Yumio Sakurai

 

 

NẠN MẤT M�T N�NG D�N V�

C�C L�NG BỎ HOANG

TẠI CH�U THỔ S�NG HỒNG

GIỮA THỜI KHOẢNG TỪ 1750 ĐẾN 1850

 

 

Ng� Bắc dịch

 

 

***

 

DẪN NHẬP

 

����������� Chương n�y thảo luận về mối li�n hệ giữa nạn thất tho�t n�ng d�n dựa tr�n địa h�nh của ch�u thổ s�ng Hồng v� c�c ảnh hưởng kinh tế x� hội của n� hồi cuối thế kỷ thứ mười t�m v� đầu thế kỷ thứ mười ch�n.

 

����������� Điều đ� từng được tuy�n bố l� c� hơn 3,120,000 người đ� sẵn rời khỏi miền Bắc Việt Nam (Bắc Việt v� c�c tỉnh Nghệ An, H� Tĩnh, v� Thanh H�a) trong hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm, theo cuộc kiểm k� d�n số được thực hiện thời nh� Trần (Yamamoto, 1950: 607; Gourou, 1936: 174).� Con số được ước lượng l� c� v�o khoảng 2,534,000 người đ� định cư tại v�ng Ch�u Thổ s�ng Hồng (Sakurai, 1987: 331).� Theo một cuộc kiểm k� d�n số thời đầu Ph�p thuộc thực hiện v�o năm 1911, d�n số của ch�u thổ s�ng Hồng l� 6,118,000 người (Monnier, 1981: 612).� Con số n�y đưa đến một tỷ suất tăng trưởng d�n số từ thế kỷ thứ mười lăm đến thế kỷ thứ hai mươi chưa đến 0.17%.� Một cuộc nghi�n cứu lịch sử về số l�ng tại ch�u thổ s�ng Hồng trong thời nh� L� cũng cho thấy c� nạn nh�n m�n trong thế kỷ thứ mười lăm v� sự đ�nh trệ trong sự gia tăng d�n số sau thời kỳ n�y (Sakurai, 1987: 166-76).

 

����������� Yếu tố quan trọng nhất trấn �p sự tăng trưởng d�n số của x� hội thời tiền hiện đại trong v�ng l� c�c nạn đ�i thường xuy�n được ghi ch�p trong c�c ni�n sử của triều đinh về giai đoạn n�y.� Ngay dưới thời Ph�p thuộc, theo sự nghi�n cứu của t�c giả Cadi�re, sự tăng trưởng d�n số trước thời khoảng từ 1899 đến 1904 chỉ l� 0.4% �tại một l�ng v� -5.1% �tại l�ng kh�c, bởi c� nạn đ�i năm 1897 (Gourou, 1936: 194).� T�c giả Gourou ước lượng sinh suất tối thiểu l� 3.78% tại v�ng ch�u thổ v�o đầu thế kỷ thứ hai mươi dựa tr�n c�c t�i liệu rửa tội của Gi�o Hội C�ng Gi�o (c�ng nơi dẫn tr�n: 196).� Nếu con số n�y cũng đ�ng cho thời kỳ trước thế kỷ thứ mười t�m, tử suất sẽ phải nhiều hơn 3.61% �để đưa đến một tỷ suất gia tăng d�n số l� 0.17% cho thời kỳ từ giữa thế kỷ thứ mười lăm v� thế kỷ thứ mười t�m.� Nhưng tử suất trung b�nh hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi chỉ l� 2.78%.� Do đ�, điều được giả định l� d�n số sẽ gia tăng khoảng 1% trong những năm ổn định v� sụt giảm nhanh ch�ng trong những năm c� nạn đ�i trong giai đoạn đ� bởi bị chết hay ti�u hao v� thiếu ăn.

 

����������� Một sự ph�n t�ch c�c ni�n sử cho thấy c�c nạn đ�i t�n ph� kh�ng phải to�n v�ng ch�u thổ m� chỉ ở một số khu vực giới hạn n�o đ� (Sakurai 1987: 251-97).� Nạn đ�i v� sự sụt giảm d�n số mau lẹ ph�t sinh l�m x�o trộn x� hội đồng nhất cổ truyền bao gồm c�c n�ng d�n canh t�c c�ng điền [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND) hay c�c n�ng d�n được ph�n chia cho c�c mảnh ruộng của nh� nước (Sakurai, 1987) th�nh ba nh�m: một �t c�c điền chủ, c�c n�ng d�n gi�u c� thuộc �c�c cộng đồng l�ng x� kh�p k�n� nổi tiếng, v� c�c d�n di cư (displaced) rời bỏ l�ng x� của họ (Sakurai, 1987: 288-9).� Tuy nhi�n, c�c t�i liệu trước đ�y được dựa tr�n c�c sự tr�nh b�y trong c�c ni�n sử của vương triều, v� c�c ni�n sử n�y bị hạn chế bởi �sự tổng qu�t h�a� của c�c sử thần trong triều.� Trong chương n�y, t�i cố gắng ph�n t�ch sự ph�n bố về mặt địa dư c�c l�ng bị đ�i dựa tr�n một cuộc kiểm k� d�n số l�ng x� thuộc v�ng ch�u thổ, được bi�n soạn hồi đầu thế kỷ thứ mười ch�n v� c� nhan đề l� C�c Trấn Tổng X� Danh Bị L�m [Danh S�ch T�n L�ng, Tổng Thuộc Tất Cả C�c Tỉnh, viết tắt l� BL] để thảo luận về sự quan hệ giữa c�c l�ng bị bỏ hoang 1 với m�i trường canh t�c của ch�ng.� T�i cũng sẽ ph�n t�ch t�nh trạng sở hữu đất đai tại c�c ng�i l�ng bị bỏ hoang dựa tr�n quyển Nam Định Tỉnh, Vụ Bản Huyện, Đ�ng [?] Doi [?] Tổng Địa Bạ (Địa Bạ Tổng Dong Doi [?], huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, viết tắt l� NDB) được bi�n tập lần đầu trong năm 1806.

 

 

SỰ PH�N BỐ THEO HUYỆN C�C L�NG BỊ BỎ HOANG

HỒI CUỐI THẾ KỶ THỨ MƯỜI T�M

 

����������� C�c nguy�n do của nạn đ�i tại v�ng ch�u thổ giữa thế kỷ thứ mười lăm v� thế kỷ thứ mười t�m được ph�n loại như sau (Sakurai, 1987: 251-97):

 

(a)    Sự tổn hại nghi�m trọng nhất cho sự sản xuất n�ng nghiệp ph�t sinh từ sự thất tho�t n�ng d�n nặng nề g�y ra bởi hạn h�n trong suốt vụ m�a l�a th�ng Năm. 2

 

(b)   Nạn hạn h�n g�y tổn hại cho l�a th�ng Năm xảy ra phần lớn tại c�c v�ng đất cao bao quanh v�ng ch�u thổ trước thế kỷ thứ mười s�u, v� tại c�c miền s�nh lầy trong thế kỷ thứ mười t�m.

 

(c)    Tổn hại bởi nạn lụt gia tăng dần dần sau năm 1600, đặc biệt giữa c�c năm 1720 v� 1779, xảy ra khoảng bốn năm một lần, v� phản ảnh sự ph�t triển mau lẹ việc canh t�c l�a th�ng Mười tại c�c miền ch�u thổ hạt nh�n.� Chỉ c� ba trận lụt trước thế kỷ thứ mười ch�n � v�o c�c năm 1597, 1629 v� 1729 � mới lớn đủ g�y tổn hại đến mức đưa tới c�c nạn đ�i trầm trọng v� sự ti�u hao n�ng d�n.

 

Theo BL, trong năm 1807, c�c l�ng bị bỏ hoang được nhận thấy tại 59 tr�n 190 ch�u [huyện miền n�i] v� huyện [huyện v�ng đồng bằng] tại Bắc Việt.� Đ� kh�ng c� c�c l�ng bị bỏ hoang tại c�c miền canh t�c l�a th�ng Mười chẳng hạn như c�c ch�u thổ cũ v� mới v� c�c bờ đ� tự nhi�n nơi m� sự cầy cấy th�m canh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND] được thực hiện tại Việt Nam ng�y nay, hay tại c�c đồi n�i c� m�i bằng, x�e ra h�nh quạt �(fan-terrace), nơi khai sinh cho sự canh t�c l�a gạo ban đầu của thời kỳ Đ�ng Sơn.� Điều n�y cho thấy t�nh ổn định của sự canh t�c vụ l�a th�ng Mười.

 

����������� Sự ph�n bố c�c l�ng bị bỏ hoang thời khoảng đ� được tr�nh b�y nơi H�nh 6-1 [số đ�nh trong nguy�n bản, ND].� C�c huyện với hơn 10% c�c l�ng bị bỏ hoang được tập trung v�o ba khu vực:

 

(a)    Miền thựợng du đ�ng bắc bao gồm c�c huyện Văn Quan, Văn Uy�n v� Lộc B�nh thuộc tỉnh Lạng Sơn, c�c huy�n Động Hy v� Ph� Lương thuộc tỉnh Th�i Nguy�n, huyện Ph�c Y�n tại tỉnh Tuy�n Quang 3 v� huyện Đ�ng Triều thuộc tỉnh Hải Dương;

 

(b)   V�ng đồng bằng bị lụt ph�a t�y, bao gồm c�c huyện Nam S�ng v� Kim Bảng thuộc tỉnh Sơn Nam Thượng (c�c tỉnh H� Nội v� H� Nam trong thời Ph�p thuộc);

(c)    Vung đồng bằng bị lụt ở ph�a bắc, bao gồm c�c huyện Lang T�i v� Quế Dương thuộc tỉnh Kinh Bắc (Bắc Ninh).

 

 

H�nh 6.1: Sự Ph�n Bố C�c L�ng Bị Bỏ Hoang Tại Bắc Việt Năm 1807

 

 

 

C�C L�NG BỊ BỎ HOANG TẠI C�C V�NG THƯỢNG DU

 

Khảo Hướng M�i Trường Thi�n Nhi�n

 

����������� C�c miền thượng du của Bắc Việt n�i chung được chia th�nh hai khu vực l� V�ng T�y Bắc (Northwest Area) v� V�ng Bắc Sơn (North Mountains).� C�c l�ng bị bỏ hoang được tập trung tại v�ng kể sau, gồm H� Tuy�n, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Th�i v� một số huyện ph�a bắc của c�c tỉnh Quảng Ninh v� H� Bắc.� Về mặt địa h�nh, hai v�ng n�y thật kh� để ph�n biệt, nhưng về mặt kh� hậu, ch�ng rất kh�c nhau.� Theo sự nghi�n cứu m� h�nh kh� hậu (modclimatic) (1950-1970), vũ độ trung b�nh l� 1,400 mm tại Lạng Sơn v� 1,445 mm tại Cao Bằng (Phạm Ngọc Thuần v� Phan Tất Đắc, 1978: 268-71).� Vũ lượng thấp nhất mang lại c�c viễn ảnh xấu cho việc thu hoạch l�a gạo; th� dụ 154 mm nước mưa tại Tuy�n Quang v� 1,142 mm tại Lạng Sơn trong năm 1922 (Gouvernement G�n�ral, 1927: 9).� Theo b�o c�o của Marabail trong năm 1908, m�a nguy hiểm nhất cho n�ng nghiệp của c�c miền n�y nằm giữa th�ng Tư v� th�ng Năm, khi y�u cầu về nước l�n cao nhất nhưng lượng nước mưa th� kh�ng đủ v� m� thức mưa của n� th� kh�ng ổn định từ năm n�y sang năm kia.� Th� dụ, 45 mm nước mưa đổ xuống trong th�ng Tư v� 109 mm trong th�ng Năm tại Lạng Sơn trong năm 1922.� Hơn nữa, độ bốc hơi trung b�nh l� 48 mm trong th�ng Tư v� 75.2 mm trong th�ng Năm trong thời khoảng từ 1907 đến 1929 (Dumont, 1935: 17).� Sẽ rất kh� khăn để ho�n tất việc trồng trọt ở đ� trong năm 1922.� M� thức vũ lượng của c�c v�ng cao nguy�n đ�ng bắc hẳn giải th�ch được cho sự tập trung c�c ng�i l�ng bị bỏ hoang tại đ�.

 

 

Khảo Hướng M�i Trường X� Hội

 

����������� Giống như ở Lạng Sơn, c�c l�ng bị bỏ hoang cũng tập trung tại tỉnh Th�i Nguy�n nơi vũ lượng tương đối cao hơn, trung b�nh 1,830 mm từ năm 1906 đến 1922 v� 2,168 mm từ năm 1959 v� 1965.� Độ mưa n�y dư thừa cho việc trồng l�a gạo, như thế yếu tố kh� hậu chỉ l� một trong nhiều yếu tố giải th�ch cho c�c nạn thất tho�t n�ng d�n.� Sự ph�n bố c�c ng�i l�ng bị bỏ hoang tại c�c v�ng thượng du tr�m l�n sự ph�n bố c�c trang �[tiếng Việt trong nguy�n bản, ND] 4 trong thời hậu L�.� Theo bộ Quốc Triều Điều Lệ Điển Chế [National Code of Le Dynasty], c�c trang đ� gia tăng mau lẹ v�o đầu thế kỷ thứ mười t�m, đặc biệt tại c�c v�ng n�i như c�c tỉnh Tuy�n Quang, Lạng Sơn, Th�i Nguy�n v� Y�n Quảng (= Quảng Y�n).� Từ ngữ �trang� c� lẽ ph�t sinh từ danh từ gh�p điền trang hay trang trại [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND] c� nghĩa �bất động sản, điền sản: estate� trong tiếng H�n Việt cổ điển.� Trong thời hậu L�, c�c �ng ho�ng tử , c�c quan chức cao cấp, c�c người gi�u c� ở địa phương thu� mướn c�c n�ng d�n dời cư đi khai khẩn đất hoang v� theo đ� đ� thiết lập nhiều trang trại hay điền trang (Sakurai, 1987: 238-47).� C�c trang được ph�t triển tại c�c v�ng n�i đặc biệt trong thế kỷ thứ mười t�m hẳn phải l� một kết quả của phong tr�o lập trang trại n�y.� Sự ph�n bố c�c ng�i l�ng bị bỏ hoang tại v�ng n�y hẳn phải li�n hệ với sự bất ổn của c�c điền trang n�y trong thời kỳ c� phong tr�o c�ch mạng T�y Sơn. 5

 

 

C�C L�NG BỊ BỎ HOANG TẠI HUYỆN Đ�NG TRIỀU

 

����������� Huyện Đ�ng Triều nằm ở phần ph�a t�y của tỉnh Quảng Ninh ng�y nay v� trong phần ph�a bắc của tỉnh Hải Dương thời nh� Nguyễn.� Huyện c� hai ph�n khu sinh th�i, n�i v� đầm lầy, với c�c ảnh hưởng kh�c nhau li�n quan đến sự ph�n t�ch c�c l�ng bị bỏ hoang.

 

����������� Huyện Đ�ng Triều nằm ở ch�n n�i ph�a nam của rặng n�i Đ�ng Triều, một chi nh�nh ph�a nam của d�y n�i Bắc Sơn, v� đối diện với s�ng Kinh Th�y ở mặt nam.� Luồng thủy triều của Vịnh Bắc Bộ x�m nhập đến ch�n n�i v� đ� tạo ra nhiều suối lạch nước biển v� c�c b�nh nguy�n c� nước thủy triều nằm giữa ch�n n�i v� s�ng Kinh Th�y.� Trước thập ni�n 1930, rừng đước mọc l�n dọc theo c�c lạch suối thủy triều n�y (Gourou, 1936: 49).

 

����������� Khoảnh đất canh t�c ch�nh của huyện bị giới hạn v�o một dải đất h�nh chữ nhật hẹp đo được từ 4-10 km theo hướng bắc nam, v� 38 km theo trục t�y sang đ�ng, nằm giữa ch�n n�i v� s�ng Kinh Th�y.� Quyển Đồng Kh�nh Ngự L�m Địa Dư Ch� [Official Geography of the Emperor Đồng Kh�nh] (viết tắt l� ĐDC) c� đề cập đến c�c sản phẩm của huyện, cho biết l�a th�ng Mười được thu hoạch tr�n toản huyện, trong khi cũng c� trồng c�y k� v� l�a đại mạch.� Cũng c� nhiều tre v� gỗ. N�i Y�n Tử c� rừng th�ng v� rừng trắc b� Nhật [hinoki, tiếng Nhật trong nguy�n bản, ND], l�ng Mạo Kh� c� sản xuất đất s�t th�, mỏ Y�n L�ng sản xuất than đ�, l�ng Hương L�t sản xuất đất s�t trắng, v� l�ng Hồ L�o sản xuất đất s�t đỏ.� L�a th�ng Mười được canh t�c tại c�c khu vực đầm lầy thấp, �l�a đại mạch v� k� tr�n đất kh�, v� c�c l�ng miền n�i b�n ra c�y tre, gỗ, đất s�t l�m đồ gốm v� than đ�.

 

����������� Lịch sử định cư tại một huyện ngh�o như thế c� thể truy t�m thấy dấu vết từ một qu� khứ kh� xa.� Quyển Ức Trai Tập Cẩn �n [ Comment on the Ức Trai Collection], được viết hồi cuối thế kỷ thứ mười lăm, cho hay đ� c� 110 x� [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND] trong huyện.� Con số c�c l�ng đ� giảm dần xuống 87 x� v� hai th�n v�o hồi đầu thế kỷ thứ mười chin, theo quyển BL.� Bẩy mươi trong số 89 l�ng đ� c� thể x�c định được tr�n bản đồ địa h�nh ng�y nay (1:50,000) ấn h�nh năm 1965.�

 

����������� C�c sự định cư l�ng x� cổ truyền của huyện Đ�ng Triều c� thể được ph�n chia th�nh bốn loại:

 

����������� (a) 21 l�ng nằm dọc theo quốc lộ giữa H� Nội v� Quảng Y�n tr�n một nền đất bằng phẳng cao hơn mặt biển khoảng 10 m�t.

 

����������� (b) 28 l�ng tọa lạc quanh c�c ngọn đồi đơn độc (monadnocks);

 

����������� (c) 8 l�ng tọa lạc giữa ch�n n�i v� s�ng Đa Bach [?], tr�n c�c mặt phẳng c� thủy triều x�m nhập cao hơn mặt biển v�o khoảng 2-3 m�t, v� 4 l�ng tại khu vực đầm lầy bao quanh bởi c�c ngọn đồi đơn độc Vinh Long [?] v� Y�n Phu [?] v� bờ ph�a nam của con s�ng Kinh Th�y. 6

 

����������� (d) 7 l�ng được th�nh lập tại v�ng n�i tr�n một thung lũng hẹp c� chiều rộng khoảng 2 km v� chiều d�i khoảng 20 km, nằm giữa rặng n�i ch�nh Đ�ng Triều v� c�c nh�nh phụ Đ�ng Sơn � Cao Bằng.

 

 

C�c L�ng Bị Bỏ Hoang Tại C�c Thung Lũng

 

����������� Trong năm 1807, 10 l�ng (hai phường, năm x�, ba trại [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND]) đ� bị bỏ hoang tại huyện Đ�ng Triều.� Năm trong số n�y (bốn x� v� một trại) c� thể được x�c định tr�n bản đồ địa h�nh hiện tại, v� cả 5 l�ng đều được tập trung v�o nh�m c�c l�ng ở thung lũng.� Như thể hiện ở H�nh 6.2, c�c l�ng Ph� Ninh v� Quảng M�n tọa lạc ở cửa một thung lũng c� cao độ 10 m tr�n mặt biển.� C�c l�ng Tuấn Mậu v� Thanh Luận nằm ở trung t�m thung lũng.� Theo bản đồ huyện Đ�ng Triều trong quyển ĐDC, l�ng Bồng Am, kh�ng c�n tr�n bản đồ ng�y nay, nằm ở ph�a bắc của l�ng Tuấn Mậu.� Năm l�ng đ� tọa lạc trong thung lũng.� Nhưng trong năm 1807, chỉ c� 2 l�ng (Nam Mẫu v� Hồ Lao) c�n hiện diện tại thung lũng.� Nhưng trong ba sự ph�n hạt h�nh ch�nh kh�c, kh�ng c� l�ng n�o l� bị bỏ hoang.

 

 

H�nh 6.2: Sự Ph�n Bố C�c L�ng Bỏ Hoang Tại Huyện Đ�ng Triều Năm 1807

 

 

����������� 3 l�ng bị bỏ hoang trước năm 1807, tức Tuấn Mậu, Thanh Luận v� Bồng Am, lại xuất hiện tr�n bản đồ trong quyển ĐDC hồi cuối thế kỷ thứ mười chin như c�c l�ng thuộc v�o một tổng được gọi l� Tư Trang Tổng , c� nghĩa �Quận Hạt c� 4 Điền Trang: County of Four Estates�, với một l�ng mới được gọi l� Tư Trang.� Theo bộ Quốc Triều Điều Lệ Điển Chế [Royal Code of Landholding System], đ� c� 10 quận hạt, 104 x� v� 4 trang trong huy�n Đ�ng Triều hồi đầu thế kỷ thứ mười t�m.� Ba l�ng thuộc 4 trang trong huyện đ� bị bỏ hoang trước năm 1807.� Trường hợp n�y hậu thuẫn cho giả thuyết rằng c�c l�ng kiểu điền trang tại c�c v�ng n�i đ� sẵn bị bỏ hoang v�o cuối thế kỷ thứ mười t�m, c� lẽ trong thời T�y Sơn.

 

 

C�C L�NG BỎ HOANG TẠI C�C ĐỒNG BẰNG BỊ LỤT

 

Sự Th�nh Lập L�ng Tại Huyện Nam S�ng

 

����������� Như đ� n�i trước đ�y, hạn h�n trong m�a trồng l�a th�ng Năm l� yếu tố quan trọng nhất g�y ra nạn đ�i v� thất tho�t n�ng d�n.� Trong thực tế, như được chỉ ở H�nh 6.1 v� H�nh �6.3, sự ph�n bố c�c l�ng bị bỏ hoang tại v�ng ch�u thổ, đặc biệt tại c�c huyện Lang T�i, Quế Dương v� Nam S�ng, phủ tr�m một c�ch kh�t khao l�n sự ph�n bố c�c v�ng trồng l�a một m�a duy nhất v�o th�ng Năm.

 

 

H�nh 6.3: Sự Ph�n Bố Vụ L�a Th�ng Năm Tại Ch�u Thổ S�ng Hồng

 

 

����������� Huyện Nam S�ng tọa lạc tại mỏm đ�ng nam của đồng bằng bị lụt ở ph�a t�y (được gọi l� M�ng H� Đ�ng (Casier de H� Đ�ng) trong thời Ph�p thuộc), tr�n bờ đất b�n rộng lớn được bao quanh bởi c�c con s�ng Bắc v� Nam Phủ L� v� d�ng chảy ch�nh của s�ng Hồng để tạo th�nh một đầm nước được gọi l� m�ng Nam S�ng (Casier de Nam S�ng).� Bởi địa điểm n�y tiếp nhận mọi nguồn nước xả ra từ c�c m�ng H� Đ�ng v� Nam S�ng xuy�n qua c�c con s�ng của Phủ L�, rất kh� để th�o nước đi trong c�c m�a mưa.� Khi một bờ đ� của m�ng H� Đ�ng bị vỡ bởi nước lụt, phần ngập nước ở đ� vượt qu� 2 m�t (Gourou, 1936: 98).� Theo đ�, bất kỳ sự canh t�c n�o đều trở th�nh việc bất khả trong m�a lụt, v� chỉ c� l�a th�ng Năm l� c� thể trồng được trong m�a đ�ng, kh� r�o.

 

����������� Quyển BL n�u t�n 80 l�ng trong huyện Nam S�ng, nhưng chỉ c� 46 l�ng c� thể được x�c định tr�n bản đồ.� Theo m� thức định cư, 46 l�ng c� thể được chia th�nh hai nh�m:

 

����������� (a) C� 33 l�ng tọa lạc tr�n c�c bờ đ� thi�n nhi�n v� b�i, cồn c�t dọc theo con s�ng bao quanh m�ng Nam S�ng.� Theo ĐDC, một số l�ng trong đ�, như Mac Xa [?] v� Mai Xa [?], nổi tiếng nhờ sản xuất lụa hồi giữa thế kỷ thứ mười chin.

 

����������� (b) C� 13 l�ng dọc theo s�ng Long Huy�n [?] chảy xuy�n qua trung t�m m�ng Nam S�ng.� Trước năm 1904, khi một kinh đ�o mới được đ�o để xả nước từ m�ng v�o s�ng Nam Phủ L� v� hơn 3,000 h�c-ta (ha) đất được khai khẩn th�nh đồng l�a, đ� c� một hồ lớn tại trung t�m của n� (Gourou, 1936: 98).� Khu vực n�y hẳn đ� qu� s�nh lầy cho sự canh t�c ổn định trước đầu thế kỷ thứ mười ch�n.

 

 

Sự Th�nh Lập C�c L�ng Bỏ Hoang Tại Huyện Nam S�ng (xem H�nh 6.4)

 

 

H�nh 6.4: Sự Ph�n Bố C�c L�ng Bỏ Hoang Tại Huyện Nam S�ng trong năm 1807

 

 

����������� 12 l�ng bỏ hoang được n�i đến trong quyển BL năm 1807 l� �kh�ng c� d�n đăng tịch�.� Chỉ c� 3 trong c�c l�ng n�y (Y�n L�ng, M�o Cao, v� Tri Cao [?]) l� c� thể x�c định được tr�n bản đồ.� Tuy nhi�n, may mắn l� chin (9) trong số t�n c�c l�ng n�y c� xuất hiện tr�n bản đồ trong quyển ĐDC.� 3 trong c�c l�ng n�y, Tri Cao [?], Y�n L�ng, v� B�ng Ba (giờ kh�ng c�n nhưng trước đ�y thuộc v�o tổng Đ�ng Thuy [?], đ� tọa lạc tr�n bờ đ� tự nhi�n bao quanh m�ng Nam S�ng.� Tr�n một b�i c�t của s�ng Phủ L� l� l�ng Tien Duong [?] (nay l� Tien Dinh [?]), Thai Dong (Thai Dinh) [?] v� An Mong [?], trong khi 3 l�ng kh�c, M�o Cao, Ngu Nhuế v� Quan Di (Quan Vu) [?], thuộc khu vực đầm lầy ở trung t�m.

 

����������� Theo đ�, sự ph�n bố c�c l�ng bị bỏ hoang tại khu vực trồng l�a th�ng Năm kh�ng bị hạn chế v�o c�c điều kiện địa h�nh cụ thể, nhưng c� thể l� hậu quả của nạn hạn h�n thường c� ảnh hưởng đến toản v�ng. ���

 

 

C�C L�NG BỎ HOANG TẠI HUYỆN LANG T�I

 

 

H�nh 6.5: Sự Ph�n Bố C�c L�ng Bỏ Hoang Tại Huyện Lang T�i Trong Năm 1807

 

 

����������� Huyện Lang T�i tọa lạc tại ng� ba s�ng Đuống (Canal des Rapides) v� s�ng Cầu, nơi cửa con s�ng Bai Giang [?], xuy�n qua đ� tất cả lượng nước mưa của ch�u thổ cũ đổ v�o s�ng Th�i B�nh.� Phần ghi ch�p về huyện Lang T�i trong quyển ĐDC cho biết địa thế của huyện c� �t v�ng đất cao v� kh�, v� nhiều khu vực ướt nước v� đầm lầy. Tất cả c�c l�ng đều thu hoach l�a th�ng Mười, trồng trong m�a h� v�o th�ng s�u v� gặt trong m�a thu v�o th�ng chin.� Theo đ�, c�c l�ng c� lẽ c� trồng một loại l�a ngắn ng�y đặc biệt, chin trong ba th�ng, c� lẽ để tr�nh sự thiệt hại bởi sự x�m nhập của nước mặn.� Theo c�c nhận x�t của Gourou, c�c loại l�a ngắn ng�y như thế phổ biến dọc theo c�c bờ s�ng Th�i B�nh, trong khi l�a th�ng Năm được trồng tại trung t�m của c�c m�ng đặc biệt dọc theo s�ng Bai Giang [?] (Gourou, 1936: 398-9).

 

����������� Đ� c� 71 l�ng được ghi ch�p trong năm 1807, trong đ� chỉ c�n 53 l�ng c� thể x�c định được tr�n bản đồ ng�y nay.� C�c l�ng n�y được xếp loại th�nh 2 nh�m theo m� h�nh th�nh lập của ch�ng, tức c�c l�ng tr�n c�c bờ đ� tự nhi�n hay c�c b�i c�t v� c�c l�ng nằm tại trung t�m của đầm lầy ph�a sau.� M� h�nh kể sau được mệnh danh �theo kiểu Kim Thanh [?]� bởi t�c giả Gourou, người đ� n�u c�c đặc điểm của ch�ng l� �kh�ng c� h�nh thể r� rệt, c�c đường trắc địa viền quanh phần lớn mập mờ v� bị đứt đoạn.� C�c l�ng n�y được th�nh lập tại c�c khu vực bằng phẳng, nơi m� c�c d�ng nước từ m�ng đổ v�o c�c thung lũng trống kh�ng to lớn. 7

 

����������� C�c l�ng bỏ hoang tại huyện Lang T�i tổng cộng l� 13 l�ng, trong đ� 9 l�ng đ� được t�i thiết trong năm 1808 hay 1809 v� 4 l�ng đ� kh�ng được t�i lập v�o năm 1809.� 12 l�ng trong ch�ng c� thể x�c định được tr�n bản đồ ng�y nay (xem Bản Đồ 6.5).� Chỉ c� 1 l�ng, Y�n Trang, bị bỏ hoang tại khu vực cạnh bờ s�ng.� Ngược lại, 12 l�ng bị bỏ hoang nằm trong khu vực đầm lầy, được ph�n chia th�nh hai phần.� Tại phần ph�a t�y l� 4 l�ng tọa lạc tại khu vực đầm lầy s�u nhất, từ 12-17 km ph�a t�y s�ng Th�i B�nh: M�u Duyệt [?], Cẩm Duyệt [?] (nay l� Hy Duyệt [?]), Xu�n Quan (nay l� Ngọc Quan [?]) v� Quan Thiện [?] (Khuyến Thiện [?]).� Tại phần trung t�m l� 6 l�ng: Ni Trai [?], Dinh Dương [?], Trinh Ph� [?], Kim Đ�o v� Đ�ng Hương [?].� Đặc biệt, 5 trong 12 l�ng thuộc tổng Đặng X� [?] bị bỏ hoang.� R� r�ng, c�c l�ng trong khu vực đầm lầy dựa tr�n sự thu hoạch l�a th�ng Năm rất dễ bị bỏ hoang hơn nhiều, so với c�c l�ng tọa lạc tr�n c�c b�i c�t hay tr�n c�c bờ đ� tự nhi�n.

 

 

NẠN THẤT THO�T N�NG D�N V� SỰ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

TẠI HUYỆN VỤ BẢN

 

����������� Như đ� n�i ở tr�n, c�c l�ng bị bỏ hoang được tập trung tại khu vực miền n�i v� khu vực đầm lầy nơi m� vụ l�a th�ng Năm được canh t�c.� Ngược lại, tại những khu vực như c�c bờ đ� tự nhi�n, c�c ch�u thổ mới v� cũ hay c�c b�i c�t, c�c ng�i l�ng đ� c� thể kh�ng cự lại c�c thi�n tai về n�ng nghiệp.� Sự kh�c biệt n�y trong t�nh ổn định của sự sản xuất n�ng nghiệp giữa hai loại sinh th�i mang lại c�c sự thay đổi x� hội trong một x� hội n�ng d�n thuần nhất về mặt l� thuyết, dưới kh�i niệm ch�nh trị Trung Hoa cổ truyền tr�n đ� thuật ch�nh trị Việt Nam được đặt định.� V� thế, ch�nh quyền Việt Nam được kỳ vọng sẽ phải giải quyết vấn đề thất tho�t n�ng d�n.

 

����������� Một trận đại hạn h�n trong năm 1703, đặc biệt tại khu vực trồng l�a th�ng Năm trong tỉnh Sơn Nam (c�c tỉnh H� Nội, H� Nam, H� Đ�ng, H� T�y, Nam Định trong thời Ph�p thuộc) đ� g�y ra một sự ti�u hao lớn lao c�c n�ng d�n l� những kẻ vẫn chưa quay trở lại v�o năm 1706 (Sakurai, 1987: 228).� Biện ph�p đầu ti�n được thi h�nh nhằm kh�ch lệ sự trở về của c�c n�ng d�n l� việc miễn cho họ c�c khoản thuế đất.� Trong năm 1707, họ được miễn kh�ng phải l�m x�u dịch trong 5 năm v� c�c n�ng d�n ngh�o nhất được miễn thuế gia đ�nh ([?] family tax) trong ba năm (Sakurai, 1987: 228).� Nhưng sự quy định về sự ph�n phối đất đai năm 1711 tuy�n bố rằng khi c�c n�ng d�n dời cư quay trở về, họ phải nhận được một phần đất c�ng điền [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND] [common land] cũng như c� tr�ch vụ trả thuế đất (Sakurai, 1987: 230).� C�c biện ph�p n�y c� vẻ nhằm trước ti�n v�o việc t�i lập x� hội n�ng d�n canh t�c c�ng điền, chứ kh�ng phải để thu thuế.

 

����������� Như một hậu quả của c�c trận hạn h�n của c�c năm 1712 v� 1721, c�c biện ph�p sơ khởi n�y mang lại c�c phương c�ch để ổn định h�a sự thu thuế từ c�c n�ng d�n gi�u c�.� Một quy định trong năm 1725 cho ph�p c�c người l�ng giềng của c�c n�ng d�n dời cư được canh t�c v� mua c�c c�nh đồng bỏ hoang kể cả c�ng điền, v� miễn trừ cho c�c người mua việc trả bất kỳ sắc thuế n�o c�n tồn đọng.� Mặt kh�c, c�c n�ng d�n dời cư bị thu thuế v� phải đăng tịch tại cư sở mới của họ, v� bị bắt buộc phải khai khẩn đất chưa canh t�c hay bị trưng tập th�nh binh sĩ (Sakurai, 1987: 233-8).

 

����������� Trong thời đầu nh� Nguyễn, sự canh t�c đất bỏ hoang bởi c�c người l�ng giềng bị cấm đo�n.� Đ�ng hơn, đất đai được ph�n chia cho c�c binh sĩ một c�ch tạm thời.� Nhưng trong năm 1806, c�c binh sĩ bị cấm đo�n kh�ng được canh t�c tr�n ruộng đất bỏ hoang như một phương thức để khuyến kh�ch c�c kẻ dời cư quay trở về.� C�ng l�c, điều được ấn định l� nếu họ kh�ng quay trở về trong thời khoảng từ 1805 đến 1807, c�c l�ng giềng trong l�ng c� thể canh t�c tr�n đất của họ v� trả thuế (Sakurai, 1987: 392-3).

 

����������� C�c trường hợp điển h�nh của việc chuyển giao quyền sở hữu đất trong suốt thời kỳ thất tho�t n�ng d�n được t�m thấy tại c�c l�ng miền n�i.� Phần ghi ch�p về tỉnh Lạng Sơn trong quyển BL c� n�i rằng �l�ng Ho�ng Liệt, bởi c� sự mất m�t n�ng d�n, giờ đ�y thuộc v�o trại Bạch Phu [?], v� c� c�c c�nh đồng l�a nhưng kh�ng c� đ�n �ng đăng tịch�.� Tổng số 5 l�ng bỏ hoang rơi v�o tay trại Bạch Phu [?] v� l� do bỏ phế.� Bạch Phu [?] c� nghĩa l� tấm vải trắng.� Trong thời kỳ n�y, c�c l�ng của người N�ng (d�n T�y ng�y nay) được đặt t�n theo cống phẩm của họ trong quyển BL.� Theo đ�, trại Bạch Phu [?] trong c�u chuyện l� c�c l�ng của người N�ng bao quanh c�c l�ng bị bỏ hoang bởi n�ng d�n người Việt, phần đất m� tr�n đ� người N�ng được ph�p kiểm so�t hay canh t�c.

 

����������� Đối với l�ng thuộc ch�u thổ, mặc d� kh�ng c� t�i liệu về sự chuyển giao đất tương tự như sự việc tại c�c l�ng miền n�i c� thể t�m thấy được, c�c th� dụ về c�c sự chuyển giao quyền sở hữu đất đai c� xuất hiện trong sổ Địa Bạ (Land Roll) năm 1805.� Như đ� được n�i tới trong một b�i viết trước đ�y (Sakurai, 1987: 299-306), c�c t�i liệu c�n s�t lại về 17 l�ng trong huyện Vụ Bản, tỉnh Sơn Nam Hạ (Nam Định), cho năm 1805, tượng trưng cho sự trước bạ đất đai đầu ti�n của thời nh� Nguyễn trong Sưu Tập Tiếng Việt của EFEO [Vietnamese Collection of the EFEO].� T�i liệu n�y ghi ch�p sự sở hữu đất đai của c�c l�ng c� d�n cư ngụ v�o thời gian đ�, kh�ng phải của c�c l�ng bị bỏ hoang, nhưng may mắn l� huyện Vụ Bản tọa lạc tại một khu vực chuyển tiếp giữa c�c khu vực trồng l�a th�ng Mười v� l�a th�ng Năm, v� giữa c�c đầm lầy b�n trong v� c�c cồn c�t.� 13 l�ng phia bắc c� từ 10 đến 40 % ruộng trồng l�a th�ng Năm.� Một sự so s�nh sự sở hữu đất đai giữa c�c l�ng c� c�c ruộng l�a th�ng Năm với c�c l�ng kh�ng c� ch�ng c� thể gợi � về sự li�n hệ giữa sự chuyển giao quyền sở hữu đất đai với t�nh trạng canh n�ng.

 

����������� Trong hồi đầu thế kỷ thứ mười chin, hệ thống sở hữu đất đai tại l�ng x� chưa chặt chẽ; đ�ng hơn, hệ thống đất đai t�ch biệt gọi l� phụ canh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND] rất l� phổ th�ng (Sakurai, 1987: 324-7).� Th� dụ, trong số 4,344 mẫu (1 mẫu ta = 0.36 ha) ruộng l�a tại 17 l�ng trong sổ �Địa Ba năm 1805, 1,247.9 mẫu được gọi l� phụ canh, c� nghĩa đất sở hữu v� canh t�c bởi cư d�n thuộc c�c l�ng kh�c.� N�i chung, sự sở hữu đất đai được chuyển giao bằng sự giao dịch, v� c�c trường hợp như thế được giới hạn v�o c�c cư d�n của c�ng l�ng hay cả c�c l�ng l�n cận (Yamamoto, 1940: 378).

 

 

H�nh 6.6: C�c L�ng Được N�i Đến Trong Địa Bạ năm 1805

 

 

 

 

Bảng 6.1: Ruộng L�a v� Đất Phụ Canh Tại 17 L�ng Thuộc Huyện Vụ Bản

 

 

 

a = diện t�ch ruộng l�a (mẫu)

b = diện t�ch ruộng l�a th�ng Mười (mẫu)

c = diện t�ch ruộng l�a th�ng Năm (mẫu)

d = diện t�ch ruộng l�a ba giăng (mẫu)

e = diện t�ch ruộng phụ canh (mẫu)

f = tỷ lệ ruộng l�a th�ng Năm / tổng số ruộng l�a (%)

g = tỷ lệ ruộng hạng ba / tổng số ruộng l�a (%)

h = tỷ lệ ruộng phụ canh vụ l�a th�ng Năm / tổng số ruộng l�a (%)

i = tỷ lệ ruộng phụ canh vụ l�a th�ng Năm / số ruộng l�a th�ng Năm trong tay tư nh�n (%)

j = tỷ lệ ruộng phụ canh hạng ba / tổng số ruộng l�a hạng ba (%)

k = tỷ lệ ruộng l�a th�ng Năm hạng ba / tổng số ruộng l�a th�ng Năm (%)

 

 

 

 

Nhưng trong trường hợp của huyện Vụ Bản năm 1805, phần lớn đất đai trong một l�ng lại được sở hữu bởi c�c cư d�n thuộc nhiều l�ng.� Th� dụ, 72% đất của l�ng Dương Lai thuộc về cư d�n của 5 l�ng (Sakurai, 1987: 325).� Thứ nh�, c�c l�ng nguy�n gốc của c�c sở hữu chủ đất phụ canh tại c�c l�ng kh�c được ph�n bố rất rộng r�i.� Th� dụ, như được tr�nh b�y trong H�nh 6.6, c�c sổ hữu chủ đất ruộng của l�ng Đa Mễ nằm rải r�c tr�n một khu vực rộng 20 c�y số vu�ng, kẻ xa nhất cư ngụ c�ch Đa Mễ đến 9 km.� Thứ ba, như được chỉ trong Bảng 6.1, tỷ lệ đất� phụ canh do tư nh�n chiếm hữu thay đổi rất nhiều từ l�ng n�y sang l�ng kh�c.� Điều n�y khiến ta nghĩ rằng sự chuyển giao quyền sở hữu đất đai tại huyện Vụ Bản hồi đầu thế kỷ thứ mười chin phần lớn ph�t sinh kh�ng phải từ sự chuyển nhượng th�ng thường, m� do sự bỏ hoang đất đai v� nạn mất m�t n�ng d�n

 

 

H�nh 6.7: Tương Quan Giữa Tỷ Lệ Của Ruộng L�a Th�ng Năm với

Tỷ Lệ Của Đất Phụ Canh Nằm Trong Tay Tư Nh�n

 

 

 

Như đ� n�i ở tr�n, c� một sự quan hệ r� r�ng giữa sự ph�n bố c�c l�ng bỏ hoang với khu vực trồng l�a th�ng Năm.� H�nh 6.7 cho thấy mối tương quan giữa tỷ lệ ruộng th�ng Năm tr�n to�n thể số ruộng l�a của l�ng với tỷ lệ đất phụ canh nằm trong tay tư nh�n.� C�c l�ng mang số 1, 2, 3, 5, 7, 10, 12 v� 13 cho thấy một sự tương quan cao (hệ số tương quan R = 0.6898), c�c l�ng đ�nh số 6, 9, v� 11 cho thấy một sự tương quan thấp, trong khi c�c l�ng số 4, 8, 16 v� 17 kh�ng c� sự tương quan.� C�c l�ng kh�ng c� sự tương quan l� c�c l�ng kể sau:

 

����������� (a) L�ng số 17, An Nh�n, như được chỉ trong H�nh 6.6, tọa lạc tại khu vực b�i c�t v� trong khi n� kh�ng c� ruộng trồng l�a th�ng Năm, sổ địa bạ cho thấy n� c� nhiều ruộng xấu được gọi l� �ruộng hạng ba�.� Số ruộng n�y chiếm tới 53.1% đất đai của l�ng, trong đ� 91.3% thuộc v�o loại phụ canh.� Điều n�y c� nghĩa rằng đất ruộng xấu hơn, ngay d� kh�ng phải ruộng l�a th�ng Năm, c� thể dễ d�ng được chuyển giao cho c�c cư d�n thuộc c�c l�ng kh�c.

 

����������� (b) L�ng s� 6, Nhu Th�n [?], l� l�ng mẹ của nh�m l�ng Xu�n Bảng [?] bao gồm U�ng Th�n [?], Dao Th�n [?], Ph� Th�n [?], Tiền Th�n [?] v� Nhu Th�n [?].� C�c cư d�n của Nhu Th�n sở hữu 48.8 mẫu đất phụ canh tại l�ng U�ng Th�n [?],� 9.5 mẫu tại Dao Th�n [?], v� 30.4 mẫu tại Ph�o Th�n [?].� Tổng cộng, họ sở hữu 88.7 mẫu đất phụ canh ở c�c l�ng con, trong khi ngược lại, kh�ng c� cư d�n l�ng con n�o lại sở hữu đất phụ canh tại l�ng mẹ của họ. �Một t�nh trạng tương tự đ� hiện hữu trong sự li�n hệ giữa Hương Th�n [?] với Tri�u Th�n [?] thuộc nh�m l�ng Tri�u Uy�n [?].� T�nh trạng n�y c� nghĩa l� sự sản xuất n�ng nghiệp tại l�ng mẹ th� ổn định, ngay d� ở trong khu vực trồng l�a th�ng Năm.

 

����������� (c) L�ng số 11, Đa Mễ, trong khi n� c� 39.1% đất thuộc ruộng l�a th�ng Năm, chỉ c� 36.1% trong tổng số đất đai của n� l� thuộc v�o loại đất phụ canh.� Tuy thế, Đa Mễ bao gồm diện t�ch đất phụ canh lớn nhất trong số 17 l�ng, tổng cộng l� 163.8 mẫu.� N� c� thể được xem như một l�ng phụ canh ph�t triển một c�ch đặc biệt.

 

����������� (d) L�ng số 16, Đồng Mỹ, c� một m� h�nh sở hữu đất đai đặc biệt trong số 17 l�ng.� Như đ� được tr�nh b�y ở nơi kh�c (Sakurai, 1987: 320-2), trong số 43 điền chủ tại c�c l�ng, 37 người c� đất sở hữu rộng từ 5 đến 20 mẫu v� điều n�y sẽ ổn định h�a t�nh trạng sở hữu đất đai.� Trong số c�c l�ng c�n lại, hơn 80% ruộng l�a th�ng Năm tại c�c l�ng mang số 1, Dương Lai, số 2, U�ng Th�n [?], v� số 12, Bội Xuy�n, l� đất phụ canh.� Gộp chung 17 l�ng, 37.4% toản thể ruộng l�a th�ng Năm l� đất phụ canh.� Ngược lại, chỉ c� 24% (nếu bỏ ra ngo�i trường hợp của l�ng Y�n Nh�n [?], 20%) ruộng l�a th�ng Mười l� đất phụ canh, �t hơn kh� nhiều so với đất phụ canh của ruộng l�a th�ng Năm.

 

����������� Một l�ng với một tỷ lệ rất cao đất phụ canh trong ruộng l�a th�ng Năm l� Dương Lai, một l�ng, như H�nh 6.6 cho thấy, nằm tại khu vực đầm lầy b�n trong, ph�a t�y bờ đ� tự nhi�n tr�n hữu ngạn s�ng Nam Định, nơi m� Tiểu Cốc Th�n [?] v� B�ch Cốc Th�n [?] tọa lạc.� Ruộng l�a th�ng Năm đều l� đất phụ canh.� Ruộng l�a của l�ng được chia th�nh 112 mảnh với diện t�ch trung b�nh l� 4.2 mẫu, trong đ� 94% nằm trong khoảng từ 2 đến 6 mẫu, một k�ch thước th�ch hợp cho sự quản l� của gia đ�nh trong n�ng nghiệp Việt Nam ở v�ng Ch�u Thổ.� Tuy nhi�n, 62.7% ruộng l�a tư nh�n (96.4% l� ruộng tư nh�n hạng ba) được sở hữu v� canh t�c bởi c�c cư d�n thuộc c�c l�ng kh�c, trong đ� 82.6% sở hữu bởi 41 cư d�n của Tiểu Cốc [?[], nằm tr�n bờ đ� tự nhi�n , 2km đ�ng bắc Dương Lai.� V� thế, sự sở hữu đất đai của d�n l�ng Dương Lai th� nhỏ, nhiều nhất chỉ c� 2 mảnh với tổng diện t�ch l� 7.8 mẫu, v� trung b�nh l� một mảnh rộng 4 mẫu.� Ngược lại, Tiểu Cốc [?] c� c�c sự sở hữu nhiều nhất l�n tới 10.5 mẫu, với số trung b�nh l� 5.8 mẫu.� Do thế, đất đai của l�ng Dương Lai phần lớn được chuyển giao cho c�c điền chủ ở Ti�u Cốc [?].� Hơn nữa, 30.8 mẫu hay 39% ruộng l�a th�ng Năm v� 5.9 mẫu ruộng l�a th�ng Mười kh�ng c� chủ v� bị bỏ hoang.� Nhiều phần l� đa số c�c ruộng l�a th�ng Năm v� ruộng hạng ba đ� bị bỏ hoang trước khi c� cuộc kiểm k� d�n số năm 1805, v� một số đất trong đ� về sau đ� được t�i canh bởi d�n l�ng Ti�u Cốc.

 

����������� Một bức tranh tương phản xuất hiện từ Ti�u Cốc, một l�ng nằm tr�n bờ đ� tự nhi�n dọc theo s�ng Nam Định, l�ng m� tất cả đồng ruộng đều l� ruộng l�a th�ng Mười.� N�ng nghiệp tại đ� ở v�o c�c điều kiện tốt hơn nhiều so với l�ng Dương Lai, nhưng sự sở hữu đất đai cũng nhỏ b�.� Ruộng tư nh�n chiếm 15.9 mẫu v� được ph�n chia cho 31 sở hữu chủ, diện t�ch sở hữu trung b�nh l� 0.5 mẫu, v� mảnh lớn nhất chỉ c� 1.4 mẫu.� C�c sự sở hữu như thế kh� hỗ trợ cho một gia đ�nh nếu kh�ng c� c�ng điền [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND], tại Ti�u Cốc được ước lượng l� 204.5 mẫu, 13 lần lớn hơn số đất tư nh�n.� Một hệ thống c�ng điền ph�t triển như thế sẽ chỉ khiến g�y ra nạn thất tho�t n�ng d�n hay bỏ hoang c�c c�nh đồng.� Một khi c�c ruộng l�a của Dương Lai được thụ đắc, phần đất tư nh�n của d�n l�ng Ti�u Cốc [?] đ� gia tăng l�n 253.5 mẫu.� Số đất n�y được chia sẻ bởi 65 d�n l�ng v� mang số đất sở hữu trung b�nh l�n 3.9 mẫu, chưa kể c�ng điền.� Khi đ�, con số n�y sẽ tượng trưng cho một l�ng gi�u c� điển h�nh nằm tr�n v�ng đất cao hơn v� sở hữu nhiều c�ng điền, c� thể kh�ng cự lại c�c thi�n tai n�ng nghiệp chẳng hạn như hạn h�n v� mở rộng c�c ng�i l�ng đầm lầy ph�a sau hồi cuối thế kỷ thứ mười t�m v� đầu thế kỷ thứ mười chin.

 

 

KẾT LUẬN

 

����������� Từ cuộc thảo luận ở tr�n, c�c điểm sau đ�y c� thể được r�t ra:� �

 

����������� (a) Yếu tố quan trọng nhất kiềm h�m sự tăng trưởng d�n số trước thế kỷ thứ mười t�m l� sự mất m�t n�ng d�n như hậu quả của nạn đ�i.

 

����������� (b) C�c nạn đ�i đ� xẩy ra phần lớn v� sự tổn hại đối với vụ l�a th�ng Năm tại c�c khu vực ch�u thổ đầm lầy chẳng hạn như c�c đồng bằng bị ngập nước, v� đối với vụ l�a th�ng Mười tại c�c v�ng đồi n�i ph�a đ�ng bởi nạn hạn h�n.� Tại c�c v�ng n�i đồi, trang hay c�c l�ng trang trại đặc biệt nhi�u phần sẽ bị bỏ hoang.

 

����������� (c) Trong cuối thời nh� L� v� đầu nh� Nguyễn, đồng ruộng bỏ hoang được ph�p canh t�c bởi l�ng giềng.� Theo đ�, một sự chuyển giao đ�ng kể quyền sở hữu đất đai đ� xảy ra giữa c�c l�ng.

 

����������� �(d) Sự ph�n t�ch c�c sổ địa bạ thời đầu thế kỷ thứ mười chin cho thấy một sự tương quan chặt chẽ giữa tỷ lệ ruộng l�a th�ng Năm với ruộng phụ canh tại nhiều l�ng.

 

����������� (e) Một sự nghi�n cứu trường hợp điển h�nh c�c sổ địa bạ của c�c l�ng Ti�u Cốc [?] v� Dương Lai cho thấy rằng l�ng gi�u c� tr�n một bờ đ� tự nhi�n đ� th�nh c�ng trong việc thu gom c�c ruộng l�a xấu bị bỏ hoang bởi c�c người canh t�c từ l�ng thuộc khu đầm lầy đ�ng sau.

 

����������� Để kết luận, nạn đ�i v� mất m�t n�ng d�n đ� tập trung tại c�c ng�i l�ng c� điều kiện xấu, v� ch�ng đ� th�c đẩy sự mở rộng t�nh trạng sở hữu đất đai của c�c l�ng gi�u c� v�o c�c l�ng ngh�o khổ hơn.� Khuynh hướng n�y cũng đ� diễn ra giữa c�c n�ng d�n gi�u c� v� n�ng d�n ngh�o khổ trong c�ng l�ng.� Nạn đ�i v� mất m�t n�ng d�n hay sự đ�nh trệ trong sự gia tăng d�n số đưa đến một sự ph�n biệt giai cấp x� hội r� rệt tại l�ng x� thời tiền hiện đại, ngay cả trước khi c� sự phổ th�ng h�a một nền kinh tế tiền mặt của thời kỳ thực d�n./-� ���

 

��

_____

 

 

CH� TH�CH:

 

1. �L�ng bị bỏ hoang: abandoned village� l� sự phi�n dịch từ từ ngữ phi�u lưu (hay phi�u bạt) xuất hiện trong BL v� được giải th�ch l� �c�c l�ng bị bỏ hoang bởi d�n l�ng v� vẫn chưa được t�i thiết ngay đến giờ� [? sic.� Từ ngữ phi�u lưu hay phi�u bạt được d�ng chủ yếu chi người n�ng d�n bỏ l�ng ra đi, chứ kh�ng phải �để chỉ ng�i l�ng l� vật bất động, ch� của người dịch].� BL cũng cho hay rằng cho đến năm Đinh M�o (1807), �kh�ng c� c�c người ph�i nam đăng tịch�, rằng �tất cả d�n l�ng� đều đ� bỏ đi v� mất dạng�, v� rằng c� �c�c đồng l�a nhưng kh�ng c� người canh t�c�.� Theo đ� ch�ng ta c� thể x�c định từ ngữ n�y để chỉ một ng�i l�ng đ� được đăng k� như một đơn vị h�nh ch�nh trước năm 1807, nhưng l� những ng�i l�ng m� tất cả d�n l�ng đ� bỏ đi từ đ�, đến nỗi kh�ng c�n người canh t�c để trả thuế đất trong năm 1807.

 

2. M� thức thu hoạch l�a gạo cổ truyền tại Việt Nam li�n hệ đến ba loại l�a gạo: l�a th�ng Năm, l�a th�ng Mười v� l�a ba giăng (ba th�ng).� L�a th�ng Năm hay l�a chi�m [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND) l� vụ m�a điển h�nh v� truyền thống nhất, v� được gọi l� Indosinica bởi t�c giả Đ�o Thế Tuấn (Gi�m Đốc Viện N�ng Nghiệp v� Kỹ Thuật N�ng Nghiệp, Việt Nam).� N� được thu hoạch ch�nh yếu tạic�c khu vực đầm lầy b�n trong, ph�a sau, chẳng hạn như c�c c�nh đồng ngập nước, được cấy trong th�ng Chạp hay th�ng Gi�ng theo lịch Việt nam (thường từ cuối th�ng Một đến th�ng Hai dương lịch) v� gặt trong th�ng Năm trước khi c� m�a lụt.� N� tương đối kh�ng cự được với kh� lạnh v� hạn h�n trong m�a đ�ng, nhưng c� năng suất thấp hơn l�a th�ng Mười.

 

L�a th�ng Mười l� một nh�m thuộc chủng loại Indica Aman, được trồng tr�n mặt đất cao,kh�ng bị ngập nước trong m�a lụt, chẳng hạn như tr�n c�c con đ� tự nhi�n, c�c ch�u thổ cũ hay mới, v� c�c khu cồn c�t.� N� được trồng trong th�ng Năm hay th�ng S�u v� thu hoạch trong th�ng Mười.� L�a ba giăng (ba th�ng) l� một nh�m thuộc chủng loại ngắn ng�y, kh�ng nhạy cảm với �nh s�ng tương tự như chủng loại Indica Aus.� N� thường được trồng tại c�c khu cồn c�t trước khi cơn lũ đến v� được thu gặt trong v�ng ba th�ng, v� năng suất của n� th� rất thấp.

 

3. Tỷ số c�c ng�i l�ng bị bỏ hoang tại tỉnh Tuy�n Quang th� cao nhất tại Bắc Việt, với 33 tr�n 249 l�ng bị bỏ hoang.

 

4. C�c từ ngữ ch�nh được d�ng để chỉ l�ng tại Bắc Việt cổ truyền bao gồm x�, th�n, trang, trại, động v� s�ch [tiếng Việt trong nguy�n bản, ND].� Danh từ x� được d�ng cho phần lớn c�c l�ng trong v�ng ch�u thổ trong thế kỷ thứ mười lăm, sau đ� từ ngữ th�n được d�ng nhiều hơn trong suốt thời hậu L� (Sakurai, 1987: 171-5).

 

5. Trong thực tế chỉ c� s�u l�ng (trang) l� được đề cập đến trong BL (Sakurai, 1987: 290-1).� Trong tất cả c�c l�ng bị bỏ hoang, 85.7% trong tỉnh Lạng Sơn v� 88.2% trong tỉnh Th�i Nguy�n được gọi l� x�.� Trong BL v� Lịch Triều Hiến Chương Loại Ch� [Collection of Laws and Regulations of Dynasties] được viết hồi đầu thế kỷ thứ mười chin, phần lớn c�c l�ng cũ (trang) n�u trong Quốc Triều Điển Chế Điều Lệ [Regulation Collection on the land holding system in Le Dynasty], bi�n soạn trong thế kỷ thứ mười t�m, đ� được đổi th�nh x�.� Theo đ�, phần lớn x� ở đ� trong đầu thế kỷ thứ mười chin c� lẽ c� nguồn gốc từ c�c trang trước đ�y.� Nguy�n do ch�nh của sự bỏ phế về ph�a người canh t�c sau khi c� sự sụy sụp của c�c sở hữu chủ trang trại c� thể v� sự tranh chấp chủng tộc.� Ngay trong hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi, d�n số người Việt (Kinh) tại c�c v�ng đồi n�i c�n rất nhỏ, th� dụ chỉ l� 2% so với 75% người T�y trong năm 1908 (Diguet, 1908: 7-9).� N�i chung, d�n định cư gốc Việt kh�ng muốn cư tr� một c�ch vĩnh viễn, v� thế họ bị nh�n như c�c thuộc vi�n của c�c nh� l�nh đạo v� khi�u dậy sự th� nghịch của d�n bản địa (Famin, 1895: 50).

 

6. Hiện nay, c� một mạng lưới rộng lớn c�c bờ đ� ngăn thủy triều chạy d�i khoảng 10 km.� Nhưng theo Tập 29 của bộ Đại Nam Nhất Thống Ch� [Royal General Geography of Đại Nam], bi�n tập v�o giữa thế kỷ thứ mười chin, c�c bờ đ� như thể chỉ chạy d�i c� 135 trượng (khoảng 574 m).� Như thế, t�m l�ng trong khu vực n�y đ� kh�ng được bảo vệ chống lại sự x�m nhập của thủy triều hồi trước giữa thế kỷ [ thứ 19].

 

 

***

 

����������� T�c giả, Tiến Sĩ Yumio Sakurai l� Gi�o Sư tại Đai Học University of Tokyo v� Trung T�m Nghi�n Cứu Đ�ng Nam � tai Kyoto, Nhật Bản.� �ng cũng l� Chủ Tịch của Hội Nghi�n Cứu Việt Nam tại Nhật Bản.

 

 

THAM KHẢO

 

Chassigneux, E., �L�irrigation dans le delta du Tonkin�, Revue de G�ographie annuelle, Tome VI, Paris, 1912.

 

Diguet, Colonel Edouard J. J., Le Montagnards du Tonkin (Paris: A. Challomel, 1908).

 

Dumont, Remi, La Culture du riz dans le Delta du Tonkin (Paris: Soci�t� d��ditions g�ographiques maritimes et colonials, 1935).

 

Famin, Pierre Paul, Au Tonkin et sur la Fronti�re du Kwang-si (Paris: A. Challamel, 1985).

 

Gouvernement G�n�ral de l�Indochine, Annuaire statistique de l�Indochine, Tome I (Hanoi, 1927).

 

Gourou, Pierre, Les paysans du Delta Tonkinois (Paris: Mouton, 1936).

 

Marabail, P., ��tude sur le cercle de Caobang�, luận �n tiến sĩ, Universit� Paris, Paris, 1908.

 

Phạm Ngọc Thuần v� Phan Tất Đắc, Kh� Hậu Việt Nam [Climate in Vietnam] (H� Nội: Khoa Học v� Kỹ Thuật, 1978).

 

Sakurai Yumio, Betonamu Sonraku no Keisei [Sự Th�nh Lập L�ng X� Việt Nam] (Tokyo: Soubunsha, 1987).

 

Yamamoto Tatsuro, �Annan no fudosan baibai monjo� [T�i liệu về việc mua b�n bất động sản tại An Nam], Tohogakuho, Tokyo: Tohogakkai, 1940.

 

Yamamoto Tatsuro, Annanshi Kenkyu (I) [Nghi�n Cứu Lịch Sử An Nam] (Tokyo: Yamakawa Shuppan, 1950. �

_____

 

Nguồn: Yumio Sakurai, Peasant Drain and Abandoned Villages in the Red River Delta between 1750 and 1850, The Last Stands of Asian Autonomies: Responses to Modernity in the Diverse States of Southeast Asia and Korea, 1975-1900, editor: Anthony Reid, New York: St. Martin�s Press, Inc., 1997, c�c trang 133-152.� Bản tiếng Nhật c� thể được truy cập tai website: http://repository.kulib.kyoto-u.ac.jp/dspace/handle/2433/56103?mode=full&submit_simple=Show+full+item+record

 

Ng� Bắc dịch

3/8/2009  
    

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2009