Srilata Ravi*

University of Western Australia

 

T�NH HIỆN ĐẠI,

 

CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC V�

 

C�C TH� VUI CỦA DU LỊCH:

 

KH�CH SẠN CONTINENTAL TẠI S�IG�N

 

 

Ng� Bắc dịch

 

*****

 

 

 

Nguồn: Continental Saigon, Philippe Franchini, Olivier Orban 1976

 

 

������ Từ thập ni�n 1880 đến cuối Thế Chiến II, cuộc chinh phục của thực d�n đ� x�c định c�c trục du lịch hải ngoại v� từ đ� địa dư của c�c đại kh�ch sạn (�C�c Cung Điện Phương Đ�ng: Palaces d�Orient� 1 tại c�c thuộc địa của Anh v� Ph�p ở Đ�ng Phương.� Giống như Kh�ch Sạn Raffles tại Singapore, Peninsula tại Penang, v� Grand Hotel tại Calcutta, Kh�ch Sạn Continental tại S�ig�n đ� hợp l� h�a sự du lịch tại c�c thuộc địa v� khắc họa �t�nh �u Ch�u� bằng sự thoải m�i, tiện lợi v� biện biệt.� Ng�y nay, sau nhiều năm l�ng qu�n, kh�ch sạn Continental truyền thoại tr�n đường Catinat một lần nữa hiển thị tr�n bản đồ du lịch của th�nh phố S�ig�n. 2� Như c�c b�i ph� b�nh của Norindr (1996) v� Peleggi (1966) đ� vạch ra, �c�c cơn buồn nhớ thuộc địa� hay �nỗi ho�i niệm thuộc địa� đ� uốn nắn nhiều kh�a cạnh của văn h�a ti�u thụ to�n cầu đương đại, bao gồm thức ăn, thời trang v� chiếu b�ng (cinema).� V� thế kh�ng c� g� ngạc nhi�n rằng trong một thời đại hậu đổi mới [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch], Continental Hotel, giống như c�c kh�ch sạn thời thuộc địa kh�c, đ� được �đền đ�i h�a�(Peleggi, 2005) cho sự ti�u d�ng du lịch, đ� được t�i n�ng cấp về mặt kiến tr�c v� b�u kh�ng kh� �đặc sắc thời thực d�n� đ� được t�i tạo nhằm l�i cuốn giới du kh�ch t�m kiếm sự ho�i niệm thời thuộc địa trong thế kỷ thứ hai mươi mốt. 3� B�i viết n�y đi l�i lại một bước trong thời gian v� t�i bố tr� đại kh�ch sạn n�y v�o một kỷ nguy�n khi m� định chế thuộc địa n�y đ� kh�ng chỉ ph�t động kỹ nghệ du lịch tại Đ�ng Dương m� c�n ti�u biểu cho sự đan kết v�o nhau một c�ch phức tạp giữa du lịch v� kh�t vọng thực d�n. 4

 

Lịch Sử Kh�ch Sạn Continental tại S�ig�n

 

������ Kh�ch Sạn Continental được x�y cất bởi Pierre Cazeau trong năm 1880, v� mau ch�ng trở th�nh một thắng t�ch quan trọng trong x� hội thực d�n của S�ig�n cũng như tr�n bản đồ du lịch của v�ng Đ�ng Dương thuộc Ph�p. 5� Kh�ch sạn đ� qua tay nhiều chủ nh�n trước khi Mathieu Franchini mua n� trong năm 1930 để trở th�nh sở hữu chủ một phần rất quan trọng của �lịch sử S�ig�n� [l�histoire de Saigon, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] (Franchini, 1995, trang 42).� �ng đ� điều h�nh kh�ch sạn trong chuỗi ng�y cực thịnh của n� trong suốt thập ni�n 1930 cho đến khi c� sự thất trận qu�n sự của Ph�p tại Đi�n Bi�n Phủ hồi năm 1954.6� V�o khoảng thập ni�n 1960, khi Philippe, con trai của �ng Mathieu Franchini quay trở lại từ Ph�p để nắm giữ sự điều h�nh kh�ch sạn, sự hiện diện của c�c binh sĩ Hoa Kỳ v� ảnh hưởng của đồng mỹ kim đ� biến đổi S�ig�n th�nh �th�nh phố của xe gắn m�y Honda� (Hondaville) v� �sự lạ lẫm của thuộc địa� m� Continental tượng trưng đ� trở n�n một điều lỗi thời.� �Khi�u vũ�, qu�n c� ph� v� c�c chuyện t�nh hợp chủng vụng trộm của một thời đ� qua đ� bị thay thế bởi c�c qu�n rượu (bars), ma t�y v� trao đổi x�c thịt c�ng khai.� Kh�ch sạn đ� vọt ra khỏi b�n tay kiểm so�t của gia đ�nh v�o l�c kết th�c cuộc chiến tranh. 7

 

Mathieu Franchini, chu nh�n của Kh�ch sạn Continental từ năm 1930


 

Nguồn: Continental Saigon, Philippe Franchini, Olivier Orban 1976

 

 

������ Kh�ng sự tường thuật n�o về S�ig�n thời thực d�n trong c�c c�u chuyện kể của c�c du kh�ch, c�c tiểu sử, tiểu thuyết hay truyện ngắn lại được xem l� trọn vẹn bao giờ nếu kh�ng c� một sự m� tả về Kh�ch Sạn Continental.� C�c sự mi�u tả n�y cấu th�nh một danh mục đ�ng ch� � về c�c kinh nghiệm đ� c�ng nhau thể hiện phương c�ch m� đại kh�ch sạn được x�y dựng như một định chế văn h�a x�c định c� biệt đ� giới thiệu t�nh hiện đại của �u Ch�u v� c�c th�i tục hưởng nh�n đến c�c thuộc địa nhằm ph�t huy v� t�i khẳng định nền văn h�a cao cấp v� căn cước đế quốc �u Ch�u.� Xuy�n qua một sự thẩm duyệt c�c sự tr�nh b�y về Continental trong văn chương, cuộc nghi�n cứu n�y khảo s�t l�m sao m� kh�ch sạn truyền thoại n�y tại S�ig�n thuộc địa đ� cấu th�nh một địa điểm phức hợp, nơi m� c�c sự đ�m luận về chủ nghĩa thực d�n, t�nh hiện đại v� sự hưởng nh�n đan ch�o v�o nhau để tạo ra một �điểm tham chiếu tr�c tuyệt [đ�] tổ chức v� th�ch nghi một khu vực ấn định bằng việc x�c định tất cả c�c địa điểm kh�c li�n quan đến n� (Van den Abbeele, 1992, trang xviii).

 

 

 

Nguồn: Continental Saigon, Philippe Franchini, Olivier Orban 1976

 

 

 

 

Cảnh Tr� Đ� Thị Của

Kh�ch Sạn Continental tại S�ig�n

 

Au passage, je reconnais la masse sombre de la cath�drale � indifferent aux fluctuations du temps.� Voici la poste central � au fronton de la b�tisse, une horloge g�ant continue � marquer l�heure.� Puis voice la fameuse rue Catinat, devenue rue de la libert� apr�s la colonization franҫaise et rebaptis�e aujourd�hui rue Đồng Khởi.� Jadis elle �tait bord�e de caf�s chics et de bars renomm�s don�t celui de tr�s c�l�bre hotel Continental.� On y c�toyait les femmes les plus �l�gantes de Saigon (Lefevre, 1995, c�c trang 141-42). 8

 

Tr�n đường đi, t�i nhận thấy khối kiến tr�c mang m�u sậm của ng�i th�nh đường, bất biến trước c�c sự thay đổi của thời gian.� Đ�y l� Bưu Điện Trung Ương � tr�n bức tướng ch�nh diện của t�a nh�, một chiếc đồng hồ khổng lồ vẫn tiếp tục chỉ giờ.� Kế đ�, l� con đường Catinat nổi tiếng, đ� biến th�nh đường Tự Do sau khi chế độ thực d�n Ph�p c�o chung, v� được đổi t�n ng�y nay l� đường Đồng Khởi.� Trước đ�y, hai b�n đường đ� mọc l�n c�c tiệm c� ph� s�nh điệu v� c�c qu�n rượu nổi tiếng, trong đ� vang danh nhất l� quầy rượu tại Kh�ch Sạn Continental.� Người ta thường giao thiệp với những phụ nữ thanh lịch nhất của S�ig�n ở đ�y.

 

Trong khi kẻ lưu vong quay trở lại, t�c giả Kim Lefevre, l�i xe khắp S�ig�n, b� ta nhớ lại th�nh phố m� b� đ� bỏ ra đi 30 năm trước đ�.� Những suy tưởng của b� t�i tạo cảnh tr� đ� thị thời thực d�n với ng�i Th�nh Đường, trụ sở bưu điện, c�c đường phố thương mại v� c�c qu�n caf� kiểu Ph�p.� Kh�ch Sạn Continental n�y l� một phần của tấm bưu thiếp thuộc địa được t�i dựng v� kết hợp giống như c�c kiến tr�c c�ng cộng kh�c.� Th�nh Đường, với sự l�nh đạm sắt đ� trước c�c lịch sử x� hội thay đổi được nh�n với sự chua ch�t, cũng như chiếc đồng hồ khổng lồ của trụ sở bưu điện, vẫn tiếp tục chỉ giờ, xuất hiện như c�c sự nhắc nhở cụ thể về một qu� khứ thuộc địa �đậm m�u�.� C�c đường phố ch�nh được đổi t�n để x�a bỏ sự li�n hệ thực d�n, nhưng ch�nh sự hiện diện li�n tục của kh�ch sạn Continental lại khi�u gợi đầy nhớ nhung về một thời đ� qua của vẻ thanh nh� của đế quốc v� c�c lối sống h�o ph�ng.

 

Giống như phần lớn c�c thủ đ� thuộc địa, cảnh tr� đ� thị của S�ig�n đ� ph�t triển chung quanh trung t�m qu�n sự v� h�nh ch�nh khi c�c t�a nh� cư tr�, c�c c�ng tr�nh t�n gi�o, v� c�c địa điểm thương mại bắt đầu phủ k�n th�nh phố một c�ch rất mau ch�ng.� Trong nhiều năm sau khi c�c người �u Ch�u đầu ti�n đến định cư trong v�ng, c�c t�a nh� nhỏ bằng gỗ b�n ngo�i th�nh tr� đ� cung cấp c�c qu�n c� ph�, nh� ở v� c�c văn ph�ng kinh doanh cho người �u Ch�u.� Trong cuộc nghi�n cứu của m�nh về t�nh trạng đ� thị của thuộc địa Ph�p, t�c giả Gwendolyn Wright ghi nhận rằng m�i đến năm 1865, một sự thiết kế mới được lập ra cho trung t�m đ� thị của S�ig�n.� Sự ph�t triển đ� thị c� tổ chức tr�ng hợp với sự vươn cao mau ch�ng về thương mại v� sự ph�n chia c�c đặc nhượng miễn ph� cho c�c người �u Ch�u (Wright, 1991, trang 17).� Nh� Thờ Đức B� v� dinh To�n Quyền được x�y dựng trong năm 1866.� T�a �n Tư Ph�p, Sở Quan Thuế, v� T�a Thị Ch�nh [H�tel de Ville, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] với đầy những đường n�t của kiểu kiến tr�c Baroque, l� c�c th� dụ về c�c c�ng thự thế kỷ thứ mười ch�n trang tr� c�ng phu, kh�ng chỉ để khẳng quyết quyền lực thực d�n m� c�n để thiết lập t�nh phổ biến của c�c h�nh th�i kiến tr�c Ph�p v� c�c kh�i niệm về c�i đẹp.� T�c giả Wright lập luận rằng nếu kiến tr�c d�n sự tại c�c thuộc địa đ� phản ảnh một ấn tượng vể thẩm quyền, đ� l� bởi v� t�nh trạng bất ổn định của ch�nh quyền Ph�p đ� khuyến kh�ch c�c h�nh vi đ�i hỏi h�o huyền (Wright, 1991, trang 166).

 

Khi thương mại thuộc địa nở rộ, c�c kh�ch sạn, nh� h�ng, v� cửa hiệu xuất hiện dọc đường Catinat tại S�ig�n.� C�c chuy�n vi�n đ� thị thuộc địa v� c�c nh� thiết kế th�nh phố đ� tin tưởng rằng sự tiếp x�c giữa c�c chủng tộc phải được tổ chức, thanh lọc, v� hợp l� h�a (Wright, 1991, trang 221).� Hậu quả, th�nh phố đại diện cho c�c l� tưởng của họ về trật tự, sự sạch sẽ, sự c�ch biệt kh�ng gian v� hệ cấp.� Ch�nh tr�n cảnh tr� đ� thị như thế m� Kh�ch Sạn Continental đ� xuất hiện trong năm 1881.� Kh�ch Sạn Continental tọa lạc giữa c�c bến t�u v� Th�nh Đường, đứng b�n bờ mỏm đất v� tr�ng xuống d�ng s�ng.� Địa điểm của n� đối diện với Esplanade [khoảng đất dạo chơi nằm giữa t�a th�nh qu�n sự v� th�nh phố, ch� của người dịch], (nơi nh� h�t th�nh phố sẽ được x�y cất l�n v�o năm 1911) l�m gia tăng một c�ch đ�ng kể cho sự th�nh c�ng v� được ưa chuộng của n�.� �Kh�ch sạn, giống như tất cả c�c kiến tr�c �u Ch�u trong th�nh phố, được mở ngỏ hướng ra b�n ngo�i trong một d�ng điệu tin tuởng nơi tinh thần mạo hiểm của thực d�n: �Comme toutes les constructions colonials de l��poque, le Continental �tait ouvret sur l�ext�rieur� (Franchini, 1995, trang 43).� C�ng l�c, khi một trung t�m thương mại t�y thuộc v�o c�c nguồn nh�n v� vật lực địa phương v� ch�nh quốc cho sự điều h�nh v� c�c dịch vụ thường ng�y của n�, Continental cũng đ� thu gom lại với nhau nhiều bộ phận kh�c biệt của x� hội thuộc địa: c�c người ngoại quốc, c�c d�n định cư, 9 c�c nh� h�nh ch�nh, c�c kẻ phi�u lưu v� c�c nh� mậu dịch, c�c �con g�i� v� c�c �b� đầm� [�congaies� v� �ba dams�� trong nguy�n bản, nửa tiếng Việt, nửa ti�ng Ph�p, ch� của người dịch], c�c cậu bồi, �boyesses� [trong nguy�n bản ghi từ ngữ �boyesses� n�y đ�ng sau từ �boys� c�c thiếu ni�n hầu b�n�, kh�ng r� nghĩa� hay chi để phụ ch� th�m c�ch viết nửa tiếng Anh nửa tiếng Ph�p của t�c giả, ch� của người dịch], c�c đầu bếp v� c�c th�ng dịch vi�n, th�nh một cơn lốc xo�y đ� thị vi m� phức tạp.� Tuy nhi�n, điều m� kh�ch sạn đại biểu quan trọng nhất ch�nh l� một địa điểm ban cấp đặc ưu quyền được lười biếng, hưởng lạc v� nghỉ ngơi.� Điều đ�ng để ghi nhận rằng với �b�u kh�ng kh� gia đ�nh th�n mật� [�air de familiarit�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch], n� được xem bởi c�c kh�ch lữ h�nh tinh tế l� kh�c biệt bao la với c�c kh�ch sạn ở c�c thuộc địa của Anh Quốc (Franchini, 1995, trang 43).

 

Phần lớn c�c kh�ch lữ h�nh đến Đ�ng Dương khởi sự sự hồi niệm của họ về S�ig�n với một c�i nh�n từ �nền nh� đắp cao� [�terrasse�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản ch� của người dịch] của kh�ch sạn Continental.� T�i giải th�ch dưới đ�y sự chuyển nghĩa (trope) trong khi thuật chuyện được lập lại nhiều lần n�y, theo kh�i niệm của Mary Louise Pratt (1992) về �c�c sự m� tả mỏm đất� (promontory descriptions).� Trong phần kế tiếp, t�i xem x�t sự biểu trưng của kh�ch sạn xuy�n qua lăng k�nh của c�c tập tục hưởng nh�n v� t�nh hiện đại.� Sau c�ng, t�i nghi�n cứu l�m thế n�o m� c�c kh�ch sạn, tọa lạc tại c�c nơi chốn m� c�c sự lo �u về thuộc địa thường được cảm nghiệm một c�ch mạnh mẽ, đ� biến thể để trở th�nh c�c �l� sưởi (m�i ấm gia đ�nh)� [foyers, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] th�n thuộc, hay oikoi [oikos, danh từ số �t trong ti�ng Hy Lạp, để chỉ đơn vị căn bản của x� hội tại phần lớn c�c th�nh phố-quốc gia ở Hy Lạp cổ thời, bao gồm chủ oikos, thường l� người đ�n �ng lớn tuổi nhất, gia đ�nh của người chủ oikos (vợ v� c�c con), v� c�c n� lệ c�ng sống trong khung cảnh một ng�i nh� gia đ�nh.� Oikoi lớn hơn, cũng c� c�c n�ng trại thường được chăm s�c bởi c�c n� lệ, cũng l� đơn vị n�ng nghiệp căn bản của nền kinh tế cổ xưa, ch� của người dịch, theo Wikipedia]� trong sự tưởng tượng của kh�ch lữ h�nh.� T�i lập luận rằng c�c cơ sở n�y chủ yếu vẫn c�n l� �c�c mỏm đất đặc ưu quyền�� v� c�c �oikoi biệt lập� �l� nơi m� kh�ch lữ h�nh �u Ch�u c� thể lựa chọn để quan s�t hay tương t�c với kh�ng gian của kẻ kh�c trong sự an to�n tương đối.

 

 

Kh�ch Sạn Continental Như Mỏm Đất

 

Trong sự khảo s�t của m�nh về c�c đoạn văn m� tả nơi c�c t�c phẩm du h�nh hồi thế kỷ thứ mười ch�n, t�c giả Pratt lập luận rằng t�c giả viết về du h�nh giống như một họa sĩ bằng miệng tạo ra một biến cố từ chuyện kh�ng phải l� biến cố, xuy�n qua sự sử dụng c�c sự m� tả mỏm (hay mũi) đất hay điều m� b� ta gọi l� �vị ch�a tể của tất cả c�c phong cảnh m� t�i khảo s�t�.� �m chỉ đến c�c sự m� tả trong c�c t�c phẩm của Sir Richard Francis Burton về Phi Ch�u, b� nhận thấy h�nh thức viết th�nh văn bản �(textualisation) n�y như một h�nh vi tạo ra � ngh�a với chủ � l�m đẹp khi n� sắp xếp phong cảnh, ti�m tỷ trọng v� nội dung v�o trong đ� (bằng việc tham chiếu đến điều th�n thuộc), v� khẳng định một tương quan chủ động giữa người ngắm nh�n v� những g� được nh�n thấy.� Quan trọng nhất, t�t giả bổ t�c rằng quang cảnh được sắp xếp li�n quan đến một lợi thế. ��Người quan s�t tọa lạc nơi đ� như thế đang ở v�o một vị thế sở hữu v� lượng định quang cảnh bằng thị gi�c.� Đối với du kh�ch/người quan s�t c�c phẩm chất thẩm mỹ của cảnh tr� phản ảnh gi� trị x� hội của sự �kh�m ph�, trong khi c�c khiếm khuyết thẩm mỹ l�m li�n tưởng đến nhu cầu cần sự can thiệp x� hội của văn h�a qu� huơng (Pratt, 1992, c�c trang 205-06).

 

Trong khung cảnh nghi�n cứu của ch�ng ta, Continental tr�n th�nh lợi điểm �vĩ đại� từ đ� con mắt đế quốc quan s�t cảnh tr� đ� thị.� Lart�guy nhận thấy:

 

Le Continental est ancr� rue Catinat � mi-chemin du Plateau �u se dressaient la Cath�drale, le palais Norodom avec ses fastes coliniaux-et du port avec ses grandes maisons de n�goce, ses quais �u s�entassaient les richesses de la colonie, le caooutchouc, les bois pr�cieux et le riz.� (Lart�guy, tr�ch dẫn từ quyển Palaces et grands hotels d�Orient, 1992, trang 60). 10

 

Kh�ch sạn Continental đặt nền tr�n ph� Catinat, giữa đường từ Mặt Phẳng nơi Th�nh Đường mọc l�n, dinh Norodom với sự tr�ng lệ thực d�n của n�, v� hải cảng với c�c t�a nh� thương mại cao tầng, c�c cầu t�u nơi chất đầy cao su, gỗ qu� v� gạo, c�c sản phẩm qu� b�u của thuộc địa.

 

Thả neo vững chắc trong kh�ng gian quan s�t của quyền lực ch�nh trị v� đạo đức của c�c kẻ thực d�n (biểu trưng bởi Th�nh Đường v� dinh Thống Đốc), v� sự th�nh c�ng kinh tế của đế quốc (đại diện bởi hải cảng), du kh�ch/người đứng nh�n từ kh�ch sạn/mỏm đất ở v�o một vị tr� để suy tưởng về gi� trị văn h�a quan trọng của sự kh�m ph� của m�nh.� Dần dần, khi mỗi du kh�ch ngang qua g�p phần v�o h�nh vi tạo th�nh � nghĩa n�y bằng việc sắp xếp cảnh tr� đ� thị bao quanh với một c�i nh�n chăm ch� khẳng định một tương quan chủ động giữa người ngắm nh�n v� những g� được nh�n thấy, bức ảnh b�nh thường đ� được biến thể th�nh một huyền thoại.� T�a nh� trong c�c bản tường thuật đầu ti�n, được n�i đến như một kh�ch sạn v� danh tr�n đường Catinat, dần dần biến thể th�nh Le Continental (Kh�ch Sạn Đại Lục), gợi l�n một � tưởng rất x�c định về một lối sống đế quốc. ����������

������ Trong sự m� tả của �ng về Đ�ng Dương nơi quyển Antim�moires, t�c giả Andr� Malraux đặt cạnh nhau c�c h�nh ảnh ph�n c�ch của �Con Đường Ho�ng Cung� (Voie royale) trong truyền thuyết c�ng c�c phế t�ch của c�c pho tượng Khmer, Ho�ng Hậu Sheba trong huyền thoại b�n cạnh một Mayrena tai tiếng, �ng vua xứ d�n Sedangs [roi des Sedangs, ti�ng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Một c�ch nhiều � nghĩa, sự tại cấu tr�c tr�n văn bản �bảo t�ng viện tưởng tượng về c�c truyền thuyết�[mus�e imaginaire de legends, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] bao gồm cả một sự h�nh dung về �l�heure verte � la terrasse du Continental quand le bref soir tombait sur les caroubiers, sur les victorias qui se croisaient rue Catinat dans le bruit de leurs grelots �� (Malraux, 1967, c�c trang 380-381) ��giờ m�u xanh lục tr�n nền nh� đắp cao của Continental khi c�c buổi chiều ngắn thường đổ xuống c�c c�y carob [c�y đậu hạt dẹt, d�i, thuộc giống Ceratonia silique, c�n gọi l� St. John�s bread, carob bean, v� agarroba, ch� của người dịch], v� c�c cỗ xe ngựa thường băng qua đường Catinat trong tiếng chu�ng của ch�ng�. 11 Người ta kh�ng thể l�m g� kh�c hơn việc quan s�t xem sự kh�u gọi của Malraux gần s�t với một bức ảnh chụp như thế n�o.� Thời gian ngưng đọng lại ở �l�heure verte; giờ m�u xanh lục �.� M�u xanh lục diễn tả sự hiện diện của c�y cỏ bao quanh nhưng loại trừ mất sự hiện diện của c�c người kh�c, d�n địa phương v� c�c người ngoại quốc.� Ban đ�m th� ngắn tại v�ng nhiệt đới nhưng sự ngắn ngủi của n� được đền b� bởi bản chất t�i diễn của biến cố được m� tả: �c�c cỗ xe ngựa băng ngang qua đường Catinat�.� Hai h�nh ảnh ri�ng rẽ, một h�nh ảnh tĩnh chồng l�n một h�nh ảnh động, l�m gia tăng sự c� đơn đế triều của một Malraux đang quan s�t.� Ở một mức độ kh�c, cả Kh�ch San Continental lẫn th�nh phố đều được t�ch ra khỏi bối cảnh của c�c quan hệ văn h�a-x� hội ch�nh yếu của ch�ng, v� được đặt lại v�o bối cảnh d�nh ri�ng cho c�c sự tương đương về thẩm mỹ của ch�ng với c�c đối tượng kh�c � nơi đ�y, l� �giờ xanh lục� v� ��m thanh từ chu�ng của con ngựa k�o xe�.� Như thế, h�nh ảnh của Continental c� thể bước v�o �bảo t�ng viện tưởng tượng về c�c truyền thuyết� c�ng với �con đường ho�ng cung�, Ho�ng Hậu Sheba trong huyền thoại v� vua Mayrena tai tiếng.

 

������ Lart�guy đi th�m một bước xa hơn để huyền thoại h�a cả kh�ch sạn lẫn �kh�ch lữ h�nh khu biệt� l� kẻ m� sự du h�nh l� một chức nghiệp v� một lối sống.� �ng vạch ra rằng: ��Nous avons habit� ces hotels de legende dont les noms chantent dans le souvenir de tous ceux qui firent du voyage un m�tier et un mode de vie� (Lart�guy, tr�ch dẫn từ quyển Palaces et grands hotels d�Orient, 1992, trang 59).

 

������ Cấu tr�c vật chất của kh�ch sạn đ� g�p phần khổng lồ v�o sự x�y dựng huyền thoại n�y.� Trong quyển tự truyện của Philippe Franchini, h�nh thức kiến tr�c của kh�ch sạn được ti�u biểu như điều g� đ� tượng trưng cho sự ổn định v� t�nh khẳng quyết của thuộc địa.

 

Une mani�re de manifester dans l�architecture la confidance que l�on accordait � la foi colonisatrice.� Non seulement le hall d�entr�e d�bouchait de plain-pied sur le trottoir, mais on avait ouvert le rez de chauss�e pour en faire une vaste galerie.� Car le Continental ressemblait bien � un bateau, son architecture, fraichement d�barqu�e des navires, restait impr�gn�e de l�atmosph�re des coursives et des ponts (Franchini, 1995, trang 43). 12

 

Một c�ch thức biểu lộ sự tin tưởng m� người ta mang trong m�nh về sứ mạng thực d�n thể hiện xuy�n qua c�ch kiến tr�c.� Kh�ng chỉ lối v�o được mở ra ở c�ng độ cao của vệ đường, s�n tầng trệt cũng mở ngỏ hướng ra ngo�i l�m cho n� giống như một ph�ng triển l�m m�nh m�ng.� Bởi Continental tr�ng gần giống như một chiếc t�u, c�c cấu tr�c của n�, vừa được bốc dỡ từ c�c chiếc t�u c�n tr�n ngập hương vị của boong t�u v� c�c lối đi.

 

Kh�ch sạn được x�y cất để mở ngỏ ra b�n ngo�i với một lối ra v�o được x�y ở c�ng độ cao của con đường đ�ng trước n�.� Kh�ch lữ h�nh cảm thấy giống như nh� th�m hiểm đầu ti�n t�m được sự kh�m ph� ti�n khởi từ lợi thế giống như con t�u n�y.� �S�n nh� đắp cao mở ra tr�n đường Catinat v� v�o cảnh tr� đ� thị của S�ig�n mang lại ảo tưởng của �việc ngắm nh�n� từ một khoảng c�ch xa v� c�ng l�c cho ph�p khả t�nh của sự vươn ra ngo�i v� hướng đến n�.

 

 

B� Mathieu Franchini, con g�i của Đốc Phủ Sứ Mầu,

�quan tỉnh Mỹ Tho,chủ nh�n của Continental Hotel từ năm 1930


 

Nguồn: Continental Saigon, Philippe Franchini, Olivier Orban 1976

 

 

 

������ Doren Massey lập luận rằng kh�ng gian kh�ng phải l� một chiều k�ch độc lập v� tuyệt đối m� được kiến tạo b�n ngo�i c�c quan hệ x� hội.� Một cấu h�nh kh�ng-thời gian của c�c quan hệ x� hội h�m chứa một thế giới đ� sống qua của nhiều tầng kh�ng gian chồng l�n nhau, cắt ngang, sắp thẳng h�ng với kh�ng gian kh�c hay hiện hữu trong c�c quan hệ của sự nghịch l� v� đối chọi (Massey, 1993, trang 66).� Kh�ch sạn, tự th�n gh�p m�nh v�o trong một mạng lưới phức tạp của c�c định chế thực d�n về quyền lực v� lạc th�, th�c dục kh�ch lữ h�nh h�nh động như thế, để hội nhập một c�ch mau ch�ng v�o c�c quan hệ x� hội v� ch�nh trị x�c định ch�nh sự hiện hữu của n�.� Ch�nh v� thế, con đường Catinat với c�c lực lượng thương mại, ch�nh trị v� văn h�a của n� trở th�nh một sự nối d�i tự nhi�n của đại kh�ch sạn, v� qua sự �m chỉ, Kh�ch Sạn Continental được biến thể th�nh một Saig�n tưởng tượng.� Vai ch�nh (protagonist) của t�c giả Jean Star ghi nhận:

 

Saigon, Neuf heures du soir � la rue Catinat � Au trot vif des minuscules attelages malais passent les promeneurs blancs, tout blancs, plus blancs encore dans la lumi�re �lectrique (Star, 1902, trang 21). 13

 

S�ig�n, 9 giờ tối � phố Catinat � C�c người da trắng, to�n trắng, v� c�n trắng hơn nữa dưới �nh đ�n điện khi họ đ�nh nước kiệu đi qua một c�ch mau lẹ trong c�c cỗ xe được k�o bởi c�c con ngựa M� Lai của họ.

 

������ Kh�ch lữ h�nh-người quan s�t, được t�i bảo đảm bởi sự kh�m ph� một S�ig�n �da trắng�, văn minh, ph�c họa c�c kh�a cạnh đ� của phong cảnh khẳng định hệ cấp của người nh�n tr�n những g� được nh�n thấy, được h�nh dung nơi đ�y qua h�nh ảnh c�c chiếc xe k�o bản xứ �t� hon� v� sự hiện diện mọi nơi của người �u Ch�u.� M�u trắng �p đảo trừ khử bất kỳ sự hiện diện n�o của c�c phần tử da m�u trong cảnh tượng.

 

������ Người lữ h�nh trong quyển Les Civilis�s của Claude Farr�re c�n c�ng khai hơn trong h�nh vi tạo lập � ngh�a của �ng ta về sự đại diện, t�i x�c định sự hi�n diện �p đảo của c�c tập tục �u Ch�u (ph�ng t�ng v� trơ trẽn: free and imprudent) tại một th�nh phố được định h�nh bởi �sự th� lỗ trịch thượng� (patronizing rudeness) (�insolence bienveillante�) của c�c thực d�n Ph�p:

 

Rue Catinat, c�est l�agitation mondaine, correcte et quand m�me admirablement libre et impudente, parce que la loi souveraine du pays et du climat primeles moeurs import�s.� Il y a des gens de tous les pays.� Europ�ens, Franҫais surtout, coudoient l�indig�ne avec une insolence bienveillante des conqu�rants (Farr�re, 1919, trang 10). 14

 

Phố Catinat, một sự nhộn nhịp hợp thời trang, th�ch đ�ng song ph�ng t�ng v� trơ trẽn một c�ch đ�ng ngưỡng mộ, bởi luật tối thượng trong v�ng v� b�u kh� hậu của n� d�nh đặc ưu quyền cho c�c phong tục ngoại quốc.� C� c�c người đến từ mọi nước. C�c người �u Ch�u, ch�nh yếu l� người Ph�p, giao tiếp với d�n bản xứ với một sự �th� lỗ trịch thượng� của c�c kẻ chiến thắng. ������

 

Kh�ch sạn phục vụ như kẻ trung gian giới thiệu c�c kh�ch lữ h�nh với c�c th� vui của S�ig�n.� C�c kh�ch lữ h�nh đ� đến hải cảng xa x�i n�y sau gần một th�ng di chuyển.� Trong khi mỏi mệt nếu họ l� c�c người định cư, hay bị k�ch động hoang mang nếu l� c�c kh�ch lữ h�nh lần đầu ti�n, kh�ch sạn l� c�ng cụ trong việc phục hồi c�c chất liệu thể chất v� x�c cảm t�n tạ của họ.� Như người con trai của vị chủ nh�n ghi nhận trong tập tự truyện của m�nh, ch�nh � tưởng của �ng Mathieu Franchini l� muốn du nhập sự vui tươi v� tinh tế của Paris v�o một khung cảnh thuộc địa xa x�i: �Il fallait de la gait�, du chic� (Franchini, 1995, trang 101).� �Trong quyển Aile du feu của t�c giả Jeanne Leuba, nh�n vật Franҫoise đến S�ig�n với th�n x�c kiệt quệ bởi cuộc du h�nh v� x�c cảm kh� cạn.� S�ig�n đ�ng l� một trạm ngừng ch�n trước khi c� ta đi xa hơn về c�c địa phương để bắt đầu một đời sống mới như một kẻ di d�n.� Kh�ch sạn v� phố Catinat mang lại cho c� ta một nơi chốn để nghỉ ngơi v� vượt tho�t: �Rue Catinat nous rions, et devant l�h�tel nous descendons en gait�� (Leuba, 1920, trang 62). 15 �Phố Catinat, ch�ng t�i tươi cười v� bước xuống đường một c�ch sung sướng, ngay ph�a trước kh�ch sạn�.

 

������ S�ig�n được h�nh dung n�y phản ảnh sự th�nh c�ng của sứ mạng khai h�a của đế quốc, t�nh trạng đ� thị h�a của n� v� c�c tập tục mẫu quốc.� Những g� được quan s�t từ kh�ch sạn l� một bản sao của trung t�m t�n tiến v� thế giới quay cuồng của n�.� Trong khi quang cảnh được sắp xếp từ kh�ch sạn thấm nhập v�o lữ kh�ch sự bảo đảm v� tin tưởng của người thực d�n th�nh c�ng, th�nh phố thuộc địa, cũng giống như th�nh phố mẫu quốc, cống hiến c�c khả t�nh v� hạn cho việc tản bộ, quan s�t v� bị ngắm nh�n.� �Sự vui tươi� [gait�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] m� Franҫoise mong muốn kinh qua cũng c� thể được nhận thức như niềm vui th�ch của cuộc nh�n tản v� định [fl�nerie, dạo chơi kh�ng mục đ�ch, ti�ng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] của Baudelaire, nằm ở chỗ tự bu�ng thả một c�ch lười biếng trước c�c x�o động của đời sống t�n tiến.� Nhưng khi được nh�n v� được tr�nh b�y, n� biểu tỏ quan điểm về sự hưởng nh�n của thời hiện đại v� sứ mệnh khai h�a của n�.

 

������ T�c giả Chris Rojek lập luận rằng t�nh hiện đại (Modernity) tương ứng với hai loạt của c�c lực đối phản nhau: trật tự v� sự kiểm so�t (T�nh Hiện Đại 1); v� sự ph�n h�a v� hỗn loạn (T�nh Hiện Đại 2).� T�nh Hiện Đại 1 nhận thức sự hưởng nh�n như l� một hoạt động c� mục đ�ch được nhắm hướng tới một mục ti�u.� C�c nh� kiến tr�c của T�nh Hiện Đại 1, Rojek tuy�n bố, đ� xem c�c kh�ng gian hưởng nh�n chẳng hạn như c�c c�ng vi�n, c�c lối đi bộ v� c�c kh�ch sạn như một phản kh�ng gian (counterspace), một phản đề của sự l�m việc v� kh�ng gian sinh sống (Rojek, 1995, trang 6).� Nhưng đại kh�ch sạn tại thuộc địa đ� giới thiệu kh�i niệm của điểm k�ch th�ch [t�m l�] tối thiểu (luminal), của sự mơ hồ: n� kh�ng ho�n to�n l� một địa điểm của sự vui chơi hữu l�, n� cũng kh�ng ho�n to�n l� một nơi chốn ph�t huy � thức giả dối.� Trong khi một mặt n� l� một lăng k�nh xuy�n qua đ� sự th�nh c�ng của sứ mệnh khai h�a c� thể được chi�m nghiệm, mặt kh�c đại kh�ch sạn đ� tạo ra một h�nh ảnh kh�c về con người hiện đại hưởng nh�n, lười biếng, đi t�m kiếm kho�i lạc, đ�i khi ngắm nh�n đường phố như một kẻ ngoại cuộc v� ở c�c l�c kh�c l�m một cuộc tản bộ thờ thẫn xuy�n qua th�nh phố để tham dự v�o �cảnh tượng� được cống hiến cho người đ�.

 

 

Kh�ch Sạn Continental Như S�n Chơi

Ph� Diễn C�ch Thức Hưởng Nh�n

Tại C�c Thuộc Địa

 

������ T�c giả Claire Hancock trong quyển �Capitale du plaisir: the remaking of imperial Paris� (Hancock, 1995, c�c trang 64-95) kh�m ph�, xuy�n qua một sự duyệt x�t c�c t�c phẩm của c�c t�c giả địa phương v� c�c quyển chỉ dẫn ngoại quốc v� trong nước, c�ch thức l�m sao m� một Paris của Nam Tước Haussmann đ� được thiết kế như một cảnh tượng ngoạn mục v� một đối tượng của sự ti�u thụ v�, quan trọng nhất, l�m sao m� s�ch hướng dẫn du lịch đ� g�p phần v�o sự thương mại h�a sản phẩm (commodification) của th�nh phố.� C�c đại lộ, rất đặc biệt trong c�c s�ch hướng dẫn bằng Anh ngữ, được nh�n như biểu lộ thực chất của đời sống Paris v� t�nh c�ch Paris.� C�c kh�ch du lịch được mời để gia nhập v�o đ�m đ�ng c�c �kẻ nh�n tản� [fl�neurs,tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] thả bước tr�n �c�c vỉa h� đi bộ� [trottoirs, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] giữa c�c qu�n c� ph� v� c�c tr� giải tr� tr�n đường phố. Hay quan s�t to�n cảnh di động từ tr�n n�c của một chiếc xe bu�t.� Paris được tr�nh b�y như th�nh phố của lạc th� tr�i với London, th�nh phố của c�ng việc.� Đời sống hướng ngoại của người d�n Paris được n�u nổi bật trong c�c sự x�y dựng n�y v� điều đ� được l�m để thể hiện rằng �sự nh�n tản v� định(fl�nerie) l� khoản độc quyền d�nh ri�ng cho Paris.� Một sự duyệt x�t văn bản du lịch của Anh Quốc viết về S�ig�n ph�t hiện một kh�t vọng tương tự muốn x�y dựng n� như ch�nh thực chất của văn h�a hướng ngoại của Paris, v� ch�nh xuy�n qua h�nh ảnh của Continental m� � tưởng n�y đ� được truyền đạt.� T�c giả Horace Bleakley trong quyển A tour in southern Asia (1925-26) viết:

 

Bất kể c�c sự c�o gi�c của họ về �Cung Điện Continental�, giới tinh hoa của S�ig�n xem l� s�nh điệu để bảo trợ cho bữa ăn tối �trền nền nh� đắp cao� của n�.� Bữa ăn được phục vụ tại c�c b�n nhỏ, thắp s�ng bởi c�c ngọn đ�n thần ti�n tr�n h�ng hi�n rộng được che phủ bởi c�y cối của đường Catinat, v� từ ch�n giờ tối cho đến nửa đ�m, cảnh tượng phảng phất như một nh� h�ng tại Champs �lys�es.� B�n kia đường một nh�m ăn mặc bảnh bao bước ra từ h�nh lang của rạp chiếu b�ng h�ng đầu, ở c�c thời khoảng thường xuy�n trong suốt cuộc tr�nh chiếu v� gia nhập bữa tiệc đ�m tụ tập tại c�c chiếc b�n nhỏ tr�n vỉa h� đằng trước kh�ch sạn.� Một d�ng xe v� x�ch l�, chở đầy c�c người đ�n �ng v� đ�n b� ăn mặc nhẹ nh�ng để đi h�ng gi�, lướt đi kh�ng ngừng dọc theo con đường.� C� lẽ một cuộc khi�u vũ đang diễn ra trong ph�ng kh�ch của kh�ch sạn, quay mặt ra khoảnh s�n vu�ng vức.� V� nếu m�a nhạc kịch đ� bắt đầu, c�c �m điệu của Verdi hay Mascagni [hai nh� soạn nhạc kịch nổi tiếng của � lần lượt trong thế kỷ thứ 19 v� cuối thế kỷ thứ 19 v� nửa đầu thế kỷ thứ 20, ch� của người dịch] bay xuy�n qua c�c cửa sổ mở ngỏ của rạp h�t v� tiếng vỗ tay t�n thưởng của th�nh đường chật người c� thể được nghe thấy đối với kh�ch d�ng bữa tối tại �s�n nh� đắp cao�.� Sinh hoạt ban đ�m của S�ig�n l� như thế, xoay quanh nh� h�t nhạc kịch, hai rạp chiếu b�ng (picture-palaces) v� hai kh�ch sạn ch�nh. �(Bleakley, 1926, trang 23).

 

������ Kh�ch lữ h�nh Anh Quốc ph� ph�p một h�nh ảnh gợi nhớ đến sự m� tả về Paris l�c đương thời.� Sự kỳ diệu của th�nh phố của c�c lạc th� n�y được t�i tạo trong sự t�i dựng như phim chiếu b�ng n�y về �cảnh tượng S�ig�n� như được nh�n thấy từ �nền nh� đắp cao� của Continental.� Cảnh tượng đẹp mắt được nh�n thấy từ kh�ch sạn (d�ng người �u Ch�u thanh lịch ra khỏi rạp chiếu b�ng) v� c�c kho�i cảm tho�ng qua đi k�m (c�c �m điệu của Verdi được nghe thấy từ Nh� H�t Nhạc Kich) kết hợp Continental v�o một cảnh tr� th�nh phố thuộc địa rộng lớn hơn v� khiến ta nghĩ đến vai tr� chủ chốt của n� trong sinh hoạt x� hội thuộc địa.� Tiếng vỗ tay hoan h� của Nh� H�t Nhạc Kịch đ�ng đảo chỉ l� sự biểu hiện b�n ngo�i sự t�n thưởng của kh�ch lữ h�nh/người ngắm nh�n đối với �cuộn phim� tr�nh chiếu giới tinh hoa S�ig�n đ�ng trước kh�ch sạn.� Cuộc khi�u vũ tưởng tượng tại ph�ng kh�ch của kh�ch sạn l� sự khi�u gợi duy nhất về b�n trong trong đoạn văn n�y v� n� bổ t�c cho h�nh ảnh của S�ig�n � th�nh phố của c�c lạc th� ��u Ch�u�, với kh�ch sạn Continental nằm ở trung t�m của sự h�nh dung n�y.

 

������ Giống y như kh�ch sạn Peninsula ở Hồng K�ng, vốn trở th�nh nơi tr� n�u của Noel Coward khi �ng ho�n tất v� tu sửa quyển Private Lives, đại kh�ch san tại S�ig�n l�m y�n l�ng t�c giả với một h�nh ảnh của �sự huy ho�ng biệt lập� (Coward, 1937, trang 379).� Giống như c�c kh�ch lữ h�nh Anh Quốc kh�c, Coward đ� hấp thụ v�o m�nh một � tưởng n�o đ� về Paris m� sau đ� �ng ph�ng chiếu l�n phần đất hải ngoại của Ph�p.� Kh�ch sạn một lần nữa được biến thể th�nh một chỗ ngồi qu� gi� để từ đ� ngắm nh�n cảnh tượng của �thế giới xinh đẹp� [beau monde, ti�ng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] ngược xu�i nhộn nhịp tr�n đường Catinat trong c�c chiếc xe k�o� (Coward, 1937, trang 382).� Hoạt cảnh n�y được phụ họa một c�ch th�ch hợp bởi nhạc nền được cung cấp bởi gi�n nhạc của kh�ch sạn đang chơi h�ng đ�m �c�c đoạn tuyển chọn từ Tosca, nhạc kịch Madame Butterfly v� c�c vở nhạc kịch ngắn một hồi (operettas) của Ph�p nghe leng keng của thế kỷ thứ mười ch�n� (Coward, 1937, trang 32).��

 

������ Osbert Sitwell, trong quyển Escape with Me, cũng tr�nh b�y lại h�nh ảnh �S�ig�n như một cảnh tượng ngoạn mục�.� �ng vạch ra rằng �ảnh hưởng tổng qu�t của S�ig�n rằng n� đ� được x�y dựng như phản đề của n� (triển l�m Thuộc Địa tại Paris); một Cuộc Triển L�m Đế Quốc Ph�p được sắp xếp d�nh cho C�c Thuộc Địa, hay ngay cả, c�n lớn hơn v� quan trọng hơn, một cuộc Triển L�m T�y Phương d�nh ri�ng cho c�c d�n tộc của V�ng Viễn Đ�ng� (Sitwell, 1949, trang 51).

 

������ Trong quyển �The Gentleman in the Parlour�, sự tr�nh b�y của Somerset Maugham chuyển dịch sự du h�nh đế quốc th�nh sự bất động tinh cờ, v� Continental cung cấp khung cảnh th�ch hợp với c�c sự dự ph�ng của tiện nghi vật chất (quạt điện mang lại sự khu�y khỏa trước cơn n�ng bức nhiệt đới).

 

S�ig�n l� một nơi đủ th�ch th� để ngồi kh�ng, bất động trong v�i ng�y; đời sống dễ chịu cho kh�ch lữ h�nh t�nh cờ; v� điều rất th� vị để ngồi dưới m�i hi�n của nền nh� đắp cao của Kh�ch Sạn Continental, một chiếc quạt chạy điện ngay tr�n đầu bạn v� với một ly nước uống v� tư trước mặt, để đọc trong tờ b�o địa phương c�c sự tranh luận n�ng bỏng về c�c sự vụ của Thuộc Địa v� c�c �chuyện �t quan trọng� [faits divers, chuyện lặt vặt, �t tầm quan trọng tr�n c�c tờ b�o, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] ở v�ng l�n cận (Maugham, 1955, trang 139).

 

������ Nhưng ngoại trừ kh�ch sạn Continental, nơi cung cấp một khu vực nh�n nh� để nhấm nh�p một ly nước hoa quả (cocktail) v� tham gia v�o c�u chuyện t�n gẫu địa phương, S�ig�n như một th�nh phố kh�ng c� sức hấp dẫn đối với Maugham, một người tự xem m�nh l� một �kh�ch lữ h�nh thứ thiệt�.� Trong một trường hợp của sự tưởng tượng bị dời chuyển một c�ch cố �, ly nước của Maugham biến cải c�c tin tức địa phương �v� tư� th�nh c�c c�u chuyện �n�ng bỏng�.� Một lần nữa, Continental trở th�nh một lợi điểm từ đ� kh�ch lữ h�nh đ�ng vai tr� người quan s�t t�ch biệt.� Sự tr�nh b�y gấp đ�i (double textualisation) �của Maugham về cảnh tượng, trước ti�n theo tờ b�o v� sau đ� trong sự t�i dựng bằng lời n�i của ch�nh �ng, được điều giải xuy�n qua sự hiện diện của �ng tại kh�ch sạn Continental.� Sự tr�nh b�y c� vẻ khiến ta li�n tưởng trước ti�n rằng �ng xem c�i nh�n n�y như t�nh cờ v� kh�ng ra ngo�i sự b�nh thường.� Tuy nhi�n, một c�ch mỉa mai, sự b�y tỏ k�p n�y che dấu một ước vọng lớn hơn về phần kh�ch lữ h�nh muốn tham gia v�o cảnh tượng m� S�ig�n cống hiến cho �ng ta.

 

 

Kh�ch Sạn Continental v�

Nỗi Bồn Chồn Nơi Thuộc Địa

 

������ Đại kh�ch sạn biểu trưng cho một loại thế giới kh�ng tưởng c� t�nh c�ch qu� tộc, đ� bảo vệ t�nh chất k�n đ�o ri�ng tư của kh�ch lữ h�nh, v� đ� ca tụng c� t�nh của kh�ch với nghi lễ nghi�m ngặt, c�c hầu b�n mặc chế phục đ�ng c�ch, v� n�t kiến tr�c qu� ph�i của n�. ��N� đ� l� sự t�n dương của chủ nghĩa tư bản về sự phi�u luu ở� thuộc địa v� sự c� đơn của đế quốc.� Tuy nhi�n, kinh nghiệm n�y đ� kh�ng xảy đến m� kh�ng c� c�c sự lo �u v� bồn chồn của n�.� Kh�ch lữ h�nh/người kể chuyện trong quyển Tonkinades của t�c giả Jean Star quan s�t từ sự k�n đ�o ri�ng biệt của �nền nh� đắp cao� trong kh�ch sạn của �ng ta:

 

Saigon, Neuf heures du soir � la rue Catinat � Une vague allure de ville d�eaux m�ridionales, vivant ses heures nocturnes, lascives et �nerv�es.� Au trot vif des minuscules attelages malais, passent les promeneurs blancs, tout blancs, plus blancs encore dans la lumi�re �lectrique.� Des filets d�or luisent aux manches et aux casquettes des marins, des bijoux, des colliers excessifs brillent sur des peaux brunes de m�tisses ennuag�es de mousselines tenders.� Et plus vite trottent les petites b�tes courageuses sous les fouets de sais, plus s�accentuent l�abandon des poses, l�h�b�tude renvers�e des fumeurs la beatitude voulue des couples envies par les solitaires assis aux terrasses et refugi�s dans la consolation d�un cocktail glac�� (Star, 1902, trang 21). 16

 

S�ig�n, 9 giờ tối, tr�n phố Catinat � Một b�u kh�ng kh� mơ hồ như b�u kh�ng kh� của một th�nh phố c� suối nước kho�ng sản, chuy�n sống trong c�c giờ ban đ�m, m� man v� lo �u.� C�c người da trắng, to�n trắng, v� c�n trắng hơn nữa dưới �nh đ�n điện khi họ đ�nh nước kiệu đi qua một c�ch mau lẹ trong c�c cỗ xe được k�o bởi c�c con ngựa M� Lai của họ. C�c sợi chỉ kim tuyến lấp l�nh tr�n tay �o v� mũ của c�c thủy thủ, qu� nhiều c�c nữ trang v� d�y chuyền rực s�ng tr�n nước da n�u của c�c phụ nữ lai giống dấu mặt dưới lớp vải muslin mỏng.� Trong khi bước kiệu của c�c con ngựa non can đảm bị quất roi bởi c�c sais [? một loại kiếm ngắn, mũi c�n, ch� của người dịch] chạy nhanh hơn, c�ng nhiều điều ghi nhận lại bu�ng lơi tư c�ch hơn, d�ng đ� m� nghi�ng ngả của c�c kẻ h�t thuốc v� sự cố t�nh ph� b�y hạnh ph�c của c�c cặp đ�i bị ghen tức bởi c�c kẻ c� đơn đang ngồi tr�n nền nh� đắp cao v� t�m c�ch trốn tr�nh trong sự an ủi được mang lại bởi một ly nước hoa quả ướp đ�. �

 

 

������ C�i nh�n chằm chằm của kh�ch lữ h�nh, c�i nh�n được kh�ch quan h�a từ tr�n mỏm đất vươn cao, xen lẫn với c�c ưu tư đang tra vấn l� lịch của ch�nh m�nh.� M�u trắng to�t của c�c người đi dạo kh�ng l�m dịu bớt m� trong thực tế lại c�n nhấn mạnh hơn sự kh�ch động của b�ng đ�m.� C�c tua kim tuyến m�u v�ng tr�n c�c chiếc mũ của c�c thủy thủ rực s�ng long lanh như c�c nữ trang của c�c người đ�n b� lai giống da n�u trong c�c chiếc khăn qu�ng mỏng bằng vải muslin trắng bổ t�c cho vẻ lạ l�ng của c�c phụ nữ ngoại lai n�y.� Quang cảnh, ph� diễn sự mau lẹ gia tốc của c�c cỗ xe qua lại, th� vui sa đọa của c�c kẻ h�t thuốc phiện, v� niềm vui của c�c cặp đ�i, được quan s�t với sự ghen tức bởi c�c lữ kh�ch đơn độc thả m�nh v�o trong ảo gi�c thoải m�i về kh�ng gian của Ri�ng M�nh (Self: Ng�, Ta, T�i).� C�i T�i (Self) tỵ nạn kh�ng thể tự m�nh dứt bỏ khỏi vị thế n�y hầu thỏa m�n ước ao của n� muốn chiếm hữu Kẻ Kh�c (Other: Tha, Kh�ch, Kẻ Kh�c).� T�c giả Pascal Bruckner lập luận rằng du h�nh ch�nh l� nỗi ưu tư hiện đại đ�, giữa đời sống du mục (nomadism) b� buộc v� sự hối tiếc ngập ngừng, một loại phi�u dạt bất định đối diện với Kẻ Kh�c chỉ để thu hồi c�i Ta.� Kh�t khao phi�u lưu t�m Kẻ Kh�c mau ch�ng bị biến thể th�nh nỗi lo sợ l�m hư hỏng c�i Ta, được tr�nh b�y một c�ch ẩn dụ ở đ�y bởi sự hiện diện của c�c người đ�n b� lai giống c� nước da m�u n�u, với c�c khăn mỏng m�u trắng tăng cường cho m�u da trắng của cảnh tr� đ� thị.� Sự giải khu�y mang lại bởi một ly nước hoa quả ướp lạnh phản ảnh điều m� Bruckner m� tả như l� �se replier frileusement sur le petit chez soi�.

 

De faҫon plus g�n�rale, on peut appeler voyage, cette hesitation modern entre un namadisme forcen� et un d�paysement timide, ce flottement insoluble qui ne fait la part la plus belle � l�ailleurs et � la fuite que pour mieux se replier frileusement sur le petit chez-soi (Bruckner, 1979, trang 64). 17

 

Một c�ch tổng qu�t, người ta c� thể định nghĩa lữ h�nh như sự ngại ngần thời đại n�y giữa đời sống du mục đi�n cuồng v� sự mất định hướng lưỡng lự, sự phi�u dạt bất định n�y trao c�c đặc ưu quyền cho nơi n�o kh�c, v� chạy trốn chỉ để tho�i lui hơn nữa trong một c�ch thế thu m�nh v�o ng�i nh� t� hon của �C�i T�i�.

 

������ Đại kh�ch sạn t�i khẳng định sự hợp nhất của căn cước Ph�p nhưng cuộc đ�m luận của lữ kh�ch được khởi động bởi một ưu tư gấp đ�i.� �u lo thứ nhất được sinh ra bởi cảm gi�c bối rối rằng huyền thoại của truyền thống Ph�p thuần t�y tại c�c thuộc địa bị đe dọa bởi sự hiện diện của c�c người đ�n b� lai giống, v� thứ nh�, bởi sự bất lực của anh ta trong việc cung cấp một dự kiến to�n cảnh thống nhất từ mũi đất của anh ta.

 

������ Một sự ph�n t�ch chi tiết về sự chi�u niệm S�ig�n v� Continental của k� giả Albert Londres phản ảnh một c�ch thỏa đ�ng phản ứng m�u thuẫn của lữ kh�ch-người ngắm nh�n v� sự li�n hệ đối với địa điểm quen thuộc của người đ� trong một kh�ng gian nước ngo�i.� Quyển Visions Orientals, được ấn h�nh năm 2002, tập hợp c�c b�i tường thuật du lịch của Albert Londres cho tờ b�o của �ng, tờ L�Excelsior, trong thời khoảng từ 21 Th�ng Một 1922 đến ng�y 15 Th�ng Mười Một c�ng năm.

 

� Saigon on peut voir: 1. Une �glise catholique, briques rouges, deux clochers; 2. La statue de Gambetta, en pardessus et col de fourrure; 3. Le theater(ici on peut affirmer que l�architecte eut une bonne id�e, c�est d��crire theater sur la faҫade, sans quoi, pouss� par mon amour pour l�agriculture, j�en aurai gravi imm�diatement les degr�s dans l�espoir d�assister au dernier comice agricole de l�arrondissement; 4. La terrase du Continental; 5. Le palais du Gouverneur G�n�ral et son jardin et son avenue, ce qui vaut bien quelque chose; 6. Des pousses subtiles; 7. La rue Catinat (Londres, 2002, c�c trang 151-52). 18

 

Tại S�ig�n người ta c� thể đi xem: 1. Một nh� thờ C�ng Gi�o, c�c vi�n gạch đỏ, hai chu�ng; 2. Tượng của Gambetta với chiếc �o cho�ng v� một khăn qu�ng cổ bằng l�ng th�; 3. Rạp h�t (nơi đ�y ch�ng t�i phải bổ t�c rằng kiến tr�c sư đ� c� một � tưởng hay ho, để viết chữ �Rạp H�t: Th��tre� tr�n tường mặt tiền, n�u kh�ng c� n�, bị gợi hứng bởi l�ng y�u th�ch của t�i với việc canh t�c, t�i sẽ leo l�n đ� với hy vọng được nh�n thấy cuộc triển l�m n�ng nghiệp mới nhất của v�ng l�n cận; 4. Nền nh� đắp cao của kh�ch sạn Continental; 5. Dinh To�n Quyền c�ng vườn hoa v� đại lộ của n�, cũng đ�ng gi� một c�i g� đ�; 6: C�c phu k�o xe lặng lẽ; 7. Phố Catinat.

 

Sự liệt k� kiểu mục lục c�c �thắng cảnh� (sights) được tiếp nối bởi một sự m� tả chế diễu đường Catinat l�m nổi bật ấn tượng của lữ kh�ch về một S�ig�n đ� trở th�nh �une colonie de bigoudis�:một thuộc địa của c�c người uốn t�c quăn�, �une colonie des m�nages�: �một thuộc địa của c�c b� nội trợ� (Londres, 2002, trang 151).� Một b�i tường thuật về một sự việc kh�i h�i tại kh�ch sạn Continental kế đ� được nối tiếp tức thời bởi một sự hồi tưởng tr�i nghịch của một khoanh đất Trung Hoa ngoại lai m�u m�, n�o nhiệt, Chợ Lớn.

 

������ Với địa điểm của kh�ch sạn như thế v� sự sắp xếp của sự tường thuật, điều trở n�n rất r� r�ng rằng c�i nh�n từ �nền nh� đắp cao� của kh�ch sạn l� c�i nh�n đầu ti�n, v� tất cả phối cảnh kh�c được tập trung v�o (đường Catinat) hay chống lại n� (Chợ Lớn).� Ước ao để �nh�n� (see) định h�nh định chế x� hội của sự du lịch.� Giống như kẻ mạo hiểm đi thu thập c�c kinh nghiệm, du kh�ch quan t�m đến việc thu thập �thắng cảnh� (sight).� T�c giả Abbeele lập luận rằng du lịch l� �một phương thức c� k�ch thước kiến thị (visual) được diễn dịch r� r�ng bởi từ ngữ đồng nghĩa của n�, ngoạn cảnh (sightseeing)� To sight see is to see sights: du ngoạn tức l� ngoạn cảnh, [c�u n�y kh� c� thể dịch cho s�t nghĩa, xem c�u tiếp nối giải th�ch � nghĩa r� hơn, c� lẽ t�c giả nặng về phần chơi chữ hơn, ch� của người dịch], đi xem c� những g� để xem hay c� những g� sẽ được xem x�t�. 19� Sự liệt k� của Londres vừa tăng cường vừa lật ngược sự ph�t biểu n�y.� Bản liệt k� c�c �thắng t�ch� (markers) một c�ch lộn xộn gộp chung lại tất cả c�c kh�a cạnh của S�ig�n thuộc địa: nh� thờ chứng thực sự hiện diện đạo đức của Ph�p, tượng Gambetta khai s�ng trung t�m; rạp h�t, biểu tượng của chủ nghĩa đế quốc về văn h�a; nền nh� đắp cao của Continental, mỏm đất kh�ng thể thiếu, dinh thống đốc, dấu t�ch của sự hiện diện ch�nh trị của Ph�p; c�c phu k�o xe [pousses, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] , dấu t�ch duy nh�t về c�i Kh�c; v� con đường Catinat.� Tuy nhi�n, h�nh ảnh nh� thờ bị thu giảm v�o bề ngo�i của n� (gạch đỏ v� hai chu�ng), của Gambetta mang trang phục bằng l�ng tại S�ig�n nhiệt đới, h�nh ảnh của một nh� h�t tr�ng phảng phất như một hợp t�c x� N�ng Nghiệp v� sự nhạo b�ng �ce qui vaut bien quelque chose: đ�ng gi� một điều g� đ�� để phẩm định dinh Thống Đốc đ� mang lại một giọng điệu khuynh đảo của bản tường thuật.� Chỉ c� kh�ch sạn Continental v� con đường Catinat đ�ng để tham khảo nhiều hơn trong sự tr�ch dẫn.� Con đường Catinat t�m lược một tinh thần địa phương trong đ� c�c c�ng việc của gia đ�nh chiếm ưu ti�n trước c�c kỳ c�ng kh�m ph� của c�c kẻ phi�u lưu v� th�m hiểm trong qu� khứ.� N� l�m thất vọng lữ kh�ch �đến muộn� bởi v� n� đưa ra một h�nh ảnh về �một thuộc địa của c�c b� nội trợ� (une colonie des m�nages) nơi m� sự hiện diện của phụ nữ v� c�c ước muốn bất thường của họ đ� l�m tầm thường h�a đời sống vinh quang tại c�c thuộc địa.� Mặt kh�c, kh�ch sạn Continental, từ nơi m� một người định hướng nh�n của m�nh, vẫn cho ph�p người đ� tuy�n bố rằng �(si), sur la figure de l�Indochine, un vieil air de l��poque truculent demeure encore, c�est � Saigon q�il verdoie� (Londres, 2002, trang 155) �Nếu một b�u kh�ng kh� của một thời sinh động đ� qua vẫn c�n hiện diện trong h�nh ảnh của Đ�ng Dương, đ� ch�nh l� tại S�ig�n, nơi m� c�c sắc m�u của n� c� thể tr�ng thấy�. 20

 

������ Nếu c�c c�ng ốc v� nh� thờ v� c�c �phu k�o xe� im lặng tượng trưng cho �colonie de nos r�ves: thuộc địa trong c�c giấc mơ của ch�ng ta�, đường phố Catinat kh�u gợi sự tho�i h�a đ�ng gh�t trong c�c gi� trị thực d�n.� �Nền nh� đắp cao� dường như sẽ l� chiếc cầu giữa một qu� khứ đ�ng k�nh v� một hiện tại đ�ng khinh.� Nỗi ưu tư ph�t sinh bởi sự x�c định vị tr� n�y được phản ảnh trong giai thoại thuật lại tr�n �nền nh� của Continental.� Lực đẩy v� sức h�t m� thuộc địa hiện tại gợi l�n được phản ảnh trong c�u chuyện của Londres về hai vị kh�ch �anh h�ng� đ� th�ch đố cơn n�ng bức của S�ig�n mọi buổi chiều tr�n �nền nh� của Continental, mặc �o kho�c ngo�i chống �m kh�i thuốc l� (smoking-jacket) v� cổ �o cao.� C�c nh�n vật trong truyện l� người Anh, nhưng sự so s�nh với tinh thần thuộc địa Ph�p đương thời th� hiển nhi�n.

 

������ Như đ� nhận định trước đ�y, trong bảng liệt k� sơ khởi kh�ng gian kh�c, thuộc b�n trong nh� v� do đ� vắng b�ng trong c�i nh�n từ Continental, chỉ xuất hiện trong sự đối chọi ho�n to�n trong sự m� tả về Chợ Lớn:

 

� quelle odeur de noisette grille! Ah! Ces pipeurs d�opium, Zim! Zim! Boum! Boum! Et c�est le violon monocorde avec son cri du chat q�on �corche � et ces petites cantonaises qui chantent comme une locomotive qui siffle! On s�entend plus.� C�est le monde o� l�on s�amuse (Londres, 2002, trang 159). 21

 

� c�i g� ngửi như m�i hạt rang! �! C�c người h�t thuốc phiện, Zim! Zim! Bập! Bum! V� đ�y l� chiếc vĩ cầm một d�y độc nhất, nghe như tiếng một con m�o bị lột da � V� một đứa con g�i nhỏ người Quảng Đ�ng cất ti�ng h�t như đầu m�y xe hỏa rống c�i! Ch�ng t�i kh�ng c�n nghe đưo|.c giữa nhau nữa.� Đ�y l� một thế giới nơi m� người ta c� sự đ�a dỡn.

 

������ Thế giới n�y, với c�c m�i vị v� �m thanh ri�ng biệt của n�, l� một thế giới sẽ kh�ng được �nh�n thấy� giống như thế giới �Giống� vậy (Same), nhưng �được nghe� v� �được ngửi� thấy để kinh nghiệm về T�nh Kh�c (Otherness) Lữ kh�ch đặt định �một c�ch tự nhi�n� tại Continental, tự t�ch biệt m�nh khỏi thế giới �m thanh v� m�i vị n�y để ở lại trong l�nh địa quen thuộc của kẻ quan s�t, ngay d� n� chỉ l� một ph�ng trưng b�y giản dị từ đ� người ta c� thể quan s�t sinh hoạt kh�i h�i của c�c du kh�ch tại thuộc địa

 

� Saigon, il est deux gentlemen ph�nom�nes.� Si je n�allais pas naturellement m�asseoir � la terrasse du Continental, j�irais sp�cialement pour y voir, � l�heure de leur diner, les deux gentlemen announc�s (Londres, 2002, trang 157). 22

 

Tại Sa�gon c� hai người đ�n �ng kỳ dị.� Nếu t�i kh�ng tự � đến ngồi nền nh� đắp cao tại Continental, t�i sẽ đặc biệt đến đ�, v�o giờ ăn tối, để nh�n hai người đ�n �ng đ� loan b�o.

������

Chủ từ �je� (t�i) được d�ng trong đoạn văn n�y tr�i ngược với chủ từ �on� (người ta) mơ hồ hơn được d�ng để m� tả Chợ Lớn.� Sự truy tầm Kẻ Kh�c Kia đ�ch thực v� sự truy tầm C�i T�i đich thực tạo th�nh sự căng thẳng g�y ra sự bồn chồn của lữ kh�ch.� Sự căng thẳng n�y được phản ảnh trong sự khao kh�t kh�ng tự nguyện song kh�ng kiểm so�t được của Londres để �nh�n� Kẻ Kh�c v� để mỉa mai C�i T�i (Self).

 

 

�Cung Điện� Continental �

Một M�i Nh� Khi Xa Qu� Hương

 

������ May mắn cho kh�ch lữ h�nh, đại kh�ch sạn, cung cấp cửa sổ nh�n v�o kh�ng gian kh�c, cũng tạo sự đễ d�ng cho việc quay trở về mau ch�ng với khung cảnh quen thuộc của một ng�i nh�.� Như l� một sự bảo đảm cho c�c gi� trị �u Ch�u, n� tự biến thể th�nh một c�u lạc bộ, một nơi tr� n�u an to�n, nơi m� người Da Trắng tại Phương Đ�ng c� thể nhấm nh�p tinh t�y v� sự xa hoa của x� hội �u Ch�u giữa c�c người c�ng giống.� Tại tầng một của kh�ch sạn l� một s�ng b�i (vai ch�nh của Farr�re gọi đ� l� �cercle europ�en� (c�u lạc bộ �u ch�u), Franchini gọi l� �cercle priv� (c�u lạc bộ ri�ng) nơi m� c�c nh� quản trị h�nh ch�nh, c�c lữ kh�ch, c�c chủ đồn điền, v� c�c chủ ng�n h�ng họp mặt thường lệ, vừa v� l�ng ham chơi b�i cũng như vừa để sống lại kỷ niệm của đời sống mẫu quốc.� Khi văn sĩ, k� giả Ph�p, Lart�guy, k�u l�n �Je n�y descendais pas, j�y retrouvais un foyer: T�i kh�ng l�m thủ tục nhập ph�ng ở một kh�ch sạn, t�i t�m thấy một l� sưởi gia đ�nh th�n thuộc ở đ�� (Lart�guy, 1987, trang 60), 23 �ng đ�p ứng ước ao của lữ kh�ch để th�ng hiểu thường trực sự dời chỗ ở của m�nh bằng việc đi v� đến.� Đại kh�ch sạn, giống như c�c kh�ch sạn kh�c trong thời kỳ đ�, tự quảng c�o m�nh l� ng�i nh� khi xa qu�.� T�c giả Van den Abbeele trong l� thu�et của �ng v� du lịch ph�t bỉểu rằng kinh t� của du h�nh c�n một oikos, nơi m� sự thu thập v� m�t m�t của kinh nghiệm du h�nh c� thẻ được lượng gi�, một phương tiẹn theo đ� việc phi�u bạt c� thẻ hiểu được.�� Oikos, qua việc định nghĩa v� vạch giới hạn cho sự di chuyển của du h�nh, tạo lập � niệm về Oikos bằng việc đi v� đến (Abbeele, 1992).� Đại kh�ch sạn trong kh�a cạnh n�y tượng trưng cho oikos tại kh�ng gian nước ngo�i.

 

������ Kiến trục v� nội thất của c�c đại kh�ch sạn cũng như lối sống m� ch�ng c�ng hiến đ� thỏa m�n nhu cầu n�y qua việc cung cấp một b�u kh�ng kh� �kh�ng kh�c g� ở b�n Ph�p�.� Lời tường thuật của Franchini n�i chi tiết l�m sao để thực đơn l� một bản tuy�n ng�n của chủ nghĩa d�n tộc của sự nấu nướng, c�ng việc của một đầu bếp ch�nh chuy�n nghiệp tuyển dụng từ một t�u du lịch sang trọng.� Điều đ�ng để ghi nhận rằng nghệ thuật ẩm thực Ph�p được ch�o mời tại Continental, nhấn mạnh rằng n� đ� l�m như thế trong � thức h�nh diện d�n tộc, bao gồm kh�ng chỉ t�nh chuy�n nghiệp khi nấu nướng, m� c�n ở nhiều loại thức ăn v� sự quảng đại, như được phản ảnh nơi c�c k�ch cỡ của phần ăn phục vụ.

 

La vaste sale � manger �tait rest�e dans le style des Messageries Maritimes, comme la cuisine don�t le maitre d�oeuvre avait �t� d�bauch� d�un paquebot.

 

Les menus, par l�abondance des plats et la g�n�rosit� des portions �taient des veritable manifestes de nationalism culinaire.� �Aussi bi�n qu�en France�, telle voulait �tre la devise (Franchini, 1995, trang 101). 24

 

Ph�ng ăn rộng lớn theo kiểu của �Messageries Maritimes� giống như nh� bếp với đầu bếp ch�nh được bắt trộm từ một chiếc t�u chở du kh�ch.� C�c bữa ăn, bởi sự thừa th�i của c�c đĩa thức ăn v� sự h�o ph�ng của ph�n lượng, l� c�c bản tuy�n ng�n đ�ch thực của chủ nghĩa d�n tộc trong sự nấu nướng.� �Ngon y như ở b�n Ph�p� l� khẩu hiệu�.

 

������ Về vấn đề ăn uống tại c�c thuộc địa, t�c giả Charles Le Mire nhận x�t trong quyển Cochinchine franҫaise et royaume de Cambodge:

 

Si nous nous sommes longuement ar�tes sur ce chapitre ce n�est point par amour de l�art ou par penchant pour la cuisini�re bourgeoise mais parce que la table, qui peut n��tre ailleurs qu�une condition premi�re de l�existence physique exerce encore une grande et bienfaisante influence sur le moral � Les repas sont un motif de la reunion, une occasion de distraire par les plaisirs de la conversation, la var�et� des caract�res et des id�es et la gait� des menus propos (Le Mire, 1877, trang 347). 25 �������

������ �� ���

Nếu ch�ng ta đ� d�nh qu� nhiều th� giờ cho chương n�y, đ� kh�ng phải v� l�ng y�u mến d�nh cho nghệ thuật n�y hay sự ưa chuộng đối với đầu bếp trưởng giả, m� bởi v� thức ăn, chỉ c� thế thuộc loại hảo hạng cho sự sinh t�n của thể x�c, song c�n thực hiện một t�c dụng hữu �ch quan trọng tr�n tinh thần của ch�ng ta.� C�c bữa ăn đ� l� duy�n cớ cho c�c buổi họp mặt, một cơ hội để giải tr� xuy�n qua c�c th� vui đ�m luận, t�nh đa trạng của c�c nh�n vật v� c�c � tưởng, v� sự vui vẻ của c�u chuyện nhỏ.

 

Điều ho�n to�n r� r�ng từ văn bản của Le Mire rằng ph�ng ăn tối l� địa điểm l� tưởng cho việc tang cường c�c gi� trị quốc gia cực đoan v� qu�n phiệt (chauvinism).� C�c tiện nghi ph�ng ăn được giao cho tầm quan trọng chủ yếu tại c�c kh�ch sạn thuộc địa, v� được xem như sự hấp dẫn c� gi� trị nhất bởi lữ kh�ch s�u sắc.� Mạt kh�c c�c lữ kh�ch coi trọng sự k�n đ�o ri�ng tư của họ ho�n to�n sẵn l�ng đế đến gặp nhau trong c�c bữa ăn.� Sự phục dịch qu� ph�i, c�c đồ trang ho�ng lộng lẫy v� nghệ thuật nấu ăn cao cấp kết hợp với nhau để lấp đầy cảm gi�c lo �u của C�i T�i, trong cả nghĩa đen lẫn nghĩa b�ng.

 

������ Đối với Lart�guy, cũng như đối với nhiều lữ kh�ch kh�c, Continental lấp đầy lỗ hổng của sự mất nh� qua việc mở rộng kh�ng gian (spatialising) cho thời khoảng dời đổi chỗ ở bằng việc t�m lại được một �m�i ấm gia đ�nh với l� sưởi� [foyer, ti�ng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch], Lart�guy, 187, trang 60).� Nghệ thuật ăn ngon v� c�c sự phục vụ bữa ăn đ� đ�ng một vai tr� quan trọng trong kh�a cạnh n�y.� Tuy nhi�n, như ch�ng ta đ� nhận thấy trước đ�y, ban cấp đặc ưu quyền cho c�c oikos trong kinh tế du h�nh cũng c� nghĩa chống đỡ cho chủ nghĩa coi trọng một chủng tộc (ethnocentrism) v� chủ nghĩa đế quốc.� Điều n�y hiển hiện kh�ng đ�u r� n�t cho bằng trong tiểu thuyết của Greene, quyển The Quiet American, nơi quan điểm thuật chuyện di chuyển chung quanh điều c� thể được m� tả như một oikos huyền thoại: kh�ch sạn Continental.� Qu�n rượu v� c�u lạc bộ b�o ch� tại Continental đại biểu cho địa điểm của c�c mạng lưới năng động giữa c�c nh� tr� thức, c�c k� giả, cảnh s�t Ph�p, c�c nh�n vi�n viện trợ Hoa Kỳ v� c�c phụ nữ địa phương.� Quyển tiểu thuyết bắt đầu với nh�n vật Fowler, k� giả người Anh, tại qu�n rượu Continental ngồi chờ đợi đối t�c Hoa Kỳ, Pyle, đến nhập bọn với �ng ta.� Hồi kết th�c của quyển truyện lập lại c�ng khung cảnh trong một hồi tưởng kh�c.� Quầy rượu v� c�u lạc bộ b�o ch� trở th�nh c�c điểm tham chiếu cho sự x�y dựng v� cung cấp chứng liệu cho c�u chuyện, c�n chống đỡ một xướng xuất đế quốc kh�c gần một thế kỷ sau cuộc chinh phục đầu ti�n của �u Ch�u ở S�ig�n (Greene, 1955).

 

 

Kết Luận

������

Xuy�n qua sự t�m đọc c�c sự tr�nh b�y về kh�ch sạn Continental trong văn chương, b�i viết n�y đ� khảo s�t phương c�ch l�m sao m� Continental tại S�ig�n thuộc địa đ� cấu th�nh một địa điểm phức hợp, nơi m� c�c cuộc đ�m luận về chủ nghĩa thực d�n, t�nh hiện đại v� sự hưởng nh�n đ� giao kết nhau để tạo ra một b�u kh�ng kh� đ� t�i khẳng định t�nh hiện đại v� căn cước �u Ch�u tại một kh�ng gian xa lạ.� Như sự tham khảo đến quyển tiểu thuyết của Graham Greene cho thấy,� kh�ch sạn Continental tại S�ig�n thời hậu Thế Chiến II vẫn c�n l� một ti�u điểm cho c�c du kh�ch ngoại quốc.� N� tiếp tục để đại diện cho chủ nghĩa đế quốc T�y Phương tới mức độ m� n� c�n chống đỡ cho c�c th�i độ coi trọng một sắc d�n ngoại quốc tr�n d�n ch�ng địa phương.� Tuy nhi�n, Continental kh�ng c�n l� một mỏm đất nh� cao của thực d�n;� n� cũng kh�ng phải l� một s�n ph� diễn c�c tập tục hưởng nh�n của lữ kh�ch lịch l�m.� Quan trọng nhất, S�igon của Người Mỹ Trầm Lặng (The Quiet American) kh�ng c�n tượng trưng cho sự l�ng mạng kỳ diệu của Paris.� Mẫu quốc �u Ch�u định hướng lối sống ngoại lai của S�ig�n tại Đ�ng Dương thuộc địa đ� bị thay thế.� Chủ nghĩa thực d�n Ph�p bị đ�nh bại v� bị thay thế bởi một nh�n hiệu kh�c của chủ nghĩa đế quốc T�y Phương, l�m biến đổi th�nh phố thanh nh�, �h�n ngọc Viễn Đ�ng� [�la perle de l�Orient�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch], th�nh một �th�nh phố xe gắn m�y Honda� (Hondaville) bị khống chế bởi đồng đ� la với c�c qu�n rượu, ma t�y v� mua b�n x�c thịt c�ng khai của n�.

 

 


 

������ Kỹ nghệ du lịch hậu chiến mau ch�ng thay thế c�c đại kh�ch sạn n�y, c�c di sản kh�ng mong muốn của kỷ nguy�n thực d�n, với c�c kh�ch sạn Intercontinental (Li�n Đại Lục) c� nh�n hiệu ri�ng của n�.� Ng�y nay, trong một� kỷ nguy�n lữ h�nh đại ch�ng v� du lịch ti�u thụ, t�c giả Pico Iyer (2000) nhận x�t rằng c�c ph�ng ngủ dọc đường th�ng thường (nondescript motels) v� c�c ph�ng đợi d�nh cho kh�ch v�ng lai đ� cung cấp nơi ở cho h�ng triệu �con người to�n cầu�.� Tuy nhi�n, như được n�u ra trước đ�y ở dẫn nhập, vẻ quyến rũ của c�c sự huy ho�ng của nơi tr� n�u của một thời đ� qua chưa biến mất to�n bộ.� C�c đại kh�ch sạn giờ đ�y đang được tiếp thị như c�c kiến tr�c thực d�n ngoại lai tại c�c th�nh phố hậu thuộc địa.� C�c động t�c mới của �việc đền đ�i h�a� n�y (Peleggi, 2005) cống hiến du khach gi�u c� hay Vi�n Chức Gi�m Đốc Điều H�nh C�ng Ty (CEO) [chữ viết tắt của th�nh ngữ Chief Executive Officer), ch� của người dịch] chuy�n di chuyển bằng m�y bay một kinh nghiệm �thực d�n� với c�c gi� biểu thật xa hoa � một kinh nghiệm kh�c biệt một c�ch bao la với sự tiếp kh�ch nhẹ nh�ng của c�c hệ thống kh�ch sạn to�n cầu h�a như Sheratons, Marriotts, v� Novotels.� �Lữ kh�ch đặc biệt� của kỷ nguy�n mới, giống như đối t�c đế quốc của m�nh một trăm năm trước đ�y, kh� c� thể lẩn trốn sự quyến rũ của một �kh�ch sạn Raffles� t�i ngoại h�a (re-exoticised) tại Singapore hay một �Đại Kh�ch Sạn Grand� t�n trang tại Calcutta �chỉ khi n�o người đ� tự t�ch m�nh ra khỏi �kh�ch du lịch� thời đại mới bị khinh rẻ hơn nhiều./-

 

_____

 

CH� TH�CH:

 

1. Xem Denby, 1998 v� Walter, Fitchett, Meade v� Lart�guy, 1987.

 

2. Xem trang nh� tr�n mạng internet của kh�ch sạn Continental ở: http://www.continental-saigon.com/, tiếp cận ng�y 17 Th�ng Mười Hai, 2007.

 

3. Xem Peleggi, 2003.� Trong sự nghi�n cứu của �ng về sự phục hồi c�c kh�ch sạn thực d�n tại Đ�ng Nam � từ thập ni�n 1990, t�c giả Peleggi ghi nhận rằng hai yếu tố đang được thực hiện: yếu tố thứ nhất diễn ra trong l�nh vực vật thể nơi sự n�ng cấp kiến tr�c nhắm v�o việc đạt được một vẻ tương đồng với nguy�n bản; v� yếu tố thứ nh�, trong l�nh vực tưởng tượng, nơi m� c�c huyền thoại về lịch sử của c�c kh�ch sạn được d�ng để chứng minh cho tư thế �đền đ�i tưởng niệm� v� để phục vụ l�m c�c chiến lược tiếp thị.

 

4. Một sự ph�t triển chi tiết về t�nh lưỡng ph�n (hay nhị nguy�n: Binary) được n�u bật l�n trong quyển ph� b�nh về t�c phẩm lữ h�nh của Paul Fussell nhan đề Abroad: British literary travelling between the Wars (1980) kh�ng tạo th�nh vấn đề trong cuộc nghi�n cứu n�y.� Trong mục đ�ch của b�i viết n�y c�c từ ngữ �traveler: người lữ h�nh� [chỉ người di chuyển từ nơi n�y đến nơi kia, theo định nghĩa th�ng thường trong từ điển, ND] v� �tourist: kh�ch du lịch� [người di h�nh với mục đ�ch rong chơi, thường để ngoạn cảnh v� cư tr� tại c�c kh�ch sạn, theo nghĩa th�ng thường trong từ điển, ND] được d�ng c�ng nghĩa, c� thể thay cho nhau.� Giả định n�y theo sau sự ph�n t�ch của Buzard, người đ� nhận x�t rằng người lũ h�nh/kh�ch du lịch th� biến đổi thường trực giữa ước ao của m�nh muốn trở th�nh một quan s�t vi�n t�ch biệt v� tư, với ước muốn để tham dự v�o cảnh tượng hiến d�ng cho m�nh.� Xem Buzard, 1993.� T�i thừa nhận tầm quan trọng của giống ph�i trong c�c sự h�nh th�nh c� t�nh nhưng nhận định rằng một sự khảo s�t nghi�m chỉnh trong khung cảnh n�y nằm ngo�i phạm vi của b�i nghi�n cứu n�y.

 

5. Trong sự thiếu s�t c�c t�i liệu kh�ch sạn, phần lớn những g� ch�ng t�i hay biết được về kh�ch sạn đến từ quyển tự truyện của Philippe Franchini, Continental Saigon (1976).� Quyển s�ch thảo luận ch�nh yếu đến c�c kinh nghiệm của Philippe thời trẻ, con của người cha gốc Corsican v� người mẹ gốc Việt Nam, tại S�ig�n thời thuộc địa.� Quyển s�ch chứa đựng rất �t chi tiết cụ thể về sự điều h�nh thường nhật kh�ch sạn.� Trong thực tế quyển Continental Saigon đ�ng g�p rất nhiều về việc huyền thoại h�a một định chế thuộc địa, theo c�ng phương c�ch m� c�c văn bản của c�c thực d�n Ph�p v� kh�ch lữ h�nh đ� l�m hồi sớm hơn của thế kỷ.� Trong b�i khảo luận n�y, c�c số trang tham chiếu theo ấn bản năm 1995 của quyển s�ch.

 

6. Kỷ nguy�n thuộc địa của kh�ch sạn c� thể được ph�n chia th�nh c�c thời kỳ �anh h�ng� (heroic) v� �đế quốc� (imperial).� Trong những năm ban đầu của sự hiện hữu của n�, c�c kẻ phi�u lưu thực d�n, c�c kẻ lữ h�nh lập dị, v� c�c kh�ch du lịch qu� ph�i đ� cấu th�nh khối th�n chủ gi�u c� của Continental.� C�c cuộc thăm viếng của c�c nh�n vật huyền thoại như Marie David de Mayrena, vua xứ Sedang [do �ng ta lập ra tại cao nguy�n Trung Phần, ch� của người dịch], trong năm 1888 đ� khuếch đại b�u kh�ng kh� của sự huyền b�, kỳ th� v� phi�u lưu m� kh�ch sạn đ� ph�ng chiếu ra (Franchini 1995, trang 54).� Trong thập ni�n 1930, Mathieu Franchini đ� thay thế kỷ nguy�n chất ph�c hay �anh h�ng� được tạo lập bởi chủ nh�n kh�ch sạn Frassetto v� �La Soc��t� des Grands Hotels� (Hội C�c Đại Kh�ch Sạn) bằng một b�u kh�ng kh� đế quốc mang lại cho c�c kh�ch h�ng của �ng c�c tiện nghị hiện đại cũng như niềm kho�i lạc v� sự tinh tế của Paris (Franchini, 1995, trang 101).

 

7. Tự truyện của Franchini kh�ng cung cấp chi tiết về người mua.� Tuy nhi�n t�c giả tuy�n bố rằng �ng kh�ng chắc l� danh xưng của c�ng ty li�n can đến sự thanh l� c�c t�ch sản của kh�ch sạn l� �Dupond� hay �Durand� (Franchini, 1995, trang 284).

 

8. �As I pass, I recognize the dark shape of the cathedral, indifferent to changes in time.� Here is the Central Post Office � on the front wall of the building a giant clock continues to mark time.� Then, here is the famous rue Catinat, which had become rue de la Libert� after French colonization and is re-baptised today as rue Đồng Khởi.� In those days, it used to be bordered by chic cafes� and renowned bars amongst which was the bar at the Continental hotel.� One used to mix with the most elegant women of Saigon here� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

9. Sự thiết lập Nh� H�t Th�nh Phố (Th��tre Municipal) trong năm 1911 đ� ph�ng ra một kỷ nguy�n mới của sự giải trị tại thuộc địa v� kh�ch sạn trở th�nh nơi tr� ngụ của �les broussailleux� (c�c người Ph�p sống tại c�c tỉnh kh�c) v� c�c vi�n chức kh�c sống b�n ngo�i S�ig�n đến th�nh phố để xem c�c buổi tr�nh diễn v� tham dự v� đời sống văn h�a của �Tout S�ig�n� (To�n Thể Saig�n).

 

10. �The Continental is anchored in rue Catinat halfway from the Plateau where the Cathedral stands, the Norodom Palace and its colonial splendor � and from the port with its tall commercial building, its wharfs where rubber, precious wood and rice, the riches of the colony, are piled up� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

11. ��the green hour on the Continental terrace when short evenings used to fall on carob trees and coaches used to cross rue Catinat to the sound of their bells�.

 

12. �It was a manner of expressing the confidence one had in the colonizing mission through the hotel architecture.� Not only đi the entrance hall open out on the same level as the pavement, the ground floor also opened outwards to make it appear like a vast gallery.� In effect, the Continental closely resembled a ship, its structures, freshly unloaded from the vessels were filled with odours of decks and gangways� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

13. �Saigon, 9 o�clock in the evening � the rue Catinat � White people, full white, and appearing whiter in the electric light as they trot past swiftly in their Malay horse driven carraiages� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

14. �Rue Catinat, a fashionable bustle, appropriate and yet admirably free and impudent because the sovereign law of the region and its climate privilege foreign customs.� There are people from every country.� Europeans, mainly French, rub shoulders with the natives with the patronizing insolence of conquerors� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

15. �Rue Catinat, we laugh and we get off happily in front of the hotel� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

16. �Saigon, 9 o�clock in rue Catinat � A vague atmosphere like that of a southern spa town living its nocturnal, lustful and nervous hours.� White people, fully white, and appearing whiter in the electric light trot past swiftly in their tiny Malay horse driven carriages.� Golden threads shine on the sailors� sleeves and hats, excessive jewels and necklaces glow on the brown skins of the mixed-race women hiđen in soft muslin.� As the trot of the courageous young beasts whipped by the sais become faster, the more marked becomes the lack of restraint in postures, the tilted stupor of smokers and the deliberate state of bliss of couples envied by lonely people sitting on the terraces and taking refuge in the consolation provided by an iced cocktail� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

17. �Generally speaking, one can define travel as this modern hesitation between frenzied nomadism and hesistant disorientation, this unresolved floating that privileges elsewhere and escape only to further withdraw in a huddled manner into the tiny home of the Self� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

18. �In Saigon, one can see: 1. A Catholic church, red bricks, two bells; 2. Statue of Gambetta in an overcoat with a fur collar; 3. The theatre (here we must add that the architect had a good idea, that is to write �theater� on the front wall, without which, inspired by my love for farming, I would have climbed up in the hope of watching the latest agricultural show of the neighbourhood; 4. The Continental�s terrace; 5. The Governor General�s palace and its garden and its avenue, which is worth something; 6. Quiet rickshaws; 7. Rue Catinat� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

19. Van Den Abbeele, 1985, trang 66.� Cũng xem, MacCanell, 1976.

 

20. �If an atmosphere of a bygone lively era is still present in the image of Indochina, it is in Saigon that its colours are visible� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

21. �� what smells of roasted nut! Ah! The opium smokers, Zim! Zim! Boum! Boum! And this is the single-string violin, which sounds like a cat thatbis being skinned � And the little Cantonese girls who sing like a whistling steam engine! We can no longer hear each other.� This is a world where one has fun� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

22. �In Saig�n, there are two eccentric gentlemen.� If I did not go of my own accord to the terrace at the Continental, I would go specially at dinner time to see the two gentlemen announced� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

23. �I did not check into a hotel, I found a home there� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

24. �The huge dining room was in the style of the �Messageries Maritimes� like the kitchen whose chief cook had been poached from a passenger ship.� The meals, by the profusion of dishes and the generosity of portions, were true mani\festos of culinary.� �As good as in France�, that was the motto� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

25. �If I have spent so much time on this chapter it is not because of love for this art or fondness for the bourgeois cook, but becaused food, which can only be a primary condition for physical existence,still excercises an important beneficial influence on our morale.� Meals are an excuse for meetings, an opportunity for entertainment through the pleasures of conversation, the variety of characters and ideas, and the gaiety of small talk� (phần dịch sang tiếng Anh l� của t�c giả).

 

_____

 

T�I LIỆU THAM KHẢO� ����

 

Bleakley, Horace (1926)� A tour in southern Asia (London: John Lane).

 

Bruckner, Pascal (1979).� Au coin de la rue aventure (Paris: Seuil).

 

Buzard, James (1993)� The beaten track: European tourism, literature and the ways to culture, 1800-1918 (Oxford: Oxford University Press).

 

Coward, Noel (1937) Present indicative (London: W. Heinemann).

 

Denby, Elaine (1998)� Grand hotels: reality and illusions: An architectural and social history (London: Reaktion Books).

 

Farr�re, Claude (1919) Les civilis�s (Paris: Flammarion, 1919).

 

Franchini, Philippe (1995) Continental Saigon (Paris: Ed M�taili�) (Ấn bản đầu ti�n năm 1976).

 

Fussel, Paul (1980) Abroad: British literary traveling between the Wars (New York: Oxford University Press).

 

Greene Graham (1973).� The quiet American (London: Heinemann) (Ấn bản đầu ti�n năm 1955).

 

Hancock, Claire (1999)� Capitale du Plaisir: the remaking of imperial Paris, trong s�ch đồng bi�n tập bởi Felix Driver v� David Gilbert, Imperial cities: Landscape, display and identity, c�c trang 64-95. (Manchester: Manchester University Press).

 

Iyer, Pico (2000) The global soul: Jet lag, shopping malls and the search for home (London: Bloomsbury).

 

Le Mire, Charles (1877).� Cochinchine franҫaise et royaume de Cambodge.

 

Lefevre, Kim (1995). Le Retour � la saison des pluies (Paris: �ditions de l�aube).

 

Leuba, Jeanne (1920) L�aile de feu (Paris: Calman Levy).

 

Londres, Albert (2002) Visions Orientales (Paris: Le Serpent � plumes).

 

MacCanell, Dean (1976) The Tourist: A new theory of the leisure class (New York: Schocken Books).

 

Malraux, Andr� (1976) Antim�moires (Paris: Gallimard).

 

Massey, Doreen (1993) Power geometry and a progressive sense of place, trong s�ch đồng bi�n tập bởi John Bird, Curtis Barry v� c�c t�c giả kh�c), Mapping the futures � local cultures, global change, c�c trang 59-69 (London: Routledge).

 

Maugham, Somerset (1955) The gentleman in the parlour, trong quyển The Travel books of W. Somerset Maugham (London: William Heinemann).

 

Norindr, Panivong (1996).� Phantasmatic Indochina: French colonial ideology in architecture, film, and literature (Durham: Duke University Press).

 

Peleggi, Maurizzio (2005) Consuming colonial nostalgia: The monumentalisation of historic hotels in urban South-East Asia.� Asia Pacific Viewpoint 46(3), c�c trang 255-65.

 

Peleggi, Maurizzio (1996) National heritage and global tourism in Thailand.� Annals of Tourism Research 23, c�c trang 432-48.

 

Pratt, Mary Louise (1992) Imperial eyes (London: Routledge).

 

Rojek, Chris (1995).� Decentring leisure � rethinking leisure theory (London: Sage Publications).

 

Sitwell, Osbert (1949).� Escape with me (London: Macmillan).

 

Star,� Jean (1902) Tonkinades (Paris: Calmann-L�vy).

 

Van den Abbeele, Georges (1992) Travel as metaphor: from Montaigne to Rousseau (Minneapolis: University of Minnesota Press).

 

Van den Abbeele, Georges (1985) Montesquieu tourist, or a view from the top.� L�esprit Cr�ateur XXV(3).

 

Walter, Marc, Joseph Fitchett, Martin Meade et Jean Lart�guy (1987)� Palaces et Grands H�tels d�Orient (Paris: Flammarion).

 

Wright, Gwendolyn (1991).� The politics of design in French colonial urbanism (Chicago: University of Chicago Press)./-

 

 

-----

Nguồn: Srilata Ravi, Modernity, Imperialism and the Pleasures of Travel: The Continental Hotel in Saigon, Asian Studies Review, December 2008, Vol. 32, c�c trang 475-490.

 

 

 

 Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

15.08.2011    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2011

R