� 80 Ch�ng ta biết được từ văn bản của tập Khảo Luận rằng c�c bản đồ v� tin tức đ� được thu thập trước mỗi cuộc h�nh tr�nh của Trịnh H�a, v� rằng c�c bản đồ đ� được so s�nh v� điều chỉnh cho ch�nh x�c c�c số đo khoảng c�ch của la b�n v� c�c ng�i sao hướng dẫn, với c�c bản sao bao gồm c�c bản vẽ về cấu h�nh của c�c đảo, c�c hải phận, v� l�nh thổ.�� Tuy nhi�n, bản đồ, như n� c�n tồn tại, r� r�ng đ� được x�y dựng một phần từ c�c nguồn văn bản.

������ Nguy�n thủy, bản đồ Wubei-zhi c� thể l� một mảnh duy nhất, d�i, được giữ như một cuộn giấy, mặc d� để đ�ng th�nh s�ch, n� đ� được cắt chia th�nh một loạt c�c tấm giải d�i ra.� Một hậu quả của h�nh thức giải d�i hẹp (bất luận th�nh cuộn hay được ph�n l�m nhiều kh�c) l� sự định hướng kh�ng được nhất qu�n.� Ngo�i ra, tỷ lệ x�ch được k�o d�i ra hay �p ngắn lại t�y theo khối lượng chi tiết được bao gồm trong một phần c� biệt.� Th� dụ, khu vực duy�n hải nguy hiểm v� lộn xộn của Singapore được vẽ theo tỷ lệ lớn gấp ba lần tỷ lệ của bờ biển ph�a đ�ng của M� Lai v� gấp hai lần rưỡi tỷ lệ của bờ biển ph�a t�y. 82

������ Bản đồ bao gồm c�c chỉ thị l�i buồm m� c�c học giả hiện đại nhận thấy kh� ch�nh x�c. 83 L�i thuyền từ Malacca v� Eo Biển Singapore theo trục t�y sang đ�ng, tập chỉ dẫn l�i thuyền cho hay rằng (d�ng c�c số đo khoảng c�ch la b�n hiện đại)

������ Để đến Quần Đảo Aroa, định hướng đi ở 120o v� sau đ� 110o, sau 3 canh (watches) thuyền đến s�t [South Sands: Nam Sa].� Định hướng đi ở 115o v� sau đ� 120o trong 3 canh, thuyền đến s�t [đảo Cotton].� Sau 10 canh đi theo hướng 130o, thuyền đến s�t cạnh [Malacca].� Định lại buồm từ Malacca theo hướng 130o, sau 5 canh thuyền đến s�t cạnh [Gunong Banang]; sau 3 canh theo hướng 130o thuyền đến s�t cạnh [Pulau Pisang] � 84

������ Từ Pulau Pisang, chạy theo hướng 135o đưa ch�ng đến Karimun, v� từ đ�, 5 canh theo hướng 115o v� sau đ� 120o v� thuyền đến Blakang Mati, đi xuy�n qua Eo Biển Răng Rồng (Dragon-Teeth Strait).� Với 5 canh ở 85o, thuyền sau đ� đến Pedra Branca (Pulau Batu Puteh), sau khi đi qua Pedra Branca, định hướng đi theo 25o v� sau đ� 15o trong 5 canh, mang thuyền đến s�t �N�i Tre Đ�ng: East Bamboo Mountain�, một trong hai đỉnh cao của Pulau Aur.� Sau c�ng, định hướng đi ở 350o v� sau đ� 15o, thuyền đi ngang b�n ngo�i đảo Pulau Condor (đảo C�n Sơn).� �

������ Đế quốc thương mại chớm nở mở đường bởi Trịnh H�a bị yểu tử.� Sau sự băng h� của vị ho�ng đế bảo trợ �ng ta, vua Yong-lo (Vĩnh Lạc), v� sự từ trần của ch�nh Trịnh H�a một thập ni�n sau đ�, c�c nh� cầm quyền Trung Hoa đ� b�c bỏ bất kỳ cuộc đột k�ch n�o kh�c v�o v�ng c�c biển ph�a nam.� Thương mại trong cuộc mậu dịch ở Ấn Độ Dương một lần nữa bị bỏ lại cho c�c mạng lưới của c�c nh� mậu dịch Hồi Gi�o v� Đ�ng Nam � v�o ngay ttrước khi c� sự x�m nhập của Bồ Đ�o Nha v�o c�c hải phận ph�a đ�ng�[hết tr�ch] ��

H�nh 23: Phần trong Bản Đồ của Wubei-zhi bao gồm Đ�ng Nam �, 1621

[Cảm tạ hảo � của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, Washington D. C., E701.M32.1]

 

 

 

 

*****

Phụ Lục 10

 

Số Phận Của Cattigara v� Mũi Đất Vĩ Đại Của Ptolemy�

Cattigara c� thể l� H� Nội?

[tiểu đề in nghi�ng b�n tr�n l� của người dịch]

 

 

(c�c trang 90-92)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch] Sự đồng h�a của c�c nh� vẽ bản đồ tiểu lục địa mới khai sinh từ �Mũi Đất Vĩ Đại� (Great Promomtory) của Ptolemy với sự thay đổi mau ch�ng quan điểm về Đ�ng Nam � đ� xảy ra bởi c�c cuộc du h�nh kh�m ph� li�n tiếp c� thể được d�i t�m qua việc lần m� theo lịch sử của thị trường miền nam lớn lao của n�, Cattigara.� Ptolemy đ� tạo ra một chuyện rắc rối về địa điểm ch�nh x�c của Cattigara, nơi m� �ng cố gắng để x�c định dựa tr�n sự tường thuật một chuy�n du h�nh bởi người l�i t�u, Alexander, như được kể lại bởi Marinus ở Tyre.� Alexander được nghĩ đ� rời B�n Đảo V�ng (B�n Đảo M� Lai) v� l�i thuyền trong hai mươi ng�y đến Zaba, một địa điểm được t�m thấy tr�n c�c bản vẽ ph�c theo Ptolemy điển h�nh (th� dụ c�c H�nh 32 v� 43) như l� một mũi đất ph�a đ�ng của M� Lai, nơi m� một số c�c nh� quan s�t thế kỷ thứ mười s�u, chẳng hạn như Barros, tin l� Singapore, nhưng phần lớn c�c sử gia hiện đại tin l� n� tọa lạc ở Đ�ng Dương.� Từ Zaba, �ng tới Cattigara bằng c�ch l�i thuyền �theo hướng nam v� tiến sang ph�a tr�i� (tức ph�a đ�ng) trong một thời khoảng được tr�nh b�y bởi Alexander l� �một số ng�y (some days),� bị t�i giải th�ch bởi Marinus c� nghĩa �nhiều� (many) ng�y, v� sau đ� được t�i lượng định một lần nữa bởi Ptolemy.� H�nh tr�nh từ �kinh đ� Sina� (China: Trung Hoa) đển cửa ng� của Cattigara� chạy, theo Ptolemy, theo hướng t�y nam, trong khi Marinus tường thuật rằng c�c kinh tuyến của ch�ng tr�ng với nhau.� Ptolemy đ� cố gắng x�c định tọa độ ch�nh x�c của Cattigara xuy�n qua một toan t�nh (n� v� t�nh như thế) ho�n to�n kh�i h�i để suy đo�n một sự phỏng định ch�nh x�c từ c�c �dữ liệu� phi-hiện hữu trong c�c từ ngữ �một số; some� v� �nhiều: many�.� Ph�n quyết chung thẩm của �ng về địa điểm của thị trường miền nam chủ yếu n�y của Mũi Đất Vĩ Đại rằng n� nằm ở 177o đ�ng Quần Đảo Canary, v� 8o 30� nam đường x�ch đạo.

������ Sự chuyển biến về ph�p vẽ bản đồ v�ng �Mũi Đất Vĩ Đại� trong c�c bản đồ thế kỷ thứ mười s�u c� thể được t�m lược th�nh ba giai đoạn:

������ 1. Bản đồ thế giới của Martellus (khoảng 1489) x�a bỏ phần nửa ph�a t�y cầu bằng đất liền của Ptolemy, nhưng giữ lại Cattigara tr�n b�n đảo Đ�ng Nam � ph�t sinh.� (Muốn c� một th� dụ hơi sau hơn một ch�t cho sự kiện n�y, xem B�n Đảo M� Lai trong bản đồ thế giới của Waldseemuller năm 1507, H�nh 45; Cattigara l� th�nh phố tr�n cao tột c�ng được nh�n thấy tr�n b�n đảo).� Rất c� thể, họa đồ n�y được dựa tr�n c�c mẫu trước đ�, nay kh�ng c�n tồn tại nữa (c� thể, th� dụ, một bản đồ được nghĩ sở đắc bởi một người con trai �ng Ho�ng Prince Henry trong năm 1428; xem trang 95, b�n dưới).

 

 

������ 2. Tuy nhi�n, một số c�c nh� địa dư học, c� quan điểm rằng tiểu lục địa Đ�ng Nam � mới trong thực tế l� Mỹ Ch�u.� Bản đồ ph�c thảo bởi Alessandro Zorzi v� Bartolomeo Columbus (anh em của Christopher) (1506?/1522, H�nh 51), th�ch ứng cầu đất liền cũ cho chức năng của v�ng Trung Mỹ Ch�u.� Tin rằng Cattigara sẽ được t�m thấy tr�n mũi đất, v� biết rằng Ptolemy đ� chấm định n� b�n dưới kh� xa đường x�ch đạo, họ đ� v� thế nới d�i Trung Mỹ Ch�u xuống s�u miền nam.� Oronce Fine (1531 v� 1534; c�c h�nh 52 v� 71) cũng quyết định rằng phần m� Ptolemy gọi l� Mũi Đất Vĩ Đại trong thực tế ch�nh l� T�n Thế Giới � sự ph�c họa Mỹ Ch�u của �ng kh� hơn nhiều so với bản đồ của Zorzi, v� Cattigara giờ đ�y nằm �một c�ch x�c đ�ng� tại Nam Mỹ Ch�u.

������ 3. Sebastian Munster đ� ho�n tất sự chuyển tiếp, như c� thể được nh�n thấy tr�n c�c bản đồ của �ng về � Ch�u v� Mỹ Ch�u năm 1540 (H�nh 72).� Munster vẽ Bắc v� Nam Mỹ Ch�u l� một ch�u lục độc lập, ho�n to�n t�ch biệt ra khỏi � Ch�u, nhưng đ� giữ lai Cattigara tại vĩ độ �ch�nh x�c� của n� tr�n bờ biển P�ru.� Giải ph�p cấp tiến của Munster cho c�u đố về Cattigara l� kết luận hợp l� cho một nửa thế kỷ th�ch ứng h�a �Mũi Đất Vĩ Đại� của Ptolemy đối với c�c kh�m ph� mới của Bồ Đ�o Nha v� T�y Ban Nha.

������ Hơn nữa, một số bản đồ hải h�nh vẽ bờ biển v� hải cảng x�c thực đ� loại bỏ ho�n to�n mũi đất cũ v� chấm định Cattigara tr�n một h�n đảo ở v�ng Đ�ng Ấn Độ.� Nh� vẽ bản đồ ở Genoa [thuộc � Đại lợi], Battista Agnese (H�nh 47), l�m việc tại Venice hồi giữa thế kỷ thứ mười s�u, đ� x�c định Biển Nam Hải (South China Sea) của m�nh với Vịnh Vĩ Đại (Great Gulf) của Ptolemy, v� kết quả đ� chấm định Cattigara của �ng tại qu�n đảo Moluccas, đ�i khi như một dải đất kh�ng r� rệt, ở c�c l�c kh�c (như trong H�nh 47), như một h�n đảo nhỏ.� Đ�y l� một giải ph�p nhậy cảm cho c�u đố; n� đơn giản lập lại cuộc du h�nh của Alexander ở v�ng Ấn Độ Dương mở ngỏ, v� t�n trọng một c�ch lỏng lẻo lời tuy�n bố của Ptolemy rằng Cattigara l� một phần của Sinae, hay miền nam Trung Hoa.�

������ Cattigara l� nơi n�o, v� tại sao n� lại quan trọng đến thế? Trong một v�i thủ phủ m� Ptolemy đ� đặt định tr�n �Mũi Đất Vĩ Đại�, c�c nh� vẽ bản đ� thời Phục Hưng đều miễn cưỡng nhiều nhất trong việc loại bỏ Cattigara bởi v� � nghĩa đ� được quy cho n� trong tập Geographia như một thị trường quan trọng đ�nh dấu mũi đ�ng nam xa nhất tại thế giới hay biết được.

������ Trạm trung chuyển ở vị tr� chiến lược n�y của Cattigara được đặc biệt truy l�ng bởi c�c kẻ tiền phong �u Ch�u tại Đ�ng Nam �.� Một người l� �ng Magellan, đ� hy vọng đến đ� sau khi băng ngang qua Th�i B�nh Dương.� Nhưng một số nh� quan s�t ban đầu đ� sớm suy luận rằng Cattigara phải nằm xa hơn về ph�a bắc nhiều hơn tọa độ của Ptolemy cho hay.� Antonio Pigafetta, ghi ch�p đường đi của đo�n thuyền của Magellan băng ngang Th�i B�nh Dương, đ� giải th�ch rằng:

Ch�ng t�i đ� đổi đường đi theo hướng t�y nam, hầu ch�ng t�i c� thể tiến gần đến Mũi Cattigara, nhưng m�i đất đ�, với sự x� tội cho c�c nh� vẽ bản đồ vũ trụ, bởi họ chưa nh�n thấy n�, đ� kh�ng được t�m thấy nơi m� n� được tưởng tượng ở đ�.

������ Maximilian của v�ng Transylvania, kẻ ghi ch�p theo ni�n lịch h�nh tr�nh của Magellan từ c�c cuộc phỏng vấn với những người c�n sống s�t, cũng đ� ghi nhận tương tự rằng khi họ tới được Moluccas, �c�c người T�y Ban Nha � đ� đồng � rằng [thuyền Victoria] hẳn đ� phải được l�i đến mũi Cattigara.�� Tuy nhi�n, �mặc d� họ đi xa m�i đến 12o nam, họ đ� kh�ng t�m thấy Cattigara m� Ptolemy xem l� nằm ph�a nam kh� s�u của đường x�ch đạo.� 131 Peter Martyr �m chỉ rằng đ� c� sự kh�ng ch�nh x�c trong c�c con số của Ptolemy khiến cho thủy thủ đo�n của Magellan kh�ng t�m thấy Cattigara.� Martyr viết rằng mặc d� Magellan đ� c� chủ định �tối đa để tiến tới mũi m� c�c t�c giả cổ xưa gọi l� Cattigara�, địa điểm địa dư n�y �kh�ng được t�m thấy như c�c nh� vẽ bản đồ vũ trụ cổ xưa đ� m� tả về n�, nhưng n� nằm theo hướng bắc xii độ như họ biết được sau n�y.� 132

������ Trong c�c l� thuyết kh�c nhau khi đ� được lưu h�nh li�n quan đến c�u đố về Cattigara, sự đ�p ứng của Peter Martyr tương ứng gần nhất với c�c sự thẩm định hiện đại.� C�c học giả một c�ch tổng qu�t đồng � rằng Cattigara thực sự hoặc l� nằm dọc theo Ch�u Thổ s�ng Hồng, gần nơi giờ đ�y l� H� Nội, hay nếu kh�ng, n� nằm ở phần cực nam của Trung Hoa, Th�nh Phố Quảng Ch�u hay Zaiton trong thời đại đ�.� Cattigara cũng được x�c minh với Ph� Nam, vương quốc cổ xưa then chốt quanh miền nam Việt Nam v� Ch�u Thổ s�ng Mekong, đ� thịnh đạt v�o l�c m� tập Geographia được bi�n soạn v�o khoảng năm 150 sau C�ng Nguy�n.

������ Mặc d� sự kh�m ph� đ� khiến cho tập Geographia của Ptolemy trở th�nh một vấn đề chỉ d�nh cho sự t� m� về học thuật v�o khoảng đầu thế kỷ thứ mười s�u, hiện vẫn c�n một khuynh hướng ngoan cố cố gắng cải ch�nh v� biện luận cho c�c gi�o điều căn bản của n�.� C�c ấn bản mới của t�c phẩm vẫn thường diễn ra cho tới ch�nh những năm cuối c�ng của thế kỷ thứ mười s�u, v� tiếp tục được ấn h�nh, mặc d� �t thường xuy�n hơn, m�i cho đến thế kỷ thứ mười t�m.� Cho đến tận khoảng năm 1786 người ta t�m thấy một bản đồ bao gồm trong quyển Philosophical Transactions vẫn c�n cố giải th�ch ph� hợp với sự b� ẩn về Cattigara, về� Vịnh Biển Vĩ Đại (Great Bay) v� về c�c từ ngữ định mệnh �một số: some� đối với �nhiều: many� được tr�ch dẫn bởi Alexander v� Marinus.� Theo một lời ghi ch� d�i gi�ng đi k�m theo bản đồ n�y, ch�nh �sự kh� khăn của việc tăng gấp đ�i Mũi Xi�m La (Cape Siam) trong khi l�i thuyền ra khỏi vịnh� đ� phải chịu tr�ch nhiệm về �tin tức thiếu đồng nhất m� Ptolemy đ� nhận được�, v� điều n�y cũng �l� Nguy�n Nh�n Ch�nh cho sự Thay Đổi � Kiến của �ng li�n quan đến thời lượng th�ch đ�ng d�nh cho Từ Ngữ �Một Số: Some�.� C�c t�c giả của bản đồ n�y tin tưởng rằng �Vịnh Biển Vĩ Đại� của Ptolemy l� Vịnh Xi�m La (Gulf of Siam), v� Vịnh Sinae, tức Sinarum Sinus (�China Gulf: Vịnh Trung Hoa) theo t�n gọi của Ptolemy, l� vũng ăn s�u hơn gấp đ�i một ch�t v�o miền đ�ng nam của Chantanburi ở đ�ng nam Th�i Lan.� Cattigara kh� hiểu, trong lược đồ c�c sự sắp xếp n�y, được n�i nằm ở 3o t�y của Th�nh Phố �Cambodia City� (Phnom Penh hay Lovek).

H�nh 45: B�n Đảo M� Lai, từ bản đồ thế giới của Martin Waldseemuller, 1507 (từ một bản sao).� C�c phần của hai trong mười hai tờ của bản đồ khắc tr�n gỗ được tr�nh b�y nơi đ�y (To�n thể bản đồ c� k�ch thước 132 x 236 cm)

 

 

***

 

H�nh 46: Bản đồ thế giới với bắc cực l� t�m điểm ph�ng dọi ra, Peter Apianus, 1524.� Bản đồ l� một phần của một b�n xoay tr�n (volvelle), tr�n đ� di chuyển c�c mảnh giấy, nối với trục ở giữa bằng một sợi chỉ, xoay quanh bản đồ để thực hiện c�c ph�p t�nh kh�c nhau.� (đường k�nh 11 cm)

 

 

***

 

H�nh 47: Bản đồ thế giới của Battista Agnese, khoảng 1544, ghi lại lộ tr�nh của chuyến đi v�ng quanh của Magellan.� H�n đảo ở ph�a b�n dưới tay tr�i của đầu (thổi) gi� (wind head) ở vị thế đồng hồ chỉ 3 giờ được x�c định l� Cattigara.� Bất kể sự h�nh dung ti�n tiến của Agnese về Đ�ng Nam � v� Mỹ Ch�u, �ng chiếu theo Ptolemy trong việc đảo ngược c�c tỷ lệ tương đối của tiểu lục địa Ấn Độ v� T�ch Lan (Bản vẽ tay tr�n da (hay giấy) mịn vellum, khoảng 16 x 23 cm) (Thư Viện Quốc Hội [Hoa Kỳ]).���������� ��

 

 

*****

Phụ Lục 11

Đảo C�n Sơn

(trang 106)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch] Marco Polo, người m� ch�ng ta gi� từ ở xứ Ch�m, đ� kh�ng l�m cuộc du h�nh giữa Java v� lục địa, v� đ� kh�ng đề cập đến bất kỳ v�ng biển tĩnh lặng n�o.� Rời xứ Ch�m v� l�i thuyền bẩy trăm dặm theo hướng nam t�y nam, Polo đi ngang qua hai đảo kh�ng c� người cư ngụ, đảo Sodur v� Candur của Ruysch (Bản văn của Polo để cho �ng rời từ �Java� thay v� xứ� Ch�m�, nhưng điều được đồng � chung rằng đ�y l� một sự nhầm lẫn).� Những đảo n�y thuộc v�o nh�m đảo Condore (C�n Sơn), một tập hợp c�c đảo nhỏ nằm ngo�i khơi mỏm đ�ng nam của Việt Nam, về ph�a đ�ng nam của Ch�u Thổ s�ng Cửu Long (trong tiếng M� Lai, pulau = đảo, kundur = tr�i bầu).� Pulo Condore l� một điểm chuẩn quan trọng v� nơi dừng ch�n cho c�c kẻ hướng đạo hướng dẫn c�c chiếc thuyền của họ giữa Đ�ng Nam � v� Trung Hoa. 156 Mặc d� Polo b�o c�o rằng kh�ng c� ai sinh sống tr�n Condore, đảo ch�nh của nh�m sau n�y đ� được định cư; th� dụ, William Dampier c� đưa ra một sự m� tả d�n ch�ng của đảo khi �ng thăm viếng C�n Đảo bốn thế kỷ sau đ�. [hết tr�ch dịch]�

������ Cũng xem th�m đoạn hai, trong phụ lục về Đ�ng Dương dưới đ�y.

*****

Phụ Lục 12

Đ�ng Dương

(trang 111)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch]� � Đ�ng Dương được m� tả sơ s�i tr�n bản đồ năm 1513 của Waldseemuller v� tr�n tất cả bản đồ dựa theo Cantino như một b�n đảo nhỏ, nhọn ở g�c đ�ng bắc của b�n đảo ch�nh, với từ ngữ fulicandora để chỉ b�n đảo hay mũi của n� (fulucandoia tr�n bản đồ của Waldseemuller).� Từ ngữ fulucandora c� lẽ ph�t sinh từ đảo Condore (C�n Sơn) nằm ngo�i khơi Ch�u Thổ s�ng Mekong. 166Fulu� l� c�ch đọc sai của từ �pulu�, sự sử dụng mẫu tự �f� cho mẫu tự �p� l� một sự sai lầm thường xảy ra bởi kh�ng c� c�c phụ �m p, q, ch v� v của Anh ngữ trong tiếng Ả Rập.� C�c ngữ căn của từ fulucandoia c� lẽ được nh�n thấy r� hơn tr�n bản đồ của Ramusio năm 1554 (H�nh 74), nơi m� một dấu vết của Đ�ng Dương của Cantino đ� được h�nh dung như một mũi đất kh�c tại Đ�ng Dương được ghi l� capo pulocanpola � �cape pulo Condore�.

������ Pulo Condore cũng l� nguy�n ủy của c�c h�n đảo nằm ngay b�n ngo�i bản đồ năm 1515 về b�n đảo Đ�ng Dưuơng, được gọi l� y das Baixos (�đảo của c�c baixos�, baixos l� một từ ngữ tiếng Bồ Đ�o Nha, để chỉ c�c b�i c�t đ� ngầm sẽ xuất hiện khi thủy triều xuống thấp]. Sự tham chiếu của Waldseemuller về �c�c đảo b�i c�t đ� ngầm n�y� được r�t ra từ một sự ch� giải đi k�m quần đảo Condore tr�n c�c bản đồ của Cantino; lời ghi ch� như sau, ilha das baixos chamada fullu candor esta a norte em iij pulgadas, �đảo của b�i c�t đ� ngầm được gọi l� Pulo Condore ở bắc ba pulgadas [của đường x�ch đạo], từ �pulgada� của tiếng Bồ Đ�o Nha (polegada = ph�n [Anh] = inch), được d�ng thay cho từ isha của tiếng Ả R�p�. [hết tr�ch dịch]

������ Cũng xem đoạn n�i về Đ�ng Dương trong phần cuối của phụ lục về An Nam, b�n tr�n.

 

H�nh 57, Asia, Martin Waldseemuller, 1513. (40 x 51 cm)

 

 

*****

 

Phụ Lục 13

�Bản Đồ B�n Tay� V�ng Đ�ng Nam � của Barros, Năm 1552

(trang 123)

������ [Bắt đầu tr�ch] C�c nh� chức tr�ch Bồ Đ�o Nha c�n miễn cưỡng trong việc� cho ph�p c�c bản dồ v� sự m� tả v�ng Indies được ấn h�nh hơn cả c�c đối nhiệm T�y Ban Nha của họ nữa.� Th� dụ, Ramusio, đ� ghi nhận trong phần giới thiệu tập I, quyển Navigazioni et Viaggi của �ng rằng t�c phẩm của Tom� Pires đ� kh�ng được chấp thuận tại Bồ Đ�o Nha.� Nhưng ngay T�y Ban Nha, chấp nhận sự ấn h�nh c�c bản đồ Mỹ Ch�u trong năm 1511 v� 1545, lại kh�ng c�ng bố một bản đồ � Ch�u quan trọng n�o trong thế kỷ thứ mười s�u� 192

Chỉ đ�ng v�o l�c m� việc vẽ địa đồ bản địa tại Đ�ng Nam � d�n trải c�c kh�i niệm �u Ch�u phổ th�ng về đ�ng những g� cấu th�nh một bản đồ, khi đ� c�c hạn chế của ch�nh phủ v� nhu cầu thiết thực của việc mở rộng phương tiện vẽ bản đồ mới được gi�n ra..� Joao de Barros (khoảng 1496-1570), một vi�n chức ở Lisbon am hiểu về mậu dịch đồ gia vị v� c�c sự vụ ở thuộc địa, đ� viết một quyển lịch sử về c�c nỗ lực tại � Ch�u của nước �ng, quyển D�cadas da Asia, đ� xuất hiện qua năm tập bắt đầu từ năm 1552.� Mặc d� kh�ng c� bản đồ n�o được bao gồm cho đến khi c� ấn bản mở rộng sau khi �ng chết đi, được c�ng bố tại Madrid năm 1615.� Barros đ� tr�nh b�y cho khối kh�n th�nh giả Bồ Đ�o Nha nguy�n thủy năm 1552 một bản đồ kh�ng c� t�nh chất x�c phạm về ch�nh trị hay cần bản khắc vẽ, c�c kỹ năng chưa được phổ th�ng tại Bồ Đ�o Nha.

C�u trả lời của Barros l� d�ng b�n tay con người để tạo ra một bản đồ của Đ�ng Nam �.� �ng chỉ dẫn c�c khan th�nh giả của m�nh h�y chỉ b�n tay tr�i của họ hướng v�o th�n h�nh, l�ng b�n tay �p xuống, ng�n tay trỏ duỗi thẳng v� t�ch xa khỏi ng�n c�i, với ba ng�n tay c�n lại cũng t�ch biệt với ng�n trỏ, ba ng�n tay n�y co lại sao cho phần duỗi ra của ch�ng chỉ đến khớp đốt [đầu ti�n của] ng�n tay.� Ng�n tay c�i tượng trưng cho Ấn Độ, ng�n tay trỏ cho M� Lai, v� phần thịt nằm giữa hai ng�n tay đ� l� Miến Điện. �Ba ng�n tay co lại l� Đ�ng Dương với h�nh d�ng tự nhi�n của ch�ng tương tự như đường viền theo hướng đ�ng bắc � t�y nam đ�ch thực của v�ng đất.� �Bản đồ b�n tay� của Burros, sử dụng ngay cả c�c đặc điểm của cảnh tr� của b�n tay để chấm định c�c vương quốc nội địa v� c�c t�nh chất địa h�nh, c� thể đ� l� sự tr�nh b�y ch�nh x�c nhất về Đ�ng Nam � cung cấp cho c�ng ch�ng c� học thức Bồ Đ�o Nha.� Trong thực tế, n� c�n ch�nh x�c hơn một số bản đồ đ� in ra vẫn c�n được lưu h�nh.� Trong bản văn của �ng, Barros tham chiếu đến b�n tay tr�i của độc giả để chấm định Xi�m La, Chiang Mai, ba vương quốc người L�o, xứ Ch�m, Căm Bốt, Malacca, c�c vương quốc Miến Điện ở Arakan, Ava v� Pegu, c�c con s�ng Mekong v� Chao Phraya, v� c�c rặng n�i kh�c nhau.

Người đọc c� thể nhận thấy việc chỉ b�n tay về hướng th�n thể với l�ng b�n tay �p xuống sẽ kh� khăn bởi n� đ�i hỏi động t�c uốn cong kh� gắt theo chiều kim đồng hồ c�c phần khuỷu tay v� cổ tay.� Trong trường hợp n�y, b�n tay c� thể được định hướng với phia nam ở tr�n c�ng.� Giữ ng�n tay trỏ v� ng�n c�i vươn thẳng ra, nhưng co ba ng�n tay về ph�a tr�i (hướng đ�ng) .� Trong th� dụ n�y, ng�n c�i l� Ấn Độ với khoảng trống rộng b�n ph�a tr�i của n� l� Vịnh Bengal v� phần thịt của b�n tay cấu th�nh c�c vương quốc kh�c nhau của Miến Điện.� Ng�n tay trỏ l� B�n Đảo M� Lai, với Singapore [trong nguy�n bản c� thể đ� ghi sai l� singerpore, ch� của người dịch] ở đầu mỏm của n�, khoảng trống giữa ng�n tay trỏ v� ba ng�n tay uốn khum xuống b�n ph�a tr�i l� Vịnh Xi�m La, v� kẽ hở được tạo h�nh khi c�c ng�n tay n�y tiếp gi�p với b�n tay l� s�ng Chao Phraya.� Đốt ng�n tay của ng�n kế tiếp (ng�n giữa) l� Căm Bốt, đường được tạo th�nh giữa n� v� ng�n tay kế b�n tay tr�i l� s�ng Mekong.� Đường bờ biển uốn cong của hai ng�n c�n lại tượng trưng cho Việt Nam, vươn xa l�n ph�a bắc, ở đường nối nơi b�n tay tiếp gi�p cổ tay, l� H� Nước Chiang Mai, hồ lớn m� Barros tin l� nguồn cội của s�u con s�ng ch�nh của Đ�ng Nam �.� [hết tr�ch] ��

Về phần tiểu sử của Barros, xin phụ lục về nh� đia dư học n�y b�n dưới.

*****

Phụ Lục 14

Vịnh Bắc Việt, đảo Hải Nam, Quần Đảo Ho�ng Sa,

v� �Bi�n Trung Hoa: China Sea�

(trang 147)

������ Vịnh Bắc Việt xuất hiện trong một cung c�ch khả dĩ nhận biết được lần đầu ti�n tr�n một ấn bản theo bản đồ của Gastaldi năm 1548, với bờ biển ph�a bắc của n� được chấm định ch�nh x�c ở 210 bắc v� B�n Đảo L�i Ch�u (Leithou Penisula) (kh�ng được ghi danh) tạo th�nh một c�ch x�c thực c�c giới hạn ph�a đ�ng bắc của n�.� Vẫn chưa c� bất kỳ dấu vết g� về đảo Hải Nam.� Ramusio đ� đỡ đầu khai sinh h�n đảo đ� s�u năm sau, đề cập đến h�n đảo l� Aliosar, mặc d� danh xưng hiện đại Aynam vốn đ� được trưng dẫn bởi Pires năm 1515.� Mercator đ� giới thiệu danh xưng ch�nh x�c của h�n đảo tr�n bản đồ thế giới của �ng năm 1596 (H�nh 76), sử dụng c�ng c�ch đ�nh vần của Pires.

������ Một nh�m đảo kh�c khai sinh từ b�n tay của nh� vẽ bản đồ Ramusio l� Quần Đảo Ho�ng Sa (Paracels), được chỉ như một giải c�t với lời ghi ch� Canali donde Vengono gli liquij. [H�nh 74, ch� của người dịch] �Lời ghi ch� của Ramusio về Quần Đảo Ho�ng Sa được giải th�ch r� r�ng hơn bởi Gastaldi trong năm 1561, người đ� x�c định ch�ng l� �Canalli dove passapo i chini per andarea palohan, et a boru� (tuyến đường biển xuy�n qua đ�, người Trung Hoa đi qua để đến Palawan v� Borneo�). [H�nh 75, ch� của người dịch]

������ Bản đồ Gastaldi năm 1548, c� v�ng đảo bị thu nhỏ hơn bản đồ của Ramusio hay bản đồ Gastaldi năm 1561, đặt cho ph�a t�y Th�i B�nh Dương một danh từ tổng qu�t Provincia di Maluco, �Tỉnh Molucca�, để vinh danh c�c nơi cất trữ đồ gia vị (Spiceries).� Đối với Ramusio v� Gastaldi (1561), biển nơi m� c�c h�n đảo n�y tọa lạc giờ đ�y được gọi l� Biển Trung Hoa (China Sea = Mare de la China).� � tưởng của �u Ch�u về �Biển Trung Hoa: Sea of China� c� ni�n đại trở l�i �t nhất từ thời Marco Polo , hơn hai thế kỷ trước đ�.� Pigafetta, gần phần kết th�c quyển bi�n ni�n của �ng, khi �ng ta phần lớn chỉ lập lại c�c b�o c�o nghe thuật lại (second hand reports), lưu � rằng �đi qu� Đảo Java Lớn Hơn (Greater Java), hướng l�n ph�a bắc, c� một vịnh Trung Hoa được gọi l� Sino Grand.�� Từ ngữ sino c� t�nh chất then chốt ở đ�y.� N� c� đến bắt nguồn từ từ ngữ La Tinh sinus hay từ tiếng Bồ Đ�o Nha, seno, c� nghĩa, vịnh (gulf), khiến cho danh xưng Sino Grand của Pigafetta để chỉ �Great Gulf: Vịnh Vĩ Đại� cổ xưa của Ptolemy (như trong thực tế Gastaldi đ� đặt t�n biển n�y trong năm 1548 bằng danh xưng đ� �-Đại-Lợi-h�a của �ng, Golpho Grande).� Một c�ch kh�c, sino cũng c� thể để chỉ �China: Trung Hoa�.� Trong khi Gastaldi (1548) hiểu sino như l� �gulf: vịnh: sinus�, Ramusio hiểu n� như l� �Trung Hoa: China�, gần như đ� chuyển vị từ Vịnh Vĩ Đại (Great Gulf) cổ xưa sang th�nh Biển Trung Hoa hiện đại qua sự tr�ng hợp về ngữ học.

 

H�nh 74: Đ�ng Nam �, G. B. Ramusio.� Nguy�n thủy được ấn h�nh bằng bản khắc gỗ trong năm 1554, h�nh tr�n đ�y l� từ bản khắc tr�n đồng năm 1563 (27.4 x 37.3 cm)

 

 

***

 

 

 

H�nh 75: Đ�ng Nam �, Girolamo Olgiato, khoảng 1570.� Đ�y l� bản khắc lại bản đồ Asia của Gastaldi năm 1561, v� tờ vẽ phần ph�a nam được r�p th�m v�o bởi Fornali khoảng năm 1565. [Richard B. Arkwa].

 

 

*****

Phụ Lục 15

Lục Địa Đ�ng Nam �

Trong Bản Đồ Của Gastaldi năm 1548

(c�c trang 148-149)

 

M� Lai

������ Sự minh họa của Gastaldi về B�n Đảo M� Lai v� Đ�ng Dương, mặc d� l� một sự mi�u tả �hiện đại�, vẫn mang c�c cội rễ xa x�i trong bản đồ Golden Chersonese (B�n Đảo V�ng) của Ptolemy.� Giống như một nh� đi�u khắc nhồi nh�t v� vắt nặn đất s�t của m�nh trước khi n� kh� đi với thời gian, Gastaldi đ� cố khu�n đ�c kiến thức địa dư của thời đại �ng v�o bản đồ B�n Đảo V�ng của Ptolemy hơn l� vứt bỏ n� to�n bộ để l�m một t�c phẩm đi�u khắc ho�n to�n mới chưa từng c�.� �ng ta lấy phần vẽ lục địa Đ�ng Nam � của Ptolemy (so s�nh phần vẽ về M� Lai của �ng với phần tương ứng trong bản đồ của Ptolemy, H�nh 27), v� đ� kiểu ch�nh vĩ độ của M� Lai để nới d�i về ph�a nam tới 1 � o bắc vĩ độ, như được b�o c�o một c�ch ch�nh x�c trong nhật k� của Pigafetta, chứ kh�ng phải l� 1 � o nam vĩ độ được t�m thấy trong bản thảo v� ấn bản lần đầu ti�n quyển nhật k� của �ng ta, v� được sử dụng bởi Fine hồi năm 1531, hay 3o nam, như trong ch�nh bản đồ của Ptolemy.� H�nh dạng chiếc l� lật ngược cho phần đất ph�a nam của M� Lai trong bản đồ của Ptolemy (c� thể l� Sumatra) giờ đ�y nghi�ng về ph�a đ�ng một c�ch ch�nh x�c, v� mỏm tr�n đ� Ptolemy vẽ ra c� thể tượng trưng cho ph�a nam của Đ�ng Dương (thi trường Zaba, được tr�ch dẫn bởi Ptolemy nằm ở tọa độ 4o45� băc vĩ độ) v� giờ đ�y nằm ngay tr�n 10o (số tọa độ ch�nh x�c l� ngay tr�n 8o).� So s�nh hai b�n đảo n�y với hai phần đất tiền th�n của ch�ng trong bản đồ Ptolemy cho thấy rằng Gastaldi đ� đ�nh đồng v�ng Sinus Perimulicus của Ptolemy với Vịnh Xi�m La (Gulf of Siam) � một danh xưng m� trong thực tế, �ng giữ lại tr�n bản đồ l� Golfo Permuda.

Singapore �.

Căm Bốt v� Miến Điện �

Xi�m La v� C�c Vương Quốc Kh�c Tr�n Bản Đồ Năm 1548

Davsian, vương quốc ph�a bắc của Ava, l� Sian (Siam: Xi�m L), c�ch đọc sai từ từ ngữ d�Ansian (c� nghĩa vương quốc của Xi�m La) được nhận thấy trong c�c bản đồ chẳng hạn như bản đồ của Ribero năm 1529.� Nagogor, tr�n bờ biển ph�a đ�ng của M� Lai, l� Lugor (Nakhon si Thammarat), một th�nh phố tại miền nam Th�i Lan, th�nh phố Nagaragoy tr�n c�c bản đồ sớm hơn như bản đồ của Waldseemmuller năm 1513 (H�nh 57).� Trong trận chiến d�nh quyền kiểm so�t Malacca, người Bồ Đ�o Nha đ� sớm vương vấn v�o một sự say đắm với Xi�m la, vừa bởi sự gi�u c� v� quyền lực dự tưởng của n�, vừa bởi sự cạnh tranh của nh� vua của n� với c�c nh� l�nh đạo Malacca m� Albuquerque đang giao tranh.� Ch�nh v� thế, Albuquerque đ� ph�i một sử giả, Duarte Fernandes, đến Ayuthaya ngay trước khi �ng ta chiếm đoạt được Malacca.� Người Bồ Đ�o Nha cảm thấy an t�m khi biết rằng nh� l�nh đạo Xi�m La, Rama T�ibodi II, đang bận t�m về chiến cuộc với Chiang Mai, v� kh�ng c� � đe dọa c�n c�n giữa những kẻ đang d�nh giựt Malacca.� Một sứ bộ Bồ Đ�o Nha kh�c đ� đi đến Ayuthaya trong năm 1518, lần n�y để thiết lập một hiệp ước với Vua Rama T�ibodi II.� Người Bồ Đ�o Nha được cho ph�p định cư tại Xi�m La v� được mua b�n tại Ayuthaya, Lugor, Patani, v� Mergui, trong khi người Xi�m La được ph�p định cư tại Malacca, v� được hứa hẹn s�ng ống cho cuộc chiến tranh của họ chống lại Chiang Mai.

������ Comche China (Cochin-China), một từ ngữ được đặt ra bởi người Bồ Đ�o Nha v� được sử dụng trước ti�n để chỉ bất kỳ phần đất n�o của Việt Nam kh�c hơn l� xứ Ch�m hay miền Ch�u Thổ s�ng Cửu Long, được ghi t�n b�n cạnh Đ�ng Dương.� Từ ngữ n�y c� thể c� nguồn gốc từ tiếng M� Lai l� Kuchi, bản th�n c� thể đến từ danh xưng bằng tiếng H�n, �Chiao-Chili: Giao Chỉ�, hay Tongking (Đ�ng Kinh, [tức Bắc Kỳ]).� Tom� Pires đ� giải th�ch rằng �Cochin-China� l� một từ ngữ được d�ng tại Malacca, [trong th�nh ngữ] �x�t về miền Cauchy Coulam�.� Người Bồ Đ�o Nha c� thể đ� bổ t�c từ ngữ �China� v�o từ ngữ �Cochin� để ph�n biệt n� với v�ng Cochin thuộc Ấn Độ.� Barros xem v�ng Cochin-China l� v�ng �t được biết tới nhất trong c�c vương quốc Đ�ng Dương (sau Căm Bốt v� Ch�m).� �ng cho rằng sự thiếu hiểu biết của T�y phương về v�ng Cochin-China l� hậu quả của c�c đại dương gi�ng b�o v� bất trắc ngo�i bờ biển của n�, v� v� sự kiện rằng người Cochin-China �t khi tham gia v�o c�c cuộc mạo hiểm đường biển.� Một thế kỷ sau đ�, gi�o sĩ D�ng T�n Marini đ� ph�n n�n rằng c�c nh� địa dư đ� sử dụng sai từ ngữ �Cochin-China� để chỉ to�n thể Đ�ng Dương bởi họ kh�ng hay biết g� về miền n�y v� lịch sử của n�.

������ Pires c� b�o c�o rằng vương quốc n�y, giống như xứ Ch�m, l� một d�n tộc nặng về n�ng nghiệp hơn l� đi biển, mặc d� �ng ta tin rằng nước n�y được ban cho nhiều con s�ng lớn, c� thể hải h�nh được, v� hay biết rằng c�c thương nh�n của n� thường xuy�n du h�nh sang Trung Hoa, v� đ�i khi sang Malacca.� Cochin-China li�n hệ chặt chẽ với Trung Hoa về văn h�a, thương mại, v� ngay bởi sự kết h�n giữa c�c ho�ng tộc.� Sự quen thuộc với Tongking (Bắc Kỳ) � được l�m chứng bởi sự xuất hiệu danh xưng của n� tr�n c�c bản đồ �u Ch�u � gia tăng khi người Bồ Đ�o Nha tự định cư tại Macao, nơi đ� cung cấp một căn cứ thực dụng để với tới Việt Nam.� Một khi từ ngữ Tongking đ� được đặt cho miền bắc Đ�ng Dương, danh xưng Cochin-China đ� được d�ng để chỉ An Nam (Trung Kỳ), phần đất Việt Nam tập trung quanh th�nh phố Huế. [hết tr�ch dịch]

 

H�nh 73: �ng Nam �, Giacomo Gastaldi, 1548 (13 x 17 cm)

 

 

*****

Phụ Lục 16

Lục Địa Đ�ng Nam �

Tr�n Bản Đồ của Ramusio năm 1554 v�

Tr�n Bản Đồ của Gastaldi năm 1561

(c�c trang 150-151)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch] N�i chung, những g� c� thể n�i về lục địa tr�n bản đồ của Ramusio năm 1554 c� c� thể đ�ng như vậy đối với Bản Đồ Của Gastaldi năm 1561.� Ch�ng ta sẽ chỉ đề cập đến Bản Đồ Của Ramusio khi Bản Đồ Gastaldi kh�c biệt một c�ch đ�ng kể.

������ Trong khi h�nh dạng của M� Lai tr�n Bản Đồ Gastaldi năm 1548 c� giữ lại một sự �m chỉ đến B�n Đảo V�ng của Ptolemy, Bản Đồ Của Ramusion c� một hồi ức mơ hồ về b�n đảo Cantino cổ xưa (Xem Bản Đồ Waldseemuller Asia, H�nh 57), tương tự cũng ch�nh x�c về vĩ độ, với sự định hướng mỏm ph�a nam cũng được quay ngược lại một c�ch ch�nh x�c.� Tuyệt vời hơn rất nhiều về h�nh vẽ của M� Lai so với bản đồ năm 1548, đ�y l� nền tảng của M� Lai, Đ�ng Dương, v� đ�ng ra lục địa Đ�ng Nam � hiện đại.� Một v�i bản đồ thế giới được ấn h�nh v�o khoảng c�ng l�c với bản đồ Ramusio cũng cho thấy c�c sự cải tiến tr�n v�ng lục địa, nổi bật l� bản đồ kh� th� sơ của Lopez de G�mara năm 1552-53, v�, đặc biệt hơn, bản đồ của Michele Tramezzino năm 1554.

Việt Nam

������ S�ng Hồng c� được bước khởi đầu, ở đ�y, v� được tr�nh b�y c�ng với th�nh phố của Cochinchina (H� Nội) được vẽ b�n bờ s�ng của n�.� Tiếp tục đi xuống ph�a nam, ch�ng ta đến một b�n đảo nh� ra về ph�a đ�ng được đặt t�n l� Capo pulocanpola.� T�n n�y l� c�ch gọi sai của danh xưng �Pulo Condore� (C�n Sơn), một h�n đảo ngo�i khơi Ch�u Thổ s�ng Cửu Long, v� l� một biến thể của từ ngữ fulucandoia trong nguy�n mẫu b�n đảo Đ�ng Dương tr�n bản đồ của Cantino năm 1502 v� nhiều bản đồ kế tiếp của c�ng gia tộc n�y (xem trang 109 [trong nguy�n bản, ch� của người dịch] b�n tr�n).� Bản đồ của Ramusio gần với sự thực hơn, với từ ngữ fulu của Cantino giờ đ�y được đ�nh vần một c�ch ch�nh x�c hơn l� pulo (h�n đảo).

S�ng Cửu Long

Theo sau qu�i trạng n�y, ch�ng ta đi qua xứ Ch�m (Campa) v� c� được c�i nh�n tho�ng qua d�ng s�ng dũng m�nh Cửu Long v� v�ng ch�u thổ trải rộng của n�, được ghi theo t�n hiện đại của n� (M�con), m� theo Cam�es c� nghĩa l� ��ng Ho�ng Của C�c D�ng S�ng� (Prince of Waters).� Quyển Travels của Pinto đề cập đến d�ng s�ng l� Pulo Cambin, mặc d� đ�y r� r�ng l� một c�ch gọi sai lạc theo văn bản bởi pulo, như Pinto hẳn phải hay biết, c� nghĩa �h�n đảo� (island).� Nhiều nh� vẽ bản đồ sau n�y đơn giản chỉ s�ng Mekong l� S�ng Căm Bốt (River of Cambodia).

������ D�ng chảy của s�ng Cửu Long l� một sự đo�n m�, d�ng s�ng được h�nh dung như một hải lộ gần như thẳng tuột, th�ng suốt, đến tận nội địa Trung Hoa xa x�i.� Ch�nh v� với quan điểm ng�y thơ về d�ng chảy của s�ng Mekong n�y, ch�ng ta nh�n thấy sự mở m�n cho hai sự ngụy biện c� tầm quan trọng bao la.� Sự sai lầm thứ nhất l� giấc mơ rằng con s�ng c� thể cung cấp một th�ng lộ thương mại dễ d�ng v�o đến tận trung t�m của Vương Quốc Thi�n Triều, một cuồng vọng �m ảnh c�c kẻ t�m kiếm của cải người� �u Ch�u m�i cho đến cuối thế kỷ thứ mười ch�n.� Thứ nh�, bởi v� người �u Ch�u đ� nhận thức s�ng Mekong như x�c định bi�n giới ph�a đ�ng của Xi�m La, d�ng chảy ph�n định d�nh cho con s�ng huyền b� � thiếu mất bước ngoặt gắt sang ph�a đ�ng ở ph�a bắc Phnom Penh � đ� l�m giảm bớt lớn lao sự nhận thức của khối T�y về k�ch thước của Xi�m La.� Sự sai lầm n�y, như ch�ng ta sẽ thấy sau n�y, gi�p cho Xi�m La tr�nh được sự đ� hộ của ngoại bang trong thế kỷ thứ mười ch�n.

Biển Hồ T�nle Sap

������ Cả bản đồ của Ramusion v� của Gastaldi năm 1561 đều tr�nh b�y sơ s�i về Biển Hồ T�nle Sap, hồ được đổ nước v�o từ một phụ lưu của hạ lưu s�ng Cửu Long với bờ hồ t�y bắc gi�p ranh với kinh đ� cổ thời ở khu đền Angkor.�� Nhưng k�ch thước của hồ kh�c nhau một c�ch r� rệt giữa hai bản đồ.� Bản đồ của Ramusio cho thấy n� như một hồ tương đối nhỏ được giới hạn v�o miền ch�u thổ s�t cạnh, trong khi bản đồ của Gastaldi chạy d�i gần đến vĩ độ 5o .� Tại sao lại c� một sự kh�c biệt đến thế giữa hồ tr�n hai bản đồ c� c�c v�ng lục địa, mặt kh�c, li�n hệ chặt chẽ với nhau?� Chiều rộng của hồ T�nle Sap trong thực tế thay đổi một c�ch s�u xa, mở rộng v� thu nhỏ khi m� hạ lưu s�ng Mekong thực sự đảo ngược d�ng chảy hai lần trong một năm.� Giống như một l� phổi của lưu vực s�ng Mekong, hồ nhiều c� mở rộng v� thu nhỏ theo m�a,thay đổi k�ch thước gần mười lần từ khoảng 2600 đến 25,000 kilom�t vu�ng, v� ch�nh v� thế c�c nh� th�m hiểm nh�n thấy hồ ở c�c thời điểm kh�c nhau trong chu kỳ của n� sẽ b�o c�o c�c cảnh tượng ho�n to�n kh�c biệt.� Ramusio chỉ đơn giản chỉ danh hồ l� Lago, trong khi Gastaldi d�ng chữ Lago de Cambodia (Hồ của Căm Bốt).� �T�nle Sap�l� một từ ngữ tiếng Căm Bốt c� nghĩa �hồ vĩ đại�, giống như Chao Phraya hay S�ng của Th�i Lan từ l�u được gọi bằng một danh từ của Th�i để chỉ con s�ng, �menam�. [hết tr�ch dịch]

������ Xin xem v� so s�nh c�c h�nh 74 v� 75 b�n tr�n, ch� của người dịch.

***

H�nh 78: Thuyền xưa đ�y bằng, boong thấp, ch�o bằng tay của nh� vua Bắc Kỳ, v� (g�c dưới, b�n phải], c�ch họ ăn cơm bằng đũa.� Trong tập Delle Missionid� Padri della Campganiadi Giesu của Marini, Rome, 1663.� Vị tu sĩ địa phận Choisy thuật lại một sự tr�nh b�y sống động về c�c chiếc thuyền n�y m� �ng đ� nghe được trong cuộc du h�nh đến Xi�m La năm 1685 của �ng, v� tương hợp một c�ch chặt chẽ với h�nh minh họa của Marini.� �Mỗi thuyền đ�y bằng [của Cochin-China] c� ba mươi s�u tay ch�o ở mỗi b�n,� (được vẽ với con số ch�nh x�c) v� chỉ c� một người cho mỗi m�i ch�o.� Phần mũi v� đu�i t�u bỏ trống� v� đ�i cao d�nh cho c�c sĩ quan.� Kh�ng c� g� ngăn nắp cho bằng c�c người n�y.� C�c tay ch�o phải lu�n lu�n tr�ng chừng vị thuyền trưởng, kẻ bằng động t�c của chiếc gậy chỉ huy ra hiệu cho họ thi h�nh c�c mệnh lệnh của �ng.� Tất cả nằm trong một sự h�a hợp đến nỗi một nhạc trưởng kh� l�m kh� hơn trong việc phối hợp nhịp điệu c�c nhạc sĩ của m�nh cho bằng một vị thuyền trưởng một chiếc thuyền đ�y bằng của Cochin-china tu�n theo sự di chuyển của chiếc gậy chỉ huy.� �Vị nhạc trưởng� đứng tr�n �bục� b�n tr�i, tay cầm gậy chỉ huy.� Mặt ngo�i của thuyền được qu�t sơn b�ng m�u đen v� mặt trong c� một lớp sơn m�i m�u đỏ tr�n đ� người ta c� thể thấy phản chiếu khu�n mặt của m�nh.� Tất cả m�i ch�o đều được thếp v�ng.� (Cảm ơn hảo � của Martayan-Lan, New York)

 

 

*****

Phụ Lục 17

C�c Ph�i Bộ Truyền Gi�o �u Ch�u Đến Việt Nam

(c�c trang 216-217)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch] C�c gi�o sĩ D�ng T�n � Đại Lợi, Bồ Đ�o Nha, v� Ph�p đ� bắt đầu tổ chức c�c ph�i bộ sang Việt Nam hồi đầu thế kỷ thứ mười bẩy.� Alexandre de Rhodes, qu� qu�n tại Avignon đ� l�m việc trong hai thập ni�n tại Đ�ng � Ch�u, được ph�i đến Bắc Kỳ (Tongking) trong năm 1627 bởi c�c bề tr�n của �ng ở Ma Cao.� Đ� sẵn học ng�n ngữ Việt Nam trong thời cư tr� trước đ� tại nước n�y, �ng đ� th�nh lập một ph�i bộ ở H� Nội v� tuy�n bố đ� thụ hưởng sự th�nh c�ng mau ch�ng v� vững chắc trong c�c sự cải đạo (mặc d� Willam Dampier tường thuật rằng nhiều người cải đạo được b�o c�o bởi c�c nh� truyền đạo Thi�n Ch�a l� c�c kẻ ngh�o đ�i đ� t�m đến c�c người �u Ch�u để c� gạo �trong c�c thời kỳ khan hiếm�).� Tuy nhi�n, �ng Rhodes đ� bị trục xuất ba năm sau đ�, nhiều phần bởi c�c b� vợ của nh� vua c�ng gia đ�nh của họ, c�c kẻ lo sợ tương lai sẽ ra sao nếu c�c gi�o lệnh của Thi�n Ch�a chống lại chế độ đa th� được chấp nhận, đ� �p lực nh� vua cấm đo�n �ng ta.� Trong năm 1650, một năm sau khi trở lại Rome, �ng Rhodes đ� xuất bản một tập tường tr�nh về Việt Nam c� chứa một bản đồ phần miền bắc của xứ sở (H�nh 130).� Nhan đề của bản đồ trưng dẫn danh xưng cổ xưa, �An Nam�, c� nghĩa �miền nam đ� được b�nh định�, một sự �m chỉ đến sự khuất phục của n� dưới sự cai trị của Trung Hoa từ khoảng 111 trước C�ng Nguy�n đến năm 939 sau C�ng Nguy�n.� Bản đồ phản ảnh h�nh ảnh của miền bắc Việt Nam như c� nhiều con s�ng ngắn, điều m� Choisy đ� m� tả trong năm 1685 như �qu� ngắn v� qu� nhiều đến nỗi kh�ng ai đặt t�n cho ch�ng cả.�

������ Một bản đồ Việt Nam đ�ng lưu � kh�c được họa v�o thời khoảng n�y bởi Daniel Tavernier, kẻ đ� thực hiện mười một hay mười hai cuộc du h�nh đến Bắc Kỳ trong thập ni�n 1640 từ c�c tiền trạm tại Nam Dương.� Daniel mất năm 1648, nhưng người (anh) em nổi tiếng hơn của �ng, Jean Baptiste, đ� c�ng bố bản đồ của Daniel v�o năm 1679 (H�nh 131) như một phần của phụ lục cho tập tường tr�nh c�c cuộc du h�nh của ch�nh �ng đến � Ch�u, vốn đ� mang lại cho �ng một sự gi�u c� đ�ng kể nhờ việc mua b�n kim cương.� Bản đồ v� c�c phần ghi ch� kh�c nhau, giống như sự tường thuật về Bắc Kỳ của t�c giả, chứa đựng cả c�c tin tức x�c thực lẫn hoang đường.

������ Dampier đ� để lại cho ch�ng ta c�c cảm tưởng của �ng về việc ngược d�ng s�ng l�n H� Nội (Kecio tr�n bản đồ của Rhodes, Checo tr�n bản đồ của Tavernier):

Trong khi ch�nh từ đ� ch�ng t�i đi ngược d�ng S�ng, đ�i khi ch�o tay v� đ�i khi trương buồm, ch�ng t�i nh�n được một cảnh tượng ngoạn mục tr�n Xứ Sở ph� nhiều bằng phẳng khoảng kho�t. �Tổng quan, hoặc Đồng Cỏ hay c�c c�nh đồng ruộng L�a v� vắng b�ng c�y cối, chỉ ngoại trừ gần c�c Ng�i L�ng, mọc l�n san s�t, v� tr�ng c� vẻ v� c�ng th�ch th� từ xa.� C� nhiều Ng�i l�ng nằm s�t c�c bờ của c�c con S�ng, bao quanh bởi C�y Cối chỉ mọc ở ph�a đ�ng sau , nhưng để ngỏ ở mặt hướng đến con S�ng.

������ Dampier đ� m� tả th�nh phố l� đ�ng đảo, nhưng kinh đ� rất ngăn năp được chia th�nh 72 khu vực, mỗi khu c� một con đường ch�nh rộng lớn với nhiều phố b�n h�ng nhỏ hơn.� N� l� thị trường ch�nh cho v�ng Ch�u Thổ s�ng Hồng.� Trong khi bản đồ của Rhodes d�nh cho An Nam (miền bắc Việt Nam) [tức Đ�ng Ngo�i khi đ�, ch� của người dịch], bản đồ của Tavernier bao gồm to�n thể bờ biển Đ�ng Dương.� B�n ngo�i v�ng Ch�u Thổ s�ng Mekong vẽ rất sai lạc của m�nh, Tavernier c� x�c định Quần Đảo Condore (C�n Đảo) với t�n Tortues bởi c�c con r�a được thấy thật nhiều ở đ�.� Dampier c� n�i nhiều về c�c con r�a m�u lục t�m thấy ở Condore v� c�c đảo l�n cận, v� đặt giả thuyết rằng ch�ng c� thể đ� di tản sang từ m�i Đảo Ascension.

������ Sau khi người Anh đ�ng cửa cơ xưởng của họ tại H� Nội trong năm 1697 (người H�a Lan đ�ng cửa x� nghiệp của họ trong năm 1700), người Anh đ� nhắm C�n Đảo (Pulo Condore) như một địa điểm thay thế.� Dampier đ� n�u � kiến về C�n Đảo như một căn cứ; dừng ch�n tại h�n đảo trong năm 1687, �ng ghi nhận rằng �C�n Đảo l� đảo ch�nh của một đống c�c h�n đảo, v� l� h�n đảo duy nhất c� người cư ngụ trong số c�c h�n đảo�, bổ t�c rằng � c�c h�n đảo n�y nằm rất gần nhau, rằng với một khoảng c�ch khiến ch�ng tr�ng c� vẻ chỉ l� một h�n đảo độc nhất.�

������ Dampier tiếp tục m� tả c�c t�nh chất thể h�nh của người d�n tại C�n Đảo, nhừng người �ng xem ra t�m được sự hấp dẫn, v� ca tụng sự tự do của phụ nữ tr�n đảo.� Nhưng �ng cũng c� c�c kế hoạch cho nước �ng ở đ�.� �C�c h�n đảo n�y�, Dampier giải th�ch,

Nằm rất thuận lợi tr�n đường đến v� đi từ Nhật Bản, Trung Hoa, Manila, Đ�ng Ngo�i (Tonquin), Đ�ng Trong (Cochinchina), v� n�i chung mọi v�ng ở Bờ Biển Cực Đ�ng của Lục Địa Ấn Độ n�y �� Bất kỳ T�u Thuyền nguy khốn n�o c� thể được t�i tiếp tế v� bổ sung tại đ�y một c�ch rất thuận tiện � ��n� cũng c� thể l� một địa điểm thuận tiện để dẫn đường cho một c�ng cuộc Thương Mại với nước L�ng Giềng của Đ�ng Trong, c�c Đồn L�nh c� thể được x�y dựng để bảo to�n cho một Cơ CXưởng, đặc biệt tại Bến T�u, với khả năng c� thể được củng cố một c�ch ho�n hảo.

������ Dampier c� bao gồm một bản đồ C�n Đảo v�o tập tường tr�nh của �ng bởi, �ng giải th�ch, địa dư của n� �t được hay biết đến.� Trong năm 1702, như �ng dự kiến, C�ng Ty Đ�ng Ấn Độ (East India Company) trong thực tế đ� thiết lập một cơ xưởng tr�n C�n Đảo, nhưng n� chỉ tồn tại trong �t măm.� Khi nh�n lại, Alexander Hamilton, kẻ đ� đến Đ�ng Nam � ngay sau Dampier v� đ� ở lại cho đến năm 1723, đ� ghi nhận rằng C�n Đảo l� �một sự lựa chọn tồi để l�m th�nh một thuộc địa, rằng đảo kh�ng sản xuất g� kh�c ngo�i gỗ, nước, v� c� để bắt.�

 

H�nh 130: Regnu Annam, một bản đồ sớm sủa của ri�ng biệt Việt Nam, từ s�ch của A. de Rhodes, quyển Relazione d� felici successi della SanteFede nel Regno di Tunchino, 1650 [Antiquariaat Forum, Catalogue 105]

 

 

***

 

H�nh 131: Việt Nam, của Daniel Tavernier.� Từ J. Chr. Wagner, Delineatio Provinciarum Pannonise � 1684-86 (16.5 x 21 cm)

 

 

 

*****

Phụ Lục 18

Hải Lộ Singapore � Trung Hoa v� Quần Đảo Ho�ng Sa

(c�c trang 244-245)

������ C�c người đi biển Bồ Đ�o Nha trở n�n quen thuộc với Quần Đảo Ho�ng Sa (Paracel Islands) hồi đầu thế kỷ thứ mười s�u, khi họ trước ti�n trương buồm về hướng đ�ng bắc từ Malacca dọc theo bờ biển Trung Hoa.� Nhưng trong khi c�c đảo như Tioman v� Condore (C�n Đảo) l� c�c nơi tr� n�u an to�n tr�n lộ tr�nh giữa Trung Hoa v� Ấn Độ Dương, Quần Đảo Paracel l� một mối đe dọa.� Dampier đ� ghi nhận sự nguy hiểm của ch�ng, v� sau đ� kh�ng l�u, Alexander Hamilton nhận x�t rằng Quần Đảo Ho�ng sa l� �một chuỗi đ� nguy hiểm, d�i khoảng 130 hải l�, v� rộng khoảng mười lăm hải l�, v� chỉ c� một số �t đảo ở mỗi đầu cực.� C� nhiều thủy triều nội vi giữa c�c đảo đ�, nhưng kh�ng c� dấu hiệu hay biết n�o để cảnh b�o tr�nh xa c�c nguy hiểm gần đ�.�� Hamilton ghi nhận rằng nỗi lo sợ bị vỡ t�u tại Quần Đảo Ho�ng Sa khiến cho c�c l�i thuyền b�m s�t lấy bờ biển Đ�ng Dương.

������ Trong năm 1808, một họa đồ Quần Đảo Paracels được ấn h�nh v� c�ng bố bởi James Horsburgh,� Nh� Vẽ Thủy Đạo của C�ng Ty Đ�ng Ấn, v� được mang theo tr�n c�c chiếc t�u Anh Quốc chạy đường Trung Hoa v� Singapore.� Nhưng th� dụ được tr�nh b�y nơi đ�y (H�nh 152), l� một bản đồ vẽ tay, chứ kh�ng phải l� bản đồ được ấn lo�t.� Mặc d� c�c bản đồ được in v�o thời điểm n�y đ� thay thế phần lớn c�c bản đồ vẽ tay l�m t�i liệu tham khảo ch�nh yếu cho c�c kẻ dẫn đạo v� c�c thuyền trưởng tr�n c�c lộ tr�nh thường xuy�n, bản vẽ tay vẫn tiếp tục phục vụ như một phương c�ch t�i sản xuất mau ch�ng trong khi tr�n biển hay ở một hải cảng xa x�i.� Khi c�c bản sao phụ trội của một bản đồ cần đến tr�n đường đi, n� sẽ được sao ch�p lại bằng tay.� Đ�y l� một th� dụ của một sự sản xuất như thế, được sao ch�p tỉ mỉ từ bản in (hay một bản sao ch�nh MS [?] kh�c từ bản đồ được chạm khắc), c� lẽ tr�n một chiếc t�u Anh Quốc tại Ấn Độ. 282 Ngay t�n người chạm khắc, một đặc điểm xem ra dư thừa cho mục đ�ch sao ch�p, đ� được giữ lại.

H�nh 152 Quần Đảo Ho�ng Sa (The Paracel Islands, một bản sao v� tay từ họa đồ được ấn lo�t của James Horsburgh, khoảng 1810 (61.5 x 61.5 cm).� Bản sao ch�p bằng tay n�y c� lẽ đ� được thực hiện tại Ấn Độ tr�n một chiếc t�u hay một hải cảng nơi m� c�c bản sao phụ trội của bản đồ đ� �ấn h�nh kh�ng được cung cấp.� Bờ biển c� đường ch�o �ở g�c dưới b�n tr�i l� Đ� Nẵng, Việt Nam.� Macao được đ�nh dấu theo hướng g�c tr�n b�n phải, Th�nh Phố Quảng Ch�u được chấm định ở đường bi�n, ph�a b�n tr�n của bản đồ v� đảo Hải Nam nằm ở trong khu vực bị chiếm bởi nhan đề bản đồ d�i rộng.� C�c h�n đảo kh�c nhau tạo th�nh Quần Đảo Ho�ng Sa hiện ra ngay ph�a trước.

 

 

 

*****

Phụ Lục 19

C�c Bản Đồ ��u Ch�u� Được Lập Tại Đ�ng Nam �

(trang 251)

������ [Bắt đầu tr�ch] C�c bản đồ Forrest lập cho triều đ�nh Mindanao v� c�c người quen biết ở Bugis đ� l� c�c bản đồ ��u Ch�u� được thực hiện tại v�ng Đ�ng Ấn Độ.� Sự sản xuất bản đồ, trong thực tế, l� một cuộc kinh doanh tiếp diễn của người �u Ch�u tại Đ�ng Nam �.� Gần như tất cả c�c bản đồ như thế đều ở dạng vẽ bằng tay, được sản xuất vừa cho sự sử dụng địa phương của c�c kẻ định cư, vừa để xuất cảng về mẫu quốc, nơi ch�ng sẽ phục vụ cho việc tu sửa c�c bản vẽ ch�nh phủ ch�nh thức về miền đất n�y.� C�c bản vẽ của T�y Phương về � Ch�u như thế th� hiếm c�, bởi kh�ng chỉ c�c bản đồ vẽ tay tự n� đ� hiếm hoi, được sản xuất từng bản một,� m� ch�ng c�n phải chịu đụng sự hư hao của việc chuy�n chở bằng t�u, v� sự sử dụng địa phương, cũng như kh� hậu n�ng v� ẩm.� Đối với người H�a Lan, trung t�m ch�nh cho sự sản xuất bản đồ tại Đ�ng Nam � l� Batavia; H�nh 157 tượng trưng cho một c�ng tr�nh v� danh ở Batavia như thế. [hết trich]

H�nh 157: Một họa đồ v� danh của V.O.C. (C�ng Ty Đ�ng Ấn của H�a Lan) bao gồm v�ng Biển Nam Hải (South China Sea), từ bắc Borneo chạy xuy�n qua Việt Nam v� M� Lai, được lập ra tại Batavia hồi đầu thế kỷ thứ mười t�m.� Mặc d� Căm Bốt đ� l� một mục ti�u của C�ng Ty Đ�ng Ấn (V. O. C.) kể từ năm 1620, sự x�m nhập nghi�m chỉnh của H�a Lan v�o xứ sở n�y chỉ diễn ra sau khi thương mại của Nhật Bản với Căm Bốt bị đ�nh chỉ sau năm 1635.� C�ng Ty V. O. C. đ� thiết lập c�c căn cứ tại Phnom Penh để thực hiện c�ng cuộc mậu dịch bị bỏ rơi bởi người Nhật, hoạt động một c�ch bất thường xuy�n cho đến khoảng 1670, khi sự bất ổn ch�nh trị của xứ sở chứng tỏ l� một g�nh nặng qu� to lớn.� Sự kiện rằng �u Ch�u phần lớn vẫn c�n ng�y ng� về Căm Bốt cho đến thời đại tương đối gần đ�y được phản ảnh qua việc rằng c�c sự tường thuật về tầm mức vĩ đại c� thực của khu đền Angkor vẫn kh�ng được xem l� khả t�n cho đến thế kỷ thứ mười ch�n. (100.5 x 66 cm) (Paulus Swaen Old Maps Internet Auction)

 

 

*****

Phụ Lục 20

Xứ Ch�m Tr�n Bản Đồ Của Johann Ruysch (1507), �v�

Trong C�c Văn Bản của Odoric, Mandeville v� Tom� Pires

(c�c trang 104-105)

������ [Bắt đầu tr�ch dịch] Ở ph�a tr�n b�n phải h�nh thu nhỏ bản đồ của Ruysch, c� một b�n đảo với một th�nh phố t�n l� Zaiton.� Hải cảng n�y, từ đ� đ�an người của Marco Polo khởi sự cuộc phi�u lưu kỳ th� của họ xuy�n qua c�c hải phận Đ�ng Nam �, l� Ch�uan-chou [Quanzhou: Tuyền hay T�an Ch�u?], tại miền hải cảng Amoy của Trung Hoa 153.� Từ Zaiton, họ đ� hộ tống một thiếu nữ c� t�n l� Kokachin, được tuyển chọn để trở th�nh ho�ng hậu của Persia, �1500� dậm ngang qua một vịnh đến Ciamba (Champa, tức Ch�m hay Chăm), một vương quốc duy�n hải cổ xưa ở phần giờ đ�y l� miền trung Việt Nam, được biết bởi người Trung Hoa l� Lin-yi (L�m Ấp).� Polo đ� đến thăm người Ch�m đang tiến đến hồi kết th�c nền văn minh của họ, vốn đ� ph�t triển trong hơn một ngh�n năm, từ khoảng thế kỷ thứ nh� cho đến thế kỷ thứ mười bốn.� Polo đ� xem xứ Ch�m như khởi điểm ph�a đ�ng của Đ�ng Nam �, phần m� �ng gọi l� �Tiểu Ấn Độ� (Lesser India: Ấn Độ Nhỏ Hơn� v� đ� m� tả như miền trải rộng từ xứ Ch�m ở ph�a đ�ng xuy�n qua Motupalli (đ�ng Ấn Độ) sang ph�a t�y.

������ Ruysch đặt định Silva Aloe tại miền nam xứ Ch�m.� Danh xưng để chỉ một khu rừng c� c�y l� hội [aloes trong nguy�n bản, nhiều phần phải l� aloeswood, tức c�y gỗ trầm hương, ch� của người dịch] qu� b�u m� Polo n�i l� vua Ch�m đ� d�ng hiến như một phần trong cống phẩm h�ng năm của �ng l�n Kublai Khan.� Tại v�ng n�i b�n tr�n xứ Ch�m, cũng như đi s�u hơn về ph�a nam dọc theo bờ biển Việt Nam, Ruysch cho thấy silva ebani (rừng gỗ mun m�u đen; forests of ebony), loại gỗ m� Polo cho ch�ng ta� biết, được d�ng để l�m qu�n cờ v� c�c hộp đựng b�t.� Polo đ� d�ng danh từ bonus cho ebony, từ chữ abn�s của tiếng Persian (Ba Tư).

������ Theo Polo, kh�ng người đ�n b� n�o của Ch�m c� thể kết h�n cho đến khi nh� vua nh�n thấy c� ta đầu ti�n, bởi �nếu c� ấy l�m vừa l�ng �ng, khi đ� �ng sẽ lấy l�m vợ�. C�c sử gia hiện đại kh�ng nghĩ rằng Polo đ� n�i qu� đ�ng khi �ng b�o c�o rằng nh� vua Ch�m đ� c� 326 đứa con (con số thực sự sai biệt đ�i ch�t) từ nhiều b� vợ của �ng ta.� Odoric của Pordenone, người đ� đến xứ Ch�m từ Java khoảng năm 1323, đ� t�n đồng.� Nh� vua xứ Ch�m �đ� c� qu� nhiều vợ v� n�ng hầu, rằng �ng ta đ� c� ba trăm đứa con trai v� con g�i từ họ.� Odoric cũng lấy l�m kinh sợ bởi sự thu thập đ�n voi của nh� vua, ghi nhận rằng �nh� vua đ� c� 10,004 con voi đ� được thuần h�a, được bảo quản y như ch�ng ta đi chăn b�, hay c�c đ�n cừu tr�n đồng cỏ.�� Vị tu sĩ lương hảo c� n�u � kiến rằng xứ Ch�m l� �một xứ sở gi�u c� v� xinh đẹp nhất, v� trần đầy mọi thứ lương thực.�

������ Cứ c�ch một năm, theo Odoric, c� bơi v�o bờ biển của xứ Ch�m �một c�ch phong ph� đến nỗi, nh�n ra rất xa ngo�i biển, kh�ng thấy g� ngo�i c�c c�i lưng của bầy c�.�� C� tự quăng m�nh l�n tr�n bờ biển nơi, trong một thời khoảng ba ng�y, người ta �đến đ� c� thể bắt nhiều c� đến mức m�nh muốn .�� Bầy c� c�n lại sau đ� trở về biển, v� một loại c� kh�c đến hiến m�nh theo c�ng c�ch thức như thế.� C�u chuyện về c� của xứ Ch�m đ� gợi hứng cho John Mandeville, t�c giả thế kỷ thứ mười bốn bịa đặt ra một h�n đảo gọi l� Calonak cho quyển s�ch kiến thức du lịch của �ng ta.� Mandeville, với năng khiếu th�ng thường của �ng, đ� l�ng mạng h�a sự m� tả của Odoric về xứ Ch�m, khai triển một c�ch đầy tưởng tượng tr�n đ�.� Hiện tượng của nhiều đo�n c� tự quăng m�nh tr�n bờ biển của Ch�m, Mandeville giải th�ch, được n�i l� kết quả của sự sinh sản phi thường đ�n con của nh� vua.� �Bởi v� �ng đ� chu to�n lời răn m� Ch�a đ� y�u cầu �ng Adam v� b� Eve, khi Thượng Đế ph�n, Crescite et multiplicamini et replete terram [tr�ch dẫn từ Th�nh Kinh C�ng Gi�o, Genes 1.28, c� nghĩa: H�y sinh sản, l�m đ�ng gấp bội v� bồi bổ cho tr�i đất, ch� của người dịch] .. do đ� Ch�a đ� gửi đến nh� vua đủ mọi loại c� kh�c nhau c� mặt ngo�i biển, để bắt lấy t�y � nh� vua cho ch�nh �ng v� d�n ch�ng của �ng.�

������ C�c b�o c�o đầu tay mới về xứ Ch�m xảy ra kh�ng l�u sau bản đồ của Ruysch, với quyển Suma Oriental của Tom� Pires (1515).� Pires thuật lại rằng xứ Ch�m l� một vương quốc n�ng nghiệp v� kh�ng c� c�c hải cảng th�ch hợp cho c�c thuyền buồm lớn, nhưng c� một �t thị trấn nằm tr�n c�c con s�ng của n�.� Sản phẩm xuất cảng ch�nh yếu của n� l� c� kh�, gạo, đồ dệt, hạt ti�u, v� gỗ trầm hương (calambac hay aloe-wood), với phẩm chất thượng hạng, chủ yếu được chở sang Xi�m La. [hết tr�ch]

 

H�nh 55: Bản Đồ Thế Giới, Johann Ruysch, 1507 (ph�ng lớn chi tiết).� Sự ph�ng chiếu th�nh h�nh quạt bản đồ thực sự đ� cắt đ�i ngang qua v�ng Đ�ng Nam � (xem h�nh 56, b�n phải), nhưng hai m�p của bản đồ được nối liền nhau tr�n h�nh tr�nh b�y ở tr�n. (40.5 x 53.5 cm)

 

 

***

 

��� ��

*****

 

Phụ Lục 21

Huyền Thoại �u Cơ

(trang 17)

������ [Bắt đầu tr�ch] �Huyền thoại về nền văn minh khai diễn tại miền bắc của v�ng nay l� Việt Nam cũng thuật lại lại một c�u chuyện tương tự, nh�n nhận m�n nợ của Việt Nam đối với văn minh Trung Hoa, trong khi th�ch đố sự thống trị của Trung Hoa.� Huyền thoại truy t�m c�c gốc rễ của người Việt Nam nơi sự kết hợp của một người đ�n b� Trung Hoa v� một anh h�ng, Lạc Long Qu�n (Lac Lord Dragon).� Lạc Long Qu�n từ v�ng biển du nhập v�o Đồng Bằng S�ng Hồng ng�y nay l� miền bắc Việt Nam, đ�nh đưổi lo�i ma quỷ ra khỏi đất nước, v� dậy cho d�n ch�ng �trồng l�a gạo v� mặc quần �o.�� �ng đ� ra đi, hứa quay lại nếu cần đến �ng.� Khi một nh� vua Trung Hoa đi xuống phương nam v� t�m c�ch khuất phục người d�n, Lạc Long Qu�n được triệu thỉnh.� �ng đ� bắt c�c vợ của kẻ x�m lăng, người đ�n b� c� t�n l� �u Cơ, dấu b� ta ở tr�n định một ngọn n�i tr�ng xuống s�ng Hồng, v� nh� vua Trung Hoa, kh�ng thể t�m thấy b� ấy, đ� quay về nước với sự tuyệt vọng.� Một đứa con trai đ� được sinh ra bởi b� �u Cơ v� Lạc Long Qu�n, ch�nh từ đ� khởi đầu cho một triều đại mới. � [hết tr�ch]

������ C�u chuyện tr�n tuy c� nhiều chi tiết tương tự, nhưng cũng c� nhiều sự �kh�c biệt với truyền thuyết về �u Cơ trong c�c bộ huyền sử v� lịch sử Việt Nam như Lĩnh Nam Ch�ch Qu�i v� Đại Việt Sử K� To�n Thư.� Rất c� thể t�c giả đ� sử dụng một phi�n bản n�o kh�c r�t ra từ s�ch vở của Trung Hoa, v� c� sự kiện kh�ng thấy c� trong t�i liệu Việt Nam.� C�u chuyện trich dẫn bởi t�c giả �t nhiều c� t�nh c�ch hạ thấp gi� trị của b� �u Cơ, trong khi quyết đo�n rằng người Việt Nam c� mẹ l� người Trung Hoa [sic], mang đặc điểm trịch thượng v� miệt thị truyền thống trong sử k� Trung Hoa đối với c�c d�n tộc l�n cận kh�ng phải l� c�ng gốc d�n H�n.� Lịch sử Trung Hoa vốn bị đ�nh gi� bởi cac sử gia T�y Phương l� kh� c� được t�nh c�ch kh�ch quan, sẵn s�ng sửa đổi lịch sử sao cho c� lợi cho triều đ�nh Trung Hoa hay nếu cần ngụy tạo cả sử kiện nữa.� Ch�nh v� thế, ch�nh s�ch đối ngoại của Trung Hoa thường kh�ng hợp l� v� sử s�ch Trung Hoa �t khi phản ảnh trung thực mối quan hệ giữa Trung Hoa v� c�c l�n bang.� C�u chuyện �u Cơ tr�ch dẫn ở tr�n, tuy chỉ l� thần thoại, nhưng nhiều phần cần phải được nghi�n cứu kỹ c�ng hơn để kiểu ch�nh c�c sự tr� ngụy hay sai lầm nếu c�.� Một th� dụ kh�c như việc đặt t�n nước l� X�ch Quỷ! Thật kh� tưởng tượng l� c� một vị vua n�o lại tự nhận d�n m�nh l� ma quỷ v� muốn đặt t�n nước m�nh cai trị một cach phi l� đến thế.� Nhiều phần đ�y l� sự bịa đặt để miệt thị của c�c sử gia Trung Hoa c� xưa, v� cũng cần phải được kiểu ch�nh.� Xin xem th�m Phụ Lục B b�n dưới, Truyền Thuyết Lạc Long Qu�n v� �u Cơ của t�c giả Keith Weller Taylor.�

 

*****

Phụ Lục 22

Claudius Ptolemy

(c�c trang 63, 64, 82)

������ (Bắt đầu trich) Ptolemy nh� địa dư học cổ thời nổi tiếng nhất, � c� thể được xem như đỉnh cao nhất của truyền thống họa đ� thế giới của Hy Lạp, l� một người Ai Cập đứng đầu thư viện tại Alexandria (Ai Cập) giữa khoảng 127 � 150 sau C�ng Nguy�n.� Quyển Geographia của �ng, nhiều phần l� một sự bổ ch�nh quan trọng do c�ng lao của Marinus, đ� đẩy c�c v�ng bi�n cương của bản đồ thế giới để bao gồm một sự ph�c họa� thực sự� về � Ch�u, mặc d� bản đồ của Ptolemy, như thường được t�i x�y dựng, đ� kh�ng vẽ lại c�c bờ biển ph�a đ�ng của lục địa.

������ C� lẽ điều kh�c thường nhất trong c�u chuyện về Ptolemy l� sự kiện c�c văn bản của �ng thực sự nằm y�n trong hơn một ngh�n năm, v� rồi phi nhanh v�o sự nhận thức của �u Ch�u như l� c� t�nh c�ch mới mẻ v� c�ch mạng hồi thế kỷ thứ mười lăm, �như ch�ng đ� từng được xem l� như thế trong thế kỷ thứ nh� sau C�ng Nguy�n.� Thực ra, mặc d� Ptolemy kh�ng được hay biết tới tại T�y �u trong một ngh�n năm trăm năm sau C�ng Nguy�n, quyển Geographia đ� được duyệt x�t bởi giới h�n l�m Byzantine trong thế kỷ thứ mười hay mười một, c� thể một số những g� m� ch�ng ta hay biết về c�ng tr�nh của Ptolemy trong thực tế c� thể ph�t sinh, hay �t nhất c� thể đ� được tu sửa bởi c�c học giả n�y.� �

������ � �Ptolemy đ� chia � Ch�u th�nh 12 phần, trong đ� Đ�ng Nam � v� Trung Hoa (Sinae) ở trong phần thứ 11 v� Taprobana (T�ch Lan) ở phần thứ mười hai.� Một sự duyệt x�t kỹ lưỡng một bản đồ Đ�ng Nam � theo Ptolemy, th� dụ, l� bản đồ xuất hiện trong ấn bản quyển Geographia ở Rome năm 1478, hay bản in năm 1511 bởi Bernard Sylvanus (lần lượt l�H�nh 32 v� 43), cho thấy một b�n đảo tại ph�a đ�ng Ấn Độ Dương, l� một phỏng chừng sơ s�i v�ng M� Lai v� Đ�ng Dương.� Như thế đ�u l� c�c sự x�c minh của nhiều th�nh phố, s�ng ng�i v� n�i non của Đ�ng Nam � được ghi ch�p trong quyển s�ch của Ptolemy? Ptolemy đ� đưa ra c�c tọa độ ch�nh x�c cho gần t�m ngh�n địa điểm tr�n tr�i đất m� �ng đ� lập danh biểu, v� đang c� sự cố gắng để thử nghiệm v� phối hợp những địa điểm của v�ng Đ�ng Nam � với c�c vị tr� hiện thời tr�n bản đồ. Điều xem ra hợp l� rằng người ta sẽ chỉ cần b� đắp cho c�c sự sai lầm kh�c nhau của Ptolemy bằng việc t�i x�y dựng Đ�ng Nam � của hai thi�n ni�n kỷ trước (hay �t nhất Đ�ng Nam � của c�c học giả Byzantine đ� xen v�o can thiệp l� c�c kẻ c� thể phải chịu tr�ch nhiệm cho c�c phần của quyển Geographia).� Sự qu� trọng cao cả m� Ptolemy được d�nh cho, cộng với sự hiện diện tỉ mỉ của c�c tọa độ của �ng, sẽ mang lại cảm tưởng rằng đ� c� � nghĩa thực sự sẽ được thu lượm từ c�c con số của �ng�� [hết tr�ch]

*****

 

Phụ Lục 23

Tom� Pires

(trang 79)

������

[bắt đầu tr�ch dịch] Tom� Pires l� một nh� b�o chế dược phẩm người Bồ Đ�o Nha, đ� đến Ấn Độ năm 1511 khi ở tuổi 40.� Trong khi ở Malacca giữa c�c năm 1512-1515, �ng đ� đặt b�t ghi lại bấy kỳ điều g� �ng nghe thấy được về thế giới bao la của Ấn Độ, v� đặt t�n cho t�c phẩm của m�nh l� Suma Oriental.� Pires sau đ� được ph�i bởi Afonso de Albuquerque đến Sumatra v� Cochinchina [Việt Nam], v� sau đ� được bổ nhiệm l�m đại sứ đầu ti�n của Bồ Đ�o Nha tại Trung Hoa.� Quyển Suma Oriental l� t�i liệu đ�ng ghi nhớ nhất về Đ�ng Nam � v�o l�c mở m�n thời kỳ �u Ch�u.� Tập bi�n soạn thực sự phi thường c�c dữ liệu n�y vẫn chưa được ấn h�nh cho đến khi Ramusio bao gồm c�c tr�ch đoạn ngắn v�o quyển Navigationi của �ng ta.� Bởi v� n� kh�ng thực sự được biết đến cho đến sau khi nhiều b�o c�o hiện h�nh được lưu truyền, quyển Suma Oriental đ� kh�ng c� ảnh hưởng trực tiếp tr�n c�c bản đồ được ấn h�nh.

*****

Phụ Lục 24

Giovanni Battista Ramusio, kẻ đ� khai sinh ra

Quần Đảo Ho�ng Sa tr�n Bản Đồ

 

Ramusion được ghi nhận l� người đầu ti�n đ� vẽ v� ghi ch� về Quần Đảo Ho�ng Sa tr�n bản đồ do �u Ch�u lập ra n�i ri�ng, nếu kh�ng phải l� đầu ti�n th� giới giới.� �ng sinh ng�y 20 Th�ng 7, 1485 tại Treviso, Cộng H�a Venice v� mất ng�y 10 Th�ng Bẩy năm 1557 tại Padua.� Năm 1505, �ng l�m thư k� cho Alvise Mocenigo, khi đ� đang l�m đại sứ của Venice tại Ph�p.� �ng rất lưu t�m đến địa dư học, v� c�ng việc gi�p �ng nhận được tất cả tin tức mới nhất từ c�c nh� th�m hiểm �u Ch�u khi ch�ng đựoc gửi về Venice.� �ng th�ng thạo nhiều ng�n ngữ, đ� bi�n soạn c�c t�i liệu n�y th�nh một bộ b�t k� du h�nh gồm 3 tập, c� nhan đề l� Navigationi et Viaggi , ghi lại c�c sự tường thuật của ch�nh c�c nh� du h�nh, được ấn h�nh trong thời khoảng 1550 đến 1559.� Bộ s�ch n�y được xem l� mở đường cho c�c t�c phẩm du h�nh kế tiếp như của Richard Hakluyt (phần phụ lục n�y được viết theo Wikipedia, ch� của người dịch).

 

*****

Phụ Lục 25

Giacomo Gastaldi

(trang 130)

 

������ (Bắt đầu tr�ch dịch) Danh t�nh của Giacomo chế ngự việc vẽ bản đồ v�ng Đ�ng Nam � tr�n c�c bản đồ được in ra suốt c�c thập ni�n giữa thế kỷ mười s�u.� Sinh qu�n tại Piedmont, Gastaldi l� một kỹ sư v� nh� vẽ bản đồ thế giới s�ng ch�i hoạt đ�ng t�ch cực tại Venice, v� đ� g�p phần tr�ch nhiệm lớn lao cho sự ph�t triển ng�nh đia dư học tại Venice trong thời đại n�y.� �ng đ� vẽ ra ba bản đồ tốt về Đ�ng Nam �, mỗi bản đồ đ� cung cấp sự tr�nh b�y hay nhất v� được ấn h�nh g�y hứng khởi nhất về v�ng đất n�y trong thời điểm của n�.� Bản đồ đầu ti�n được ấn h�nh như một phần trong ấn bản của �ng về quyển Geographia của Ptolemy v�o năm 1548, bản đồ thứ nh� trong năm 1554 như một phần của một tuyển tập về c�c cuộc du h�nh của Ramusio, v� bản đồ thứ ba l� một bản đồ � Ch�u được ấn h�nh ri�ng biệt trong năm 1561, sau đ� được bổ t�c bởi một mảnh kh�c nữa v�o năm 1565, ch�nh v� thế, đ� nới rộng phạm vi bản đồ xuống tới tận ph�a nam của x�ch đạo. [hết tr�ch]

������ Xin xem c�c bản đồ của Gastaldi được trưng dẫn ở c�c phần phụ lục b�n tr�n.

*****

 

Phụ Lục 26

William Dampier

(trang 211v� trang 20)

������ [Bắt đầu tr�ch] Một trong những nh�n vật khi�u gợi sự t� m� nhất đ� lang thang � v� vẽ bản đồ -- c�c hải phận Đ�ng Nam � trong thời gian n�y l� một kẻ phi�u lưu người Anh, William Dampier.� Dampier đ� ra biển từ năm mười s�u tuổi, đi thuyền đến nhiều nơi chốn kh�c nhau, trong đ� c� � Ch�u, trong thập ni�n kế tiếp.� Trong năm 1679, ở tuổi 27, anh ta rời Anh Quốc để đi Jamaica, nơi anh đ� ở lại trong một năm.� Trong chuyến trở về, khi thủy thủ đo�n nổi loạn, Dampier đ� chọn việc gia nhập c�ng c�c người nổi dậy.� Trong gần s�u năm, Dampier v� c�c kẻ đồng thuyền đ� đ�nh cướp c�c khu định cư của T�y Ban Nha tại Nam Mỹ ch�u, hai lần đ� vượt qua eo đất Panama.� Trong năm 1680, anh ta gia nhập một nh�m hải tặc đ� chiếm đoạt một chiếc t�u v� băng qua Th�i B�nh Dương đến Phi Luật t�n, Sumatra v� Bắc Kỳ (Tongkin).� Trong năm 1688, mệt mỏi với cuộc sống của một kẻ phục dịch qu�t dọn, anh ta đ� thuyết phục đ�m hải tặc h�y để anh ta ở lại tr�n một trong c�c h�n đảo của Nicobar.� Cuối c�ng, sau mười hai năm rưỡi, v� hơn mười chuyến t�u c�ng c�c thuyền bản xứ -- Dampier đ� quay trở lại được nước Anh v�o năm 1691.

������ Điều kh� hiểu của Dampier l� trong sự tương phản lớn lao với bản chất đ�nh thu� của c�c đồng bạn hải tặc, Dampier c� thể được xem như một trong những kẻ đầu ti�n của một loại �gi�c ngộ hơn�, quan s�t kỹ lưỡng v� thu thập kh�ch quan c�c tin tức, l� c�c kẻ sau đ� đ� gia nhập v�o c�c cuộc th�m hiểm khoa học vĩ đại của thế kỷ thứ mười t�m.� Anh ta đ� lưu giữ một t�i liệu ghi ch�p ch�nh x�c nhiều loại dữ kiện đia dư � bản chất của bờ biển, b�i c�t đ� n�ng, gi�, v� luồng chảy; anh ta n�u � kiến rằng c�c họa đồ quy ước đ� ước lượng qu� thấp chiều rộng của Th�i B�nh Dương đến 25 vĩ độ v� rằng Ấn Độ Dương đ� bị ước lượng th�i qu� với tỷ lệ tương ứng; v� anh ta đ� cố để sưu tập bằng cớ để chứng minh rằng chiều s�u của biển th� s�u hơn dọc theo bờ biển c� n�i dựng đứng v� n�ng ngo�i khơi bờ biển nằm thấp.

������ Dampier cũng m� tả bản chất v� phong tục của c�c d�n tộc v� nền văn minh m� anh ta đ� đi qua, cẩn trọng m� kh�ng ước đo�n về điều m� anh ta kh�ng biết, v� lu�n lu�n cho hay khi c�c tin tức đến từ c�c nguồn tin m� ch�nh anh ta kh�ng kiểm chứng được.� C� cả một dấu hiện của sự ca ngợi sắp đến về Kẻ Hoang D� Cao Qu� khi, được để lại bơ vơ một m�nh tr�n bờ biển Nicobar, anh ta ghi nhận rằng anh ta kh�ng hề gặp mặt c�c kẻ ăn thịt người được nghĩ l� sẽ thấy xuất hiện ở đ� v� đ� n�i về t�nh thiện cơ bản của người d�n.� �T�i c� � kiến,� anh ta ph�t biểu, �rằng kh�ng c� d�n tộc n�o tr�n thế giới lại qu� man rợ đến thế, để giết chết một con Người chỉ t�nh cờ rơi v�o tay họ ��.� Ch�ng ta sẽ được nghe nhiều hơn về kẻ lang thang s�u sắc n�y trong c�c trang s�ch sau n�y. [hết tr�ch]

������ Dampier c� để lại một quyển s�ch trong đ� thuật lại những nhận x�t về đời sống tại Đ�ng Ngo�i Việt Nam khi đ�. �William Dampier, cư d�n tại Bắc Kỳ (Việt Nam) hồi cuối thế kỷ thứ mười bẩy, ghi nhận rằng ch�nh c�c phụ nữ đ� quản trị sự ho�n đổi tiền tệ, v� rằng sự kết h�n sẽ thiết lập một sự li�n minh giữa c�c thương nh�n ngoại quốc vẫn quay trở lại h�ng năm với c�c phụ nữ địa phuơng l� người họ họ đ� t�n th�c tiền bạc v� h�ng h�a.� (trang 20).� �

Bản dịch quyển s�ch của Dampier viết về Đ�ng Ngo�i Việt Nam n�y sẽ được đăng tải nơi đ�y, tr�n Gio-O.com../-

*****

 

 

PHẪN III

C�C PHỤ LỤC CỦA NG� BẮC

 

Phụ Lục A

Lễ Thi�n Th�nh v� N�i Vạn Thọ Nam Sơn thời nh� L�

������ Về nghi lễ n�y, bản dịch Tập Một, Kh�m Định Việt Sử Th�ng Gi�m Cương Mục của Quốc Sử Qu�n Triều Nguyễn, do Nh� Xuất Bản Gi�o Dục ấn h�nh tại H� Nội, năm 1998, nơi c�c trang 296-297 c� ghi như sau:

������ [Bắt đầu tr�ch] T�n Dậu, năm thứ 12 (1021).� Tống, năm Thi�n Hi thứ 5).

������ Th�ng 2, m�a xu�n.� Ng�y tiết Thi�n Th�nh, thết yến tiệc c�c bầy t�i.

������ Đặt ng�y sinh nhật nh� vua l�m tiết Thi�n Th�nh.� Ngo�i cửa Quảng Ph�c (lời chua: cửa T�y kinh th�nh Thăng Long) kết tr�c l�m n�i, gọi l� Vạn Thọ nam sơn; tr�n n�i l�m nhiều h�nh trạng chim bay, th� chạy, lắm vẻ ly kỳ.� Nh�n đ� ban yến cho bầy t�i để mua vui. [Hết tr�ch]

*****

 

Phụ Lục B

Truyền Thuyết Lạc Long Qu�n v� �u Cơ

Keith Weller Taylor

������ Truyền thuyết về Lạc Long Qu�n v� �u Cơ được ghi ch�p trong quyển Lĩnh Nam Ch�ch Qu�i v� bộ Đại Việt Sử K� To�n Thư.� Phi�n bản của Đại Việt Sử K� To�n Thư c� sửa đổi đ�i ch�t so với bản văn của Lĩnh Nam Ch�ch Qu�i.� Theo Lĩnh Nam Ch�ch Qu�i (LNCQ, 5), �u Cơ l� vợ một vị vua �nhuận triều� (interloping).� Đại Việt Sử K� To�n Thư (TT, I, 22), tuy thế, đ� biến �u Cơ th�nh con g�i của �ng ta, r� r�ng v� c�c l� do lu�n l�, để Lạc Long Qu�n sau đ� sẽ kh�ng phạm tội lấy vợ của kẻ kh�c.

������ Theo Lĩnh Nam Ch�ch Qu�i (LNCQ, 6), một trăm người con trai đ� được sinh ra từ một bọc trứng duy nhất; Lạc Long Qu�n đ� dẫn năm mươi đứa con trai theo �ng xuống biển, để năm mươi đứa con trai kia ở lại c�ng với �u Cơ tr�n N�i Tản Vi�n, trong số đ�, đứa con can đảm nhất đ� được tuyển chọn trở th�nh vị vua đầu ti�n trong c�c vua H�ng.� Tuy nhi�n, Đại Việt Sử K� To�n Thư (TT, I, 22) đ� ghi rằng nh� vua đầu ti�n của c�c vua H�ng l� một trong c�c người con trai đi theo cha, ch�nh v� thế, nhấn mạnh đến c�c gi� trị phụ hệ.� Sự kiện n�y được hồi nhớ một c�ch kh�c biệt bởi c�c người Mường v�ng thượng du, c�c kẻ, giống như c�c người Việt Nam hiện đại, đều l� hậu duệ của d�n Việt cổ.� Theo người Mường, đ� c� năm mươi đứa con trai v� năm mươi đứa con g�i thay v� một trăm đứa con trai; một nửa đi theo người mẹ l�n n�i v� trở th�nh tổ ti�n của người Mường, trong khi một nửa đi theo cha ra biển v� trở th�nh tổ ti�n của người Việt Nam (Nguyễn Linh v� Ho�ng Xu�n Chinh, trang 103).

������ Phả hệ của c�c vua H�ng được ghi trong cả hai nguồn t�i liệu (LNCQ, 5-6, v� TT, I, 1b-2a).� Lạc Long Qu�n v� Đế Lai, nh� vua nhuận triều từ phương bắc v� l� chồng của �u Cơ, l� c�c anh em họ.� Họ tượng trưng cho hai chi nh�nh của một gia tộc duy nhất c� nguồn gốc từ nh� l�nh đạo Trung Hoa trong huyền thoại, Yen Ti Shen Nung (tiếng Việt l� Vi�m Đế Thần N�ng).� Thần N�ng l� vị thần n�ng nghiệp c� gốc rễ từ văn h�a T�y Tạng, l� kẻ đ� xuất hiện trước ti�n trong số c�c người Trung Hoa tại miền bắc của Hồ Bắc (Hu-pei) v� miền nam của H� Nam (Ho-nan), nơi m� c�c nền văn h�a của d�n Pa v� d�n Th�i cổ xưa h�a hợp v�o nhau.� C�c người tu�n phục �ng đến từ miền nam v� l� ngoại nh�n đối với c�c người Trung Hoa cổ thời.� Họ l� những n�ng d�n trồng l�a nước, v� sự t�n thờ Thần N�ng c� li�n quan với c�c hệ thống định cư n�ng nghiệp (Eberhard, c�c trang 219-21, 229).

Trong huyền thoại Trung Hoa, Thần N�ng được xem l� vị Ch�a Tể Thứ Nh� trong Ba Vị Ch�a Tể (Three Sovereigmns: Tam Ho�ng), người thứ Ba trở th�nh Huang Ti (Ho�ng Đế), kẻ được nghĩ l� người đầu ti�n trong Năm Vị Ho�ng Đế (Ngũ Đế) theo truyền thuyết.� Thần N�ng bởi đ� c� thể được n�i l� đ� hiện diện trước khi co sự th�nh lập truyền thống đế triều tại Trung Hoa.

Hai chi của gia tộc tượng trưng cho một chi đế triều, tr�n đất liền, ở phương bắc, c� c�c hậu duệ đều mang tước hiệu �ho�ng đế� (đế), v� chi nh�nh phương nam th� �li�n kết với biển:

 

 

������ Mẹ của Lạc Long Qu�n l� một Thần Long Nữ (Lady Dragon Spirit), con g�i của Động Đ�nh Qu�n (Lord of Tung T�ing Lake) tại lưu vực s�ng Dương Tử; cha của �ng ta, Kinhh Dương Vương, cai trị một v�ng đất ph�a nam của �Ngũ Quan� (Five Passes) c� t�n l� �Nước X�ch Quỷ� (Kingdom of Red Devils) (X�ch Quỷ Quốc).� Mẹ của Kinh Dương Vương l� Vụ Ti�n Nữ, một ch�m sao tr�n trời gi�m s�t miền bắc Việt Nam (xem phần tham chiếu Han shu (H�n Thư) trong t�c phẩm của Aurousseau, trang 205), l� kẻ đ� gặp gỡ với Đế Minh, cha của Kinh Dương Vương, khi �ng n�y tuần du c�c miền ph�a nam.� Đế Minh l� vị vua trị v� thuộc thế hệ thứ ba kể từ Thần N�ng.� Chi nh�nh miền bắc đ� đi đến chỗ kết liễu khi con trai v� kẻ kế ng�i Đế Lai, Đế Du, bị đ�nh bại bởi Ho�ng Đế (Yellow Emperor).

������ Chi miền bắc của gia tộc n�y, cũng như kẻ nhận l� tổ ti�n của n�, c� thể bị quy l� một sự cải bi�n sau n�y; chức năng duy nhất của n� l� để tuy�n x�c một một d�ng d�i cổ xưa hơn cho c�c vua H�ng so với vị vua đầu ti�n của Trung Hoa, Ho�ng Đế (Huang Ti).� Tuy nhi�n, chi tộc phương nam c� trưng b�y đủ chi tiết văn h�a v� địa dư t�n trợ cho � tưởng rằng n� đ� được đặt tr�n c�c truyền thống cổ xưa.

������ Mẹ của Kinh Dương Vương l� ch�m sao s�ng ch�i tương ứng với miền bắc Việt Nam, v� Kinh Dương Vương đ� cai trị một vương quốc với danh hiệu mọi rợ (�t nhất trong khung cảnh Trung Hoa) l� X�ch Quỷ (Red Devils); �ng kết h�n với Thần Long Nữ từ Động Đ�nh Hồ (c� lẽ l� một sự �m chỉ đến nước Chu cổ thời) v� c� một người con trai trở n�n một anh h�ng văn h�a của người Việt Nam cổ thời.� T�c giả C. Madrolle (trang 268) đ� tường thuật rằng một khu n�o đ� được suy đ�an l� ng�i mộ của Kinh Dương Vương c� thể được t�m thấy tại v�ng phụ c�n Luy L�u.

������ � tưởng về phả hệ ho�ng tộc với một chi phương bắc v� một chi phương nam c� thể biểu lộ chiều k�ch ch�nh trị của vị tr� địa dư của Việt Nam trong c�c thời đại cổ xưa.� Như h�nh lang nằm giữa V�n Nam, v� bởi sự nối d�i tới cao nguy�n T�y Tạng ở ph�a t�y v� biển cả ở ph�a đ�ng, b�nh nguy�n s�ng Hồng đ� l� địa điểm chịu �p lực chiến lược tối đa giữa c�c d�n tộc �chi băc� v� �chi nam� của v�ng Đ�ng v� Đ�ng Nam Ch�u �.� Cả về mặt phả hệ lẫn về kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam, người Việt Nam tự xem m�nh l� một d�n tộc �phương nam� kh�c biệt với d�n Trung Hoa �phương bắc�.� Phả hệ ch�nh v� th� c� thể l� một chau chuốt văn chương về c�c truyền thống cổ xưa, về kinh nghiệm lịch sử sau đ�, hay cả hai.

������ Trong một b�i b�o gần đ�y, t�c giả Nguyễn Thị Huệ thảo luận về truyền thuyết Lạc Long Qu�n v� �u Cơ, như được lưu truyền trong c�c n�ng d�n Việt Nam ng�y nay.

(Nguồn: Keith Weller Taylor, Appendix A, The Legend of Lạc Long Qu�n and �u Cơ, trong quyển The Birth of Vietnam, c�c trang 303-305, University of California Press, Berkeley, 1983.

 

*****

 

Phụ Lục C

Bi�n Giới Địa L� Nh�n Văn: Trường Hợp Việt Nam

������ Quyển s�ch gi�o khoa Human Geography: Culture, Society, and Space, Sixth Edition, của hai t�c giả H. J. de Blij (Gi�o Sư Đại Học Marshall University) v� Alexander B. Murphy (Gi�o Sư Đại Học University of Oregon), do nh� xuất bản Wiley ph�t h�nh tại New York năm 1999, c� tr�nh b�y về c�c loại bi�n giới ch�nh trị theo căn nguy�n, trong đ� c� hai th� dụ về bi�n giới tại Việt Nam, nơi c�c trang 350-351 như sau:

Sự Xếp Loại Bi�n Giới Dựa Tr�n Nguồn Gốc

������ Một c�ch kh�c để khảo s�t c�c bi�n giới li�n quan đến sự tiến h�a hay căn nguy�n của ch�ng.� Sự xếp loại bi�n giới theo căn nguy�n n�y được đề xuất bởi Richard Hartshorne (1899-1992), nh� ch�nh trị đia l� học Hoa Kỳ h�ng đầu hồi giữa thế kỷ thứ hai mươi.� Hartshorne l� luận rằng một số bi�n giới n�o đ� đ� được định nghĩa v� ph�n ranh trước khi cảnh tr� nh�n văn ng�y nay được ph�t triển.� Mặc d� Hartshorne sử dụng ch�nh yếu c�c th� dụ của T�y Phương để minh chứng � tưởng n�y, t�nh ứng dụng của n� cũng được biểu hiện ở c�c nơi kh�c, th� dụ, tại Đ�ng Nam �.�

Trong H�nh 25-6A [giữ nguy�n c�ch đ�nh số trong nguy�n bản, ch� của người dịch] bi�n giới giữa M� Lai v� Indonesia tr�n đảo Borneo l� một th� dụ của loại bi�n giới theo tiền lệ (antecedent boundary) n�y.� Phần lớn bi�n giới n�y chạy qua miền rừng mưa nhiệt đới d�n cư thưa thớt, v� sự định cư l�c đ�c c�n c� thể được ph�t hiện tr�n bản đồ ph�n bố� nh�n số thế giới (H�nh 4-1, [trong nguy�n bản]).� Loại bi�n giới thứ nh� tiến triển như cảnh tr� văn h�a của một khu vực được h�nh th�nh.� C�c bi�n giới hậu biến (subsequent boundaries) n�y được ti�u biểu bởi bản đồ trong H�nh 25-6B, tr�nh b�y ranh giới giữa Trung Hoa v� Việt Nam, kết quả của một tiến tr�nh điều chỉnh v� sửa đổi trong trường kỳ.

������ Một số bi�n giới bị vạch một c�ch cưỡng chế cắt ngang một cảnh tr� văn h�a thống nhất.� Một bi�n giới �p đặt l�n tr�n (superimposed boundary) như thế hiện diện ở giữa h�n đảo New Guineav� chia cắt v�ng West Irian của Indonesia ra khỏi nước Papua New Guinea (H�nh 25-6C).� V�ng West Irian, vốn được cư ngụ bởi phần lớn sắc d�n Papuans, l� một phần của Đ�ng Ấn thuộc H�a Lan đ� kh�ng được độc lập v�o l�c Indonesia được độc năm 1949.� Sau nhiều năm đầy căng thẳng, người Indonesians sau hết đ� x�m lăng l�nh thổ n�y v�o năm 1962 để đ�nh đuổi c�c người H�a Lan c�n lại; tiếp theo sau sự điều giải của Li�n Hiệp Quốc v� một cuộc trưng cầu d�n � chung cuộc, West Irian được ch�nh thức s�p nhập v�o Indonesia năm 1969 � do đ� vĩnh viễn h�a bi�n giới m� ch�nh quyền thực d�n nguy�n thủy đ� �p đặt l�n tr�n New Guinea hồi đầu thế kỷ thứ mười ch�n.� Loại bi�n giới theo nguồn gốc thứ tư l� bi�n giới theo di t�ch (relict boundary) � một bi�n giới th�i kh�ng c�n hiệu lực nhưng dấu vết vẫn c�n hiển hiện tr�n bối cảnh văn h�a.� Bi�n giới giữa Bắc v� Nam Việt Nam trước đ�y (H�nh 25-6D) l� một th� dụ cổ điển: từng c� thời để ph�n c�ch về mặt qu�n sự, n� trở th�nh loại bi�n giới di t�ch kể từ năm 1976, tiếp theo sau sự t�i thống nhất Việt Nam trong sự kết th�c cuộc Chiến Tranh Đ�ng Dương (1964-1975).

 

H�nh 25-6: C�c Loại Bi�n Giới Ch�nh Trị Theo Căn Nguy�n.� C�c loại bi�n giới ch�nh trị theo căn nguy�n l�: (A) Tiền Lệ (antecedent), (B) Hậu Biến (subsequent), (C) �p Đặt L�n Tr�n (superimposed), v� (D) Di T�ch.� Nguồn: từ một bản đồ trong s�ch của H. J. de Blij v� P. O. Muller, Realms, Regions, and Concepts, ấn bản lần thứ 7, New York: Wiley, 1994.

 

 

*****

Phụ Lục D

Đất V�nh: Địa L� Ch�nh Trị Của Việt Nam hay

Ban Lơn Quay Ra Th�i B�nh Dương

 

Đất V�nh hay Đất Viền (Rimland) l� một kh�i niệm được đế xướng bởi t�c giả Nicholas John Spykman để m� tả đường ven biển của một xứ sở hay một lục địa; đặc biệt c�c bờ đ�ng đảo d�n cư ở ph�a t�y, ph�a nam v� ph�a đ�ng của lục địa �u � �.

Theo Spykman, giải đất ven biển bao quanh �u �, th� quan trọng hơn khu vực trung � ch�u (được�gọi l� trọng địa trung t�m (Heartland) cho sự kiểm so�t lục địa �u-�.� Dự kiến của Spykman l� nền tảng của �ch�nh s�ch be bờ ngăn chận� được thi h�nh bởi Hoa Kỳ trong mối quan hệ của Mỹ với Li�n Bang S� Viết trong thời Chiến Tranh Lạnh sau Thế Chiến II.

Theo t�c giả Mackinder, trong quyển �Inner or Marginal Crescent�, Đất V�nh được chia th�nh ba đoạn: v�ng ven biển �u Ch�u; v�ng sa mạc Ả Rập � Trung Đ�ng, v� v�ng gi� m�a � Ch�u.

Trong khi Skypman chấp nhận hai v�ng đầu ti�n như được x�c định, �ng đ� b�c bỏ sự gộp chung đơn giản c�c nước � Ch�u v�o th�nh một �v�ng gi� m�a� (monsoon land).� Ấn Độ, v�ng duy�n hải Ấn Độ v� văn h�a Ấn Độ th� t�ch biệt về mặt địa dư v� văn minh với v�ng đất Trung Hoa.�

Đặc t�nh x�c quyết của Đất V�nh rằng n� l� một khu vực trung gian, nằm giữa c�c quyền lực đất�v� hải lực, n� phải tự ph�ng vệ ở cả hai ph�a, v� c�c vấn đề an ninh nền tảng �của n� nằm ở đ�.�

������ Đất V�nh c� tầm quan trọng lớn lao ph�t sinh từ trọng lực về d�n số, c�c t�i nguy�n thi�n nhi�n, v� sự ph�t triển kỹ nghệ của n�.� T�c giả Skypman nh�n tầm quan trọng n�y như l� l� do tại sao Đất V�nh sẽ c� t�nh chất quan yếu trong việc ngăn chặn v�ng Trọng Địa Trung T�m, trong khi t�c giả Mackinder lại tin tưởng rằng V�nh Cung B�n Ngo�i hay Hải Đảo sẽ l� th�nh tố quan trọng nhất trong việc ngăn chặn v�ng Trọng Địa Trung T�m.

������������� Việt Nam, Đ�ng Dương, Phi Luật T�n, Trung Hoa, H�n Quốc v� Nhật Bản l� những phần đất được kể chịu ảnh hưởng nhiều nhất của gi� m�a � Ch�u, v� ở v�o vị tr� đất v�nh, Việt Nam đ� dễ d�ng trở th�nh b�i chiến trường cho c�c sự xung đột giữa c�c cường lực đất liền v� từ ngo�i biển, như được chứng minh trong suốt thế kỷ thứ hai mươi vừa qua./- (Phần lớn c�c dữ kiện trong Phụ Lục n�y đều được r�t rat ừ Wikipedia)

������������������������������������������������������������������ ���������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������_______����������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������� ������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������������

Nguồn: Thomas Su�rez, Early Mapping of Southeast Asia, Periplus Editions (HK) Ltd: Singapore, 1999, Chapter 16, The Nineteenth Century and the Mapping of the Interior � Indochina, Burma and Thailand, Transition to the Modern Era, c�c trang 252-263, v� rải r�c nhiều nơi trong quyển s�ch.

 

 Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

18/10/2010  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

� gio-o.com 2010