Robbins Burling

University of Michigan

 

 

D�N VIỆT NAM

 

 

Ng� Bắc dịch

 

***

 

Ảnh Hưởng Của Trung Hoa

 

������ Mặc d� nền văn minh của Đ�ng Nam � �t vay mượn Trung Hoa hơn Ấn Độ, ảnh hưởng của Trung Hoa kh�ng bao giờ vắng b�ng, v� tại một �t khu vực, n� lại chiếm ưu thế.� Ảnh hưởng của Trung Hoa được h�nh xử theo một cung c�ch ho�n to�n kh�c biệt với Ấn Độ.� Cho đến mức hay biết được, chưa từng một quốc gia Ấn Độ n�o đ� ph�i một đo�n qu�n đi chinh phục đến Đ�ng Nam � hay ngay cả can thiệp một c�ch nghi�m trọng v�o c�ng chutện nội bộ của v�ng n�y, nhưng bất kỳ khi n�o Trung Hoa thống nhất v� đủ mạnh, n� lại xen lấn v�o ch�nh trị của Đ�ng Nam � v� từng chập đ� ph�i c�c đo�n qu�n xuống ph�a nam để cưỡng h�nh c�c chỉ dụ hay mở rộng l�nh thổ của n�.� Trung Hoa c�n c� thể g�p phần t�n trợ sự ph�n h�a giữa c�c d�n tộc Đ�ng Nam �, bởi trong qu� khứ cũng như ng�y nay, điều c� lợi cho Trung Hoa l� giữ họ chia rẽ v� suy yếu.

 

������ Văn minh Trung Hoa c� c�c nguồn cội của n� tại phương bắc, v� người ta c� thể nh�n sự lan truyền của n� xuống miền nam Trung Hoa như một phần của c�ng sự di chuyển đ� mang n� đi s�u hơn nữa v�o Đ�ng Nam �.� Phần lớn miền nam Trung Hoa ng�y nay đ� bị thu h�t ho�n to�n v�o d�ng ch�nh của văn minh Trung Hoa, nhưng đ� c� thời văn h�a của n� c� thể kh�ng mấy kh�c biệt với văn h�a của Đ�ng Nam �.� Ngay hiện nay, nhiều t�i đất của d�n bộ tộc vẫn tồn tại ở miền nam Trung Hoa, đặc biệt tại c�c miền n�i non v� xa x�i hơn.� C�c bộ tộc n�y cho thấy c�c mức độ kh�c nhau của sự H�n h�a, nhưng n�i một c�ch tổng qu�t, khi người ta c�ng đi s�u hơn xuống ph�a nam, c�c sự tương đồng với Trung Hoa c�ng �t hơn.

 

������ Trong số c�c d�n tộc sống tại ph�a nam bi�n giới ch�nh trị hiện đại của Trung Hoa, kh�ng d�n tộc n�o chịu ảnh hưởng bởi văn minh Trung Hoa s�u đậm hơn d�n tộc Việt Nam, nguy�n thủy l� c�c cư d�n của v�ng đất bằng phẳng quanh s�ng Hồng, thuộc phần ng�y nay l� Bắc Việt Nam. Từ nơi đ�y, sự giao thương với miền nam Trung Hoa tương đối dễ d�ng, trong khi rặng n�i An Nam [Trường Sơn] chạy song song với bờ biển khiến cho sự giao thương với phần c�n lại của Đ�ng Nam � kh� khăn hơn. Giao thương với miền nam Trung Hoa qu� dễ d�ng đến nỗi, trong thực tế, miền bắc Việt Nam đ� bị s�p nhập v�o trong đế quốc Trung Hoa ngay từ thế kỷ thứ nh� Trước Thi�n Ch�a, v� trong một ngh�n năm n� vẫn l� một phần kết hợp của Trung Hoa. V�o năm 939, trong thời kỳ suy giảm của nh� Đường, Việt Nam đ� tự giải ph�ng khỏi sự cai trị của Trung Hoa, nhưng một ngh�n năm dưới sự kiểm so�t của Trung Hoa đ� để lại một dấu vết kh�ng thể tẩy x�a được tr�n văn h�a của người Việt Nam. Ngay danh xưng của họ cũng phản ảnh tầm quan trọng của Trung Hoa, bởi Việt Nam theo s�t nghĩa l� xứ sở ở miền nam, v� dĩ nhi�n, chỉ trong tương quan với Trung Hoa n� mới được xem l� �phương nam�. C� lẽ điều lạ chăng l� liệu người d�n Việt Nam c� c�n giữ lại được bất kỳ đường n�t n�o trong di sản Đ�ng Nam � của họ hay kh�ng.�

 

������ Ngay sau khi gi�nh lại được nền độc lập của m�nh, người Việt Nam đ� hướng l�n phương bắc tới Trung Hoa như suối nguồn của sự th�ng th�i v� kiến thức v� họ đ�i khi phải chịu đựng c�c cuộc tấn c�ng của Trung Hoa.� Bị �p từ phương bắc bởi người Trung Hoa, người Việt Nam đ� nh�n đến hướng ngược lại, xu�ng ph�a nam, để b�nh trướng.� Kết quả, người Việt Nam với ng�n ngữ của họ, v� với văn h�a bị H�n h�a của họ, trong nhiều thế kỷ, đ� thẩm thấu xuống ch�u thổ s�ng Mekong nơi họ phong tỏa d�n Ch�m xưa hơn v� tiến tới sự tiếp x�c với d�n Căm Bốt.� Miền Nam lu�n lu�n c� vẻ như sẽ l� điều g� đ� của một bi�n cương hoang dại cho người Việt Nam v� từ l�u c� mật độ d�n cư thưa thớt hơn nhiều so với miền bắc.

 

������ Giống như tại c�c phần kh�c của Đ�ng Nam �, c�c ranh giới ch�nh trị của quốc gia hiện đại giờ đ�y bao gồm kh�ng chỉ c�c v�ng đất thấp m� c�n cả c�c đồi n�i gi�p ranh nữa; nhưng kh�ng c� sắc d�n Đ�ng Nam � n�o lại lảng xa c�c n�i đồi một c�ch bướng bỉnh cho bằng d�n Việt Nam.� N�ng nghiệp của họ kh�ng th�ch hợp với c�c đồi n�i v� l�y l�m kinh sợ về bệnh sốt v� bệnh kiết lỵ được thấy nơi đ�.� Họ cũng tin tưởng rằng c�c ngọn n�i v� c�c khu rừng đầy c�c ma quỷ �c độc, sẵn s�ng l�m hại người thiếu thận trọng đến từ c�c đồng bằng.� Dĩ nhi�n, c�c n�i đồi kh�ng bao giờ thiếu vắng người ở, v� d�n miền n�i đ� l�m tất cả những g� họ c� thể l�m được để biến v�ng đất của họ trở th�nh nguy hiểm cho người b�n ngo�i.� Hậu quả, bi�n giới địa dư giữa c�c đồng bằng v� c�c đồi n�i được chạy song h�nh một c�ch gần cận bởi ranh giới văn h�a giữa người Việt Nam với c�c bộ tộc miền n�i đồi.� Kiến tr�c, y phục, ng�n ngữ, v� c�c nghi lễ tất cả đều thay đổi một c�ch đột ngột khi người ta bước v�o c�c n�i đồi.� Bởi v� tại miền trung Việt Nam c�c ngọn n�i thường vươn tới bờ biển, người Việt Nam sinh sống ở đ� bị giới hạn v�o c�c khoảnh đất th�p, biệt lập với nhau bởi c�c n�i đồi xen kẽ.� Ch�nh v� thế, d�n Việt Nam tập trung tại c�c đồng bằng ở miền bắc v� miền nam xứ sở, v� chỉ rải r�c một c�ch thưa thớt ở miền giữa.� Sự ph�n bố n�y đ� đưa đến sự so s�nh thường c� về xứ sở với hai th�ng gạo, miền bắc v� miền nam, được nối liền với nhau bởi một chiếc đ�n g�nh mảnh khảnh.� D�n số của ch�u thổ miền bắc th� đ�ng hơn v� c� mật độ cao hơn nhiều v�, trong thực tế, đ�y l� khu vực duy nhất tại v�ng Đ�ng Nam � Lục Địa đ� sinh ra một d�n số đ�ng đảo vốn l� n�t đặc trưng cho c�c phần đất kh�c của � Ch�u.

 

Hệ Cấp Ch�nh Quyền

 

Giống y người d�n xa hơn về ph�a t�y tiếp nhận c�c học thuyết ch�nh trị của Ấn Độ v� rập khu�n ch�nh quyền của họ theo c�c � niệm của Ấn Độ, người Việt Nam cũng tiếp nhận c�c � tưởng của Trung Hoa như thế.� C� lẽ sự bắt chước n�y diễn ra mau ch�ng nhất trong thời kỳ đ� hộ của Trung Hoa, nhưng ngay trong thời độc lập, Việt Nam vẫn duy tr� một hệ thống ch�nh quyền đi theo s�t c�c đường hướng của Trung Hoa.� Ho�ng đế Việt Nam ngự trị tại đỉnh cao quyền lực d�n sự v� qu�n sự v�, giống như đối t�c Trung Hoa, �ng ta mang danh hiệu �Thi�n Tử� (Son of Heaven). �Kh�ng ai kh�c ngo�i �ng ta mới được ph�p để d�ng đồ c�ng h�ng năm l�n �ng trời trong buổi lễ quốc gia.� Trước ng�y l�m lễ, �ng ta v� c�c thượng thư phụ gi�p �ng phải tự tẩy trần trong ba ng�y v� sau đ�, theo nhịp rung của chu�ng v� tiếng đ�nh của trống, họ sẽ quay một con ngh� v� ch�n v�i theo nghi lễ m�u v� l�ng của con vật.� Tr�n đỉnh của ngọn đồi nhỏ tr�n trịa, tại c�c b�n thờ trời, đất, v� c�c tổ ti�n của ho�ng gia, khi đ� nh� vua sẽ d�ng c�ng ngọc b�ch, lụa, gạo, thịt, v� hoa, v� cầu khẩn sự ph� hộ của c�c thần linh.� Buổi lễ n�y d�ng để chứng thực vị thế độc nhất của ho�ng đế trong nước, kh�ng chỉ như nh� cai trị thế tục, m� c�n như vị l�nh đạo tinh thần tối cao, v� kh�ng c� g� ti�u biểu cho sự khuất b�ng của trật tự cũ r� r�ng bằng sự đ�nh chỉ c�c nghi lễ quốc gia n�y sau năm 1942.

 

������ Khổng Tử, kẻ m� người Việt Nam coi trọng y như người Trung Hoa đ� l�m, x�c định năm mối quan hệ x� hội quan trọng: sự t�n k�nh của thần d�n đối với nh� vua; của người con đối với người cha; của người vợ đối với chồng, của người em đối với người anh; v� của b� bạn đối với b� bạn.� Thần d�n phải, tr�n nguy�n tắc, tu�n h�nh vị ho�ng đế của m�nh trong sự v�ng lời v� t�n tụy m� qu�ng, giống như người con phải tu�n phục người cha.� Song sự v�ng lời m� qu�ng đối với một vị ho�ng đế v� khả năng c� thể g�y tại họa v� như tại bất kỳ hệ thống ch�nh trị n�o, c�c vấn đề đ�i l�c ph�t sinh li�n quan đến t�nh đại diện ch�nh thống (legitimacy) của sự cai trị của ho�ng đế.� C�c vấn đề n�y tạo ngờ vực rằng liệu vị ho�ng đế c� được �sự ủy nhiệm của trời� [mandate of heaven, tức mệnh trời theo c�ch n�i của người Việt, ch� của người dịch] để cai trị thần d�n của �ng ta hay kh�ng.� Nơi đ�y, người Việt Nam đ� vay mượn l� thuyết của người Trung Hoa cho rằng t�nh đại diện ch�nh thống được x�c nhận bởi sự thịnh vượng của quốc gia.� Khi xứ sở được thịnh vượng v� người d�n khỏe mạnh, khi đ� r� r�ng l� vị ho�ng đế trong thực tế c� được giao ph� cho mệnh trời; khi sự việc yếu k�m, đ� l� dấu hiệu rằng vị ho�ng đề đ� l�m �mất� mệnh trời, như thế d�n ch�ng c� ch�nh nghĩa để nổi dậy.� Sự biện minh trừu tượng n�y cho sự nổi dậy được cảm nhận s�u xa đến đ�u bởi người d�n thường thật kh� hay biết, nhưng trong những ng�y cuối c�ng của sự thống trị của Ph�p, học thuyết n�y hẳn nhi�n đ� kh� mờ nhạt đối với đa số người Việt.� Bảo Đại, vị ho�ng đế cuối c�ng của Việt Nam, l� con trai của vị ti�n vương với n�ng hầu c� gốc g�c n�ng d�n.� �ng được gi�o dục tại Ph�p v� đ� trở th�nh ho�n to�n T�y Phương trong c�c cảm nhận của �ng.� Người Ph�p đ� đặt �ng l�n ngai v�ng, nhưng quyền h�nh thực sự từ l�u đ� được chuyển sang cho c�c nh� cai trị thực d�n.� Trong khi xứ sở bị ch�m ngập trong bạo động của cuộc chinh phục của Nhật Bản v� sau đ� một cuộc nội chiến k�o d�i, điều hẳn r� r�ng đối với những ai c�n quan t�m rằng �ng Bảo Đại đ� đ�nh mất mệnh trời từ l�u.

 

������ Trong c�c thời xa xưa hơn, vị ho�ng đế được bao quanh bởi c�c h�o quang của thần th�nh, mặc d� bản th�n �ng ta kh�ng ho�n to�n th�nh thiện.� �ng sống một cuộc đời biệt lập trong một khu vực được gọi l� �Cấm Th�nh� (Forbidden City), trong đ� chỉ c� vợ, c�c n�ng hầu, c�c gia nh�n, v� c�c vi�n chức ch�nh quyền cao cấp nhất mới c� thể bước v�o.� Tất cả c�c thần d�n của �ng phải c�i đầu phủ phục trước sự hiện diện của �ng.� Ho�ng đế được ph�p c� nhiều vợ v� n�ng hầu, v� tất nhi�n ho�ng tộc tăng trưởng rất đ�ng nhưng, giống như c�c nơi kh�c tại Đ�ng Nam �, phạm vi c�c người th�n thuộc nh� vua bị giới hạn bởi quy luật rằng đẳng cấp qu� tộc bị gi�ng xuống với mỗi thế hệ bị loại ra khỏi lớp tổ ti�n ho�ng gia.

 

������ Vị ho�ng đế được trợ gi�p bởi một chế độ thư lại phức tạp.� Chế độ thư lại hay quan lại n�y được mở ngỏ cho những ai tr�ng tuyển qua c�c cuộc khảo th� quốc gia, m� tr�n l� thuyết, mở rộng cửa cho tất cả mọi người.� Ngay đưa trẻ ngh�o nhất cũng hội đủ điều kiện cho một chức vụ trong c�ng vụ, nếu cậu ta c� đủ sở học để tr�ng tuyển qua c�c cuộc khảo th� � nhưng dĩ nhi�n sẽ kh� khăn cho một đứa trẻ ngh�o đạt được nền gi�o dục cần thiết.� Gia đ�nh cậu b� c� thể kh�ng cắt giảm được sức lao động của cậu tại c�c c�nh đồng, khoan n�i đến việc trả ph� tổn cho sự học tập.� Song hệ thống c�c cuộc khảo th� mở ngỏ c� cho ph�p một mức độ của sự lưu động x� hội, v� n� đ� ngăn cản sự th�nh lập c�c giai cấp ph�n biệt một c�ch cứng rắn.� Giống như c�c đối t�c Trung Hoa của ch�ng, c�c cuộc khảo th� được dựa tr�n c�c sự giảng dạy về triết l� v� đạo đức trong c�c kinh điển Trung Hoa.� C�c tử sĩ đ� học hỏi về thi ca, triết l�, lịch sử, v� lu�n l�, v� mọi sự gi�o dục đều nhuốm m�u sắc đạo đức.� Trở th�nh �c� học� c� nghĩa l� theo đuổi l� tr� v� tiến đến một đời sống điều độ, �n h�a, v� lương thiện.� Nền gi�o dục n�y đ� kh�ng c� mối li�n quan trực tiếp đến c�c bổn phận của chức vụ m� ứng đơn c� thể ao ước, v� người phương T�y thực dụng nhiều phần cảm thấy rằng sự lựa chọn c�c vi�n chức ch�nh quyền, ngay trong điều kiện tốt nhất, vẫn c� t�nh chất may rủi.� L� thuyết dường như cho rằng bất kỳ người n�o c� năng lực tập th�nh tr� thức để nắm vững c�c kinh điển Trung Hoa đều c� thể, với sự dễ d�ng tương đối, đảm nhận bất kỳ c�ng t�c kỹ thuật tầm thường n�o m� một vi�n thư lại c� thể đối diện.

 

������ Học giả kh�ng được kỳ vọng sẽ r�t lui ra khỏi thế giới quanh m�nh, m� c�n phải đảm nhận sự l�nh đạo tại cộng đồng của �ng ta.� Bởi ch�nh băng tần theo đ� người ta đ� t�m c�ch bước v�o giới quan lại, gi�o dục đ� trở th�nh phương tiện cho sự an to�n v� uy t�n.� Một học giả c� thể kh�ng bao giờ bị tr�ng chờ phải l�m việc bằng tay ch�n của m�nh, v� thế, gi�o dục cũng c� nghĩa sự giải tho�t khỏi lao động tay ch�n v� sự bảo đảm cho danh gi� v� sự t�n k�nh.

 

������ Gi�o dục đ�i hỏi, trong số c�c điều kh�c, việc th�ng thạo H�n tự, bởi uy t�n của l�ng giềng phương bắc của họ qu� to lớn đến nỗi người Việt Nam chỉ sử dụng hệ th�ng văn tự của Trung Hoa.� Việc n�y gia cường c�c sự r�ng buộc giữa hai nước, bởi n� c� nghĩa rằng tất cả văn chương v� học thuật Trung Hoa được cung ứng cho giới Việt Nam học thức.� Ngay từ thế kỷ thứ mười bẩy, c�c nh� truyền đạo C�ng Gi�o đ� tạo ra một hệ thống k� �m bằng mẫu tự La M� cho ng�n ngữ Việt Nam, được gọi l� quốc ngữ [ti�ng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Dần d�, nhất l� sau khi c� cuộc chinh phục hồi thế kỷ thứ mười ch�n của Ph�p, quốc ngữ tiến đến việc thay thế H�n tự l�m phương ph�p viết chữ th�ng thường.� Việc n�y triệt hạ gi� trị của loại gi�o dục cổ xưa v�, bởi c�c cuộc khảo th� dự tuyển được đặt tr�n c�c kinh điển Trung Hoa, c�c cuộc khảo th� ng�y c�ng trở n�n lỗi thời.� Sau c�ng, trong năm 1915, c�c cuộc khảo th� đ� bị b�i bỏ bởi người Ph�p, v� sự đoạn tuyệt với qu� khứ được ho�n tất.

 

������ Như tại to�n thế � Ch�u cổ truyền, hệ cấp ch�nh quyền đứng b�n tr�n v� phần n�o t�ch biệt khỏi đời sống của c�c l�ng x�.� C�c n�ng d�n cầy cấy hoặc kh�ng cần hay kh�ng muốn c� sự chỉ đạo li�n tục bởi bất kỳ ch�nh quyền trung ương n�o.� L�ng x� đ� phải đ�ng phần thuế của n� v� đ�ng g�p sức lao động của n� cho c�c c�ng tr�nh c�ng ch�nh, v� thanh ni�n trong l�ng bị trưng tập v�o qu�n đội quốc gia.� Nhưng chừng n�o l�ng x� vẫn an b�nh, c�c vấn đề nội bộ thuộc mối quan t�m ri�ng của ch�nh n�, v� ch�nh quyền trung ương lấy l�m vui sướng để y�n cho l�ng x� tự trị.

 

������ Tuy thế, sự nhấn mạnh tr�n việc học tập vốn được t�n trợ bởi hệ thống khảo th� đ� ảnh hưởng đến cả sự tổ chức nội bộ của c�c l�ng x�.� Kh�ng phải tất cả c�c kẻ gắng sức vượt qua c�c cuộc khảo th� đều được th�nh c�ng, v� sự tr�ng tuyển kh�ng c�n bảo đảm cho sự gia nhập v�o giới thư lại cho bằng một cấp bằng cao đẳng bảo đảm một c�ng việc trong thế giới hiện đại.� Những kẻ đ� gia nhập v�o việc phục vụ ch�nh quyền thường l�m việc tại nơi kh�c nhau của đất nước, nhưng họ lu�n lu�n giữ một sự trung th�nh với qu� qu�n của họ v� c�c người học thức của một l�ng, bất luận họ c� một chức vụ trong ch�nh quyền hay kh�ng, đều c� thể kỳ vọng để đảm nhận sự l�nh đạo tại ng�i l�ng của ch�nh họ.

 

������ C�n c� một điều kiện kh�c cho giới l�nh đạo l�ng x�: sự sở hữu đất đai.� Gi�o dục v� sự sở hữu đất đai thường nhưng kh�ng lu�n lu�n đi liền với nhau, bởi thực kh� khăn để đạt được một sự gi�o dục ngoại trừ xuy�n qua sự gi�u c� m� đất đai mang lại. C�c học giả v� c�c điền chủ c�ng nhau họp th�nh một �hội đồng kỳ mục� (council of notables) tự bổ nhiệm, một cơ cấu của giới qu� tộc địa phương được k�nh trọng.� Họ quản trị t�i sản của l�ng, tổ chức c�c c�ng tr�nh c�ng ch�nh, thu c�c sắc thuế, v� canh g�c l�nh địa của l�ng.� Kh�ng nh�n sĩ n�o được trả lương, mặc d� họ c� thể được bồi đ�p bởi được ph�p sử dụng một phần đất do l�ng sở hữu; uy t�n của chức vụ của họ c� gi� trị nhiều hơn bất kỳ phần thưởng vật chất n�o.� Hội đồng kỳ mục tuyển chọn người giữ chức vụ vốn đ� được dịch ra một c�ch kh�ng mấy đ�ng l� x� trưởng (mayor).� Kh�ng giống như trưởng l�ng của Th�i Lan, �ng ta thường l� một người c� uy t�n tương đối thấp, một đại diện của hội đồng được ước định thi h�nh c�c mệnh lệnh của hội đồng v� l�m c�ng việc thư k� thường lệ trong việc giữ g�n sổ thuế v� giao dịch c�ng việc địa phương với ch�nh quyền.� Một trong nhiều kh� khăn m� người Ph�p tạo ra trong sự quản tri của họ đối với l�ng x� Việt Nam l� cố gắng trao cho x� trưởng nhiều tr�ch nhiệm hơn những g� �ng ta nắm giữ theo truyền thống.� C� uy t�n tương đối thấp trong mắt nh�n của người d�n l�ng, �ng ta chỉ c� thể thi h�nh c�c nhiệm vụ mới của �ng với sự hậu thuẫm của người Ph�p, v� việc n�y kh�ng l�m gia tăng uy tin cho �ng ta cũng như cho ch�nh quyền.

 

������ Hội đồng kỳ mục đứng giữa c�c người d�n l�ng b�n dưới v� chế độ thư lại b�n tr�n.� Một th�nh vi�n của giới thư lại được nh�n như một đại diện của ho�ng đế, v� �ng ta hưởng dụng c�ng một số sự v�ng lời t�n phục d�nh cho bản th�n vị ho�ng đế.� Giới quan lại được ph�n chia th�nh một số ngạch hay trật được x�c định r� r�ng, mỗi phẩm trật với c�c đặc ưu quyền của ri�ng n� c�ng c�c biểu trưng của tư thế.� Ở ph�a đầu b�n kia của bậc thang x� hội, c�c d�n l�ng b�nh thường cũng được chỉ định cho một trong nhiều phẩm trật c� danh hiệu v� ch�nh thức, v� mỗi ngạch trật đều c� c�c quyền v� nghĩa vụ c� biệt.� Ở tr�n c�ng l� c�c th�n h�o nh�n sĩ, v� ở tận c�ng l� c�c n�ng d�n kh�ng c� đất, kh�ng phải trả thuế v� hiếm được xem l� c�c c�ng d�n.� Ở giữa l� nhiều phẩm ngạch dựa tr�n số tuổi v� sự gi�u c�.� Những kẻ ở tr�n c�ng được miền thuế lao động.� Người tr�n s�u mươi mốt tuổi c� một thứ bậc đặc biệt v� c�c người ngh�o khổ v� t�n tật được đặt sang một b�n trong một thứ bậc đặc biệt thấp hơn.� C�c tầng lớp cao cấp cai trị l�ng v� vị thế của họ được tượng trưng xuy�n qua nhiều sự ph�n biệt r� r�ng trong nghi lễ.� Ngay c�c vị thần linh của l�ng cũng được chỉ định c�c ng�i thứ.

 

������ Hệ th�ng thứ bậc n�y tương phản một c�ch lạ l�ng với hệ thống của Miến Điện v� Th�i Lan.� Hệ thống tầng lớp của Việt Nam cởi mở hơn nhiều so với hệ thống giai cấp của c�c nước kh�c, bởi v� hệ thống khảo th� cung cấp một cơ chế cơ hữu xuy�n qua đ� sự lưu động tr�n nguy�n tắc c� thể đạt được, cho d� đa số quần ch�ng kh�ng bao giờ ở v�o địa vị để thủ lợi từ đ�.� Bất kể sự cởi mở tương đối của n�, c�c mức độ của vị thế trong hệ thống Việt Nam c�n l�u mới được định nghĩa một c�ch ch�nh x�c, v� đ� c� sự ph�n cấp xuống dưới nhiều hơn so với c�c hệ thống tại Th�i Lan hay Miến Điện, nơi m� c�c sự ph�n chia r� rệt duy nhất l� c�c sự ph�n chia th�nh c�c nh� qu� tộc, c�c nh� sư v� c�c thường d�n.� Giới tăng lữ được mở cửa cho mọi người, nhưng tại Miến Điện hay Th�i Lan, kh�ng c� c�ch n�o theo đ� một thường d�n lại c� thể ao ước một c�ch ch�nh đ�ng để leo v�o giới qu� tộc.

 

 

 

 

Đời Sống L�ng X� Việt Nam

 

������ C�c n�ng d�n kh�ng bao giờ sinh sống trong c�c n�ng trại biệt lập tại miền bắc Việt Nam, m� lu�n lu�n quy tụ c�c căn nh� của họ lại với nhau trong c�c ng�i l�ng, v� c�c th�nh vi�n của một ng�i l�ng xem ra đ� nhấn mạnh đến mối r�ng buộc chung của họ c�n chặt chẽ hơn tại Th�i Lan hay Miến Điện.� Điều được n�i l� một người Việt Nam rời xa l�ng qu� của m�nh kh�ng bao giờ c� được hạnh ph�c, bởi người đ� mo ước thường xuy�n đến thời khắc khi m�nh c� thể hồi hương, v� sự quyến luyến với l�ng x� c�n được đưa ra như một lời giải th�ch cho sự miễn cưỡng của d�n Việt Nam để tiến v�o c�c v�ng cao nguy�n.� Tại n�i đồi, c�c c�nh đồng cung ứng cho sự canh t�c ướt nước th� �t ỏi v� rải r�c, v� kh�ng thể n�o thu thập một d�n số đủ lớn tại một chỗ để th�nh lập th�nh một l�ng khả dĩ sinh tồn theo loại vốn được y�u mến biết bao.

 

������ Sự hợp nhất của l�ng x� được tượng trưng bởi một trung t�m nghi lễ được gọi l� đ�nh [tiếng Việt trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� Nơi đ�y, thường qu�y quần với nhau trong một khu�n vi�n c� tường bao quanh, l� c�c ng�i đền d�nh cho c�c vị thần linh quan trọng, v� một nơi chốn để d�n l�ng tụ họp v� thảo luận c�ng việc của họ.� Theo truyền thống, mỗi l�ng c� một vị thần bảo trợ, được lựa chọn bởi d�n l�ng, v� thường dựa v�o một nh�n vật lịch sử hay truyền kỳ.� Vị thần n�y được ban cho một tước vị v� một đẳng trật n�o đ� bởi sắc dụ của ho�ng triều, v� cũng được thăng thưởng hay gi�ng trật bởi lệnh của triều đ�nh.� Vị thần bảo vệ c� nơi thờ c�ng t�n nghi�m ri�ng trong đ�nh v� c�c d�n l�ng cử h�nh c�c nghi lễ một c�ch t�n k�nh vinh danh vị thần.� C�c vị thần kh�c, cũng thế, họ c� c�c ng�i đền ri�ng qu�n quần b�n nhau trong đ�nh.� C� thể c� một ng�i đền thờ năm vị nữ thần của kim, mộc, thủy hỏa v� thổ � hay cho linh hồn của c�c người chết đi c� con ch�u th�i kh�ng c�n thờ phụng họ v� v� thế, l� c�c c� hồn đi lang thang v� đe dọa người sống, nhưng mỗi l�ng đều c� c�c vị thần được y�u mến ri�ng của m�nh v� kh�ng cần c� c�ng c�c ng�i đền như thế tại c�c l�ng l�n cận.

 

������ Mặc d� đ�nh l� trung t�m nghi lễ của l�ng, n� kh�ng bao gồm nơi cư tr� cho c�c nh� sư, như wat của Th�i Lan.� Tại Th�i Lan v� Miến Điện, sự ủng hộ chung của c�c nh� sư của tu viện trong l�ng c� thể l�m nổi bật sự hợp nhất của d�n l�ng, nhưng tại Việt Nam quyền lợi chung tr�n đất đai v� t�i sản của l�ng cũng quan trong như sự tham dự chung tại đ�nh.� C�c n�ng d�n tại mọi nước đều hợp t�c để tu sửa c�c đường lộ v� kinh đ�o địa phương, nhưng chỉ ở Việt Nam đất tư của c�c n�ng d�n mới được bổ t�c theo truyền thống bởi đất được sở hữu tập thể bởi l�ng x�, v� chỉ c� d�n Việt Nam mới hợp t�c nhau đến mức dự trữ ngũ cốc chung sẽ được sử dụng bởi c�c kẻ cần đến v�o những l�c thiếu thốn.� C�ng điền được ph�n phối định kỳ trong d�n l�ng cho sự sử dụng tạm thời, hoặc cho c�c vị kỳ mục l�m phần đền b� cho c�ng việc của họ hay cho người ngh�o l� c�c kẻ c�ch n�o đ� kh�ng c� t� đất n�o.� Sự kiện n�y cung cấp một h�nh thức quan trọng của bảo hiểm chống lại cảnh ngh�o đ�i c�ng cực v� mang lại cho mọi người, gi�u v� ngh�o, một cổ phần quan trọng tại l�ng.� Tuy nhi�n, phần lớn đất đai được sở hữu ri�ng tư, v� khi d�n số tăng trưởng, c�c mảnh đất c� khuynh hướng ng�y c�ng bị cắt th�nh mảnh nhỏ.� Trong một nền kinh tế tiền tệ triệt để, đ�t c� thể đem cho thu�, để đương, v� b�n, v� một sự th�m kh�t đất đai gia tăng đ� trợ lực cho việc khai ph�o cho một t�nh trạng bất ổn m� người Ph�p chưa từng đối ph� một c�ch th�ch đ�ng.

 

������ Giống như mọi người d�n Đ�ng Nam �, phần lớn người Việt Nam l� c�c n�ng d�n trồng l�a gạo, nhưng sự chuy�n nghiệp h�a cấp miền lại đi xa hơn c�c v�ng đất kh�c. Một �t l�ng chuy�n m�n về một nghề duy nhất, chẳng hạn như l�m đồ kim loại, dệt lụa, hay l�m giấy, v� họ trao đổi c�c sản phẩm của m�nh để lấy thức ăn v� c�c sản phẩm tinh xảo của c�c l�ng kh�c.� T�nh khả cung địa phương c�c nguy�n liệu c� thể đ� kh�ch lệ m� h�nh n�y, nhưng điều quan trọng hơn l� cảm thức địa phương mạnh mẽ: một người sẽ dạy dỗ c�c người c�ng l�ng c�c b� quyết nghề nghiệp của m�nh nhưng �ng ta sẽ kh�ng sẵn l�ng để chỉ dạy c�c kẻ l�ng kh�c, v� như thế c�c thị trường độc quyền địa phương sẽ được tạo lập v� bảo vệ.� Dọc theo bờ biển, một số l�ng kiếm sống ho�n to�n bằng việc đ�nh c�, v� c�c thuyền của họ ra khơi mỗi ng�y để khai th�c c�c dự trữ phong ph� của Biển Nam Hải (South China Sea).� Nơi đ�y, c�c d�n l�ng gi�u c� nhất l� c�c chủ nh�n của c�c thuyền đ�nh c�, nhưng uy tin v� quyền lực địa phương của họ tương tự như của c�c điền chủ cỡ lớn ở nơi kh�c.� C�c d�n l�ng kh�c điều khiển c�c con t�u của như c�c ngư phủ ch�nh hay như c�c th�nh vi�n b�nh thường của thủy thủ đo�n, v� thường một phụ nữ đi c�ng c� nhiệm vụ b�n số ngư sản bắt được.� C�c thuyền buồm mậu dịch đ�i khi đi theo c�c ngư phủ v� mua số bắt được trước khi ch�ng được mang l�n bờ.� Với sự chuy�n m�n h�a như thế, kh�ng l�ng n�o c� thể tự t�c, v� việc trao đổi gạo, c�, c�c c�c sản phẩm chế tạo đ� l� một phần cốt yếu trong đời sống Việt Nam.

 

������ Tại c�c l�ng n�ng nghiệp, l�a gạo lu�n lu�n l� phần thu hoạch ch�nh.� Giống như tại c�c ch�u thổ miền nam của Th�i Lan v� Miến Điện, phần lớn miền nam Việt nam gần như kh�ng trồng g� kh�c hơn l� l�a gạo.� Tại miền bắc, gạo được bổ t�c bởi c�c hoa m�u phụ chẳng hạn như khoai lang, khoai sọ, sắn, củ ho�ng tinh (arrowroot), hạt cau, thuốc l� v� tr�.� Nơi đ� đất đai phải hỗ trợ cho trung b�nh hai người tr�n mỗi mẫu đất canh t�c, v� phần lớn đất đai tại miền bắc phải sản xuất hai vụ thu hoạch mỗi năm � hoặc l� hai vụ gặt l�a gạo, hay một vụ l�a gạo v� một tr�n một số hoa m�u kh�c.

 

 

Tổ Chức Gia Đ�nh

 

Ảnh hưởng của Trung Hoa th�m nhập v�o Việt Nam một c�ch s�u xa đến nỗi n� đ� t�c động đến h�nh thức của gia đ�nh.� Giống như người Trung Hoa, mọi người Việt Nam đều mang một trong số họ gia đ�nh hạn chế, được biết theo ước lệ l� �trăm họ�, thừa kế từ người cha của m�nh.� Người Việt Nam c�n d�ng H�n tự để đặt t�n.� Một t�nh chắt cốt yếu của hệ thống Trung Hoa kh�ng bao giờ vươn tới Việt Nam: sự ngăn cấm h�n th� giữa những người c�ng họ, v� c�c du kh�ch Trung Hoa đ� nhận x�t với sự kinh ngạc về n�t �đặc th�� Việt Nam n�y.� Giống như người Trung Hoa, người Việt Nam đ� l� tưởng h�a đại gia đ�nh đ�ng đ�c trong đ� một người sẽ quy tụ c�c đứa con trai v� con d�u c�ng c�c đứa ch�u dưới c�ng một m�i nh�. �Cũng như tại Trung Hoa, l� tưởng n�y thường kh�ng được thực hiện bởi phần lớn người Việt Nam chỉ sống trong c�c ng�i nh� nhỏ với cha mẹ v� con c�i của họ.

 

������ Tuy nhi�n, c�c khu�n mẫu cổ xưa hơn của đời sống Đ�ng Nam �, dường như ki�n quyết trong vai tr� m� người phụ nữ đ�ng giữ, bởi bất kể nhiều thế kỷ của c�c bộ luật ch�nh thức (sao ch�p gần như nguy�n văn từ c�c bản ch�nh của Trung Hoa), người phụ nữ giữ lại quyền thừa kế đất đai v� t�i sản v� duy tr� c�c quyền t�i sản đặc biệt t�ch biệt với c�c quyền của người chồng, theo cung c�ch ho�n to�n kh�c biệt với c�ch thức của Trung Hoa cổ truyền.� C�c bộ luật kh�ng trao cho phụ nữ quyền ri�ng biệt để chia sẻ sự thừa kế trong t�i sản của cha mẹ họ, nhưng trong thực tế phụ nữ �t nhất đ� c� thể mang c�c của hồi m�n về nh� chồng.� Của hồi m�n kh�ng bao giờ trở n�n h�a nhập một c�ch trọn vẹn v�o t�i sản của người chồng, bởi trong trường hợp từ trần hay ly dị, người con g�i hay gia đ�nh c� ta vẫn giữ quyền tr�n đ�.� Tại Việt Nam, danh t�nh của người phụ nữ đứng b�n cạnh danh t�nh của người chồng tr�n c�c văn tự v� chứng thư.

 

������ Theo truyền thống, c�c người đ�n �ng v� đ�n b� được giả định giữ một sự c�ch biệt ch�nh thức.� Họ kh�ng c� thể ngồi tr�n c�ng một chiếc chiếu hay ngay cả tiếp x�c với nhau.� Song người phụ nữ l�m c�ng việc nặng nhọc tại đồng ruộng v� � thường xuy�n hơn so với Trung Hoa � họ l�i xe b�, ch�o thuyền tam bản, v� c�n l�m cả việc khu�n v�c v� lao động.� Như c�c nơi kh�c tại Đ�ng Nam �, họ được xem l� tiết kiệm hơn c�c �ng chồng.� C�c cửa h�ng Việt Nam, tr�i với cửa h�ng Trung Hoa, được điều h�nh bởi c�c phụ nữ -- trong thực tế, một người đ�n �ng Việt Nam sẽ bị chế nhạo v� �l�m c�ng việc của đ�n b�.� Khi l�m việc với nhau tại c�c c�nh đồng của họ, sự ph�n chia ch�nh thức c�c giống ph�i c� thể bị l�ng qu�n v�, giống như người Th�i Lan, họ c� thể tr�u ghẹo nhau v� c�n h�t cả những b�i ca mạo hiểm [risqu�, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] l�m nhẹ bớt sự cực nhọc của việc� cấy trồng.� �Nhưng đ� l� h�nh vi cho giới n�ng d�n v� sẽ bị xem l� th� tục trong c�c tầng lớp c� học.

 

������ C�c th�n th�ch g�n giữ một mối li�n hệ ch�nh thức với nhau l� điều kh�ng thấy nơi d�n ch�ng v�ng đồng bằng (plains people) tại c�c xứ sở xa hơn về ph�a t�y.� Họ hợp nhất trong c�c thị tộc (clans) theo phụ hệ với c�c th�nh vi�n hợp t�c với nhau trong việc vinh danh c�c tổ ti�n chung của họ.� Thị tộc c� một trưởng tộc theo lễ nghi, người đ�n �ng lớn tuổi nhất của ng�nh trưởng.� �ng ta c� thể sống trong ng�i nh� nơi m� b�n thờ tổ ti�n được lưu giữ v� �ng ta chịu tr�ch nhiệm ch�nh yếu cho việc duy tr� n�, nhưng c�c anh em trai v� c�c anh em họ của người đ� đ�i khi gia nhập c�ng với �ng ta trong việc cử h�nh c�c nghi lễ.� Tại một đ�m tang, người con trai trưởng của người chết đảm nhận c�ng việc kẻ chịu tang ch�nh v� chỉ đạo c�c nghi lễ.� Một b�i vị tượng trưng cho người chết v� được tin chứa đựng tinh thần của người đ� được bổ sung tr�n b�n thờ tổ ti�n; ở nơi đ�y, c�ng với c�c th�nh vi�n đ� từ trần kh�c của thị tộc, người chết sẽ được tưởng nhớ theo định kỳ.

 

������ Tầm quan trọng của sự thờ phượng tổ ti�n n�y biến việc kh�ng c� con nối d�i th�nh bi kịch v� điều đặc biệt thiết yếu rằng một đứa con trai sẽ được sinh ra trong ng�nh trưởng của gia đ�nh, bởi cậu b� n�y sẽ c� tr�ch nhiệm nghi lễ lớn nhất.� Bất kể sự bất b�nh đẳng đ� trao sự chỉ đạo nghi lễ cho người anh cả, v� bất kể l� tưởng Khổng học giao ph� cho anh ta một vị thế vượt trội r� r�ng, c�c anh em trai chia sẽ gần như đồng đều trong sự thừa kế t�i sản gia đ�nh.� Người anh cả c� thừa kế mảnh đất bất khả chuyển nhượng v� bất khả ph�n chia được đặt ri�ng ra để hỗ trợ cho c�c nghi lễ thờ c�ng tổ ti�n, nhưng anh ta chỉ giữ mảnh đất trong tư c�ch gi�m hộ đối với c�c th�n thich.

 

������ Người gi� lệ thuộc v�o c�c đứa con trai về cấp dưỡng, như thế một cặp vợ chồng kh�ng c� c�c con trai c� thể thấy m�nh ở v�o một t�nh thế kh� khăn.� Nếu họ c� một đứa con g�i, đ�i khi họ c� thể thuyết phục người đ�n �ng m� đứa con g�i kết h�n về ở với họ v� h�nh xử như một người con trai.� Điều n�y l� một t�nh trạng �t ch�nh thức hơn nhiều tại Việt Nam so với Th�i Lan, v� chỉ c� một cậu con trai ngh�o kh� thừa nhận gi� trị phần thừa kế của vợ m�nh mới c� thể được chờ đợi sẽ đảm nhận vai tr� đ�.� Cặp vợ chồng trẻ cũng c� thể trợ gi�p cha mẹ của người vợ v� người chồng c� thể đối xử như một đứa con trai đối với cha mẹ người vợ -- trong mọi phương diện trừ một điều: anh ta kh�ng bao giờ c� thể đảm tr�ch c�c nghi lễ li�n can đến sự thờ phượng tổ ti�n.� C�c nghi lễ n�y phải được chuyển sang cho một th�n nh�n xa hơn, nhưng phải thuộc phụ hệ.

 

������ Việc d�ng c�ng h�ng năm của ho�ng đế l�n trời, c�c buổi lễ l�n vị thần bảo hộ của l�ng, v� c�c nghi thức của sự thờ c�ng tổ ti�n tượng trưng, lần lượt, cho ba mức độ quan trọng nhất của đời sống Việt Nam cổ truyền: quốc gia, l�ng x�, v� gia đ�nh.� Buổi c�ng lễ �ng Trời v� sự sử dụng c�c b�i vị được sao ch�p một c�ch m� qu�ng từ c�c c�ch thức của Trung Hoa, nhưng ch�ng kh�ng phải l� c�c th�nh phần duy nhất trong t�n gi�o của Trung Hoa ảnh hưởng đến Việt Nam.

 

������ Biến thể bắc t�ng hay Đại Thừa (Mahayana) của Phật Gi�o ho�n to�n kh�c biệt với gi�o ph�i được nhận thấy tại phần lớn Đ�ng Nam �, nhưng n� l� một c�ch h�nh đạo tại Việt nam ng�y nay.� Phật Gi�o Đại Thừa (Mahayana) kh�c với Phật Gi�o Tiểu Thừa (Theravada) trong nhiều phương diện.� Trước ti�n, Phật Gi�o Đại Thừa mang lại cho thế giới c�c vị thần được gọi l� Boddhisatvas: Bồ T�t.� Nguy�n thủy, đ�y l� c�c người đ�n �ng, nhưng trong chu kỳ c�c cuộc t�i sinh họ tiến tới mục đ�ch tối hậu của hư v� v� khi đ�, vượt khỏi sự so s�nh đối với c�c con con người đồng loại, họ ngừng lại ngay trước sự tịch diệt ho�n to�n v� triển ho�n sự tan biến c� t�nh của họ.� C�c Bồ T�t trở th�nh c�c vị thần c� biệt v� c� thể lĩnh hội được (kh�c với bất kỳ điều g� trong Phật Gi�o Tiểu Thừa) l� c�c kẻ m� một người c� thể hướng c�c hỵ vọng của m�nh đến.� C�c kẻ theo Phật Gi�o Đại Thừa c� thể cầu nguyện l�n một vị Bồ T�t v� gương trợ gi�p c�c kẻ kh�c cung cấp bởi c�c Bồ T�t gi�p l�m hứng khởi c�c tăng sĩ ph�i Đại Thừa trong việc phục vụ con người đồng loại của họ.� Phật Gi�o Đại Thừa cũng c� một thi�n đường v� địa ngục minh bạch, nơi m� một người được giao th�c t�y theo c�c h�nh động của người đ� tr�n trần gian.� N�n nhớ r�, thi�n đường v� địa ngục của Đại Thừa chỉ l� những nơi nghỉ ngơi tạm thời tr�n con đường tiến tới Niết B�n, nhưng ch�ng c� thể được vẽ hay m� tả theo c�ch m� người b�nh thường c� thể hiểu được.

 

������ Tuy nhi�n, Phật Gi�o l� một phần tử �t quan trọng trong đời sống nghi lễ Việt Nam� so với c�c quốc gia Đ�ng Nam � kh�c.� Số đ�n �ng Việt Nam trở th�nh c�c nh� sư �t hơn nhiều, v� những người l�m như thế thường giữ m�nh l� nh� sư suốt đời.� Họ cử h�nh c�c nghi lễ, nhưng kh�ng đi khất thực.� Sự k�nh trọng d�nh cho giới học thuật gợi hứng bởi sự s�ng b�i đối với c�c kinh điển Khổng học v� hệ thống khảo th� cổ truyền c�ng đ� buộc c�c nh� sư phải trở th�nh c�c người c� học thức sao c� thể gi�nh v� duy tr� được sự k�nh trọng của người d�n, v� c�c ti�u chuẩn học thuật giữa c�c nh� sư c� thể l� cao hơn tại Việt Nam so với c�c nới kh�c tại Đ�ng Nam �.� C�c ng�i ch�a Phật Gi�o �t hơn tại Việt Nam so với c�c nước b�n ph�a t�y, v� người Việt Nam đi thăm một ng�i ch�a Phật Gi�o như chỉ l� một trong nhiều địa điểm thờ phượng.

 

������ C�ng với Khổng học v� Phật Gi�o, Đạo (L�o) Gi�o thường được thừa nhận như một trong ba phần tử ch�nh của đời sống t�n gi�o Trung Hoa.� Đạo Gi�o c� lẽ c� �t ảnh hưởng nhất l�n tr�n người Việt Nam, nhưng tại Trung Hoa n� đ� tiến tới việc bao tr�m cả một loạt c�c ph�p thuật ph� thủy v� huyền b� mang lại sự an ủi cho người d�n th�ng thường nhưng �t chịu sự hệ thống h�a uy�n th�m.� Người Việt Nam sẵn l�ng sử dụng c�c kỹ thuật của Đạo Gi�o về b�i to�n v� ph� thủy khi ch�ng c� vẻ hiệu quả, v� họ đ� bổ t�c c�c kỹ thuật n�y v�o kho t�ng ri�ng của họ về c�c thủ tục lễ nghi.

 

������ Sau c�ng, giống như to�n thể Đ�ng Nam �, thế giới Việt Nam đầy c�c thần linh, kh�ng chỉ c�c thần linh tr�n trời, của l�ng x�, v� của c�c tổ ti�n đ� khuất, m� cả c�c thần linh thi�n nhi�n đơn giản hơn, mang lại điều bất hạnh dưới h�nh thức c�c tai nạn, sự tuyệt tự, bệnh tật v� c�i chết.� C�c thần linh n�y phải được cầu v�i để xua đuổi điều xấu xa, v� sự �chữa trị� th�ng thường d�nh cho bệnh tật l� d�ng c�ng l�n ch�ng bằng thực phẩm.� Mỗi nghề v� ng�nh mậu dịch c� vị thần bảo trợ ri�ng của m�nh c�ng c�c nghi lễ li�n hệ, v� c�c n�ng d�n phải thường lệ khấn v�i c�c vị thần linh quanh năm.� C�c sự d�ng c�ng thần linh dường như quay trở l�i lại một th�nh tố cổ xưa hơn nhiều trong đời sống Việt Nam v� cho thấy rằng ảnh hưởng của Trung Hoa, cho d� c� s�u xa đến đ�u, vẫn chưa th�nh c�ng trong việc b�i x�a di sản Đ�ng Nam � th�m s�u của người Việt Nam./- �������������

 

-----

Nguồn: Robbins Burling, Hill Farms And Padi Fields, Life in Mainland Southeast Asia, Chapter Eight: The Vietnamese, c�c trang 105-117, Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall, Inc., 1965.

 

 

Ng� Bắc dịch v� phụ ch�

12.09.2011    

 

 http://www.gio-o.com/NgoBac.html

 

� gio-o.com 2011