F. P. SERONG

 

VIỆT NAM,

SAU KHI NGƯNG BẮN

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

Lời người dịch:

 

� Hoa Thịnh Đốn c� nghe được giọng n�i của Tổng Thống Thiệu, được cất l�n hồi gần đ�y với �m điệu buồn b� hơn l� tức giận, khi n�i với binh sĩ của �ng h�y ngừng chiến đấu kiểu Mỹ, bởi v� �mồi vi�n đạn trọng ph�o giờ đ�y tốn gấp ba lần so với năm ngo�i�.� �ng y�u cầu Hoa Kỳ đưa ra một c�u trả lời thẳng thắn. �C�u trả lời C� hay l� Kh�ng?� Liệu nước Mỹ c� trao cho ch�ng t�i những g� ch�ng t�i cần thiết hay kh�ng?� Liệu nước Mỹ c� c�n g�nh v�c tr�ch nhiệm của m�nh như một nước đồng minh hay kh�ng?� Liệu nước Mỹ c� c�n tiếp tục l�nh đạo Thế Giới Tự Do nữa hay kh�ng?�

 

���� C�u trả lời l� C� hay l� Kh�ng?

 

Tr�n đ�y l� kết luận của b�i viết được dịch dưới đ�y, đăng tải tr�n Tạp Ch� Asian Affairs, An American Review, ấn h�nh bởi Hội American-Asian Educational Exchange, New York, số Th�ng Ch�n-Th�ng Mười năm 1974, 6 th�ng trước khi c� sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.� T�c giả b�i viết, Chuẩn Tướng F. P. Serong, nguy�n Tư Lệnh To�n Cố Vấn Qu�n Sự �c Đại Lợi tại Việt Nam từ năm 1962-1965, l� Tham Vấn An Ninh Quốc Gia cho Việt Nam Cộng H�a, v� cư tr� tại S�ig�n trong thời điểm soạn thảo b�i viết n�y.

 

���� C�u trả lời của Hoa Kỳ kh�ng được thốt ra d� chỉ một tiếng, nhưng đ� được cảm nhận một c�ch m�nh liệt bởi to�n thể người d�n Việt Nam trong một cơn địa chấn lịch sử dữ dội vang động đến to�n thể thế giới.(NB)

 

 

 

 

 

���� B�i viết n�y đặt ti�u điểm v�o t�nh h�nh Nam Việt Nam t�nh đến đầu th�ng Mười năm 1974. 1 N� chấp nhận � nghĩa của c�c t�nh thế đồng quy tại L�o v� Căm Bốt -- như một th� dụ ti�n b�o tại nước kể trước [L�o] v� như một sự bối rối chiến lược tại nước kể sau [Căm Bốt] � m� kh�ng c� sự b�nh luận n�o.� N� hầu như kh�ng đề cập đến cơ chế tham vấn được thiết lập bởi H�a Ước, bị ph� sản về mặt t�i ch�nh v� điều h�nh.

 

���� Cuộc Ngưng Bắn Th�ng Gi�ng năm 1973 xảy ra với sự tiến triển về sức mạnh của S�ig�n v� c�c lực lượng viễn chinh của H� Nội bị suy yếu.� Ngo�i sự thất trận của họ tr�n chiến trường l� ảnh hưởng nội bộ của việc dội bom khu vực H� Nội � Hải Ph�ng.� C�c điều khoản của cuộc Ngưng Bắn cung cấp nơi ẩn n�p đ�ng sau đ�, H� Nội đ� t�i x�y dựng lực lượng của n�, tại nội địa v� ngoại địa.� Qu�n số kh�ng được nh�n nhận của họ tại Nam Việt Nam, được ước lượng thay đổi từ 150,000 đến 300,000 qu�n, giờ đ�y được gia tăng; v� họ c� thể, lần đầu ti�n, thực hiện chương tr�nh thay qu�n.� Con số ước lượng của t�i về qu�n số chiến đấu của họ tại miền Nam l� khoảng 250,000 người, với số 50,000 phụ lực qu�n Việt Cộng.� Họ c� kh� cụ giao chiến hiện đại, bao gồm từ c�c vũ kh� c� nh�n, đại b�c ph�ng kh�ng v� trực chiến, đến c�c xe thiết gi�p � với con số hiện tại l� 700 chiếc xe tăng.

 

���� Thật l� điều kh�c thường khi nh�n thấy một du k�ch qu�n với đại b�c, mặc d� một số quan s�t vi�n c� thể kh�ng nh�n thấy g� nhiều hơn mục đ�ch ph�ng thủ / ch�nh trị khi�m tốn trong sự bố tr� của n�.� Nhưng c�n c�c xe thiết gi�p nữa � xe thiết gi�p c� ngh�a l� tấn c�ng; v� một số lượng lớn xe thiết gi�p c� nghĩa một cuộc tấn c�ng chiến lược.� Gần như bất kỳ một vũ kh� n�o kh�c trong bảng k� khai của Cộng Sản c� thể được xem như một phần tử ph�ng thủ; nhưng kh�ng thể l� c�c chiếc thiết gi�p.� Ch�ng l� một dấu hiệu chỉ dẫn r� r�ng v� t�ch cực cho một � định tấn c�ng chiến lược.� C�c xe thiết gi�p thật đắt gi� về mặt tiền của v� nỗ lực chỉ kh�ng hơn một sự chuyển hướng hoạt động.� Giới chỉ huy Qu�n Đội Nh�n D�n Bắc Việt (PAVN: QĐNDBV), hệ thống c�n bộ bị tổn thất qu� nặng nề trong Chiến Dịch M�a Phục Sinh năm 1972, đ� được t�i x�y dựng, v� biến đổi với một kế hoạch được suy t�nh một c�ch kỹ lưỡng cho c�c hoạt động chiến thuật kh�ng quan trọng nhằm d�nh đất v� cung cấp kinh nghiệm chiến đấu.� Họ chưa c� phẩm chất gi� dặn, nhưng đủ tốt để sử dụng.

 

���� Về ph�a kia, tinh thần v� c�c phẩm chất l�nh đạo của Qu�n Lực Việt Nam Cộng H�a (RVNAF: QLVNCH) �đang bị xoi m�n. �Giới chỉ huy ở cấp chiến trường lấy l�m hoảng sợ về sự v� khả năng của m�nh khi trả lời c�c c�u hỏi x�c đ�ng của binh sĩ � Tại sao ch�ng ta vẫn đang chiến đấu, gần hai năm sau cuộc Ngưng Bắn? Tại sao vẫn c�n trưng binh để giữ ch�ng t�i thi h�nh qu�n dịch? Tại sao ch�ng t�i kh�ng thể quay về nh�? C� c�c c�u trả lời thẳng thắn cho c�c c�u hỏi n�y, nhưng ch�ng đ� kh�ng được đưa ra trong một chương tr�nh với chủ định nhắm v�o việc n�ng cao v� chống đỡ sự động vi�n binh sĩ.

 

���� Trong khi đ�, QLVNCH bị kiềm giữ rất hạn chế bởi ch�nh s�ch tiếp vận của Hoa Kỳ -- chỉ cung cấp sự thay thế một đổi một qu�n cụ đ� hao m�n, được �p dụng một c�ch hồi tố.� Hoa Kỳ kh�ng đặt c�c kho dự trữ trong nước từ đ� c�c đồ tiếp liệu khẩn cấp c� thể được ph�n phối; v� nấc kế tiếp sau c�c kho dự trữ của ri�ng QLVNCH l� tuyến li�n kết mong manh xuy�n đại dưong với bờ biển ph�a t�y Hoa Kỳ.� Sự hạn chế hơn nữa về kinh ph� qu�n cụ đến từ ch�nh Ch�nh Phủ VNCH (GVN), với sự lo sợ gia tăng về c�c sự cắt giảm lớn hơn nữa của Quốc Hội Hoa Kỳ, c� thể được �p dụng một c�ch chuy�n đo�n v� đột ngột.

 

���� Hậu quả của t�nh h�nh tiếp liệu n�y l� một ch�nh s�ch cưỡng h�nh từ phản ứng ở quy m� nhỏ.� Bộ Tổng Tham Mưu VNCH (JGS: Joint General Staff) tin tưởng � v� kh�ng c� ai t�m c�ch thay đổi sự tin tưởng của họ -- rằng bất kỳ đề xuất chiến thuật quan trọng n�o, v� gần như chắc chắn bất kỳ đề xuất chiến lược n�o về ph�a họ, sẽ kh�ng chỉ bị b�c bỏ sự tăng bổ sơ khởi cần thiết c�c số dự trữ, m� c�n tạo ra mối nguy bị cắt bỏ ho�n to�n số tiếp liệu tương lai.� Cuộc thăm viếng gần đ�y của Thứ Trưởng Quốc Ph�ng Clements kh�ng l�m thay đổi g� cả.� Cắt gọt những sự hời hợt b�n ngo�i, lời nhắn nhủ của �ng l� một sự ph�t biểu lịch sự về một hy vọng mang t�nh chất lễ độ rằng vị t�n Tổng Thống [Gerald Ford] sẽ c� thể xoa dịu Quốc Hội.� N� r� r�ng đ� được đưa ra l�m lợi cho khối NATO v� một số khu vực trong c�ng luận Hoa Kỳ hơn l� với bất kỳ mục đ�ch n�o nhằm tu chỉnh vị thế chiến đấu của Ch�nh Phủ VNCH.

 

���� C�u trả lời của Bộ Tổng Tham Mưu trước t�nh cảnh chết đ�i n�y chỉ c� thẻ l� c�u n�i độc nhất � h�y khắc khổ.� Chủ thuyết giờ đ�y đ�i hỏi nhiều sự tiếp x�c chiến đấu c� t�nh c�ch c� nh�n hơn, v� �t sự hỗ trợ về kh�ng qu�n v� ph�o binh hơn, d� l� cho việc ph�ng thủ hay tấn c�ng.� Đ� l� về mặt l� thuyết.� Tuy thế, thực tế giải th�ch học thuyết l� để tiết kiệm phi ph�o cho sự ph�ng thủ c�c điểm then chốt; v� định nghĩa một �địa điểm then chốt� c� t�nh c�ch c� nh�n cao độ.

 

���� Một ch�nh s�ch như thế tất nhi�n bị tấn c�ng bởi một đối thủ nắm giữ thế chủ động; v� đ� được chứng minh như thế nơi đ�y.� Ch�ng ta c� một đối phương trước đ�y bị kiệt sức, giờ đ�y c� c�c tuyến giao th�ng được củng cố vững chắc đến tận c�c điểm xa x�i nhất trong sự bố tr� của họ; với c�c đường lộ, phi trường, v� trọng ph�o; v� với một sự hỗ trợ tiếp vận th�ch ứng.� Họ đang bao v�y S�ig�n ở ba mặt với c�c v�ng v�y c�ch 55, 30 v� 35 c�y số -- mặt thứ tư l� một c�nh đầm lầy; v� đối phương lần lượt thay đổi c�c thời kỳ �p lực tr�n c�c đường giao th�ng ch�nh của thủ đ� [S�ig�n] ngang bằng với c�c thời khoảng thư gi�n.� Thời điểm giữa th�ng Mười 1974 l� một khoảnh khắc tương đối thư gi�n tại ph�a nam của xứ sở.� Chiến sự ở ph�a bắc th� nặng nề hơn nhiều, với mọi th�nh phố quan trọng � Huế, Đ� Nẵng, Qui Nhơn, Pleiku, v� Kontum � bị cắt đứt bằng đường lộ.� Kontum gần đ�y mất đi quận lỵ cuối c�ng của n�; v� giờ đ�y th�nh phố đ�, cũng l� tỉnh lỵ, l� vị tr� độc nhất c�n s�t lại c� cơ quan ch�nh quyền tr� đ�ng trong quản hạt của n�.

 

���� Sự lu�n chuyển r� r�ng của điểm �p lực c� vẻ ph�t sinh từ sự v� khả năng li�n tục của QĐNDBV để hỗ trợ c�c chiến dịch quan trọng tại hai khu vực c�ng một l�c.� Nhờ sự kiện n�y, ch�ng ta c� thể cảm tạ phần n�o.� Đối phương hiện đang thực hiện một nhu cầu tiếp vận qua việc tấn c�ng ph�a bắc, nơi m� thời tiết theo m�a th�ch hợp cho c�c hoạt động đ�, v� giảm bớt tại miền nam, nơi m� c�c trận mưa to th�ng Mười l� một sự hạn chế tạm thời cho sự di động chiến thuật của họ.� Kh�ng l�u, thời tiết sẽ thay đổi, v� điểm tăng �p cảa đối phương sẽ đổi chỗ cho nhau. �Trong khi đ�, đối phương theo d�i khi sự x�o trộn ch�nh trị tại S�ig�n �p đặt c�c sự hạn chế tr�n việc bố tr� binh sĩ; v� sự hiện diện của đối phương ở ph�a bắc bắt buộc Bộ Tổng Tham Mưu phải giữ hai sư đo�n Tổng Trừ Bị tại Qu�n Khu I � một sự bố tr� kh�ng đạt được hiệu quả tối đa.

 

���� Một loạt nhiều sự lựa chọn khả thi giờ đ�y được mở rộng cho QĐNDBV: 1. chờ đợi cho đến khi Hoa Kỳ c�ng khai bỏ rơi S�ig�n; 2. chờ đợi cho đến khi kinh t� S�ig�n sụp đổ; 3. chờ đợi một cuộc đảo ch�nh; 4. tiến h�nh một cuộc chiến tranh ti�u hao rộng lớn nhằm th�c đẩy c�c giải ph�p số 2 v� số 3; 5. ph�ng ra một cuộc Tổng C�ng K�ch kiểu năm 1972; 6. ph�ng ra một cuộc Tổng C�ng K�ch kiểu năm 1968; 7. một v�i sự kết hợp giữa c�c giải ph�p thứ năm v� thứ s�u.� Nghịch l� ph�t sinh trong đ� S�ig�n thấy m�nh chỉ c� thể bị ph� vỡ bởi đề xuất chiến lược; v� đối với việc đ�, Hoa Thịnh Đốn sẽ kh�ng hậu thuẫn.

 

���� Trong b�u kh�ng khi bất trắc về chiến lược v� tiếp vận n�y, kh� c� sự ngạc nhi�n rằng kh�ng c� sự khởi động.� Song dự đo�n sự ph�t động c� nghĩa mời đ�n sự thất trận trong tiểu tiết.� V�o nhật kỳ n�y, sự thất trận tận tường th� gần cận một c�ch nguy hiểm.� Ch�nh s�ch cu/a Ch�nh Quyền Hoa Kỳ -- đến mức độ c� thể thể hiện ra trong khi đối diện với sự chống đối gia tăng của Quốc Hội � giờ đ�y c�n bị rối lọan hơn nữa bởi việc b�o c�o kh�ng đầy đủ.� C�c đại diện qu�n sự của n� (nh�n vi�n Văn Ph�ng T�y Vi�n Qu�n Sự) l� c�c chuy�n vi�n về tiếp vận.� Họ c� thể giỏi giang trong ng�nh chuy�n m�n của họ, mặc d� c� bằng cớ ngược lại.� Nhưng họ tự phơi b�y kh�ng đủ khả năng một c�ch đ�ng tội nghiệp trong việc khuyến c�o Đại Sứ của họ, v� c�n k�m khả năng hơn nữa để dự ph�ng c�c viễn ảnh trong tương lai � vốn l� , dĩ nhi�n, mục đ�ch phục vụ m� cơ quan của họ đ� được đặt ra.

 

���� Việc n�y mang đến một trong c�c sự kiện kh� hiểu về tiếp vận quan trọng cho Nam Việt Nam � sự thiếu s�t về ph�a Hoa Kỳ trong việc cung cấp một nh� m�y sản xuất đạn dược ngay d� ở cỡ nhỏ.� Hầu như mọi quốc gia l�n bang đều c� một nh� m�y; một xưởng sản xuất đạn dược đ� từng hiện diện tại S�ig�n dưới thời Ph�p thuộc; v� ngay cả qu�n nổi dậy trong rừng cũng c� biểu lộ một khả năng khả thi trong l�nh vực n�y.� V� thế, sự miễn cưỡng của Hoa Kỳ trong về đề xướng việc sản xuất vũ kh� tại Nam Việt Nam xem ra kh�ng thể giải th�ch được.� C� phải hoạt động tiếp vận của Hoa Kỳ được tr� liệu để phục vụ một c�ch linh động một t�nh trạng chiến đấu kh�ng quyết t�m ph�t sinh từ một cuộc ngưng bắn kh�ng được thi h�nh hay chăng?� Hay n� chỉ thực hiện một sự triệt giảm theo thời biểu xuống th�nh số kh�ng?� Đ� l� c�u hỏi m� Ch�nh Phủ VNCH (GVN: Government of Vietnam) kh�ng ngừng thắc mắc.� Trừ khi Hoa kỳ c� thể được thuyết phục h�y nới lỏng ch�nh s�ch tiếp vận của n� để cho ph�p QLVNCH c� thể ở một mức độ n�o đ� ph�ng ra sự ph�t động chiến lược, sự dự đ�an qu�n sự c� t�nh c�ch ti�u cực.� Hơn thế, bất kỳ nỗ lực chống đỡ n�o của QĐNDBV sẽ l�m kiệt quệ c�c số tiếp liệu đạn dược trong nước của Ch�nh Phủ VNCH.� Đến l�c đ�, sự kh�ng cự qu�n sự sẽ kh�ng c�n.

 

���� Trong thực chất, ch�nh s�ch tiếp vận của Hoa Kỳ đ� được họach định để đục bỏ c�c khu vực l�ng ph�, v� đ�y l� một � niệm hợp l�.� Nhưng từ sự thiếu kinh nghiệm hoạt động v� v� năng lực về mặt điều h�nh, Văn Ph�ng T�y Vi�n Qu�n Sự Hoa Kỳ tại S�ig�n cũng đ� cắt x�n cả những khu vực cơ động.� Về kh�a cạnh đ�, điều đ�ng ghi nhận l� c�c con số được d�ng như c� t�nh c�ch m� tả về �sự hoang ph� trong QLVNCH (ph� tổn t�nh theo đồng mỹ kim tr�n mỗi địch qu�n bị hạ s�t, v� kinh ph� nhi�n liệu xe cộ tr�n mỗi đầu l�nh trong qu�n s�, th� ho�n t�an tốt hơn cho QLVNCH khi đem so s�nh với c�c con số của c�c lực lượng Hoa Kỳ.� Loại bỏ chi tiết, một điểm c� lẽ nổi bật l�n bởi việc so s�nh c�c con số tổng qu�t � 28 tỷ Mỹ Kim cho kinh ph� qu�n sự tại Việt Nam trong năm 1968, v� c� lẽ khoảng 1 tỷ giờ đ�y, cho c�ng kết quả chiến đấu, về mặt thực chất.� H�a B�nh trong Danh Dự đ� sản xuất ra một loại Chiến Tranh Rẻ Tiền.

 

 

II

 

Điều duy nhất giữ S�ig�n tồn tại l� v� H� Nội cũng gặp kh� khăn.� C�c vấn đề kh�ng đến nỗi kh� khăn như S�ig�n, nhưng ch�ng cũng kh� tệ.

 

���� Trước ti�n, nhưng kh�ng nhất thiết c� tầm quan trọng h�ng đầu, l� sự tổn hại khổng lồ cho kỹ nghệ v� truyền th�ng g�y ra bởi Hải v� Kh�ng Qu�n Hoa Kỳ trong những ng�y cuối năm 1972.� Sự tổn hại n�y chưa được sửa chữa.� Lao động qu�n sự Trung Hoa đ� được nhập cảnh để trợ gi�p, v� điều đ� hẳn l� vi�n thuốc đắng phải nuốt.� Tuy nhi�n, chừng n�o m� nguồn tiếp liệu từ b�n ngo�i vẫn c�n được bảo đảm, t�nh trạng căn bản kỹ nghệ kh�ng l� vấn đề to lớn � đ�ng hơn l� qu�n số trừ bị, bởi nh�n lực sản xuất giờ đ�y được cung ứng cho sự chiến đấu.

 

���� Quan trọng hơn, c� thể chỉ c� t�nh c�ch tạm thời, l� vụ thu hoạch tồi tệ trong năm nay.� Bắc Việt l� khu vực thiếu gạo tự xa xưa.� Trong qu� khứ, n� dựa v�o l�a gạo từ đồng bằng s�ng Cửu Long.� Số thu hoạch năm nay, tiếp theo một loạt c�c vụ m�a kh�ng mấy thỏa đ�ng, đặc biệt s�t k�m.� Vấn đề trở n�n trầm trọng hơn bởi c�c sự ti�n đo�n số thu họach lạc quan một c�ch hoang đường; v� thực tế l�m rung động ch�nh quyền.� Nhưng cuộc khủng hoảng kh�ng đủ lớn để g�y phương hại đến chế độ.

 

���� H� Nội kh�ng gặp kh� khăn bởi t�nh h�nh thiếu hụt l�a gạo.� Trong thực tế, n� kh� gặp kh� khăn bởi t�nh cảnh h�ng triệu thanh ni�n mất mạng trong khi chiến đấu.� Sự kiềm chế của Đảng th� chặt chẽ.� Nhưng H� Nội bị kh� khăn bởi sự tranh chấp tương t�n trong Bộ Ch�nh Trị.� C�c tập đo�n L� Duẫn v� Trường Chinh vẫn c�n k�nh chống nhau.� Ch�nh yếu tố n�y đang gi�p cho S�ig�n c� kh�ng gian h� hấp sống c�n hiện tại của n�.� Mỗi tập đo�n n�y đều c� g�nh nặng sai lầm trong qu� khứ của n� tr�n vai.� L� Duẩn đỡ đầu cho kỹ thuật tấn c�ng ồ ạt trong sự hỗ trợ cho Cuộc Nổi Dậy được ước t�nh một c�ch tự t�n (nhưng đ� kh�ng xảy ra).� �ng ta đ� thất trận một c�ch th� thảm, v� đ� hy sinh hầu hết to�n thể bộ phận chiến đấu của Mặt Trận Giải Ph�ng Miền Nam (NLF: MTGPMN) trong cuộc Tổng C�ng K�ch Tết Mậu Th�n 1968 của �ng ta.� Sự tổn thất của c�c binh sĩ thuộc MTGPMN kh�ng g�y ra sự bất đồng � đ� l� một phần của kế hoạch, c�ch n�o đi nữa; nhưng sự thất bại trong việc ph�t động cuộc Tổng Nổi Dậy l�m �ng ta bị tổn thương.� �ng vẫn chỉ được an to�n bởi v� đối thủ của �ng, Trường Chinh, bị li�n kết với sự trấn �p khốc liệt trong chiến dịch t�i ph�n chia ruộng đất của �ng ta hồi năm 1956, đưa đến sự phản kh�ng trong số thuộc vi�n của ch�nh �ng.

 

���� Giờ đ�y đồng minh của L� Duẩn, Bộ Trưởng Quốc Ph�ng V� Nguy�n Gi�p, đ� bị loại bỏ khỏi khung cảnh ch�nh trị bởi bịnh ung thư [sic].� Bộ Trưởng mới, phụ t� của �ng Gi�p, Văn Tiến Dũng, chưa b�y tỏ lập trường của �ng ta.� �ng ta v� c�c đồng sự trong Bộ Ch�nh Trị gặp phải c�c vấn đề kh�ng kh�c c�c vấn đề của miền Nam.� Đ�u sẽ l� cơ cấu qu�n đội trong tương lai? Du k�ch hay quy ước? Theo tỷ lệ bao nhi�u? V� khi n�o? �Tỷ số t�i nguy�n quốc gia phải d�nh cho sự duy tr� hoạt động tại miền Nam l� bao nhi�u? Kh�ng c� sự thay đổi n�o trong ch�nh s�ch c�ng bố của giới l�nh đạo H� Nội về việc d�nh đạt quyền b� chủ tr�n to�n thể c�i Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� Trong mọi x�c xuất, v� thế, �ng Dũng sẽ tin chắc được bảo đảm sự ph�n chia mọi t�i nguy�n c� thể được sử dụng một c�ch c� hiệu quả tại miền Nam, v� lực lượng của �ng ta sẽ vẫn c� t�nh c�ch quy ước.

 

���� C� vẻ kh�ng c� kh� khăn trầm trọng về tiếp vận.� C�c hoạt động quan trọng đang diễn ra tại ba trong bốn v�ng chiến thuật, v� kh�ng hoạt động n�o xem ra bị thiếu đạn dược.� Thực phẩm v� thuốc men vẫn được cung cấp, như bao giờ, xuy�n qua chợ đen của người Nam Việt Nam.� C�c sản phẩm dầu hỏa được chuyền xuống, xuy�n phần lớn miền Nam bằng ống dẫn dầu � một th�nh quả tiếp liệu đ�ng nể; v� s�u hơn ph�a nam, do chợ đen cung cấp.� Mặt kh�c, c�c xe cộ tại c�c khu vực tiền tuyến giờ đ�y đ� hao m�n v� tả tơi, chỉ c�n chạy được nhờ ph�p lạ của sự bảo dưỡng.� Một mưu t�nh tiếp vận trước đ�y nhằm chiếm giữ Kongpong Som l�m hải cảng v�ng Đồng Bằng r� r�ng bị gạt bỏ, hoặc từ sự lo sợ Hải Qu�n VNCH hay qu�n Khmer Đỏ, đồng minh của H� Nội, hay ca/ hai; hay c� thể lo sợ về c�c � định của Cộng Sản Trung Hoa, như ch�ng ta sẽ thảo luận b�n dưới.

 

���� T�m lại, �ng Dũng v� c�c đồng sự của �ng ta giờ đ�y ở v�o vị thế tương tự kh� gần gũi với sự bố qu�n của họ hồi năm 1968.� Sự bố tr� của QLVNCH cũng gần giống như sự d�n qu�n hồi năm 1968, ngoại trừ số qu�n Nhẩy D� v� Thủy Qu�n Lục Chiến tại Qu�n Khu I.� Sự kh�c biệt ch�nh yếu l� ng�y nay kh�ng c� c�c lực lượng của Hoa Kỳ, v� đặc biệt, kh�ng c� lực lượng Kh�ng Kỵ Hoa Kỳ (U.S. Air Cavalry).� QĐNDBV trong mọi phương diện v� ở mọi nơi giờ đ�y đang sẵn s�ng tiến bước.� Tất cả mọi điều kiềm giữ n� lại ch�nh l� sự kh�ng thống nhất nội bộ tại Bộ Ch�nh Trị, mệnh lệnh thốt ra l�, �Chờ đ�.

 

���� Kế hoạch tấn c�ng năm 1972 rơi v�o bẫy của QLVNCH.� �N� l� một sự thất bại, v� v� thế nhiều phần n� sẽ kh�ng được lập lại.� Điều nhiều phần sẽ xảy ra l� một sự dung h�a, g�p nhặt những đường n�t hay ho nhất của của hai chiến dịch năm 1968 v� 1972, v� khung cảnh được thiết kế cho việc đ� nằm ở thời điểm hiện tại.� � đồ sẽ c� thể kết hợp c�c hoạt động chiến thuật cỡ nhỏ với hoạt động ch�nh trị bao qu�t của năm 1968, với hai hay ba cuộc tấn c�ng mạnh cấp địa phương � Quảng Trị/Huế, Kontum/Pleiku, v� Bi�n H�a.

 

���� Nhưng khi n�o? Đợi đến khi c� một cuộc chiến tranh kh�c tại Trung Đ�ng chăng?� C� thể.� Đợi chờ một cuộc nổi dậy ở địa phương bởi binh sĩ S�ig�n bị đ�i kh�t chăng? H� hơi v� tiếp sức v�o đ� chăng?� Một cuộc đảo ch�nh bởi c�c sĩ quan chiến trường mỏi mệt v� bị lợi dụng bởi c�c thượng cấp tham những chăng? Bất kỳ biến cố n�o trong c�c chuyện n�y đều c� thể đ�ng được chờ đợi, trong khi vẫn duy tr� �p lực chiến thuật để ph�n t�n kinh tế S�ig�n.� Khi đ�, tại sao lại kh�ng chờ đợi?� Bởi v� chờ đợi l� rơi v�o bẫy của phe Trường Chinh v� chống lại phe L� Duẩn?� L� Duẩn v� �ng Gi�p đ� sẵn hy sinh h�ng tri�u mạng sống cho một quan điểm chiến lược, v� vị thế của họ trong lịch sử dựa v�o l� thuyết n�y để biện minh cho tổn thất đ�.� C� lẽ, quan trọng hơn v� li�n hệ trực tiếp hơn, L� Duẩn, �t nhất, tự xem m�nh th�ch hợp v� đủ khỏe mạnh hơn để cai trị -- khi so s�nh với Trường Chinh, đối thủ thường hay bị đau ốm hơn của �ng ta.� � nghĩ th�ng thường sẽ n�i l� n�n chờ đợi.� Nhưng ch�nh trị tại H� Nội kh�ng phải l�c n�o cũng diễn ra như thế.� C� những �p lực đối với c�c quan s�t vi�n b�n ngo�i xem ra nhỏ nhặt, nhưng đối với c�c người can dự lại c� t�nh c�ch sinh tử.

 

���� Cho đến giờ, ch�ng ta đ� cứu x�t H� Nội với hướng nh�n xuống miền nam v� v�o b�n trong.� Cũng c� c�i nh�n với g�c cạnh hướng l�n tr�n � đến c�c sieu cường bảo trợ.� Hoa Kỳ, như một nước đỡ đầu cho sự Ngưng Bắn, c� thể kh�ng cần để � đến.� Hoa Kỳ c� hứa hẹn viện trợ t�i thiết, nhưng c�c điều kiện chuyển giao, đến nay, kh�ng thể chấp nhận được.� Phần lớn cũng giống như điều kiện �p dụng cho viện trợ một nước thứ ba n�o kh�c.� Nhưng điều đ� c� thể được biến th�nh lợi điểm bởi việc d�ng n� như một đ�n bẩy để ngăn chặn c�c sự chuyển giao tương ứng cho S�ig�n.� Nga v� Trung Hoa c� thể được giả định như c� cung cấp một luồng li�n tục sự trợ gi�p th�ch đ�ng (mặc d� kh�ng thừa thải).� Kh�ng nước n�o l� kẻ tặng dữ nhiệt th�nh, nhưng họ bị bắt buộc theo bước bởi một sự cạnh tranh đặt căn bản tr�n sự đối lập của ch�ng [sic].� H� Nội chơi tr� n�y đến mức m� n� d�m l�m.� H� Nội c� thể nh�n thấy Tr�n Chiến Tận Thế Chung Cuộc (Armageddon) giữa Nga v� Trung Hoa, v� ngờ rằng Nga s� chiến thắng.� Nhưng Trung Hoa giờ đ�y đang ở trước cửa nh�.� Cho đến nay điều c� thể được lượng định (v� vẫn chưa c� tiếng n�i thẩm quyền n�o về vấn đề n�y xuất hiện), chiến lược của H� Nội l� giữ Bắc Kinh ỏ khoảng c�ch xa trong khi chờ đợi sự ph�t triển c�nh cung ph�a nam của v�ng đai bao v�y của Mạc Tư khoa quanh Trung Hoa.� Khi v�ng đai bao v�y vươn tới v� bao gồm Th�i Lan, H� Nội hy vọng đủ mạnh để ch�o đ�n n� như một chiến hữu chế ngự b�n đảo Đ�ng Dương, một lực lượng c� thể nương tựa, hơn l� một tỉnh ph�a nam trong thực tế (de facto) của Trung Hoa nằm tr�ng chờ sự giải ph�ng.

 

���� Trung Hoa nh�n thấy điều n�y, v� đ�nh trận với lối chơi ri�ng của n�, cố gắng giữ bốn th�nh phần Cộng Sản của Đ�ng Dương c�ch biệt với nhau.� Bắc Kinh lập lại tr� chơi n�y nhiều lần.� Gần đ�y nhất, Trung Hoa đ� đề nghị sự hỗ trợ tiếp vận bằng đường biển trực tiếp cho hoạt động tại Nam Việt Nam, v� H� Nội đ� tứ khước đề nghị n�y, y�u cầu mọi sự tiếp tế phải đi xuy�n qua kho cảng Hải Ph�ng.� Mỗi nước Cộng Sản anh em đều c� một � tưởng b�n nhạy về những g� nước kia đang l�m.� Trong khi đ�, Nga đ� x�y dựng một khả năng ph�ng kh�ng đ�ng nể tại v�ng Đồng Bằng S�ng Hồng.� N� đ� được sử dụng để chống lại Hoa Kỳ.� N� đ�ng ra cũng rất c� thể d�ng để chống lại Trung Hoa, y như thế.

 

���� T�m lại, vị thế của H� Nội th� kh� khăn, nhưng �t kh� khăn hơn S�ig�n.� H� Nội c� vẻ sẽ khai triển c�c hoạt động của n� tr�n tiền đề đ�.� Đặc biệt, n� r� r�ng giả định về một sự hao m�n li�n tục trong nền kinh tế của S�ig�n.� Giả thiết đ� c� thể l� một sự sai lầm chết người tr�n mặt l� luận -- kh�ng phải v� bất kỳ c� đ�nh kinh tế t�i t�nh n�o từ b�n trong Ch�nh Phủ VNCH, m� bởi v� tiềm năng dầu hỏa ngo�i khơi.� Về điều đ�, nhiều chuyện kh�c diễn ra sau n�y.� Tuy thế, dầu hỏa l� một yếu tố kh�c c� thể th�c đẩy cuộc tấn c�ng của H� Nội theo � niệm của L� Duẩn, hơn l� theo l� thuyết �chờ đợi�.

 

 

III

 

���� Tại miền Nam, c�c doanh nh�n ngoại quốc đến nơi, xem x�t, ra đi, v� đầu tư nơi kh�c.� Ch�nh Phủ VNCH tiếp tục tự n�i với m�nh v� bất kỳ ai tr�n thế giới quan t�m nghe tới rằng họ c� luật đầu tư tốt nhất tại Đ�ng Nam �.� Điều n�y l� sự thực.� Đạo luật được soạn thảo bằng c�ch g�p nhặt cẩn thận từ c�c đạo luật tương tự của c�c nước l�ng giềng c�c phần hay ho, v� đề nghị điều g� đ� c�n thuận lợi hơn.� Nhưng chỉ thuận lợi hơn ch�t �t.� Yếu tố m� c�c nh� sọan luật bỏ qua l� t�nh trạng an ninh.� Điều m� Việt Nam cần c� để thu h�t đầu tư kh�ng phải l� một v�i kh�a cạnh chỉ thuận lợi hơn ch�t �t, m� l� c�i g� đ� tốt hơn rất nhiều.� Việt Nam l� một cuộc kinh doanh vốn liếng nguy hiểm, v� vốn đầu tư bất trắc kh�ng được điều h�nh bởi s�ch vở; hay c� c�ng loại người giống nhau can dự.� Việt Nam đ� phạm phải lỗi lầm căn bản trong việc đưa ra một luật hấp dẫn đầu tư ước lệ trong một b�u kh�ng kh� bất trắc của vốn liếng.� Đạo luật sẽ kh�ng c� hiệu quả.

 

���� Ch�ng ta cần phải bố t�c v�o t�nh h�nh n�y một sự ng�y thơ của giới thư lại v� sự ki�u ngạo k�m hiểu biết gần như l� độc nhất.� C�n c� nơi n�o m� chủ tịch một trong những c�ng ty lớn nhất tr�n thế giới, đến thăm viếng một trung t�m đầu tư quốc gia, được n�i cho hay rằng gi�m đốc của trung t�m qu� bận rộn để gặp gỡ �ng ta?� Nếu �ng ta muốn kinh doanh, cứ đến quầy, xin một nắm c�c mẫu giấy tờ, v� điền ghi v�o đ�.� C�n c� nơi n�o m� một bộ trưởng, c� c�c dự �n c�n đến vốn ngoại quốc như một người sắp chết cần huyết tương, lại kh�ng đến tham dự cuộc hội kiến được sắp xếp trước, hai lần li�n tiếp, �với một nh�m ngoại giao / t�i ch�nh đ� du h�nh xuy�n thế giới để đến trợ gi�p �ng ta?� Trong bối cảnh mờ mịt n�y, Việt Nam bắt tay v�o việc khuyến kh�ch một nhập lượng vốn đầu tư ngoại quốc.� C�c k�ch thước của vấn đề đ� được ấn định bởi sự thiếu hụt viện trợ kinh tế Hoa Kỳ.� Giả định một sự giảm bớt li�n tục nguồn viện trợ Mỹ, khoản thiếu hụt đ� ở v�o mức 500 triệu đ� la cho khoảng năm năm sắp tới.� Ch�nh bởi thế điều xảy ra từ c�c kết quả cho đến nay l� khỏan 500 triệu cần thiết sẽ kh�ng đạt được nếu kh�ng c� một sự tu sửa triệt để về nh�n vi�n v� kỹ thuật.

 

���� Một phần của vấn đề nằm ở huyền thoại rằng sự ph�t triển quốc gia l� một vấn đề d�nh cho c�c nh� kinh tế.� L� luận n�y kh� theo đuổi được, đặc biệt tại một nước c� chiến tranh.� Kế hoạch ph�t triển hậu chiến nguy�n thủy cho Việt Nam được đặt nền tr�n tiền đề của một t�nh trạng h�a b�nh r� r�ng, tr�n khắp nước, với chương tr�nh ph�t triển được khởi sự m� kh�ng bị cản trở ngay v�o ng�y h�m sau.� C�c nh� thảo kế hoạch, mặc d� được cảnh gi�c, đơn giản kh�ng thể h�nh dung hoạt động dưới bất kỳ điều kiện n�o kh�c.� Họ l� c�c kinh tế gia.� Như ch�ng ta hay biết giờ đ�y, kế họach chung cuộc ph�t sinh từ nhu cầu phải l�m những g� c� thể l�m v�o l�c v� ở nơi n�o c� thể thực hiện.� Nhưng trong phần lớn thời gian hoạt động của n�, kế hoạch cũng nằm trong tay c�c nh� kinh tế -- của Việt Nam, Ph�i Bộ Viện Trợ Hoa Kỳ USAID, v� Hoa Thịnh Đốn.� Những người tốt; nhưng chỉ nh�n theo một g�c độ bị hạn chế.

 

���� Th� dụ, Ph�i Bộ Viện Trợ Hoa Kỳ USAID l� một c�ng cụ trong việc hủy diệt � niệm rằng c� thể hoạt động trong b�u kh�ng kh� kh�ng c� h�a b�nh sau ng�y Ngưng Bắn.� Rằng đ� l� một dự �n của Ch�nh Phủ VNCH li�n can đến sự nh�n nhận ưu thế ch�nh trị v� kinh tế của c�c lực lượng vũ trang, v� giao ph� cho ch�ng sự điều h�nh việc ph�t triển quốc gia trong một bối cảnh ph�ng vệ trong l�c c� c�c sự giao tranh.� L� thuyết n�y sẽ tối đa h�a khả năng sản xuất của h�ng trăm ng�n nh�n vi�n qu�n sự m� một c�ch kh�c bị buộc chờ đợi nửa như bất động trong thời kỳ sau c�c hoạt động bận rộn nhất.� Nhưng việc n�y kh�ng chỉ xảy ra trong s�ch vở; v� từ đ� n� bị chỉ tr�ch bởi ri�ng c�c kẻ để mắt tới vấn đề -- nhưng kẻ ở Ph�i Bộ đ� chuyển giao sự viện trợ bằng hiện kim v� hiện vật.

 

���� Hậu quả l� một lực lượng vũ trang tại ngũ với hơn một triệu người, chỉ một ph�n số bị bận rộn về mặt chiến thuật, nhưng l� c�c người phải hiện dịch như một to�n qu�n chống lại một ng�y Tổng C�ng K�ch trong tương lai.��� Sự kiện n�y giữ phần chi quốc ph�ng trong ng�n s�ch của Ch�nh Phủ VNCH ở mức gần 50% -- may mắn bị giảm xuống từ 60% trước đ�y � trong khi hầu hết c�c bộ v� cơ quan kh�c đều bị cắt giảm ng�n khoản đến mức gần như sẽ bất động.� Trong qu� khứ, việc n�y kh�ng nghi�m trọng mấy bởi sự đ�ng g�p của Hoa Kỳ sẽ b� đắp phần thiếu hụt.� Nhưng giờ đ�y kh�ng c�n như thế nữa, ngoại trừ c�c hoạt động c� sự hấp dẫn ch�nh trị nội bộ tại Hoa Kỳ -- th� dụ, như c�c người tỵ nạn.� G�nh nặng khổng lồ của kinh ph� quốc ph�ng đang l�i nền kinh tế đến chỗ thảm họa; v� t�nh trạng đang trở n�n tồi tệ hơn với khoản qu�n viện của Hoa Kỳ bị giảm s�t.� Liệu ph�p hiển nhi�n l� cắt giảm c�c lực lượng vũ trang xuống mức trần v�o khoảng 500,000 người.� Nhưng việc đ�, trong khi giải tỏa ng�n khỏan, cũng mở cửa cho địch qu�n x�m nhập v�o, v� c�ng l�c chuyển sang nền kinh tế nửa triệu binh sĩ thất nghiệp c� thể trở th�nh một đe dọa lớn lao hơn cả đối phương Cộng Sản.

 

���� C� c�c lối tho�t ra vũng lầy n�y.� Ch�ng c� thể được nh�n thấy; v�, trong thực tế, c�c nỗ lực đang được thực hiện, kh�ng �t trong chiều hướng đảo ngược t�nh trạng như vừa được m� tả bởi một sự thừa nhận chậm trễ thực tế của sự cắt giảm qu�n đội.� Nhưng thời gian th� rất ngắn, v� tr�i qua nhanh. ������������

 

 

IV

 

���� Ngoại tệ nặng l� nguồn m�u nu�i sống Việt Nam.� V�o giữa năm 1973, khoản dự trữ ở v�o khoảng 140 triệu mỹ kim, v� đ� sụt giảm với tỷ xuất được ước lượng xuống th�nh số kh�ng t�nh đến đầu năm 1974.� Nhưng c�ch n�o đ� người bệnh được giữ c�n sống.� Khoản tiền nhỏ giọt từ Hoa Kỳ; một khoản vay mượn bất chợt đ�u đ�; ngoại tệ nhờ xuất cảng (hải sản, gỗ, cao su, c�c sản phẩm �t quan trọng đủ loại), gia tăng từ 60 triệu mỹ kim l�n con số dự ph�ng khoảng 90 triệu; v� khoản bồi thưởng 45 triệu mỹ kim được trả gần đ�y cho c�c quyền thăm d� dầu hỏa.� Nhưng quan trọng hơn hết mọi khoản l� số tiền mỹ kim được trả bởi c�c sĩ quan qu�n nhu Cộng Sản cho c�c đồ tiếp tế được mua b�n trong Nam Việt Nam, đặc biệt tại v�ng Đồng Bằng.� Trong suốt tam c� nguyệt đầu ti�n của năm 1974, nửa triệu đ� la mỗi ng�y đ� chạy v�o Ng�n H�ng Quốc Gia.� Việc đ� chắc chắn l� bất hợp ph�p, v� chắc chắn cũng được đ�n ch�o.� Việc mua sắm như thế một phần t�y theo m�a, v� chắc hẳn H� Nội hy vọng n� sẽ chỉ k�o d�i trong thời gian ngắn.� Nhưng n� g�p phần n�o v�o sự miễn cưỡng của Ch�nh Phủ VNCH để cấm cửa qu�n Việt Cộng/Bắc Việt [VC/NVN trong nguy�n bản, ch� của người dịch] khỏi thị trường l�a gạo v�ng Đồng Bằng.

 

���� Những đồng đ� la đến từ đ�u?� Ch�ng được giả định đến từ Nga, nước đ� mua v�ng của Mỹ �t năm trước đ�y với gi� chưa tới 40 mỹ kim một lạng Anh (ounce), v� sau n�y đ� th�o kho�n n� tr�n thị trường thế giới với gi� v�o khoảng 150 mỹ kim, do đ� đ� để cho Hoa Kỳ chi trả một c�ch gi�n tiếp c�c hoạt động ở phương đ�ng của Nga.� Đối với H� Nội, đ� l� một t�nh thế kh�ng phải l� thất bại.� Bắc Kỳ kh�ng sản xuất được l�a gạo để nu�i qu�n sĩ, v� hẳn lấy l�m đủ vui để giữ họ b�n ngo�i l�nh thổ.� Nếu n� nhập cảng gạo, n� phải k�o l� một c�ch tốn k�m, xa x�i, khổ sở tr�n đường m�n Hồ Ch� Minh v� tuyến giao th�ng nội bộ mới, con đường họ gọi l� Đường 14.� Họ c� thể phải trả gấp đ�i số tiền m� họ đang trả, �v� vẫn nh�n đ� như l� c� lợi; v� với c�ng khoản kinh ph�, họ đang g�p phần v�o mục ti�u ph� hoại nền kinh tế của Ch�nh Phủ VNCH.� Nhưng trong khi đ�, lượng tiền đổ v�o giữ cho con bệnh sống s�t.

 

���� Tất cả t�nh thế hoang mang v� hấp hối n�y sẽ ho�n to�n kh�ng cần thiết nếu Hoa Kỳ nh�n nhận v� hỗ trợ c�c tr�ch nhiệm m� n� từng đảm tr�ch.� Nhưng sự chấp nhận như thế giờ đ�y chẳng thể n�o gần hơn thời điểm đầu năm 1973, khi dấu hiệu của sự bỏ rơi lần đầu ti�n thấy xuất hiện c�ng khai.� Sự kiện đ�ng buồn l�, bất kể mọi nỗ lực, c�c nguồn ngoại tệ nặng đ� kh�ng được mở rộng một c�ch đ�ng kể, trong khi c�c vấn đề ph�t triển lại b�nh trướng.� C�c vấn đề ph�t triển trở th�nh c�c vấn đề ch�nh trị.� V� c�c vấn đề ch�nh trị c� nghĩa l� c�c lực lượng an ninh thay v� hướng ra ngo�i đối điện với kẻ th� lại phải quay mặt v�o trong để đối đầu với ch�nh d�n ch�ng của họ -- một vị thế chết người.

 

���� Với sự tin tưởng việc cắt giảm cả về mặt � ch� lẫn năng lực của Hoa Kỳ để chống đỡ cho hoạt động th�m nữa, ngay d� ở tỷ xuất bị cắt giảm từ 28 xuống 1, Ch�nh Phủ VNCH đ� quay nh�n chung quanh để đa trạng h�a sự hỗ trợ cho n�.� Về điều n�y, xem ra hơi trễ, bởi c�c nguồn hỗ trợ từ nước thứ ba khả dĩ đ� trở n�n thất vọng trước cả Hoa Kỳ, v� mọi điều c� thể kỳ vọng được giờ đ�y sẽ l� c�c thủ đoạn trục lợi dưới h�nh thức trắng trợn nhất.

 

���� Kẻ c� thủ đọan trục lợi chủ yếu, một c�ch dễ ức đo�n, l� Nhật Bản.� Kiểu thức l� một chương tr�nh t�o bạo gồm c�c điều hứa hẹn, đủ để l�m e d� sự cạnh tranh tiềm ẩn, theo sau bởi c�c điều kiện nặng nề khi người Nhật đ� nắm vững địa b�n cho họ.� Việc n�y thường đưa đến c�c dự �n bị bỏ nửa chừng.� Một biến thể l� sự thực hiện c�c cuộc nghi�n cứu khả thi c� ph� tổn thấp, với b�o c�o cuối c�ng được soạn thảo c�ch n�o đ� khiến cho sự thực hiện n� chỉ c� thể được thi h�nh bởi một tổ hợp Nhật Bản m� th�i. �Mặt kh�c, người Nhật ph�n n�n về sự g�y phiền nhiễu cho họ v� th�i độ của Việt Nam, điều họ xem như một sự pha trộn kh�ng l�nh mạnh của sự ăn xin với sự tố c�o.� Thế trận của Nhật Bản kh� r� r�ng.� N� giữ c�nh cửa S�ig�n mở ra cho sự sử dụng tương lai khả hữu, bất luận về mặt ch�nh trị hay kinh tế.� Trong khi đ�, Tokyo nhiếc m�c Ch�nh Phủ VNCH v� l�m rối loạn địa b�n đối với c�c nước kh�c, một c�ch chủ �.

 

���� Quan điểm về Việt Nam của T�y Đức l� sản phẩm của một cuộc đấu khẩu giữa c�c nh� điều h�nh thương mại c� tầm nh�n d�i hạn, những kẻ muốn tiến v�o Việt Nam (nhưng tr�n một căn bản kh�ng bất trắc được ch�nh phủ hỗ trợ) với c�c vận động vi�n nh�o lộn giữa khối NATO/ v� ch�nh s�ch h�a diu, sống chung h�a b�nh với Đ�ng Đức [Ostpolitik, tiếng Đức trong nguy�n bản, ch� của người dịch] bị mất tinh thần của n�.� Sự Ngưng Bắn v� sự khai th�ng c�c quan hệ với H� Nội mang lại cho Bonn một cơ hội b�y tr� chơi � đề nghị viện trợ đồng đều cho H� Nội v� S�ig�n; giả vờ lấy l�m ngạc nhi�n khi H� Nội từ chối kh�ng chấp nhận sự gi�m s�t việc sử dụng sau c�ng; v� tuy�n bố, v� thế, rằng viện trợ cho S�ig�n kh�ng thể thực hiện được cho đến khi n�o H� Nội chấp nhận phần chia của n�.� Boon c� khả năng thụ nhận lời tố c�o về sự ngu dốt, nhưng bị r�ng động bởi c�c � kiến tế nhị hơn về sự v� đạo đức trong lập trường của n�.� Ch�ng ta c� thể kỳ vọng một sự tu chỉnh ch�nh s�ch cho ch�nh đ�ng.

 

���� C�c quốc gia nhỏ hơn của T�y �u, �c Đại Lợi v� T�n T�y Lan, tiếp tục chương tr�nh viện trợ của họ, v� c�c doanh nh�n của họ tiếp tục gặm nhấm c�c dự �n nhỏ một c�ch k�n đ�o, kh�ng đủ để tạo bất kỳ ảnh hưởng nghi�m trọng n�o hoặc trong việc viện trợ hay trong khu vực thương mại.� Nước Ph�p l� con ngựa hoang.� Chiều hướng của Ph�p được đặt tr�n c�c quyền lợi lịch sử của n�, v� tr�n những g� họ tin sẽ l� tương lai được bảo đảm của họ trong khu vực.� Họ đ� nhất qu�n trong việc t�m c�ch can thiệp v�o c�ng việc của ch�nh phủ bằng c�ch đ�ng giữ bất kỳ khuynh hướng chống Hoa Kỳ n�o c� thể hiển hiện, v� bởi sự cổ vũ c�c th�nh phần �lực lượng thứ ba�.� Hy vọng của họ l� duy tr� một vị thế sẽ mang lại cho họ một mức độ chấp nhận n�o đ� đối với bất kỳ ch�nh phủ tương lai n�o � kể cả một ch�nh phủ Cộng Sản.� Từ đ�, họ hy vọng sẽ t�i lập vị thế thương mại mạnh mẽ trước đ�y của họ tr�n to�n c�i Đ�ng Dương.� Đ� l� một ch�nh s�ch hợp l�, v� c�c phương ph�p theo đuổi ch�nh s�ch đ� của họ kh�ng c� g� xấu hơn những điều m� c�c nước kh�c đang l�m.� Nhưng l� luận của n� th� kh�ng r� r�ng khi x�t đến sự sỉ nhục k�o d�i li�n tục của họ tại Bắc Việt.

 

���� Với tất cả c�c ưu khuyết điểm li�n hệ, chiều hướng th�nh lập ch�nh s�ch của Ch�nh Phủ VNCH giờ đ�y hiển hiện r� n�t.� Đ� l� một sự đ�nh đu ra khỏi sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, một đường lối trung lập mong ước với Nhật Bản v� c�c nước kh�c, v� một sự di chuyển t�ch cực lại gần hơn với Ph�p.� Bi kịch tiềm ẩn trong ch�nh s�ch n�y l� nước Ph�p kh�ng c� c�c t�i nguy�n để thay thế nước Mỹ, d� ngay trong bối cảnh hạn chế hiện nay, v� S�ig�n c� thể nhận ra m�nh đang dựa v�o một c�y sậy rất yếu ớt.� C� c�c chiều hướng kh�c, c� thể quan trọng nhất trong đ� l� một mức độ chấp nhận tr�n mặt tinh thần � nếu kh�ng phải l� sự �p dụng thực tế -- bởi Ch�nh Phủ VNCH về l� thuyết mặt trận chung kinh tế của Đ�ng Nam � chống lại sự th�ch đố kinh tế cấp miền của Nhật Bản.� Nhưng đ� l� chuyện tương lai � nếu c�n c� bất kỳ tương lai n�o.

 

 

V

 

���� Tr�n bề mặt, c� sự xuất hiện của sự li�n đới học thuyết v� ch�nh trị tại Nam Việt Nam.� V�, trong thực tế, tr�n vấn đề nền tảng giữa Cộng Sản v� chống Cộng Sản, mặt trận th� vững chắc.� Nhưng đ�ng sau bề mặt n�y l� c�c sự kh�c biệt � kiến nghi�m trọng về phương ph�p.� Một số � kiến n�y thực sự c� bản chất � thức hệ; một số kh�c được mưu t�nh như c�c c�ng cụ ch�nh trị để d�nh được sự chia phần.

 

���� Yếu tố căn bản của sự ph�n h�a nằm nơi sự lượng định t�nh h�nh đương thời.� Một trường ph�i cho rằng S�ig�n c� thể cầm cự chống lại một v�i đối thủ của n�, v� xuất hiện như một quốc gia c� chủ quyền, h�a b�nh, tự do sau khi H� Nội bị bỏ cho kiệt sức.� Đối với trường ph�i n�y, kỹ thuật lựa chọn l� sự tiến triển chậm nhưng chắc chắn đến sự ph�t triển quốc gia, với c�c sự cải thiện kh�ng ngoạm mục nhưng khả dĩ nhận thấy được trong sự an sinh của d�n ch�ng.� Điều n�y, theo họ, x�y đắp sự ổn định ch�nh trị, thực sự l� việc phải l�m.� Trường ph�i kia nh�n nhận gi� trị l� thuyết của lập luận n�y, nhưng cho rằng nền kinh tế đang cố gắng vươn l�n trong một thang m�y đi xuống, v� rằng kết quả thuần l� số �m.� Hơn nữa, kh�ng thấy c� dấu hiệu g� l�m li�n tưởng đến bất kỳ sự thay đổi tương lai n�o trong t�nh h�nh hiện tại, m� họ quy kết cho hoạt động của địch v� sự hỗ trợ kh�ng th�ch đ�ng của Hoa Kỳ.� Trường ph�i n�y cho rằng xứ sở kh�ng thể chờ đợi một t�nh trạng kinh tế được cải thiện để tạo ra th�nh quả chung cuộc của n� l� sự ổn định ch�nh trị.� Trận chiến xảy ra nơi đ�y v� v�o l�c n�y, c�n bộ chống lại c�n bộ, tại c�c th�n ấp v�ng qu� v� tại c�c khu nh� ngh�o thuộc c�c quận trong th�nh phố.� C�c t�i nguy�n để chiến đấu kh�ng được cung cấp xuy�n qua c�c đường lối hiến định, v� một t�nh h�nh tuyệt vọng đ�i hỏi c�c biện ph�p liều lĩnh.

 

���� T�c động của c�c sự lượng định kh�c biệt n�y c� thể được minh họa bởi trường hợp nh� m�y sản xuất xi măng � liệu n�n mở rộng khả năng nhỏ b� hiện nay để thỏa m�n nhu cầu cả nước v� do đ� loại bỏ được sự thiệt hại về mỹ kim c� thể v�o khoảng 100 triệu mỗi năm; hay tiếp tục ở năng lực 30 phần trăm v� nhập cảng phần c�n lại.� Trường ph�i thứ nhất ph�n rằng n�n mở rộng; trường ph�i thứ nh� thừa nhận sự đ�ng g�p quan trọng cho việc b� mất t�i trợ c�c t�i nguy�n do việc b�n c�c giấy ph�p nhập cảng xi măng.� T�nh h�nh cũng tương tự đối với ph�n b�n, đường, v� phần lớn c�c dự �n thay thế nhập cảng kh�c.� Ở thời điểm n�y, trường ph�i thứ nh� r� r�ng đang thắng thế, v� sức mạnh của n� l� một sự kiềm chế t�ch cực chống lại sự ph�t triển kinh tế.� Về điểm n�y cần phải bổ t�c th�m một nhận định kh�c, tr�n l� thuyết, rằng trường ph�i thứ nh� giả định l� đạo đức c� nh�n c� t�nh c�ch bất khả truy tố, ngay cả trong c�c sự bất hợp thức.� Dĩ nhi�n, giả thiết tr�n kh�ng c� gi� trị, thường hay bị x�m phạm; v� sự kiện của sự điều h�nh thực tế dẫn đến t�nh trạng tham nhũng trắng trợn.

 

���� Nạn nh�n ch�nh của sự thất bại của S�ig�n trong việc giữ vững mức thăng bằng trong thang m�y kinh tế đi xuống l� giới c� lợi tức thấp, c� đồng lương cố định.� Họ l� c�ng chức � đ�ng đảo trong một nền h�nh ch�nh trương phồng � v� c�c binh sĩ.� Đối với c�ng chức, điều kh� t� hại khi nh�n thấy c�c gi� cả gia tăng ở mức trung b�nh mười phần trăm mỗi th�ng, nhưng anh ta c� thể v� đắp đổi khoản thiếu hụt bằng c�c khỏan th�u tr�n c�ng ch�ng trong việc th�ng qua giấy tờ.� Đối với người l�nh, thảm họa tối hậu khi tiền lương h�ng th�ng của anh chi vừa đủ để mua khẩu phần gạo cho gia đ�nh anh.

 

���� Kh�a cạnh n�y � t�nh trạng tiến lương/gạo � đ� l� một t�nh cảnh chỉ m�nh treo chu�ng hiểm ngh�o kể từ th�ng Mười Một năm 1973.� Cuộc khủng hoảng đ� được đẩy lui nhờ c�c khoản tăng lương (v�o khoảng 30 phần trăm), ấn định gi� trần cho gạo (điều n�y bị l�m hỏng bởi nạn ăn cắp, chợ đen, v� sự v� hiệu năng), v� sự tiếp tế c�c phẩm vật thay thế (được chấp nhận miễn cưỡng n�i chung).� Việc n�y giờ đ�y lại bị đẩy l�i về ph�a khủng hỏang bởi Quốc Hội Hoa Kỳ qua việc hạn chế chương tr�nh Thực Phẩm Phụng Sự H�a B�nh.� Điều đ� cứu v�n n� khỏi thảm họa ch�nh l� m� thức x� hội Việt Nam mờ nhạt về đại gia đ�nh mở rộng, cung cấp hầu như cho mọi người một v�i h�nh thức nưong tựa x� hội v� kinh tế những khi cần gi�p đỡ.� Những người c� của chia sẻ với c�c th�n nh�n trong gia đ�nh bị thiếu thốn.� M� thức n�y gi�p đối ph� được rất nhiều sự co d�n ch�nh trị v� kinh tế.�����������

 

���� Nhưng t�nh trạng n�y kh�ng thể k�o d�i v� tận.� Một kịch bản kinh khiếp h�nh dung một nh�m c�c �ng gi�, b� l�o, v� trẻ em được tụ tập để diễn h�nh tr�n một đường phố ch�nh, biểu ngữ tr�n đầu tuy�n bố, �Ch�ng t�i đang bị đ�i�.� Đ�y kh�ng phải l� một cuộc biểu t�nh th� nghịch � c� lẽ c�n ho�n to�n ngược lại cả trong �m điệu lẫn nội t�m.� Họ chỉ đơn thuần l� người bị đ�i mong muốn trợ lực ch�nh phủ để gi�p đỡ họ.� Nhưng từ một địa điểm kh�ng hay biết sẽ nổ ra tiếng s�ng bắn.� C�c kẻ biểu t�nh sẽ bị s�t hại.� Kh�ng ai c� thể bao giờ hay biết về kẻ đ� khai hỏa, nhưng cuộc biểu t�nh �n h�a biến th�nh một cuộc loạn động.� Tin tức được loan truyền; v� tinh thần phản kh�ng d�ng cao trong khắp xứ sở, như đ� từng xảy ra nơi đ�y trong qu� khứ.� Cảnh s�t c� thể -- ở mức thấp nhất l�c ban đầu � �p dụng vũ lực; nhưng c� l� do nghi�m trọng để nghi ngờ rằng Qu�n Đội sẽ nổ s�ng v�o c�ng ch�ng.� Bất luận n� c� l�m điều đ� hay kh�ng, hậu quả chung cuộc đều giống nhau bởi v� Qu�n Đ�i, hướng v�o trong chống lại d�n ch�ng của ch�nh n�, sẽ kh�ng c�n nhằm để ph�ng vệ chống lại sự đe dọa từ b�n ngo�i.� V� như thế mối đe dọa b�n ngo�i sẽ thắng thế.

 

���� Kh�ng c� sự dự đo�n n�o c� chủ � để n�i rằng c�c giơi chức hữu tr�ch ngồi im bất động, kh�ng l�m g� cả.� Trong thực tế, nhiều điều đ� được toan t�nh bởi c�c người được th�c đẩy bởi thiện �.� Th� dụ, Đại Sứ Hoa Kỳ Martin đ� c� mặt ở Hoa Thịnh Đốn để t�m c�ch thuyết phục Quốc H�i đồng � cho một chương tr�nh hỗ trợ l� 1 tỷ mỹ kim mỗi năm về qu�n viện v� 750 triệu cho vi�n trợ kinh tế.� N� vẫn chưa đầy đủ, nhưng nếu được bảo đảm một c�ch chắc chắn v� được chuyển giao kịp thời, n� sẽ thỏa m�n được nhu cầu.� Điều lo sợ lớn lao nhất ch�nh l� hậu quả dễ d�ng xảy ra nhiều nhất � c� nghĩa trong thực tế n� sẽ được chấp thuận, nhưng với một loạt c�c điều kiện v� sự ngăn cấm phức tạp sẽ ngăn trở chương tr�nh trở th�nh một kh� cụ ph�t triển c� thực chất� m� n� mong muốn trở th�nh.

 

���� Đối với Ch�nh Phủ VNCH, n� đ� �p dụng liều thuốc mạnh cho d�n ch�ng của họ.� C�c sự hạn chế nhập cảng nghi�m ngặt giờ đ�y loại bỏ hầu như mọi sản phẩm kh�ng thiết yếu.� Xăng nhớt với gi� 1.62 mỹ kim một đơn vị t�ch lượng Anh (gallon) ở v�o mức đắt nhất tr�n thế giới.� C�c nỗ lực đ� được thực hiện để biến quốc gia trở n�n tự t�c về mặt l�a gạo, v� c� lẽ c�c nỗ lực n�y sẽ th�nh c�ng.� H�nh vi tự tin tối h�u � bầu cử -- vẫn hi�n nhi�n v� c� thể đo lường được, như được nhận thấy trong c�c cuộc bầu cử cấp tỉnh v� th�nh phố hồi th�ng Bẩy qua n�i chung l� thỏa đ�ng.� Đ�ng thực l� sự điều h�nh c�c cuộc b�u cử n�y vẫn chưa tho�t khỏi sự chỉ tr�ch.� Nhưng d�n ch�ng đ� bầu cử, v� Cộng Sản đ� thất bại trong c�c nỗ lực rất t�ch cực của họ nhằm giảm thiểu tối đa số đi bầu.

 

 

VI

 

���� Ch�ng ta đ� đề cập ở tr�n c�c trường ph�i tư tưởng đối lập nhau, v� ảnh hưởng của ch�ng tr�n ch�nh s�ch ph�t triển.� Với sự nguy hiểm của việc l�m rối rắm vấn đề -- v� trong sự hy vọng vạch ra được một yếu tố quan trọng g�p phần v�o t�nh trạng hoang mang hiện hữu � điều cần thiết giờ đ�y l� đề cập đến mối li�n hệ c� nh�n trong giới l�nh đạo quốc gia.

 

���� Cắt gọt đến c�c phần tử then chốt, việc n�y c� nghi� bao gồm Tổng Thống [Nguyễn Văn] Thiệu, Thủ Tướng [Trần Thiện] Khi�m, v� Tổng Tham Mưu Trưởng Qu�n Lực [Cao Văn] Vi�n.� Mỗi người trong họ kiểm so�t một tổ chức, được vận d�ng một c�ch th�ch nghi, đ� trở th�nh một căn bản quyền lực ch�nh trị.� Đối với �ng Vi�n, đ� l� điều hiển nhi�n � Qu�n Lực; với �ng Khi�m, l� Guồng M�y D�n Sự bao gồm cả Cảnh S�t Quốc Gia; v� với Tổng Thống Thiệu, l� Đảng D�n Chủ.� Nhưng bề ngo�i gọn g�ng ph�t sinh từ sự m� tả qu� ngăn nắp l� một sự lừa dối, bởi tất cả ba nh�n vật đều l� c�c sĩ quan Qu�n Đội, v� Tổng Thống v� Thủ Tướng đều c� c�c sự m�c nối qu�n sự c� nh�n trong Qu�n Lực của �ng Vi�n.� Hơn nữa, Tổng Thống l� Tổng Tư Lệnh Qu�n Đ�i, c� quyền (m� �ng h�nh sử) để bổ nhiệm c�c sĩ quan cao cấp trong Qu�n Lực v� H�nh Ch�nh D�n Sự.� Sau c�ng, cả ba đều t�y thuộc v�o ng�n s�ch, m� sự điều h�nh (nếu kh�ng phải l� sự x�c định nguy�n thủy) nằm trong phạm vị thẩm quyền của Thủ Tướng.� Chung cuộc, kh�ng chỉ c�c ranh giới của họa đồ quyền lực bị x�a nh�a, m� cơ cấu quyền lực của mỗi người c�n bị x�m nhập một c�ch nặng nề bởi c�c đại diện của c�c người kia � một số c�ng khai, một số kh�ng lộ diện.

 

���� C� qu� nhiều điều t�y thuộc v�o c� t�nh của c�c nh�n vật.� C�c hợp chất của m�n kịch đương chiếu l� quyền lực; tiền bạc, được chuyển dịch th�nh quyền lực; v� sự sinh tồn tối hậu, vốn chỉ c� thể c� được từ việc chiếm giữ quyền lực.� Khi m� �p lực của sự tuyệt vọng tự n� x�c quyết, c�c sự ph�c họa của bi kịch mở ra xem thật r� r�ng: 1. một cuộc tranh d�nh quyền lực giữa c�c bộ m�y của Thủ Tướng v� Tổng Thống, với điểm số hiện thời (mới chỉ gần đ�y) nghi�ng về ph�a Thủ Tướng; 2. một t�nh trạng bất m�n trong số nh�n vi�n qu�n sự dưới cấp tướng l�nh, những kẻ tự thấy m�nh bị lợi dụng bởi thượng cấp của họ; v� 3. ba th�nh tố của sự x�o trộn � b�o ch� chống lại ch�nh phủ, khối C�ng Gi�o chống lại nạn tham nhũng, v� một Lực Lượng H�a Giải Quốc Gia Đ�i H�a B�nh � c�ng trổi dậy một l�c khi ch�ng đ�nh hơi được sự yếu k�m tại S�ig�n sau khi c� vụ Watergate.� Nơi đ�y mục ti�u ch�nh nhắm v�o Tổng Thống.

 

���� Tổng Thống c� lẽ c� khả năng giải quyết bất kỳ một yếu tố n�o.� Nhưng t�c động đồng loạt của cả ba rất l� nặng nề.� Trong khi đ�, Thủ Tướng lui bước lại ph�a sau v� kh�ng l�m g� nhiều hơn mức tối thiểu cần thiết để l�m giảm bớt sự nguy khốn của Tổng Thống.� C�c sĩ quan tại chiến trường đang theo d�i v� chờ đợi.

 

���� Hiện c� tin tức về sự truy tố, được gợi hứng bởi hồi kết cuộc của vở kịch Hoa Kỳ gần đ�y; về sự từ chức của Tổng Thống, v� về sự bạo động.� Kết cuộc nhiều x�c xuất nhất từ c�c dấu hiệu hiện tại c� vẻ l� sẽ kh�ng c� sự thay đổi quan trọng n�o trong c�c nh�n sự hay chức vụ, nhưng sẽ l� một sự tập trung gia tăng quyền lực thực sự v�o tay Thủ Tướng, với chức vụ Tổng Thống được hạ giảm xuống vị thế tượng trưng.� Điều n�y được nh�n từ một số nơi như một kh�c mở đầu cho một chiều hướng mềm dẻo hơn bởi Ch�nh Phủ VNCH đối với Cộng Sản, với sự ph� hộ của Hoa Kỳ, v� với Ph�p đ�ng vai tr� c� đỡ.

 

 

VII

 

���� Giờ đ�y canh bạc đẩy S�ig�n v�o vận xui.� Cuộc chiến tranh tiếp diễn bị ảnh hưởng bởi c�c �p lực to�n cầu vượt qu� tầm mức � v� c� lẽ cả sự hiểu biết � của c�c b�n tham chiến tại Đ�ng Dương.� Việt Nam l� sự biểu lộ bề ngo�i v� c� thể nhận thấy được cơn kh� chịu của Hoa Kỳ.� Kh�ng c� g� phải nghi ngờ rằng Hoa Kỳ sẽ trợ gi�p S�ig�n nếu n� c� thể l�m được.� Nhưng c�c kh� khăn nội bộ v� đối ngoại đ� l�m suy yếu Hoa Kỳ đến mức m� một sự cứu gi�p như thế gần như l� điều bất khả, v� ch�nh v� thế, khi t�ng sẽ phải t�nh.

 

���� T�nh trạng yếu k�m bao tr�m mọi điều trừ việc bỏ rơi S�ig�n giờ đ�y c� thể được nh�n cho đ�ng ch�n diện mục của n�.� Kh�ng ai, �t nhất l� đối với mọi người ở H� Nội hay S�igon, lại suy tưởng một c�ch nghi�m chỉnh rằng Hoa Kỳ c� bao giờ sẽ can thiệp tại Việt Nam với c�c lực lượng chiến đấu, cho d� bị khi�u kh�ch tới đ�u, v� v� bất kỳ mỹ từ hiện tại hay tương lai n�o.� Hoa Kỳ sẽ kh�ng can thiệp bởi v� n� kh�ng thể l�m được.� N� đang ngưng kh�ng c�n l� một quyền lực ở � Ch�u nữa.� Bất hạnh thay cho S�ig�n, l� c�ng sự yếu k�m to�n cầu đ� đang ngăn cản Hoa Kỳ khỏi việc tiếp tục c�n đối với sự trợ gi�p của Nga-Hoa cho H� Nội.� Bắc Việt giờ đ�y kh�ng gặp kh� khăn về tiếp vận; v� quan trọng hơn, họ tin tưởng c� được sự hỗ trợ ở bất kỳ mức độ cần thiết n�o.� Nếu Nga S� ngừng tay, Trung Hoa sẽ tiến tới, -- v� rồi, bị b� buộc, Nga sẽ lại tiến bước ti�p.

 

���� Tất cả c�c điểm tr�n cần phải được thẩm định trước khi c� thể hiểu được t�nh h�nh qu�n sự tại Việt Nam.� Đối với nh� quan s�t ở phương xa, c� c�c sự lựa chọn r� r�ng v� hiển nhi�n được mở ra cho S�ig�n � trong thực tế c� t�nh c�ch sinh tử, nếu S�ig�n c�n sống s�t. Ch�ng cũng r� r�ng v� hiển nhi�n kh�ng k�m đối với người d�n Việt nam.� Nhưng họ cũng � thức được c�c sự giới hạn tiếp liệu của họ -- nhiều hơn thế nữa bởi v� c�c hạn chế n�y đ� kh�ng được ph�t biểu một c�ch r� r�ng, v� kinh nghiệm cho thấy sự mơ hồ như thế l� một yếu tố ti�u cực hơn l� t�ch cực.� Một trường ph�i tư tưởng đ� cả gan đề ra một cuộc tấn c�ng chiến lược then chốt, sử dụng đạn dược, v� th�ch thức Hoa Kỳ từ chối sự thay thế.� Trường ph�i kia sẽ kh�ng đối diện với cơn khủng hoảng � kh�ng phải v� n� sợ Hoa Kỳ sẽ kh�ng l�m, m� v� n� t�nh to�n rằng Hoa Kỳ sẽ kh�ng thể l�m được.

 

���� Quan điểm về Việt Nam từ Hoa Thịnh Đốn được nh�n ở k�nh chiếu hậu của một chiếc xe đi giật l�i, Hoa Thịnh Đốn muốn chạy ra ngo�i; v� một sự thẩm duyệt năm 1974 Hiệp Ước Ngừng Bắn năm 1973 giờ đ�y cho thấy hiển nhi�n l� những sự cứu x�t nội bộ đ� l� v� đang l� yếu tố bao tr�m trong việc cấu tr�c cả văn bản hiệp ước lẫn �c�c sự giao ươc� đi k�m với n�.� C� lẽ n� đ� hy vọng c�c sự việc sẽ được cải thiện, v� rằng nhờ thế một t�nh trạng n�o đ� tốt đẹp hơn c� thể nảy sinh từ đ� hơn l� một sự th�o chạy trơ trẽn.� Nhưng sự việc đ� kh�ng diuễn ra theo cung c�ch đ�.

 

���� Triều s�ng c�c sự vụ to�n cầu đi ngược lại với Hoa Kỳ, v� vấn đề của Hoa Thịnh Đốn l� thăm d� xem liệu n� c� sức mạnh để tiến l�n trước chống lại l�n s�ng, hay liệu n� phải sử dụng quyền lực s�t giảm của n� để l�o l�i khi phải đi theo triều s�ng.� Hoa Thịnh Đốn c� nghe được giọng n�i của Tổng Thống Thiệu, được cất l�n hồi gần đ�y với �m điệu buồn b� hơn l� tức giận, khi n�i với binh sĩ của �ng h�y ngừng chiến đấu kiểu Mỹ [� l�americaine, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch], bởi v� �mồi vi�n đạn trọng ph�o giờ đ�y tốn gấp ba lần so với năm ngo�i�.� �ng y�u cầu Hoa Kỳ đưa ra một c�u trả lời thẳng thắn. �C�u trả lời C� hay l� Kh�ng?� Liệu nước Mỹ c� trao cho ch�ng t�i những g� ch�ng t�i cần thiết hay kh�ng?� Liệu nước Mỹ c� c�n g�nh v�c tr�ch nhiệm của m�nh như một nước đồng minh hay kh�ng?� Liệu nước Mỹ c� c�n tiếp tục l�nh đạo Thế Giới Tự Do nữa hay kh�ng?�

 

���� C�u trả lời l� C� hay l� Kh�ng?

 

-----

 

1.       Bản ph�n t�ch n�y được dựa phần lớn tr�n một tập nghi�n cứu d�i hơn sắp được ấn h�nh bởi Viện Nghi�n Cứu Tranh Chấp (Institute for the Study of Conflict).� Xin th�nh thật c�m ơn về việc cho ph�p sử dụng c�c t�i liệu trong tập chuy�n khảo đ�.

 

 

Nguồn: F.P. Serong, Asian Affairs, An American Review, American-Asian Educational Exchange: New York, September � October 1974, Vietnam After the Cease-Fire, c�c trang 1-17. ������

 

        

         

NG� BẮC dịch

  

 

http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

 

 

� 2008 gio-o

 

 

 

 

���� ������