SỰ THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ BẢO HỘ PH�P

TR�N CĂM BỐT

 

 

R. STANLEY THOMSON

Russell Sage College

 

NG� BẮC dịch

 

 

Lời người dịch:

 

Đ�y l� b�i dịch thứ nhất trong loạt b�i c� chủ đề về sự x�m chiếm, s�p nhập v� chia cắt l�nh thổ tại Đ�ng Dương của thực d�n Ph�p để lập th�nh c�c nước Việt Nam, L�o v� Căm Bốt thuộc Ph�p bắt đầu từ hậu b�n thế kỷ thứ 18, sẽ lần lượt được đăng tải nơi đ�y:

 

1. Sự Thiết Lập Chế Độ Bảo Hộ Ph�p Tr�n Căm Bốt, của R. Stanley Thomsọn

2.Xi�m La v� Ph�p, 1863-1870, của R. Stanley Thomson

3.Aubaret v� Hiệp Ước Ng�y 15 Th�ng Bảy năm 1867 giừa Ph�p v� Xi�m La, của Lawrence Palmer Briggs

4.Hiệp Ước Ng�y 23 Th�ng Ba năm 1907 giữa Ph�p v� Xi�m La v� Sự Ho�n Trả Battambang v� Angkor cho Căm Bốt, của Lawrence Palmer Briggs

5.Cuộc Tranh Gi�nh C�c Bờ S�ng Cửu Long, 1892-1896, của Claire Hirshfield

6.Sự Tranh Chấp Bi�n Giới Ph�p-Th�i Năm 1940 v� Sự Cam Kết của Phibuun Sonkhraam với Nhật Bản, của E. Thadeus Flood.

 

-----

 

 

Khi đế quốc An Nam, theo hiệp ước ng�y 5 th�ng S�u năm 1862, nhường cho Ph�p ba tỉnh miền đ�ng Nam Kỳ (Cochinchina) (2), Ph�p đ� c� một v�i l�ng giềng mới tại v�ng Viễn Đ�ng.� Từ năm 1862 trở đi, n� lu�n lu�n bận bịu bởi c�c quan hệ ch�nh trị v� kinh tế của m�nh với c�c l�ng giềng n�y.� Nước Ph�p đ� được dẫn dắt một c�ch ki�n quyết bởi � ch� muốn bảo vệ sự chinh phục của m�nh bằng sự bang trướng ng�y c�ng xa hơn nữa.� Kết quả đầu ti�n của ch�nh s�ch của Ph�p l� sự thiết lập một chế độ bảo hộ tr�n Căm Bốt trong năm 1863.� Hậu quả kế tiếp l� sự s�p nhập ba tỉnh c�n lại của Nam Kỳ trong năm 1867.� Bước tiến thứ ba theo t�nh thế trong sự tiến triển của n� tại Viễn Đ�ng l� một sự sắp xếp với Xi�m La (Siam) trong năm 1867 theo đ� nước sau n�y đ� thừa nhận sự bảo hộ của Ph�p tr�n Căm Bốt để đổi lấy c�c sự nhượng bộ về đất đai.� Một bước tiến xa hơn được ghi nhận trong năm 1874 bởi sự thiết lập một chế độ bảo hộ của Ph�p tr�n An Nam [tức Trung Kỳ].

 

���� Liệu c�c bước tiến kh�c nhau n�y c� phải l� kết quả của c�c sự cứu x�t ch�nh trị hay kinh tế hay kh�ng?� C�u hỏi n�y kh�ng thể được trả lời một c�ch đơn giản c�ch n�y hay c�ch kh�c bởi kh�ng thể t�ch rời c�c động lực.� Hiển nhi�n l� ch�nh s�ch của Ph�p đối với Căm Bốt sẽ được th�c đẩy bởi c�c sự c�n nhắc kinh tế nếu sự thịnh vượng của thuộc địa Nam Kỳ của n� sẽ bị l�m nguy bởi một sự chuyển hướng số xuất cảng của Căm Bốt từ c�c hải cảng của Nam kỳ sang c�c hải cảng của Xi�m La.� Nếu nước Anh, nước c� ảnh hưởng ưa thắng tại Xi�m La trong thập ni�n s�u mươi, sẽ mở rộng ảnh hưởng của n� xuy�n qua Vịnh Th�i Lan sang Căm Bốt, nước Ph�p c� l� do để xem t�nh h�nh của Căm Bốt như l� c� li�n hệ trực tiếp đến sự an ninh trong vị thế của n� tại Nam Kỳ.� Bất kỳ sự chuyển động n�o m� n� c� thể thực hiện để bảo to�n nền an ninh hay sự duy tri của n� tại Nam Kỳ, ch�nh v� thế, sẽ được quyết đ�an theo c�c sự cứu x�t ch�nh trị.

 

���� Nước Ph�p h�y c�n trong thời đệ nhị cộng h�a dưới quyền �ng Ho�ng-Tổng Thống của n� khi bước tiến đầu ti�n được thực hiện để thiết lập c�c quan hệ thương mại với Đ�ng Dương.� Xi�m La đ� sẵn b�y tỏ một sự chuẩn bị để thảo luận một hiệp ước thương mại hồi cuối năm 1851.� Ch�nh phủ Ph�p, theo đ�, đ� ủy quyền cho Đ� Đốc Lapierre, người chỉ huy căn cứ hải qu�n tại Đảo Reunion v� Đ�ng Dương, để đối xử với ch�nh phủ Xi�m La tr�n căn bản tối huệ quốc, được hướng dẫn bởi c�c hiệp ước thương mại đ� sẵn được thương thuyết với Nam Kỳ v� Muscat.� Tuy thế, Lapierre đ� kh�ng bao giờ ho�n tất sứ mệnh của m�nh, bởi chiến tranh với nước Nga đ� xen v�o trước khi �ng ta c� tể thăm viếng Vọng C�c.� Kh�ng c� g� kh�c đuộc thực hiện.� Ph�p đ� chờ đợi cho đến năm 1855.� Trong th�ng Mười Một của năm đ�, M. de Montigny, người đ� quen thuộc từ l�u với v�ng Viễn Đ�ng trong tư c�ch l�nh sự Ph�p tại Thượng Hải, được ủy nhiệm sang thăm viếng Vọng C�c v� thương thảo một hiệp ước.� Ph�i bộ của �ng ta cũng bao gồm c�c cuộc thăm viếng Căm Bốt v� An Nam.

 

���� Ph�i bỏ Montigny đ�nh dấu sự tiếp x�c ch�nh thức đầu ti�n giữa Ph�p v� Căm Bốt.� Đ�y l� sự kiện quan trọng cho c�c mục đ�ch nghi�n cứu của ch�ng ta, kh�ng phải v� một mối quan hệ ch�nh thức thường trực với Căm Bốt đ� được thiết lập bởi sứ bộ, m� bởi v� n� đ� đặt ra một tiền lệ cho Ph�p thương thảo với Căm Bốt xuy�n qua sự trung gian của Xi�m La.� Tiền lệ n�y bộ ngoại giao của Ph�p đ� tin tưởng một c�ch vững chắc rằng c� tịnh c�ch cưỡng h�nh trong mọi quan hệ xảy ra giữa Ph�p v� Căm Bốt trong �t năm kế tiếp.� Bối cảnh của ph�i bộ Montigny đến Căm Bốt đ� r�ng buộc một c�ch mật thiết với c�c hoạt động của c�c gi�o sĩ truyền đạo người Ph�p tại khu vực đ�.� C�c gi�o sĩ truyền đạo khắp nơi tr�n thế giới đ� l� c�c kẻ ti�n phong của đ� quốc.� Điều rất tự nhi�n rằng họ phải tin tưởng l� c�ng cuộc Thi�n Ch�a Gi�o h�a một d�n tộc ngoại đạo sẽ được dễ d�ng hơn nếu xứ sở của ch�nh họ c� thể đảm nhận một số h�nh thức kiểm so�t ch�nh trị hay bảo hộ l�nh địa đ�.� Một hội vi�n của Hội Ph�p Quốc Truyền Gi�o Hải Ngoại c� ph�t biểu về việc n�y một c�ch rất thẳng thắn trong c�c lời lẽ như sau:

 

C�c gi�o sĩ truyền đạo tr�n hết l� những kẻ ti�n phong của � tửởng Thi�n Ch�a Gi�o: vai tr� của họ kh�ng phải l� ch�nh phục c�c l�nh thổ hay mở cửa c�c thị trường cho việc thương mại; nhưng nếu xảy ra c�c t�nh huống mang đến cho họ cơ hội để cung cấp một sự phục vụ cho tổ quốc của họ, thực sẽ l� điều bất c�ng nếu d�ng đ� l� một căn bản để than phiền về họ. (3)

 

���� Điều dễ hiểu l� c�c gi�o sĩ Ph�p đ� th�nh c�ng trong việc khi�u gợi nơi Nh� Vua Căm Bốt một sự quan t�m đến nước Ph�p, v� rằng �ng ta đ� phải bị dẫn dụ bởi sự quan t�m qua việc gửi c�c tặng phẩm đến Ho�ng Đế Napol�on III, kẻ hiện th�n, đối với Nh� Vua, cho d�n tộc c� đặc t�nh v� t�n gi�o được ti�u biểu qua c�c gi�o sĩ n�y. (4) �C�c tặng phẩm n�y đ� bị mất tr�n đường chuyển vận v� biến cố nhỏ nhặt n�y đ� l� duy�n cớ cho ph�i bộ Montigny vốn sẽ mang lại c�c hậu quả quan trọng biết bao cho c�c quan hệ tương lai giữa Ph�p v� Căm Bốt.� Napol�on III dĩ nhi�n l� kh�ng nh�n nhận sự tiếp nhận c�c tặng phẩm kh�ng hề đến tay �ng ta, v� bởi v� Nh� Vua Căm Bốt, kh�ng hay biết được l� do của sự im lặng n�y, tỏ vẻ quan t�m n�n Montigny đ� được lệnh gh� thăm Căm Bốt tr�n đường từ Xi�m La sang An Nam v� giải th�ch t�nh trạng n�y. (5)

 

���� Ch�nh v� thế khi nước Ph�p mở c�c quan hệ với Căm Bốt, xứ sở đ� c� quan hệ chư hầu với quyền chủ tế của cả An Nam lẫn Xi�m La.� Tự ni�n l� cả hai nước chủ tế n�y đều lo lắng, một khi nước Ph�p đ� tự thiết lập tại Nam Kỳ, để thuyết phục Ph�p về sự kiểm so�t của ch�ng tr�n Căm Bốt, v� trong mục đ�ch n�y, đ� cung cấp cho ch�nh phủ Ph�p một lịch sử chứa đựng � nghĩa nhằm chứng minh sự kiểm so�t đ�.� Như một dấu hiệu của quy chế chư hầu của m�nh, c�c Nh� Vua Căm Bốt c� th�i quen gửi c�c qu� tặng l�n c�c chủ tể của họ theo định kỳ.� So s�nh những sự nghi�n cứu lịch sử t�m lược n�y cho thấy c�c lời tuy�n bố của An Nam th� l�u đời hơn sự x�c định của Xi�m La, nhưng An Nam đ� chấp nhận Xi�m La như l� một cộng sự trong sự can thiệp chung tại Căm Bốt, trước ti�n v�o năm 1812 v� lần sau v�o năm 1847.� V�o thời điểm c� ph�i bộ Montigny, ảnh hưởng của Xi�m La tr�n Căm Bốt trở n�n thắng thế.� Sự tăng trưởng ảnh hưởng của n� thuận lợi hơn bởi nền văn h�a của Căm Bốt v� Th�i Lan giống nhau, v� c�c �ng ho�ng của Căm Bốt được gi�o dục tại Vọng C�c.� Trong một khoảng thời gian trước khi Ph�p tiến v�o Đ�ng Dương, Quốc Vương Xi�m La h�nh sử quyền bảo vệ vương quyền của Căm Bốt, sau khi c� sự từ trần của vua đang cầm quyền, v� l�m lễ tấn phong cho người kế ng�i.

 

���� Th�i độ của Montigny đối với mối quan hệ n�y th� quan trọng.� Trong khi ở Vọng C�c, c� vẻ l� kh�ng bao giờ c� sự ngờ vực n�o trong �ng về sự lệ thuộc của Căm Bốt đối với Xi�m La.� Trong tất cả c�c sự giao dịch của �ng với triều đ�nh Vọng C�c, ch�ng ta nhận thấy �ng ta nh�n nhận quyền chủ tể của Xi�m La với những lời lẽ minh bạch nhất (6)� Như thế, �ng tự nhi�n đ� n�i với Quốc Vương về � định ngừng ch�n tại Căm Bốt tr�n đường sang An Nam để sắp xếp một số c�ng việc n�o đ� cho c�c gi�o sĩ ở đ�, v� để giải th�ch cho Vua Căm Bốt l� do tại sao c�c qu� tặng m� �ng ta gửi cho Napol�on III lại chẳng bao giờ nhận được. (7)� Điều tự nhi�n kh�ng k�m l� �ng sẽ phải l� người cầm thư giới thiệu của �Quốc Vương thứ nhất của Xi�m La gửi cho Vua Căm Bốt, chư hầu của �ng ta.� (8) ��

 

���� Nơi đ�y khởi đầu cho một bản ghi nhận d�i sự cản trở, nghi ngờ, v� �m mưu của Xi�m La � một loại điều đ�nh bắt c� hai tay (double dealing) m� nền ngoại giao Ph�p đ�, cho đến l�c đ�, ho�n to�n kh�ng quen thuộc.� Theo lời y�u cầu của Quốc Vương Xi�m La, Montigny, trước khi rời khỏi Vọng C�c, đồng � tiếp nhận chin người Căm Bốt l�m h�nh kh�ch tr�n chiếc t�u của �ng.� Điều l�m �ng ta ngạc nhi�n khi đến Căm Bốt v� kh�m ph� ra rằng một trong chin người kh�ng phải l� d�n Căm Bốt m� lại l� một người Xi�m La được ph�i đi bởi ch�nh người em Quốc Vương [Xi�m La] nhằm do th�m �ng ta.� Tại hải cảng Campot nơi �ng ta l�n bờ, �ng được đ�n tiếp bởi Đức �ng Miche, Gi�m Mục địa phận Dansara, Kh�m mạng T�a Th�nh tại Căm Bốt, l� người phục vụ �ng một c�ch đắc lực trong vai tr� th�ng dịch vi�n. ��ng chờ đợi sự đến nơi của Nh� Vua, đ� được th�ng b�o trước về chuyến thăm viếng của �ng, bởi một h�nh cung ho�ng gia đ� được đặc biệt dựng l�n cho dịp n�y, nhưng Nh� Vua lại kh�ng xuất hiện.� Lấy cớ đau ốm, Nh� Vua ở lại kinh đ� của m�nh. (9)� Đức �ng Miche về sau c� x�c nhận rằng l� do thực sự l� v� Quốc Vương Xi�m La c� đe dọa chư hầu của �ng ta rằng nếu chư hầu c� l�m điều g� kh�ng phải trong việc đối đ�i với người Ph�p, �ng ta sẽ phải hối hận về việc đ�. (10)

 

���� Montigny chưa tuy�n bố với Quốc Vương Xi�m La về � định của �ng để điều đ�nh bất kỳ hiệp ước n�o với nh� cầm quyền tại Căm Bốt.� Trong thực tế, �ng kh�ng hề nghĩ về việc đ�, nhưng �ng c� ấn tượng tốt về sự phong ph� trong những sản phẩm chung của cả hai nước Xi�m La v� Căm Bốt, vốn được cung cấp tại nước kể sau với c�c gi� cả rẻ hơn nhiều so với ở Xi�m La.� Nếu một hiệp ước thương mại với Xi�m La được ph�n đo�n l� c� lợi cho Ph�p, khi đ� một hiệp ước tương tự với Căm Bốt sẽ mang lại nhiều lợi điểm cho Ph�p hơn nữa.� Ch�nh v� thế, �ng đ� quyết định tại chỗ để mở ra c�c cuộc thương thảo cho một quy ước thương mại v� t�n gi�o. (11)

 

���� Liệu c� phải th�i độ của Quốc Vương Xi�m La đối v�i ph�i bộ sang Căm Bốt bị th�c đẩy bởi một sự nghi ngờ về c�c hoạt động truyền gi�o của Ph�p ở đ� hay kh�ng? C� lẽ l� như vậy.� Theo Montigny, nh� cai trị Căm Bốt, Ang Duong, đ� t�m kiếm sự bảo hộ của Ph�p trong năm 1853.� D� sao chăng nữa, Nh� Vua đ� chuẩn bị để nh�n ph�i bộ Montigny với một � nghĩa g� kh�c hơn l� một thăm viếng x� giao đơn thuần.� Nh� Vua đ� ph�i một ph�i đo�n quan lại xuống Campot để mời Montigny l�n kinh đ�, Udong [thủ đ� của Căm Bốt từ 1618 đến 1866, c�ch th�nh phố Nam Vang ng�y nay khoảng 50 c�y số về ph�a bắc, ch� của người dịch], v� Nh� Vua cũng ủy quyền cho Đức �ng Miche được thương thảo nh�n danh Nh� Vua, hứa hẹn sẽ ph� chuẩn bất kỳ thỏa ước n�o m� Đức �ng c� thể k� kết được.� Khi Montigny lấy l�m thỏa m�n rằng c�c quan lại kh�ng c� thẩm quyền g� để điều đ�nh, �ng đ� chấp nhận thư ủy nhiệm của triều đ�nh cho Đức �ng Miche như giấy đặc mệnh t�an quyền.� V� phải c� sự ph� chuẩn của Ho�ng Đế Napol�on III, �ng khi đ� đ� soạn thảo một hiệp ước gồm mười bốn điều khoản � hai bản bằng tiếng Ph�p v� hai bản bằng tiếng Căm Bốt, tr�n đ� �ng đ� k� t�n v� ni�m phong, v� chuyển cho Đức �ng Miche, người đảm nhiệm tr�ch vụ đi lấy chữ k� của Nh� Vua.� Kh�ng may, Đức �ng Miche đ� đồng � th�p t�ng Montigny sang An Nam v� số phận của bản hiệp ước tất nhi�n bị giao ph� cho một gi�o sĩ trẻ, Linh Mục Hestrest, người mới chỉ mới nhập cảnh xứ sở n�y v� do đ� hiểu biết rất �t về ng�n ngữ hay phong tục.

 

���� C�ng với bản sao hiệp ước, Montigny c� gửi đến Nh� Vua một dự thảo quy ước nhường đảo Koh-door cho Ph�p.� Bối cảnh của th�i độ n�y th� kỳ lạ.� �ng cho ch�ng ta biết rằng khi c�n ở Vọng C�c, Thủ Tướng (Kralahome) c� b�y tỏ � muốn rằng Ph�p h�y chiếm giữ h�n đảo n�y.� Sự phỏng đo�n của Montigny l� Xi�m La cảm th�y lo ngại về c�c � định của Anh Quốc v� muốn c� Ph�p l�m một l�ng giềng.� �ng Ho�ng Krom Luang, v� Bộ Trưởng Ngoại Giao (Phra Klang) cũng c� n�u l�n � kiến n�y, v� trước khi rời Vọng C�c, vi�n Thủ Tướng (Kralahome) c� đến gặp �ng l�c 2 giờ s�ng v� c�ng vấn đề n�y.� Tại Căm Bốt, �ng được Đức �ng Miche cho hay rằng Nh� Vua Căm Bốt trong v�i dịp c� b�y tỏ ước muốn giao tặng h�n đảo cho Ho�ng Đế Napol�on III.� Nếu quy ước được chấp nhận bởi Nh� Vua Căm Bốt , n� sẽ kh�ng r�ng buộc nước Ph�p.� Montigny n�u r� rằng tr�ch nhiệm duy nhất m� �ng ta tự nguyện g�nh v�c l� tr�ch nhiệm chuyển giao quy ước về ch�nh phủ của ch�nh �ng để xin chấp thuận.� Về c�c động lực trong đề xuất của �ng, �ng đ� n�u ra trước ti�n, rằng quy ước sẽ cung cấp cho nước Ph�p một căn cứ hải qu�n v� một thị trường thương mại ngay tại trung t�m của Đ�ng Dương; thứ nh�, n� sẽ thiết định một lời tuy�n bố m� ở một thời điểm sau n�y c� thể ngăn cản thế lực kh�c (hiển nhi�n chỉ Anh Quốc) chiếm đoạt. (12)

 

���� Ph�i bộ Montigny l� một sự thất bại ch�nh trị, bởi cả hiệp định thương mại v� quy ước cho thấy bị yểu tử, nhưng n� đ� thiết lập một tiền lệ bất tiện v� phiền h� cho tương lai khi n� nh�n nhận quyền chủ tể của Xi�m La tr�n Căm Bốt.� Tại Singapore, Montigny đ� viết thư cho Quốc Vương Xi�m La để tự biện minh cho việc đi ra ngo�i mục đ�ch đơn giản của sứ bộ của �ng như �ng đ� tuy�n bố.� �ng t�i x�c nhận rằng �ng lu�n lu�n thừa nhận quyền chủ tể của Xi�m La v� n�i tiếp rằng c�c cuộc thương thảo tại Căm Bốt l� kết quả của c�c quyết định m� �ng đ� lấy sau khi �ng rời Vọng C�c. (13) �ng đ� gặt được sự th�nh c�ng trong khi ở Vọng C�c trong việc k� kết một hiệp ước thưưng mại v� Ph�p, kh�ng l�u sau đ� đ� thiết lập một l�nh sự qu�n tại thủ đ� nước Xi�m La.� Trong th�ng Mười Một năm 1858, khi Ph�p vừa khởi sự cuộc viễn chinh trừng phạt An Nam với cao điểm l� sự s�p nhập ba tỉnh của Nam Kỳ, l�nh sự Ph�p tại Vọng C�c, �ng Castelnau, đ� hai lần đề nghị l�n ch�nh phủ �ng h�y k� kết một thỏa ước thương mại với Căm Bốt.� �ng quy tr�ch sự thất bại của Montigny cho sự vắng mặt của vai tr� trung gian của Xi�m La trong c�c cuộc thương thảo � Nh� Vua Căm Bốt l� một chư hầu triều cống Quốc Vương Xi�m La. (14) Tuy nhi�n, điều kh�ng c� g� l�m ngạc nhi�n khi thấy bộ ngoại giao Ph�p v�o l�c đ� đ� kh�ng b�y tỏ bất kỳ sự quan t�m n�o về đề nghị, vởi c�c h�m � của cuộc chiến tranh với An Nam vẫn chưa được biểu hiện r� r�ng. ���

 

���� Tuy nhi�n, hai năm sau đ� t�nh h�nh đ� trải qua một sự thay đổi quan trọng.� Theo Linh Mục Hestrest v� Đức �ng Miche, Nh� Vua Căm B�t đ� c�ng khai đối nghịch với An Nam. (15) Ngay từ năm 1859, �ng ta đ� t�m c�ch k� kết với Ph� Đ� Đốc Rigault de Genouilly một li�n minh chống lại An Nam với hy vọng d�nh được c�c tỉnh thuộc Nam Kỳ (Cochinchina), từ S�ig�n đến Cancao (H� Ti�n). (16)� Xi�m La đ� g�y chiến với An Nam, v� đ� ch�nh thức th�ng b�o với Ph�p về việc n�y. (17)� Việc n�y c� � nghĩa g�? �ng Thouvenel, Bộ Trưởng Ngoại Giao, lấy l�m phiền bực v� �ng Ho�ng Wongsa trong th�ng b�o tuy�n chiến c� đề cập đến Nh� Vua Căm Bốt như l� một chư hầu của Quốc Vưong [Xi�m La].� Khi x�t đến việc qu�n Ph�p đang chiếm giữ hải cảng S�ig�n của Nam Kỳ, điều chọc giận Thouvenel khi �ng n�y được n�i cho biết, một c�ch ch�nh x�c, rằng khi nước Ph�p x�m đoạt được to�n c�i Nam Kỳ, li�n minh giữa Đế Quốc Ph�p v� Vương Quốc Xi�m La sẽ c�ng gần cận hơn bởi khi đ� Ph�p sẽ nắm giữ c�c l�nh thổ nằm gi�p ranh với l�nh thổ Xi�m La. (18)� Nếu Thouvenel chập nhận lời loan b�o nh� nhặn n�y, việc đ� kh�ng kh�c g� với việc thừa nhận sự s�p nhập Căm Bốt v�o Xi�m La.� Văn thư ph�c đ�p ch�nh thức của �ng đ� n� tr�nh một c�ch kh�n ngoan c�i bẫy sập n�y bằng c�ch chỉ đơn giản ghi nhận sự tiếp nhận lời th�ng b�o của �ng Ho�ng [Xi�m la] v� nhận định rằng, bất kể số phận chung cuộc của c�c phần đất nằm dưới sự chiếm đ�ng của Ph�p ra sao, nước Ph�p �sẽ lu�n lu�n đặt l�n tầm quan trọng lớn lao nhất cho sự duy tr� quan hệ tin tưởng v� th�n thiết hiện c� với Quốc Vương nước Xi�m La của Ng�i.� (19)

 

���� Hiển nhi�n, nước Ph�p phải bắt đầu suy nghĩ về Căm Bốt, v� thế trong th�ng Mười Một, Thouvenel đ� y�u cầu Castelnau h�y thăm d� về khả t�nh của một hiệp ước đ� được mở lời với �ng ta �hai năm trước đ�y.� (20)� Castelnau tin rằng c�c cuộc thương thảo kh�ng chỉ c� t�nh c�ch khả thi m� c�n khẩn cấp nữa.� �ng đ� v� quan hệ giữa Xi�m La v� Căm Bốt với quan hệ giữa c�c nh� vua thời phong kiến của Ph�p với c�c chư hầu ch�nh của họ. (21)� Sẽ c� sự chống đối từ phe chống Ph�p từ l�u đứng đầu bởi [Thủ Tướng] Kralahome.� Phương c�ch th�ch hợp cần l�m, �ng đề nghị, sẽ l� dự thảo c�c điều khoản ch�nh yếu của bản hiệp ước tại Vọng C�c với sự thỏa thuận của Ch�nh Phủ Xi�m La, v� sau đ� sang Căm Bốt c�ng với một nh�n vi�n Xi�m La để ho�n tất c�c chi tiết.� Bất kể c�ch thức thương thảo ra sao, �ng nghĩ rằng bản hiệp ước phải trung lập h�a kinh đ�o H� Ti�n, vốn tạo th�nh bi�n giới ph�a nam của Căm Bốt.� Xuy�n qua con kinh n�y, c�c t�u với trọng tải đ�ng kể đến được s�ng Cửu Long v� ngay cả đi đến tận S�ig�n. (22)

 

���� Kh�ng phải chỉ một m�nh Thouvenel nghi ngờ về Xi�m La.� Đức O6ng Michel tin rằng nước Ph�p sẽ phải chấp nhận việc nhường cho Căm Bốt c�c tỉnh Nam Kỳ đ� từng c� thời thuộc về n� [Căm Bốt].� �ng c� quy kết tham vọng n�y cho Xi�m La.� Phụ th�n của Nh� Vua đang trị vị ở Căm Bốt cũng chứa chất một quyết t�m tương tự cho việc thu hồi c�c tỉnh n�y. (23)� Mặt kh�c, Castelnau nghĩ rằng Xi�m La đ� tham chiến, kh�ng phải để d�nh l�nh thổ cho Căm Bốt, chư hầu của n�, m� chỉ để bảo vệ Căm Bốt. (24) Theo �ng ta, An Nam đ� n�u đề nghị nhường cho Xi�m La một phần của tỉnh �Gia Định� để đổi lấy quyền chuyển qu�n của n� ngang qua Căm Bốt.� Xi�m La đ� b�c bỏ đề nghị n�y v� hứa hẹn sẽ kh�ng c� h�nh động n�o c� thể l�m tổn hại đến Ph�p. (25)

����

Trước khi Thouvenel lấy quyết định, Nh� Vua Căm Bốt từ trần.� Castelnau b�o c�o rằng vua kế ng�i kh�ng ngả theo một c�ch thuận lợi cho người ngoại quốc, nhưng đ� kh�ng khuyến c�o việc từ bỏ � tưởng thương thảo.� Thouvenel đồng � với quan điểm n�y v� ghi nhận trong ph�c thư của �ng gửi cho Castelnau rằng �ng ấy [Castelnau] đảm tr�ch sự thương thảo cho một hiệp ước hữu nghị, thương mại, v� hải h�nh, v� đặc biệt về sự trung lập h�a kinh H� Ti�n. (26) Castelnau th�ng b�o � định của �ng để thương thảo với Đ� Đốc Charner, tư lệnh đo�n qu�n viễn chinh giao chiến với An Nam, v� y�u cầu Đ� Đốc cung cấp cho �ng ta bất kỳ tin tức n�o m� Đ� Đốc c� được li�n quan đến Căm Bốt.� Theo đ�, Charner đ� cung cấp cho �ng ta c�c sự kh�m ph� của một ph�i bộ m� �ng đ� gửi sang xứ sở đ� hồi th�ng Ba, 1861.� �ng b�o c�o rằng sứ giả của �ng được đ�n tiếp nồng hậu bởi người con trai cả của Nh� Vua cũ, mới từ trần gần đ�y, rằng tiếp theo sau cuộc thăm viếng của sứ giả của �ng, người con trai n�y đ� bị loại ra ngo�i bởi người em hiện c�n đang tiếm ng�i v�o thời điểm Charner viết văn thư.� C�c cảm t�nh của Ch�nh Phủ Căm Bốt vẫn c�n th�n thiện.� Từ Đức �ng Michel, nh�n vi�n của Charner hay biết rằng Căm Bốt c� � định mở cuộc chiến tranh để gi�nh lại c�c tỉnh đ� mất, nhưng kế hoạch n�y đ� bị từ bỏ bởi c� t�nh trạng ph�n h�a của xứ sở.� Charner chấp nhận sự tin tưởng của Miche rằng Căm Bốt c� thể cho thấy l� một đồng minh g�y bối rối, v� cố vấn Castelnau phải hết sức thận trọng khi điều đ�nh, đừng khuyến kh�ch c�c đ�i hỏi đền b� về đất đai.� V�o l�c viết văn thư, �ng chỉ cho thấy rằng Ph�p đ� kiểm so�t to�n thể tỉnh S�ig�n, một phần tỉnh Mỹ Tho, v� một đồn trạm tại tỉnh Bi�n H�a.� C� lẽ c�c sự chinh phục n�y c� thể l�m thay đổi quan điểm của ch�nh phủ, �ng n�u � kiến.� V� thế, �ng khuyến c�o h�y chờ đợi c�c chỉ thị th�m nữa, sau đ� c�c cuộc điều đ�nh c� thể sẽ t�y thuộc tr�n một vị thế được thiết lập một c�ch vững chắc hơn. (27)

 

���� Trước khi Castelnau thực hiện bất kỳ sự chuyển động n�o để thương thảo ở Vọng C�c, �ng đ� c� một cuộc n�i chuyện c� nh�n với Đ� Đốc Charner.� Viễn ảnh th�nh c�ng kh�ng c� vẻ kh�ch lệ hồi th�ng Ch�n.� Kể từ khi �ng �ng mở ra vấn đề đầu ti�n tại Vọng C�c, t�nh h�nh thay đổi một c�ch bất lợi cho Ph�p.� Ho�ng th�n Krom Luang, người anh em của Quốc Vương lu�n lu�n nh�n nhận rằng Căm Bốt l� một quốc gia ri�ng biệt, mặc d� l� chư hầu, đ� mắc phải một cơn xuất huyết đột quỵ v� Phra Klang, Bộ Trưởng Ngoại Giao, người giờ đ�y chế ngự c�c cuộc thương thảo v� l� kẻ m� Castelnau phải điều đ�nh, nay chủ trương luận đề rằng vị ch�a tể Căm Bốt chỉ l� một tổng đốc của Xi�m La v� tuy�n bố rằng �ng ta chống lại việc tấn phong cho bất kỳ người con trai n�o của Nh� Vua cũ.� Castelnau lo sợ rằng sự tấn phong cho nh� cầm quyền thực tế đ� bị b�i bỏ bởi v� �ng c� th�ng b�o cho Xi�m La về � định của �ng muốn thương thảo với Căm Bốt. (28) Cảm thấy như thế, Castelnau c� thể sẽ bỏ rơi � tưởng điều đ�nh.� D� thế, �ng ta vẫn tiến h�nh.� Đề nghị khai th�ng của �ng với Phra Klang được ghi theo c�c lập luận như sau:

 

T�i rất h�n hạnh để tr�nh b�y với Ng�i rằng hai vương quốc Siam v� Nam Kỳ [An Nam] đ� c�ng nhau bảo đảm, từ l�u, sự to�n vẹn của l�nh thổ ng�y nay của Căm Bốt đối với Nh� Vua của xứ sở đ�, v� rằng Quốc Vương, Ho�ng Đế, vị chủ tể oai nghi�m của t�i đ� thừa kế được bởi sự chinh phục c�c quyền hạn của Nam Kỳ, đ� c� quyền can thiệp v�o chuyện của Căm Bốt tr�n c�ng căn bản như Ho�ng Thượng cu/a Ng�i, Quốc Vương nước Xi�m La. (29)

 

���� T�c giả của luận đề n�y c� vẻ l� Đức �ng Miche.� Luận cứ chứa trong thư gửi Castelnau n�i rằng nước Ph�p, qua việc chinh phục v� chiếm giữ ba tỉnh của Nam Kỳ, đ� thay chỗ của An Nam l�m chủ tể tr�n Căm Bốt � quyền chủ tể của An Nam đ� được đặt tr�n sự kiện rằng sự sở hữu Nam Kỳ d�nh cho n� quyền kiểm so�t tr�n c�c cửa ng� xuất cảng thương mại của Căm Bốt. (30)� Hai tuần sau đ� Phra Klang đ� ph�t biểu về lập trường của Xi�m La v� cũng cung cấp cho l�nh sự Ph�p một lịch sử c�c quan hệ Xi�m La-Căm Bốt trong ba thế kỷ.� Castelnau được n�i cho biết rằng hiệp ước đề nghị phải được điều đ�nh tại Vọng C�c, rằng Căm Bốt c� c�ng quan hệ với Xi�m La giống như L�o v� M� Lai, rằng Anh Quốc đ� thương thảo c�c hiệp ước ảnh hưởng đến c�c l�nh thổ kể sau tại Vọng C�c, rằng tổng đốc của Xieng Mai cũng đ� thương thảo ở đ� với Anh Quốc. (31)� C�ng ng�y Castelnau c� gửi một văn thư l�n Quốc Vương Xi�m La tuy�n bố một c�ch cương quyết rằng Ph�p xem Căm Bốt l� một nước độc lập.� �ng mong muốn Quốc Vương hiểu cho rằng sự th�ng b�o � định của Ph�p về việc thương thảo một hiệp ước sẽ được xem như l� một bằng chứng tự nguyện cung cấp về t�nh hữu nghị đối với Xi�m La chứ kh�ng phải một h�nh vi ch�nh thức theo nghĩa vụ. (31A)

 

���� Lập trường của Xi�m La v� luận đề của Ph�p th� kh�ng thể h�a hợp được.� Castelnau kh�ng được ph�p thương thảo ngoại trừ tr�n căn bản nền độc lập của Căm Bốt.� Tuy nhi�n, giờ đ�y �ng c� tr�ch nhiệm phải hy sinh luận cứ của ch�nh phủ m�nh, v� nh�n nhận quyền chủ tể của Xi�m La hầu đạt được một hiệp ước, với l� do rằng �ng đ� c� thể l�m như thế để thu lượm được �c�c điều kiện ngoại lệ: exceptional conditions.� (32) Bản dự thảo hiệp ước m� �ng soạn thảo tr�n tiền đề n�y đ� được chấp nhận bởi Quốc Vương Xi�m La với một số sự sửa đổi n�o đ� để kế đ� lại bị b�c khước bởi [Thu/ Tướng] Kralahome.� C�c sự phản đối của nh�n vật kể sau lại được hậu thuẫn bởi Quốc Vương l� người đ� từ chối kh�ng chịu x� dịch khỏi lập trường của �ng.� C�o gi�c rằng Quốc Vương đ� tự đảo ngược quan điểm, một sự tố c�o m� Quốc Vương [Xie6m La] phủ� nhận, Castelnau khi đ� đ� loan b�o �một sự cắt đứt ho�n to�n sự việc.� (32A) �����������

 

���� C�c vấn đề vẫn nằm y�n trong trạng th�i bất động n�y khi Đ� Đốc Bonard kế nhiệm Charner l�m Tư Lệnh tai Nam Kỳ.�� Ch�nh phủ Xi�m La từ chối kh�ng c� bất kỳ sự điều đ�nh n�o kh�c nữa với Castelnau v� hướng đến Bonard nhằm t�m sự cảm th�ng.� Kế đ�, n� đ� chuyển cho l�nh sự Anh Quốc để cung cấp tin tức cho ch�nh phủ �ng ta to�n bộ thư t�n trao đổi với Castelnau.� Từ khối văn thư n�y c� vẻ như nhiệt t�nh của Castelnau đ� khiến �ng ta qu�n mất vị thế của m�nh trong đ�i ba dịp.� �ng được n�i đ� từng đe dọa sẽ bổ nhiệm bất kỳ �ng ho�ng Căm Bốt n�o m� �ng h�i l�ng l�m Vua, d� c� chống đố� hay kh�ng chống đối; đ� sỉ nhục [Thủ Tướng] Kralahome với nhận x�t rằng �Quốc Vương [Xi�m La] sẽ lấy l�m h�n hoan để k�o l� cờ Anh Quốc l�n tr�n cung điện Quốc Vương;� đ� đ�i hỏi rằng mọi cuộc thương thảo sẽ phải được tiến h�nh tại t�a l�nh sự Ph�p tr�i với mọi tiền lệ. (32B)� �� kiến c� nh�n� của Bonard, th�nh h�nh sau khi �ng ta n�i chuyện với Castelnau v� sau khi trao đổi thư từ với Phra Klang, rằng ảnh hưởng của Xi�m La tr�n Căm Bốt th� ưu thắng v� chuy�n biệt, v� rằng nước Ph�p đ� x�c phạm Xi�m La bởi mưu toan điều đ�nh một c�ch hấp tấp với một �chủ quyền ma� của Căm Bốt, bởi điều đ� c� vẻ đối với Xi�m La như thể nước Ph�p đ� nỗ lực giải quyết vấn đề quyền chủ tể tr�n Căm Bốt một c�ch thi�n vị c� lợi cho ph�a Nam Kỳ.� Cuộc nghi�n cứu c�c diễn biến gần đ�y nhất tại Căm Bốt đ� dẫn �ng đến chỗ tin tưởng rằng ch�ng đ� diễn ra ch�nh yếu l� v� phản ứng đặc th� � Ch�u của Xi�m La trước c�c sự chuyển động của Ph�p.� Ch�nh từ đ� Xi�m La đ� x�i dục một cuộc nội chiến tại Căm Bốt bởi việc �cho ph�p một trong những kẻ tranh ng�i đ� �vốn thường được nu�i dấm (dự trữ) tại những xứ sở v�ng Viễn Đ�ng�, được rời Xi�m La với sự ủng hộ ch�nh thức.� Hậu quả của c�c cuộc x�o trộn nội bộ l� c�c t�i sản của c�c gi�o sĩ truyền đạo đ� bị tổn hại, nhưng Xi�m La từ chối đ�n nghe c�c lời thỉnh cầu xin bồi thường của họ tr�n căn bản rằng nước Ph�p đ� c�ng nhận Nh� Vua m� sự hạ bệ g�y ra từ cuộc nội chiến, v� do đ� đ� phản đối sự bảo hộ của họ.� Do đ�, Xi�m La kh�ng thể bị buộc chịu tr�ch nhiệm về sự duy tr� trật tự. (33)

 

���� Bonard ở v�o một vi thế kh� xử.� �ng ta kh�ng c� bất kỳ thẩm quyền n�o để thương thảo với Xi�m La, song �ng tin rằng việc đạt tới một số sự hiểu biết l� điều rất quan trọng.� C�c hậu quả ch�nh trị của sự chinh phục Nam Kỳ giờ đ�y trở n�n hiển hiện.� �ng đ� ph�t biểu quan điểm của m�nh v� thế một c�ch x�c t�ch:

 

���� T�i tin rằng vấn đề bi�n giới giữa Xi�m La v� Căm Bốt th� li�n hệ mật thiết với sự tổ chức v� ph�ng thủ c�c tỉnh đ� chinh phục được đến nỗi điều khẩn cấp l� phải ban cho vị Tư Lệnh Đo�n Viễn Chinh c�c thẩm quyền về Xi�m La tương tự như c�c quyền hạn đ� được ủy th�c cho �ng ta trong c�c cuộc điều đ�nh với Ch�nh Phủ An Nam.�� (34)

 

���� Đặc biệt, �ng quan t�m đến nhu cầu ph�n định bi�n giới ph�a t�y của c�c tỉnh đ� chinh phục trong trường hợp c� chiến tranh với một hải lực h�ng mạnh (r� r�ng trong đầu �c của �ng ta nghĩ đến Anh Quốc).� Quyền lực đ� c� thể chiếm ngược lại Nam Kỳ, d�ng Xi�m La như một căn cứ h�nh qu�n.

 

���� Thouvenel đồng � với lập luận của Bonard v� giao cho �ng đầy đủ quyền h�nh.� �ng ta vạch ra rằng �ng lu�n lu�n tin l� c�c cuộc thương thảo với hay li�n quan đến Căm Bốt cần phải thực hiện xuy�n qua sự trung gian của triều đ�nh Xi�m La.� Thouvenel co tư tưởng rằng c�c cuộc thương thuyết sẽ được tiến h�nh xuy�n qua sự trung gian của Vọng C�c l� v� �ng kh�ng nh�n thấy lợi điểm g� khi l�m tổn thương niềm tự h�o của Xi�m La hay kh�u gợi �c � của n�. (35)� Bonard đ� x�c tiến m�t c�ch cẩn trọng.� Trước ti�n, �ng kiếm c�ch để kh�m ph� c�c � định thực sự của Xi�m La tại Căm Bốt.� T�nh trạng nổi lọan đang ngự trị xứ sở đ�.� Hai đội qu�n Xi�m La đ� can thiệp để v�n hồi trật tự.� �ng được th�ng b�o bởi ch�nh phủ Xi�m La rằng c�c đội qu�n n�y nay đ� triệt tho�i sau khi lập lại ng�i vua cho Norodom, người con trai cả của nh� vua qu� cố.� Norodom sẽ được lập th�nh �Ph� Vương của tỉnh Căm Bốt: Viceroy of the province of Cambodia� nếu �ng ấy c� thể chứng tỏ khả năng của m�nh để giữ y�n đất nước. (36)� Bởi v� Bonard đ� k� kết h�a ước với An Nam, �ng th�ng b�o cho ch�nhh phủ Xi�m La về � định của �ng muốn gửi một đo�n viễn chinh sang thăm Căm Bốt v� y�u cầu Xi�m La h�y th�ng b�o cho ch�nh phủ Căm Bốt về việc n�y.� Bộ ngoại giao Xi�m La hứa sẽ đưa ra c�c chỉ thị cần thiết v� sau đ� y�u cầu Bonard h�y gửi một ph�i vi�n sang Vọng C�c nếu �ng ấy c� � định thảo luận c�c vấn đề ch�nh trị li�n can đến Căm Bốt, nhắc nhở Bonard rằng l�m như thế l� �ph� hợp với c�ch thức giữa c�c d�n tộc th�n thiện với nhau.� (37)� Tiếp theo đ�, trong c�c cuộc n�i chuyện với c�c đại diện của triều đ�nh Xi�m La tại Căm Bốt, Bonard đ� h�nh th�nh sự tin tuởng rằng c�c mục ti�u của Xi�m La kh�ng g� �t hơn �sự chế ngự độc quyền c�c l�nh thổ bao la gi�p ranh Nam Kỳ thuộc Ph�p dọc theo con s�ng m�nh m�ng, được gọi một c�ch phổ th�ng l� s�ng Căm Bốt v� s�ng Cửu Long [Meicong trong nguy�n bản, ch� của người dịch], tạo th�nh v�ng đồng bằng ph�a dưới Nam Kỳ v� trải d�i cho đến T�y Tạng [Thibet trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� (38)

 

���� Trong m�a thu năm 1862, Xi�m La đ� tiến bước một c�ch kh�n ngoan để củng cố hơn nữa c�c lời tuy�n x�c của n� đối với Căm Bốt.� Trong diễn tiến của cuộc nội chiến tại Căm Bốt, một l�nh tụ nổi dậy c� t�n l� Sanongso t�m nơi tr� n�u tại b�n trong bi�n giới Nam Kỳ.� Theo hiệp ước Ph�p-An Nam th�ng S�u năm 1862, anh ta do đ� đ� tự đặt m�nh dưới thẩm quyền t�i ph�n của Ph�p.� Xi�m La đ�i hỏi dẫn độ anh ta tr�n căn bản rằng trường hợp của anh ấy được quy định bởi điều khoản dẫn độ trong hiệp ước m� Montigny đ� điều đ�nh với Xi�m La năm 1856.� Bonard tức thời nh�n ra tầm quan trọng trọn vẹn của đ�i hỏi n�y.� Sự tu�n h�nh �sẽ d�ng hiến trong một cung c�ch x�c định sự s�p nhập to�n thể l�nh thổ (Căm Bốt) cho Vương Quốc Xi�m La.� (39)� Do đ� �ng đ� b�c bỏ lời y�u cầu, nhưng tr�n căn bản kỹ thuật rằng hiệp ước Montigny đ� kh�ng dự liệu sự dẫn độ c�c người tỵ nạn ch�nh trị.� C�ng l�c, �ng đồng � giải giới kẻ nổi dậy v� ngăn cấm anh ta kh�ng được d�ng l�nh thổ Ph�p l�m căn cứ hoạt động chống lại Căm Bốt. (40)

 

���� Xi�m La cũng t�m c�ch s�p nhập Căm Bốt bằng ng�n từ.� Nếu Ph�p đ� kh�ng nh�n thấy h�m � của c�ch đặt c�u để chỉ Căm Bốt như một tỉnh của Xi�m La v� để chỉ người cai trị như một Tuần Phủ Xi�m La, khi đ� Xi�m La c� thể giả định rằng Ph�p đ� chấp nhận sự kiện thực tế về sự bảo hộ của Xi�m La, nhưng nơi đ�y, một lần nữa, Bonard kh�ng rơi v�o bẫy sụp.� �ng ta đ� phản đối văn thức �một tỉnh triều cống của Xi�m La được d�ng trong một văn thư của ch�nh phủ Vọng C�c.� �ng viết cho Phra Klang rằng �ng kh�ng nhận được mệnh lệnh n�o từ Paris li�n quan đến th�i độ m� Ph�p sẽ chấp nhận đối với Căm Bốt v� rằng trong tương quan với hiện trạng (status quo), �ng bắt buộc phải tuy�n bố rằng sự thụ đắc c�c tỉnh dọc bi�n giới Căm Bốt v� c�c quyền hạn bất khả tranh nghị m� triều đ�nh Huế đ� c� tr�n Căm Bốt khi n� sở hữu c�c tỉnh n�y, khiến �ng bị b� buộc phải bảo to�n trọn vẹn (reserve entirely) c�c quyền hạn của ch�nh phủ ho�ng triều li�n quan đến c�c tỉnh n�y. (41) Ch�nh v� thế, lần thứ nh�, � kiến của Đức �ng Miche đ� được viện dẫn, giờ đ�y c� nghĩa Ph�p thừa kế chủ quyền tr�n Căm Bốt trước đ�y được h�nh sử bởi An Nam.

 

���� C�c đề nghị của Đ� Đốc Bonard l�n Bộ Trưởng Hải Qu�n v� Thuộc Địa được dựa một phần tr�n mối quan hệ địa dư của Nam Kỳ với Căm Bốt.� Mối quan hệ n�y được l�m s�ng tỏ bởi c�c kh�m ph� của một đo�n th�m hiểm được ph�i đi bởi Đ� Đốc để thăm d� s�ng Cửu Long [Meikong trong nguy�n bản, ch� của người dịch].� �Kỹ sư thủy văn� Manen đ� cung cấp cho �ng một bản đồ trong đ� tr�nh b�y Căm Bốt như trải d�i từ Đ�ng sang T�y kể từ đường kinh tuyến chạy qua n�i Điện B� [? Dien-ba trong nguy�n văn, ch� của người dịch] xuống tới tiểu khu của bờ biển Vịnh Xi�m La tr�n đ� c� tọa lạc Campot v� Campongsom; từ Bắc xuống Nam từ một đường bắt đầu chạy tới ph�a bắc Compongsom v�, đi về hướng t�y, t�y bắc, cắt hồ lớn l�m hai v� chấm dứt b�n tr�n Sambor một ch�t, đến một đường gần như song song, bắt đầu từ Vịnh Xi�m La b�n tr�n H� Ti�n v� chấm dứt ở n�i của T�y Ninh, nơi khởi nguồn của s�ng V�m Cỏ t�y [? Vaico trong nguy�n bản, ch� của người dịch]; vương quốc Xi�m La tạo th�nh bi�n giới t�y bắc, bi�n giới t�y nam thuộc Vịnh Xi�m La; c�c tỉnh An Nam v� của Ph�p trong v�ng b�n dưới của Nam Kỳ tạo th�nh bi�n giới t�y nam v� c�c bộ lạc man dại Genongs, Thengs, v� Chiams, tạo th�nh bi�n giới ph�a đ�ng.� Nếu ch�ng ta cứu x�t vương quốc trước đ�y của Căm Bốt như địa h�nh của n� v�i năm trước khi n� nhượng c�c tỉnh Battambang v� Angkor cho Quốc Vương Xi�m La, điều sẽ được nhận thấy rằng l�nh thổ của n� bao gồm hai phần kh�c biệt r� rệt, phần b�n phia Đ�ng được cấu th�nh bởi c�c đồng bằng v� được tưới nước to�n khắp phạm vi của n� bởi con s�ng vĩ đại Cửu Long, m� nơi ph�t nguy�n được nghĩ l� tận T�y Tạng [Thibet trong nguy�n văn, ch� của người dịch], phần kia, nằm b�n ph�a T�y, l� v�ng n�i đồi. (42)� (a)

 

���� Bonard lấy l�m phấn k�ch về c�c lợi thế thương mại m� Ph�p c� thể r�t ra được từ sự kiện về sự lệ thuộc đia dư của Căm Bốt tr�n Nam Kỳ.� Trong quyền lợi của nước Ph�p, Căm Bốt phải được tự do th�at khỏi nỗi nguy hiểm của sự x�m lăng v� chia cắt bởi b�n tay của cả người An Nam lẫn người Xi�m La.� Ngay khi h�a b�nh thực sự đến với Nam Kỳ, c�c mương rạch phải được nạo v�t sao cho c�ng cuộc thương mại c� thể xu�i theo gi�ng chảy tự nhi�n của n� đến s�ng Cửu Long bằng đường s�ng S�ig�n.� Một thuộc địa mới tại Nam Kỳ khi đ� sẽ ở vị thế đ�ng giữ một vai tr� quan trọng trong sự vụ tại phương đ�ng.� Kh�ng chiến dịch chinh phục qu�n sự tốn k�m cần đến.� Để bảo to�n c�c quyền lợi của Ph�p, điều cần l�m l� nếu c� được c�c to�n biệt ph�i lưu động tr�n c�c t�u vũ trang cỡ nhỏ thực hiện sự hiện diện thường xuy�n tại Căm Bốt bất kỳ khi n�o thời tiết thuận lợi v� nếu Ph�p được đại diện gần Nh� Vua Căm Bốt bởi một nh�n vi�n �cẩn thận nhưng cương quyết�. (43)

 

���� Drouyn de Lhuys đ� giải th�ch ch�nh s�ch của Bonard c� nghĩa rằng Căm Bốt phải được giữ như một nước tr�i độn giữa An Nam v� Xi�m La, nhưng thương thảo với Căm Bốt xuy�n qua An Nam sẽ tăng cường vị thế của quốc gia đ� chống lại Xi�m La, nước m� �ng xem l� c� sự hậu thuẫn bởi Anh Quốc.� Drouyn de Lhuys b�c bỏ luận điểm n�y bởi �ng cảm thấy rằng sự hỗ trợ của Ph�p cho quyền chủ tể của An Nam sẽ c� khuynh hướng khiến cho Xi�m La c�ng hướng to�n diện v�o Anh Quốc để t�m sự hỗ trợ cho c�c sự tuy�n x�c của n�. (44)� Lập trường chủ yếu của Chasseloup-Laubat, như �ng ta đ� sẵn ph�t biểu hồi th�ng Gi�ng, th� ph� hợp với lập trường của đồng sự của �ng ta.� C� nghĩa, �ng phủ nhận c�c x�c quyết của Xi�m La.� �ng muốn căm Bốt sẽ l� một quốc gia tr�i độn nằm giữa Xi�m La v� Đ�ng Dương thuộc Ph�p.� �ng tuy�n bố rằng An Nam đ� h�nh sử chủ quyền tr�n Căm Bốt trong nhiều thế kỷ, nhưng �ng kh�ng t�n th�nh việc nhắc nhở An Nam về c�c thẩm quyền của n� v�o thời điểm diễn ra sự ph� chuẩn hiệp ước năm 1862.� Giống như đồng sự của m�nh, �ng muốn gạt An Nam ho�n to�n ra khỏi bối cảnh. (45)� Giữa hai vi�n Bộ Trưởng, c� sự bất đồng s�u xa về phương ph�p.� Chasseloup-Laibat �t để � đến tiền lệ m� nặng về thực chất của ch�nh s�ch đế quốc.� Đồng sự của �ng tại bộ ngoại giao, mặt kh�c, cảm thấy bị r�ng buộc một c�ch nghi�m ngặt bởi tiền lệ.� Chasseloup-Laubat chấp thuận sự điều h�nh của Bonard trong vụ Sanongso.� Trong vụ n�y, �ng tuy�n bố, �Cảm tạ Thượng Đế, luật lệ th� ph� hợp với quyền lợi của ch�ng ta�. (46)� �ng sẽ �cương quyết đẩy lui� c�c sự x�c quyết của Xi�m La � sự h�nh sử của n� c�c quyền chủ tể tr�n Căm Bốt. ��ng thừa nhận ba đường lối được mở ra cho Ph�p v� �ng đ� m� tả v� cho � kiến về ch�ng trong một bản dự thảo thư chỉ thị cho Bonard m� �ng c� chuyển sang bộ ngoại giao để hỏi � kiến.� Thứ nhất, Ph�p c� thể tuy�n bố chủ quyền tr�n Căm Bốt nh�n danh An Nam.� Đường lối n�y kh�ng kh�n ngoan v� do đ�, An Nam sẽ c� thể tự x�c quyết, nhưng n� sẽ qu� yếu để tranh nghị c�c sự tuy�n x�c của n� một c�ch thắng lợi trước Xi�m La; khi đ� nước Ph�p sẽ bị bắt buộc can thiệp với tư c�ch kẻ bảo vệ của An Nam.� Sẽ c� sự kh� khăn hơn nữa l� c�ch thức n�y cũng c� thể n�u l�n c�u hỏi sẽ phải giải th�ch như thế n�o Điều IV bản hiệp ước năm 1862, giả định rằng An Nam ở một v�i nhật kỳ tương lai, đồng � nhượng lại cho Xi�m La một phần l�nh thổ của Căm Bốt. (47)� Thứ nh�, nước Ph�p c� thể x�c nhận nền độc lập ho�n to�n của Căm Bốt nhưng đường lối n�y cũng nguy hiểm bởi v� Căm Bốt sẽ kh�ng c� thể duy tr� nền độc lập của n� m� kh�ng c� sự trợ gi�p.� Trong đường lối thứ ba, nước Ph�p c� thể x�c định chủ quyền của ch�nh m�nh như kẻ thừa kế của An Nam, nhưng thủ tục n�y kh�ng c� t�nh c�ch khả thi.� �� Ch�nh hoạt động ngoại giao sẽ mang lại lợi lộc, từng ng�y một trong những thời khoảng n�y, đến mức tối đa c� thể thu được, từ sự thiết lập của ch�ng ta tại Nam Kỳ. �� (48)� Kế hoạch tốt nhất sẽ l� :

 

�thu nhặt từ một giải ph�p bất kỳ điều g� nằm trong khả năng của ch�ng ta, nếu t�i c� thể n�i như thế, để duy tr� mọi quyền hạn m� từ đ� ch�ng ta c� thể r�t ra c�c lợi lộc , hoặc nh�n danh Huế, nh�n danh ch�nh ch�ng ta, hay trong quyền lợi của Căm Bốt.� (49)

 

�ng n�u � kiến rằng Bonard phải biện minh sự từ chối của �ng về việc kh�ng trao trả Sanongson bằng c�ch tuy�n bố l� nước Ph�p kh�ng nh�n nhận c�c x�c quyết của Xi�m la v� rằng Ph�p kh�ng thể chấp nhận sự nối d�i bi�n cương của Xi�m La cho đến gi�p Nam Kỳ của Ph�p, rằng quyền lợi của nước Ph�p l� giữ Căm Bốt l�m một quốc gia ri�ng biệt giữa Xi�m La v� Ph�p, v� sau hết, rằng An Nam đ� h�nh sử từ l�u một số quyền hạn n�o đ� tr�n Căm Bốt v� rằng nước Ph�p, c� c�ng c�c quyền lợi bởi l� do c� sự nhượng địa c�c tỉnh Bi�n H�a, S�ig�n, v� Mỹ Tho, sẽ kh�ng cho ph�p quyền lợi đ� bị dị nghị. (50)

 

���� Chasseloup-Laubat chờ đợi đồng sự của �ng sẽ cho � kiến tr�n c�c chỉ thị khuyến c�o n�o cho Bonard.� V� một số l� do, c�c chỉ thị n�y đ� được chấp thuận gửi sang cho Bonard m� kh�ng bị phản đối.� Ở một nhật kỳ sau đ�, đ� c� một sự chỉ tr�ch phần n�o cay độc trong một văn thư của bộ ngoại giao trong th�ng Ba năm 1863, m� sau rốt nội dung của n� tạo th�nh một văn thư từ Drouyn de Lhuys gửi cho Chasseloup-Laubat (51) trong đ� vi�n bộ trưởng đ� duyệt x�t lại bối cảnh của c�c quan hệ Ph�p-Xi�m La xuy�n qua việc biện minh sự kh�c biệt giữa quan điểm ri�ng của �ng với quan điểm của Chasseloup-Laubat.� Thouvenel v� Chasseloup-Laubat, �ng nhắc lại, đ� c�ng nhau dự thảo một hiệp ước h�a b�nh với An Nam l� b�n sẽ bảo đảm sự chuyển nhượng tất cả s�u tỉnh Nam Kỳ cho Ph�p c�ng với sự kiểm so�t lối ra v�o kinh đ�o H� Ti�n.� Do đ�, bản hiệp ước n�y sẽ bảo đảm cho Ph�p tất cả c�c tuyến giao th�ng giữa s�ng Cửu Long v� biển đ�ng.� Trong bản hiệp ước dự ph�ng, Ph�p cũng giữ quyền để quy định c�c quan hệ của n� với Căm Bốt xuy�n qua sự trung giải của Xi�m La nhưng bản hiệp ước n�y kh�ng bao giờ đi xa hơn giai đoạn dự thảo.� Bản hiệp ước năm 1862 m� An Nam đ� k� kết th� �t thuận lợi hơn cho Phap, thứ nhất, bởi n� dừng lại b�n tả ngạn con s�ng Cửu Long v� thứ nh�, n� kh�ng buộc được An Nam đưa ra lời c�ng bố từ bỏ c�c x�c quyết của An Nam tr�n Căm Bốt.� Khi đ�, Drouyn de Lhuys đ� chất vấn, tại sao m� Bonard lại muốn l�m t�nh trạng trầm trọng hơn bởi việc hồi sinh chủ quyền của An Nam? Montigny đ� khẳng quyết thừa nhận chủ quyền của Xi�m La.� Giờ đ�y c�n c� l� d� mạnh hơn nữa để Ph�p phải chấp nhận sự kiện �gắng sức ngay trong trong l�c n�y để l�m nhẹ bớt c�c hậu quả.� (52) Phương s�ch th�ch hợp l� l�m theo � tưởng của Thouvenel v� k� kết với Căm Bốt một hiệp ước tr�n căn bản nền độc lập to�n diện của n�.� C�c sự quy định li�n quan đến sự tự do lưu th�ng tr�n s�ng Căm Bốt c� thể cấu th�nh một phần của một bản hiệp ước như thế v� kinh đ�o H� Ti�n c� thể trở th�nh một ranh giới bảo vệ tốt cho thuộc địa. (53)

 

���� Trong khi c�c bộ trưởng tại Paris từ đ� trao đổi quan điểm với nhau, Xi�m La tiếp tục củng cố t�nh h�nh cho ch�nh họ.� Phra Klang đ� kh�ng chối bỏ rằng Căm Bốt đ� từng l� một nước triều cống của An Nam nhưng x�c định rằng xứ sở �ng ta đ� cho ph�p Nh� Vua Căm Bốt c�ng hiến c�c tặng phẩm l�n Ho�ng Đế An Nam ba năm một lần, chỉ nhằm ngăn chặn sự ngăn trở c�ng cuộc thương mại của Căm Bốt xuy�n qua ngả Nam Kỳ.� Trong năm 1859, h�nh vi triều cống n�y đ� bị ngưng kh�ng thi h�nh nữa, khi đ� qu�n Ph�p đang chiếm đ�ng S�ig�n.� Ch�nh Căm Bốt sẽ quyết định, sau khi c� sự� ph� chuẩn bản hiệp ước Ph�p-An Nam, xem liệu n� n�n triều cống Ph�p hay An Nam bởi v� �c� vẻ kh�ng th�ch hợp để triều cống cả hai nước n�y c�ng một l�c.� (54)

 

���� Khi Bonard được kế nhiệm bởi Đ� Đốc De la Grandi�re, vấn đề tức thời được n�u ra l� liệu vị t�n thống đốc Nam Kỳ c� n�n được giao cho c�ng thẩm quyền quyết đo�n như vị tiền nhiệm hay kh�ng.� Ch�nh v� thế, to�n thể t�nh h�nh lại được t�i cứu x�t, v� một cuộc tranh luận s�i nổi đ� diễn ra tại Paris.� Chasseloup-Laubat đ� mở m�n (55) bằng việc đọc cho đồng sự của �ng nghe một b�i học trong lịch sử.� Khuyết điểm trong lập luận của người kể t�n sau, �ng vạch ra, nằm ở sự kiện n� trở l�i kh�ng qu� ph�i bộ Montigny, bởi v� đ� c� c�c tiền lệ kh�c với nhật kỳ từ thế kỷ thứ mười bẩy.� Chủ quyền của An Nam đ� được thiết lập năm 1648; Xi�m La chỉ x�c định chủ quyền của n� v�o năm 1767.

 

�Ng�i kh�ng hay biết về tầm quan trọng ra sao vốn được g�n tại Phương Đ�ng cho nguy�n tắc ưu ti�n trong bất kỳ loại vấn đề g�. (56)

 

���� Khi Ho�ng Đế Gia Long bị đ�nh đưổi khỏi ng�i ch�a An Nam, Xi�m La đ� lợi dụng sự x�o trộn kế tiếp để cướp đoạt từ Căm Bốt ba tỉnh Angkor, Battambang v� Senntabum, như vua Gia Long sau n�y đ� t�i x�c lập c�c sự tuy�n c�o chủ quyền tr�n Căm Bốt.� Chasseloup-Laubat kh�ng chối bỏ rằng c�c lời tuy�n bố của Xi�m La l� kh�ng c� căn cơ x�c đ�ng, nhưng, �ng nhấn mạnh, �sự chiếm đ�ng thực tế giờ như một sự kiện tại Udong c�n l�u mới l� chủ quyền như được hiểu tại Phương Đ�ng.� (57)� Chấp nhận sự trung gian điều giải của Xi�m La tại Udong, thủ đ� Căm Bốt, sẽ kh�ch động một c�ch nguy hiểm Xi�m La v� c�ng l�c khơi gợi sự ch� � của An Nam.� Hơn nữa, sẽ l� điều nguy hiểm khi cho ph�p Xi�m La được c� bất kỳ tiếng n�i n�o trong vấn đề tự do lưu th�ng tr�n s�ng Cửu Long.� Phần khả lưu về mặt thương mại của con s�ng kh�ng k�o xa hơn c�c đoạn nước chảy xiết ở Sam-Coc v� Sambor, 60 dậm t�nh từ T�y Ninh.� Vả lại, Xi�m La cũng kh�ng c� sự kiểm so�t n�o nữa tr�n thương lưu ngo�i phần n� c� tr�n c�c tỉnh hoang dại của L�o thuộc Xi�m La.� Chasseloup-Laubat đ� c�o buộc c�c sắc thuế quan m� Xi�m La �p đặt tại Nam-Van [? Vang] nh�n danh Căm Bốt, l� một sự tiếm quyền.� �ng sẽ kh�ng d�nh cho Xi�m La bất kỳ tiếng n�i n�o trong vấn đề hải h�nh tự do của lưu vực bao la của s�ng Cửu Long ngoại trừ phần ph�a t�y Biển Hồ (Grand Lac, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch]��� Nước Ph�p cần nh�n thấy rằng chủ quyền Xi�m La phải được chế định trong c�c giới hạn m� c�c d�n tộc phương đ�ng đ� d�nh cho từ ngữ đ�.� �ng nghĩ rằng một lời tuy�n bố đơn giản cho mục đ�ch n�y n�i rằng Căm Bốt đ� l� một quốc gia trung lập l� một vấn đề dễ d�ng.� Sự việc n�y sẽ kh�ng giải quyết vấn đề của Ph�p nhưng �ng kh�ng tin rằng một giải ph�p x�c định lại c� thể đạt được trong bất kỳ một thời khoảng hạn định n�o.

 

���� Đ� Đốc Grandi�re, giống như Bonard, lo lắng về việc th�ng suốt t�nh h�nh Căm Bốt.� �ng lệ thuộc nhiều nơi Đức �ng Miche.� Vị Kh�m Mạng T�a Th�n ngờ vực rằng Xi�m La đ� cố t�nh k�o d�i c�c tang lễ của Nh� Vua qu� cố hầu đ�nh chỉ sự đăng quang của con trai �ng ta, Norodom, cho đến khi họ c� thể tự củng cố một c�ch an to�n tại Căm Bốt.� Trong thực tế, Xi�m La lưu giữ người em c�ng cha kh�c mẹ của Norodom, Pra-Kio-Fia, tại Vọng C�c, �như một tay sai v� một �ng ngo�o ộp dọa nạt (bugaboo)�, kẻ đ� ph�t kiến ra một mưu đồ để giữ Norodom trong v�ng kiểm so�t.� �ng ta n�i với Grandi�re rằng Norodom mong muốn sự bảo hộ của Ph�p v� để đổi lại, c� thể sẵn l�ng nhượng lại cho Ph�p gi�ng s�ng Cửu Long. (58)

 

���� Grandi�re đ� chấp nhận th�ng tin n�y l� đủ d�ng bởi �ng t�n th�nh một ch�nh s�ch tiến tới mạnh bạo. �ng chẳng cần đến sự th�c dục v� đ� tức thời y�u cầu c� h�nh động tại Paris.� �ng đ� viết cho Chasseloup-Laubat rằng �ng sẽ sử dụng duy�n cớ việc thiết lập một trạm cấp than đ� v� một trạm mậu dịch để đặt đầu cầu tại Căm Bốt, ở địa điểm nơi m� con s�ng Cửu Long chia l�m ba nh�nh.� Ph�p c� thể đ�i hỏi một địa điểm tr�n h�n đảo Han-Giang [? Hậu Giang] hay đối diện với Puong Ping (Phnom Penh?] hay Nam-van [Vang].� Để trả tiền, nước Ph�p c� thể trao tặng Norodom một chiếc thuyền vũ trang nhẹ (chaloupe cannoni�re).� Vi�n Đ� Đốc nghĩ rằng bấy giờ l� thời cơ thuận lợi cho việc thiết lập một sự bảo hộ của Ph�p; Anh Quốc đ� x�c phạm Xi�m La bởi việc n� ph�o v�o Trengganu.� C�c chủ định của Ch�nh Phủ tại Paris ra sao? (59)

 

���� V�o l�c m� �ng ta n�u vấn đề n�y với Chasseloup-Laubat, �ng đ� sẵn c� một nh�n vi�n đồn tr� tại Bốn Nh�nh (Quatre Bras), như người Ph�p vẫn gọi địa điểm m� �ng đ� đề cập tới.� Nh�n vi�n n�y l� Chỉ Huy Trưởng Doudart de Lagr�e, Tư Lệnh Gia Định.� Được kh�ch lệ bởi sự tiếp đ�n th�n mật m� Norodom đ� d�nh cho nh�n vi�n n�y, v� c� lẽ cũng được th�c dục bởi Đức �ng Miche l� kẻ ở tại S�ig�n hồi th�ng S�u, Grandi�re đ� mời Norodom sang thăm viếng �ng; nhưng sự hiện diện của một quan chức Xi�m La tại triều đ�nh của �ng đ� ngăn trở Nh� Vua khỏi việc chấp nhận lời mời. Khi vi�n quan Xi�m La rời Udong, mang theo một người em trai của Norodom, Grandi�re đ� quyết định rằng đ� l� một thời cơ thuận lợi đang diễn ra để �ng sang thăm Căm Bốt.� �ng suy tưởng trong đầu rằng cuộc thăm viếng sẽ cho ph�p �ng �vượt qu� c�c nghi thức tổng qu�t với Nh� Vua Căm Bốt v� x�c định bản chất c�c mối quan hệ c� thể được thiết lập giữa ch�nh phủ Ph�p v� triều đ�nh tại Udong.�(59A)� �ng đ� đến Pnom Penh h�m 3 th�ng T�m, v� lấy l�m thỏa m�n về tầm quan trọng của một địa điểm tr�n s�ng được gọi l� Chruey-Chauva như một trung t�m tiếp liệu cho c�c lực lượng Ph�p tại miền bắc nước Căm Bốt.� V�o buổi s�ng ng�y 4 th�ng T�m, �ng đ� được tiếp kiến bởi Nh� Vua với sự th�p t�ng của Đức �ng Miche v� c�c sĩ quan của �ng.� Trong dịp n�y �ng đ� trao qu� tặng cho Norodom gồm một con ngựa giống Ả Rập v� một cặp lừa.� Nh� Vua đ� d�ng bữa trưa với �ng tr�n chiến thuyền của �ng ta, t�u Ondine.� Tr�n chiếc t�u nhỏ n�y đ� diễn ra c�c hoạt cảnh đầu ti�n trong vở kịch chế dộ bảo hộ mở m�n.� Nơi đ� Norodom đ� chứng kiến sự sỉ nhục một sứ giả của Ho�ng Đế An Nam được ph�i tới để đ�i hỏi sự t�i lập việc triều cống.� Vị quan lại n�y đến từ triều đ�nh Huế giờ đ�y leo l�n t�u Ondine để xin lỗi Grandi�re một c�ch kh�m n�m về việc x�c định lời tuy�n c�o của Ho�ng Đế An Nam về quyền b� chủ.� Tường thuật sự việc l�n Chasseloup-Laubat, Grandi�re vạch ra rằng việc n�y kh�ng phải l� sự biểu dương đầu ti�n quyền lực của Ph�p m� Norodom đ� nh�n thấy; trước khi c� sự thăm viếng của �ng, sự hiện diện sẵn c� của c�c sĩ quan Ph�p tr�n con s�ng đ� củng cố cho quyết t�m của Nh� vua [Căm Bốt] đủ khiến cho Nh� Vua từ khước đ�i hỏi được đưa ra bởi vi�n quan lại An nam.� Vững tin bởi sự biểu dương n�y sức mạnh của Ph�p, Grandi�re đề nghị với Norodom một chế độ bảo hộ của Ph�p một c�ch thẳng thắn thay cho �quyền b� chủ kh�ng thể x�c định r� r�ng được.� �Theo vi�n Đ� Đốc, Norodom y�u cầu cần c� th� giờ suy nghĩ, l� điều �ng đ� đồng � bởi, như �ng n�i, ngay cả Chasseloup-Laubat hay ch�nh �ng đều kh�ng muốn thu đoạt được bất kỳ lợi thế n�o bằng sự bất ngờ hay bằng sự thi h�nh �p lực.� Theo đ�, �ng đ� trao cho Nh� Vua [Căm Bốt] dự thảo một bản hiệp ước m� Nh� Vua đ� ủy th�c cho Đức �ng Miche để phi�n dịch.� Trong khi chờ đợi phản ứng của Norodom, vi�n Đ� Đốc đ� đi thăm Biển Hồ (Tonly-Sap) v� c�c phế t�ch nổi tiếng tại v�ng Đế Thi�n Đế Th�ch (Angkor).� Trở lại Udong h�m 10 th�ng T�m, �ng đ� hội kiến với Nh� Vua v�o ng�y h�m sau, một lần nữa được th�p t�ng bởi Đức �ng Miche.� Sau khi một số sự thay đổi được thực hiện trong bản hiệp ước theo đe6` nghị của Norodom, Nh� Vua đ� chấp nhận bản dự thảo đ� tu chỉnh. (60)

 

���� Đ�y l� sự tường thuật của Grandi�re về sự thiết lập chế độ bảo hộ của Ph�p tr�n Căm Bốt.� Lời tường thuật của Norodom về c�c t�nh huống theo đ� bản hiệp ước đ� được thương thảo th� kh�c biệt trong một số chi tiết đ�ng lưu �.� Bản tường thuật n�y được viết trong một l� thử gửi Kralahome [Thủ Tướng] xứ Xi�m La, y�u cầu �ng ta tr�nh nội dung l�n Quốc Vương [Xie6m la].� Bản dịch của l� thư n�y, sau hết nằm tại c�c văn khố của bộ ngoại giao ở Paris, bằng Anh ngữ, l� một bằng cớ cho ảnh hưởng mạnh mẽ của người Anh tại triều đ�nh Xi�m la.� Theo lời tường thuật của ch�nh �ng, Norodom c� n�i với Grandi�re rằng �ng kh�ng hiểu tiếng Ph�p v� rằng �ng cần phải c� th� giờ x�t định để so s�nh bản dịch bản hiệp ước của Grandi�re với bản dự thảo hiệp ước �ng c� trong tay l� bản văn đ� sẵn được soạn thảo tại Vọng C�c.� Từ sự so s�nh n�y, �ng kh�m ph� ra c�c sự kh�c biệt lớn lao trong hai văn bản, tr�n đ� �ng đ� th�ng b�o cho Đức �ng Miche rằng �ng kh�ng thể chấp nhận bản dự thảo của Grandi�re bởi v� �ng l� kẻ triều cống nước Xi�m La.� Thay v�o đ�, �ng đề nghị rằng c�c cuộc thương thảo n�n được chuyển về Vọng C�c.� Đức �ng Miche, nh�n danh vị Đ� Đốc, đ� từ chối kh�ng chấp nhận đề nghị n�y, nh�n đ� Norodom đ� soạn thảo bản hiệp ước của ch�nh �ng.� Bản văn n�y đ� được đọc một phần cho Grandi�re.� Grandi�re đồng � để sửa đổi c�c điều khỏan trong bản hiệp ước của �ng m� Norodom đ� phản đối, nhưng �ng ta từ chối kh�ng chịu d�ng bản hiệp ước của Nh� Vua [Căm Bốt?] thay cho bản dự thảo của chinh �ng ta.� Khi Norodom ph�n n�n rằng bản hiệp ước của Ph�p đ� cưỡng �p �ng, rằng �ng sẵn l�ng triều cống Ph�p thay v� triều cống cho An Nam như trước, nếu đ� l� điều m� Grandi�re muốn c�, Grandi�re vẫn cương quyết đua ra bản hiệp ước của m�nh.� �ng c� nhượng bộ một số điểm n�o đ�, nhưng từ chối kh�ng chịu thay đổi điều khỏan trong đ� c� bao h�m sự nhượng bộ về đất đai.� Khi Norodom lưu � �ng rằng bởi việc nhấn mạnh đến điều khoản n�y m� kh�ng c� sự thay đổi, �ng sẽ phải cưỡng b�ch người d�n sống tr�n khoảnh đất đ� rời khỏi nh� ở của họ v� phải truất hữu c�c đồn trại v� c�c t�i sản của đền đ�i, vi�n Đ� Đốc đồng � để chấp nhận một khu đất phần n�o nhỏ hơn.� Nh� Vua Căm Bốt c� bảo đảm với �ng ta rằng nếu khoảnh đất được nhượng sau hết được chứng minh l� kh�ng đủ cho c�c mục đ�ch của Ph�p, Ph�p c� thể mua th�m phần đất bổ t�c từ ch�nh c�c cư d�n.� Norodom đ� kết luận bức thư bằng một sự giọng điệu kỳ quặc n�y: �Liệu hiệp ước n�y c� vượt qu� mọi sự ước t�nh hay kh�ng, t�i xin để d�nh lại cho sự cứu x�t của Ng�i [chỉ Quốc Vương Xi�m La, ch� của người dịch] bởi Ng�i l� chỗ tr� n�u của t�i, nơi m� hạnh ph�c tương lai của t�i phụ thuộc v�o.� (61)� H�m � sử dụng vũ lục th� thể hiện r� r�ng trong lời tường thuật của Nh� Vua [Căm Bốt].� Nhưng Grandi�re khăng khăng phủ nhận l� đ� đặt Nh� Vua trước sự bất ngờ hay thực hiện bất kỳ �p lực n�o tr�n Nh� Vua [Căm Bốt].� Chasseloup-Laubat c� biểu lộ sự tin tưởng ho�n to�n nơi l�ng ch�n thất c� nh�n của vi�n Đ� Đốc. (62)

 

���� Kh�ng l�u sau khi k� kết hiệp ước, Grandi�re c� th�ng b�o cho l�nh sự Ph�p tại Vọng C�c về t�nh h�nh mới của sự vự v� tự �p dụng để chỉ thị vi�n l�nh sự h�y c�o tri cho Ch�nh Phủ Xi�m La rằng nước Ph�p kh�ng thể nh�n nhận rằng Xi�m La c� bất kỳ quyền hạn n�o để l�m bất kỳ điều g� d�nh d�ng đến Căm Bốt.� �ng ti�n đo�n rằng Ho�ng Đế Napol�on III chắc chắn sẽ chấp thuận sự bảo hộ m� Ph�p chuẩn cấp cho Căm Bốt theo c�c lời y�u cầu khẩn cấp của Norodom � một sự bảo hộ đ� được chuẩn cấp để tr�nh khỏi bị dẫn dắt ở một thời điểm sau n�y đến t�nh trạng bất khả kh�ng của sự s�p nhập trắng trợn. (63) Ch�nh Phủ Xi�m La đương nhi�n tức giận về cuộc đảo ch�nh của Grandi�re.� Bộ Ngoại Giao Xi�m La (Phra Klang) gửi đến �ng ta một l� thư tr�ch dẫn từ Ho�ng Đế [Ph�p], Đ� Đốc Bonard v� [Bộ trưởng Ngoại Giao Ph�p] Drouyn de Lhuys, tất cả đều ngược với �ng ta.� Napol�on III được tr�ch dẫn l� c� n�i với c�c th�nh vi�n của sứ bộ Xi�m La, khi �ng tiếp họ tại điện Fontainebleau, rằng c�c l�nh thổ của Ph�p v� Xi�m La giờ đ�y tiếp gi�p với nhau bởi Ph�p đ� chinh phục S�ig�n.� Bonard được m� tả c� hứa hẹn giải quyết c�c bi�n giới giữa Ph�p v� c�c v�ng chiếm hữu của Xi�m La bằng một sự thỏa thuận chung. �Drouyn de Lhuys được n�i đ� cam đoan với sứ bộ Xi�m La rằng Đ� Đốc Bonard được cho ph�p thương thảo mọi vấn đề li�n quan đến Nam Kỳ v� nếu Xi�m la c� bất kỳ c�ng việc g� với nước Ph�p, n� chỉ phải n�u vấn đề l�n với vi�n Đ� Đốc.� Bonard, theo sự x�c nhận của Bộ Ngoại Giao Xi�m La (Phra Klang), c�n hứa hẹn sẽ th�ng tri Ch�nh Phủ Xi�m La một khi �ng ta nhận được c�c chỉ thị về th�i độ của Ch�nh Phủ của �ng đối với Căm Bốt.� Grandi�re đ� kh�ng t�n trọng lời hứa hẹn n�y của kẻ tiền nhiệm, v� thế, Bộ Ngoại Giao Xi�m La (Phra Klang) y�u cầu phải được tham khảo trước khi bản hiệp ước trở n�n c� hiệu lực. (64)

 

���� Bộ Ngoại Giao Xi�m La cũng gửi một kh�ng thư l�n Drouyn de Lhuys tố c�o rằng sự kiềm chế đ� được sử dụng để đạt đến bản hiệp ước.� Một lần nữa, chữ nghĩa đ� trở th�nh cạm bẫy để thử th�ch kẻ kh�ng cảnh gi�c.� �ng đ� đề cập đến Nh� Vua Căm Bốt như một �Ph� Vương Kinh Lược Sứ: Viceroy� của Quốc Vương Xi�m La.� Với tư c�ch như thế, �ng ta kh�ng c� thẩm quyền k� kết một hiệp ước.� Từ quan điểm của luật quốc tế, bản hiệp ước phải bị hủy bỏ v� trở n�n v� hiệu lực.� Norodom đ� được chỉ định bởi b� chủ của �ng ta, Quốc Vương Xi�m La, để cai trị Căm Bốt.� Cho đến khi rời khỏi Vọng C�c để đảm nhận c�c nhiệm vụ, �ng ta đ� được tiếp đ�i bởi b� chủ của �ng ta trong một thời khoảng k�o d�i mười ch�n th�ng. (65)

 

���� Ngo�i l� thư n�y từ Phra Klang, Drouyn de Lhuys c�n l� người tiếp nhận một �bi�n ni�n t�m tắt� về Căm Bốt từ vi�n l�nh sự Xi�m La tại Paris.� T�i liệu n�y nhấn mạnh đến t�nh c�ch cổ xưa của mối quan hệ triều cống giữa Căm Bốt v� Xi�m La.� (66)� Drouyn de Lhuys c� hay biết về sự kh�c biệt giữa lời tường thuật về c�c cuộc thương thảo của Nh� Vua [Căm Bốt] với lời tr�nh b�y của Đ� Đốc Grandi�re, v� �ng c� n�u điểm cần lưu y n�y với đồng sự của �ng tại Bộ Hải Qu�n.� �ng nh�n nhận rằng Norodom c� thể đ� viết như �ng ta đ� l�m với sự tin tưởng rằng v� quyền lợi của ch�nh �ng ta, cần phải đưa ra một v� dụ về l�ng trung th�nh với Xi�m La để gi�p �ng kh�ng bị thay thế bởi b� chủ bằng một đệ tử ngoan ngo�n hơn. (67) Bản hiệp ước được đ�n nhận tại bộ ngoại giao với cảm tưởng lẫn lộn.� C�c chỉ thị giao cho Grandi�re, m� Chasseloup-Laubat tuy�n bố cũng tương tự như của Bonard, v� c�c chỉ thị m� Grandi�re được ủy th�c c� cho ph�p �ng �x�c tiến thu xếp hậu quả của c�c bước tiến của m�nh,� (67A), đ� kh�ng được hay biết bởi Drouyn de Lhuys.� Trong một văn thư của bộ ngoại giao li�n quan đến bản hiệp ước, (68) t�c giả văn thư đ� ngờ vực c�c động lực của Grandi�re.� �ng n�u � kiến, c� thể Grandi�re đ� bị ảnh hưởng bởi c�c gi�o sĩ truyền đạo.� C� thể, sự đ�i hỏi triều cống nơi Norodom bởi Triều Đ�nh Huế đ� khiến cho Nh� Vua Căm Bốt t�m kiếm sự bảo hộ của Ph�p.� Một c�ch kh� lạnh lung, �ng đ� thắc mắc rằng liệu Ch�nh Phủ Xi�m La c� cảm nhận được sự ph�n biệt tế nhị m� Grandi�re đưa ra khi �ng ta n�i rằng Ph�p đ� thiết lập chế độ bảo hộ nhằm tr�nh việc chiếm giữ xứ sở.� �ng nghĩ sự kh�c biệt sẽ tho�t khỏi sự mẫn tiệp của triều đ�nh Xi�m La.� �ng cũng n�u ra rằng l�nh sự Ph�p tại Vọng C�c c� thể đ� kh�ng h�nh động theo mệnh lệnh của Grandi�re m� lại kh�ng coi thường tiền lệ ngoại giao chi phối c�c quan hệ Ph�p-Xi�m La vốn được thiết lập bởi Montigny, v� đ� ph�n n�n rằng bản hiệp ước đ� kh�ng đ�ng g�p g� v�o sự l�m s�ng tỏ quy chế của Căm Bốt.� Người Xi�m La vẫn được để y�n để phụ tr�ch c�c sự sắp xếp cho sự tấn phong cho Nh� Vua [Căm Bốt].� Th�i độ của Grandi�re rằng �ng sẽ tham dự buổi lễ hay chống đối n� như được chỉ thị từ Paris th� kh�ng ph� hợp với lời mở đầu của bản hiệp ước.� Liệu nước Ph�p c� ph� chuẩn hay chăng, kh�ng n�n t�y thuộc v�o vấn đề tr�ch vụ tinh thần m� chỉ n�n dựa v�o c�u hỏi l� liệu bản hiệp ước c� bất kỳ gi� trị n�o đối với Ph�p hay kh�ng.� Về điểm n�y, Bộ Hải Qu�n sẽ l� vị thẩm ph�n tốt hơn bởi n� ở vị thế cho biết liệu c�c tr�ch vụ sẽ được đảm nhận c� đ� nặng một c�ch qu� đ�ng l�n ch�nh quyền tại Nam Kỳ hay kh�ng.� Khả t�nh về việc Ph�p c� thể ho�n trả ba tỉnh chiếm đoạt từ An Nam sẽ phải được cứu x�t.� Vấn đề n�y khi đ� c�n nằm dưới sự c�n nhắc nghi�m chỉnh tại Paris, v� sự ho�n trả c� thể l� một l� do để n� tr�nh c�c sự cam kết kh�c nữa tại Đ�ng Dương.� Mặt kh�c, nếu Ph�p sẽ kiểm so�t tất cả s�u tỉnh Nam Kỳ, t�nh h�nh sẽ kh�c đi, nhưng người ta kh�ng thể che dấu sự kiện rằng đ� l� một �giả thiết� bấp b�nh nhất.

 

���� Chasseloup-Laubat đưa ra một sự b�o chữa mạnh mẽ cho vi�n Đ� Đốc, (68) vạch ra rằng Xi�m La đ� x�m lăng Căm Bốt bằng ch�nh ng�n ngữ m� vi�n Bộ Trưởng Ngoại Giao đ� sử dụng trong văn thư của �ng ta.� �ng đ� than tr�ch đồng sự của �ng về việc chấp nhận ng�n ngữ n�y v� ngay cả cho việc tự m�nh th�ch dụng ng�n ngữ đ� trong văn thư gửi cho Chasseloup-Laubat li�n quan đến chế độ bảo hộ, khi x�t đến sự sử dụng g�y bối rối m� người Xi�m La đ� đưa ra về c�c từ ngữ đ� n�i với c�c sứ giả của họ l�c họ được tiếp kiến bởi Ho�ng Đế [Napol�on III] tại điện Fontainebleau.� �ng nhấn mạnh đến nhu cầu cần t�n trọng sự cẩn thận trong mọi thư t�n giao thiệp với Xi�m La.� �ng quả quyết rằng Grandi�re hiểu biết một c�ch đầy đủ c�c tiền lệ khi �ng thương thảo hiệp ước.� Liệu �ng ta c� thẩm quyền cần thiết để h�nh động hay kh�ng lại l� một vấn đề kh�c.� Vấn đề đ� được d�nh cho bộ trưởng ngoại giao quyết định sau khi nghe xong c�c lập luận của đồng sự của �ng, vấn đề c�c thẩm quyền đầy đủ c� t�nh chất �chuy�n độc trong khả năng của �ng ta v� trong c�c chức năng của �ng ta.�� Tiền lệ Montigny đ� lu�n lu�n được nhấn mạnh bởi bộ ngoại giao.� Nếu thế th� khi đ�, Montigny đ� kh�ng hay biết về sự hiện diện của một số văn kiện n�o đ� khi �ng nh�n nhận quyền b� chủ của Xi�m La.� C�c văn kiện n�y đ� được chuyển giao cho Đ� Đốc Bonard hồi th�ng Mười, 1862, bởi một đại quan An Nam, �ng Phan-tan-Giang [? Phan Thanh Giảng].� C�c văn kiện n�y được tr�ch dẫn từ quyển Gia Dinh Tang-Chi [? Gia Đ�nh Th�nh Th�ng Ch�] � một bộ s�ch m� tả Nam Kỳ được viết bằng chữ H�n dưới thời trị v� của vua Minh Mang. (a) (b) (c) Ch�ng chứng minh cho t�nh th�m ni�n của c�c quyền hạn b� chủ của An Nam tr�n Căm Bốt, c�c quyền hạn được dựa tr�n sự chiếm hữu Nam Kỳ, cửa ngỏ thương mại cho Căm Bốt.

 

���� Ch�nh tr�n quyền chủ tể n�y của An Nam m� Chasseloup-Laubat đ� đặt sự tranh biện của m�nh nhằm t�n th�nh bản hiệp ước.� Chủ quyền của Xi�m La tr�n Căm Bốt, �ng lập luận, kh�ng thể trong bất kỳ trường hợp n�o l�m phương hại c�c quyền hạn của An Nam.� �Kh�ng một ai m� t�i biết c� thể chủ trương rằng những g� m� �ng Montigny đ� l�m tại Vọng C�c lại c� thể r�ng buộc, trong bất kỳ c�ch n�o, Ch�nh Phủ ở Huế,� (70) Khi nước Ph�p tiếp nhận ba tỉnh Nam Kỳ từ An Nam theo hiệp ước 1872, n� sở đắc c�c quyền hạn của quyền b� chủ m� An Nam đ� h�nh xử.� Vấn đề cần được quyết định, v� thế, đơn giản l� về tầm mức của c�c quyền hạn m� An Nam đ� hưởng dụng như một nước b� chủ.� �ng c� nhắc nhở Drouyn de Lhuys rằng một vị quan lại đ� đến Udong từ Huế để y�u cầu sự t�i lập việc triều cống v� rằng vi�n chức n�y đ� sẵn hiện diện tại Udong khi Grandi�re đến đ� để thương thảo sự bảo hộ.� Về lời tuy�n bố chủ quyền của Xi�m La tr�n Căm Bốt, nước Ph�p đ� nhất qu�n khước từ n� bất kỳ �quyền hạn trực tiếp� n�o.� Bonard đ� phủ quyết n� khi �ng từ chối kh�ng cho dẫn độ Sanongso.� C�c chỉ thị hướng dẫn Grandi�re (m� Bộ Trưởng Ngoại Giao tuy�n bố rằng �ng chưa hề nh�n thấy) bắt buộc �ng phải tu�n h�nh c�ng một th�i độ.� Vi�n Đ� Đốc đ� kh�ng thực hiện �p lực n�o tr�n Norodom.� Tư c�ch phục t�ng của Norodom đối với chủ nh�n của m�nh tại Vọng C�c đủ để giải th�ch h�nh động của �ng ta.� Bản hiệp ước đem lại c�c lợi thế quan trọng cho Ph�p.� Quyền lợi của Ph�p nằm ở chỗ ngăn chặn một nước th� nghịch kh�ng được chiếm đ�ng Căm Bốt v� kh�ng c� g� kh�c biệt trong việc ho�n th�nh được mục ti�u n�y d� l� Ph�p chỉ chiếm giữ ba tỉnh Nam Kỳ hay to�n thể s�u tỉnh.� Sự thịnh vượng của t�n thuộc địa của n� phải được bảo đảm bằng việc ngăn cản sự chuyển hướng nền thương mại của Căm Bốt xa khỏi cửa ng� tự nhi�n của n� xuy�n qua Nam Kỳ.� Thật l� lố bịch để giả định rằng Xi�m La lại c� bao giờ sẽ đồng � sự cắt nhượng một địa điểm qu�n sự v� thương mại trọng yếu như thế tại Nơi Bốn Nh�nh (Quatre Bras) nếu như Ph�p đ� c� �sự bất cẩn� để thương thảo với c�c địa diện của n�.� �ng đ� b�c bỏ ch�nh s�ch thừa nhận quyền b� chủ của Xi�m La, nhưng �ng sẽ sằn l�ng nhượng bộ điều đ� nếu, khi l�m như thế, nước Ph�p c� thể tự m�nh bảo đảm được c�c lợi thế của bản hiệp ước m� Grandi�re vừa k� kết.� N� đ�ng l� thời điểm để giảm thiểu c�c quyền hạn của Xi�m La tr�n Căm Bốt, bắt ch�ng trở về c�c giới hạn nguy�n thủy của ch�ng.

 

���� Trong khi Chasseloup-Laubat thảo luận trong bức thư của m�nh về chế độ bảo hộ được đảm nhận bởi Ph�p tr�n Căm Bốt, �ng ta đ� bộc lộ một sự hỗn loạn trong tư tưởng.� �T�i nghĩ,� �ng đ� viết, �rằng nếu ch�ng ta c� thể nh�n nhận loại quyền b� chủ được chia sẻ với Huế m� Xi�m La đ� h�nh sử tr�n Căm Bốt, sự chinh phục của ch�ng ta một phần v�ng hạ lưu Nam Kỳ mang lại cho ch�ng ta �t nhất c�ng c�c quyền hạn như Huế đ� c�, v� rằng ch�ng ta ở v�o một vị thế để củng cố thực thể của chế độ bảo hộ của ch�ng ta. � (71)� Nhưng, �ng cũng n�i rằng Căm Bốt phải l� một �quốc gia độc lập nằm giữ Xi�m La v� nước ch�ng ta, d� rằng sự bảo vệ của ch�ng ta nhằm để chặn đứng sự x�m chiếm của Vọng C�c.� (72)� Hiển nhi�n, bản hiệp ước l� điều g� nhiều hơn �c�ng c�c quyền hạn m� Huế đ� c�.�� Điện văn kết th�c với c�i nh�n minh mẫn đ�ng ghi nhận về mặt ng�n từ, �bất kể danh xưng m� ch�ng ta g�n cho thẩm quyền của ch�ng ta, sự chiếm giữ hay sự bảo hộ: possession or protectorate�, n� phải được mở rộng tr�n s�u tỉnh của phần hạ lưu Nam Kỳ. (73)

 

���� Drouyn de Lhuys chấp nhận bản hiệp ước (74) nhưng �ng bị d�nh lại một vấn đề về việc giải th�ch với Vọng C�c rằng l�m thế n�o hiệp ước đ� được thương thảo m� lại kh�ng hề đề cập g� đến kinh đ� đ�.� Cả �ng lẫn Chasseloup-Laubat đ� kh�ng l�m đủ mức để cảnh gi�c Grandi�re kh�ng được khi�u kh�ch Xi�m La v� th�c dục �ng ta l�m mọi điều c� thể l�m được để xoa dịu c�c cảm nghĩ của triều đ�nh Vọng C�c.� Bộ Trưởng Ngoại Giao tin tưởng rằng, khi x�t đến c�c sự phản đối của Xi�m La, một số sự giải th�ch cần đến.� �ng đồng � với Chasseloup-Laubat rằng An Nam kh�ng bị r�ng buộc bởi c�c h�nh vi của Montigny v� Castelnau.� Nhưng với �ng, điều kh�ng thuận l� [non-sequitur, tiếng La Tinh trong nguy�n bản, ch� của người dịch] để n�i rằng, nước Ph�p, như một kẻ thừa kế An Nam tại Nam Kỳ, cũng kh�ng bị r�ng buộc như thế.� �ng trả lời c�c lập luận của đồng sự bằng c�ch n�u l�n c�u hỏi, nếu An nam kh�ng bị r�ng buộc bởi sự nh�n nhận của Montigny về quyền b� chủ của Xi�m La, việc ấy sẽ li�n hệ với Ph�p ra sao?� Montygny l� một ph�i vi�n của Ph�p.� Chẳng lẽ nước Ph�p kh�ng bị r�ng buộc bởi những g� �ng ta đ� l�m hay sao?� Hơn nữa, Castelnau đ� n�i với người Xi�m La rằng �ng ta được ph�p thương thảo với Căm Bốt xuy�n qua đại diện của họ.� �ng nghĩ rằng Xi�m La phải được giao cho một số giải th�ch về l� do tại sao n� đ� kh�ng được đếm xỉa tới. (75)

 

���� Ph� hợp với th�i độ n�y, v� thế, Đại �y Aubaret, t�n l�nh sự tại Vọng C�c, đ� được giao ph� l�m hết sức để xoa dịu Xi�m La. (76) �ng cũng được tuyển chọn l�m ph�i vi�n để điều đ�nh một hiệp ước mới với An Nam về việc ho�n trả ba tỉnh đ� chinh phục được, Bi�n H�a, Gia Định, Định Tường � phe chống lại chủ trương đế quốc đ� d�nh thắng cuộc đấu tranh tại Paris.� Drouyn de Lhuys nghĩ rằng t�nh h�nh sự vụ mới n�y sẽ c� một hiệu quả trực tiếp đến tương lai c�c quan hệ của Ph�p với Căm Bốt.� Bản hiệp ước sẽ phải được giải th�ch một c�ch linh động hơn khi Nam Kỳ được h�an trả.� �ng cố vấn Đ� Đốc Grandi�re kh�ng n�n vận dụng nhiều bản hiệp ước ngoại trừ phần được chuẩn cấp quyền hạn chiếm đ�ng khu vực tại Nơi Bốn Nh�nh (Quatre Bras). (77)� Trong một bức thư h�a giải gửi Phra Klang [Bộ Ngoại Giao] của Xi�m La, �ng nhấn mạnh sự kiện rằng Xi�m La đ� ph�n n�n về h�nh thức hơn l� về nội dung bản hiệp ước � rằng nước Ph�p hẳn sẽ phải vui mừng để thương thảo xuy�n qua Xi�m La, nhưng bởi trong hai năm qua, th�i độ của Xi�m La c� vẻ đ� bị đảo ngược v� th� nghịch.� Trong khi đ�, một hiệp ước đ� trở n�n cần thiết đối với Ph�p.� Bản hiệp ước đ� kh�ng được thương thảo với bất kỳ � đồ n�o về sự s�p nhập trong tương lai, v� bất kỳ sự can thiệp n�o của An Nam, nước đ� đặt nước Ph�p l�m kẻ thừa kế tại Đ�ng Dương, sẽ kh�ng được tha thứ.� �ng hy vọng rằng Aubaret sẽ cho thể thuyết phục Xi�m La về ước muốn của Ch�nh Phủ Ph�p nhằm duy tr� với Xi�m La c�c quan hệ th�n thiện nhất. (78)

 

���� Trong khi đ�, vở kịch về �Nh� Vua đ�ng thương hại ở Udong�, như Chasseloup-Laubat đ� gọi một c�ch th�ch hợp, v� c� lẽ với một sự mỉa mai v� t�nh, đ� chỉ Nh� Vua Căm Bốt, tiếp tục được mở ra.� Grandi�re đ� lập ch�nh s�ch về chế độ bảo hộ theo những b�o c�o của Doudart de Lagr�e, Tư Lệnh Gia Định l� người �ng đ� để lại Udong l�m đại diện ch�nh thức. (79)

 

���� Lagr�e c� tr�ch dẫn Norodom l� c� n�i rằng khi vị quan lại Xi�m La rời Udong, �ng ta c� cảnh c�o Nh� Vua rằng hiệp ước với Ph�p sẽ tước đoạt sự tự do của �ng v� rằng nước Ph�p đang mưu toan đẩy �ng v�o một cuộc chiến tranh với Xi�m La đề t�i chiếm L�o v� c�c tỉnh đ� mất tại Angkor v� Battambang.� Norodom muốn Lagr�e hiểu được rằng trong thực tế �ng ta sẽ sung sướng để c� c�c tỉnh n�y được t�i lập về cho �ng. (80) C�c sự chuẩn bị đương được thực hiện cho cuộc lễ đăng quang của Nh� Vua [Căm Bốt].� Norodom c� nhận được một l� thư từ Quốc Vương Xi�m La n�i rằng Quốc Vương kh�ng thể đ�ch th�n đến dự nhưng sẽ được đại diện bởi người anh em phụ tr�ch Bộ Ngoại Giao c�ng với một quan lại.� Họ sẽ l� những người đại diện cho vương triều.� Một th�ng sau cuộc lễ đăng quang, Quốc Vương Xi�m La sẽ đến Campot nơi m� Norodom sẽ đến đ�n tiếp Quốc Vương [Xi�m La]. (81)� Lagr�e muốn biết Norodom đ� giải th�ch buổi lễ đăng quang như thế n�o.� N� c� phải tương đương như cuộc tấn phong cho một chư hầu từ nước b� chủ hay kh�ng?� Liệu n� c� ban cấp cho Xi�m La một quyền để can thiệp v�o c�ng việc của Căm Bốt hay kh�ng?� N�i t�m lại, liệu n� c� để Căm Bốt th�nh một quốc gia tự do v� độc lập hay kh�ng?� Nếu nền độc lập của Căm Bốt bị x�m hại, khi đ� �ng cảnh c�o, nước Ph�p sẽ kh�ng thừa nhận bất kỳ hiệu lực n�o của cuộc lễ.� T�nh trạng của Căm Bốt đ� l� một đề t�i thảo luận giữa Xi�m La v� Ph�p.� N� sẽ l� một h�nh vi bất th�n thiện về ph�a Norodom khi quyết định về vấn đề n�y m� kh�ng tham khảo với cả hai nước n�y. (82)

 

���� Ng�y 3 th�ng hai, 1864 được ấn định bởi Xi�m La l�m nhật kỳ cho lễ đăng quang v� Grandi�re được mời tham dự.� �ng ta đ� ph�i Chỉ Huy Trưởng D�smoulins l�m đại diện cho �ng.� Ng�y ấn định đ� đến nhưng ph�a Xi�m La đ� kh�ng xuất hiện.� Norodom lấy l�m thất vọng.� D�smoulins th�c dục �ng h�y tiến h�nh như thể kh�ng c� g� xảy ra.� Norodom đồng � tiến bước với c�c lễ hội chỉ b�i bỏ lễ đăng quang v� cử h�nh với sự huy h�ang đặc biệt lễ hội Svet Trachhat.� Nghi lễ n�y sẽ thừa nhận quyền lực của �ng với c�ng hiệu lực như lễ đăng quang.� Khi Grandi�re được th�ng b�o về diễn tiến n�y v� về � định hiển nhi�n của Norodom muốn du h�nh sang Vọng C�c để t�m kiếm vương miện h�o huyền của �ng ta, Grandi�re lấy l�m bối rối một c�ch nghi�m trọng.� Trong trường hợp Norodom phải đi, v� chuyến du h�nh hẳn sẽ mang lại kết quả thất lợi cho Ph�p, �ng đ� quyết định quy tr�ch phủ đầu cho sự chậm trễ của bộ ngoại giao trong việc gửi sang sự ph� chuẩn bản hiệp ước. (83)

 

���� C�c bản b�o c�o của Lagr�e nghi�ng về việc biện minh cho sự nghi ngờ của Grandi�re.� Norodom, trong một dịp, đ� th� nhận với Lagr�e rằng Quốc Vương Xi�m La muốn �ng ta đi xuống Campot hầu thi h�nh một ảnh hưởng t�n gi�o tr�n �ng ta.� �ng giải th�ch sự việc trong cung c�ch như sau: Quốc Vương Xi�m La đ� kh�ac �o ch�ang cho �ng ta để l�m nh� sư Phật Gi�o khi �ng l� một kẻ chạy trốn tại Vọng C�c; ch�nh v� thế, �ng trở th�nh con đỡ đầu của Quốc Vương, một mối tương quan mạnh mẽ ở cả Căm Bốt lẫn Xi�m La.� �ng đ� sửa soạn để đi tới Campot, nhưng �ng sẽ đi ngược với � muốn của m�nh.� �ng đồng � với Lagr�e rằng Lagr�e đ� c� l� khi ra lệnh �ng đừng viết thư cho Vọng C�c.� C�c ph�i vi�n của Xi�m La đ� cố gắng v�i lần để th�c đẩy �ng l�m như thế, nhưng �ng lu�n lu�n l�m họ phải c�m miệng bằng c�ch n�i rằng �ng bị chế ngự bởi vi�n sĩ quan người Ph�p. (84)

 

���� Bất kể mọi nỗ lực của Lagr�e, �ng ta kh�ng thể ngăn cản cuộc khởi h�nh của Norodom từ Udong.� Ng�y được ấn định l� mồng 3 Th�ng Ba.� Trước khi rời khỏi kinh đ�, Norodom đ� gửi một l� thư cho Grandi�re, nhờ Lagr�e chuyển hộ, trong đ� �ng n�i rằng Quốc Vương Xi�m La cảm thấy rằng lễ đăng quang c� thể được cử h�nh một c�ch huy ho�ng hơn tại Vọng c�c.� Cuộc du h�nh đến đ� v� quay trở về sẽ mất khoảng từ ba mươi đến bốn mươi ng�y.� Kh�ng phải tất cả c�c cố vấn của Norodom đều đ� t�n đồng quyết định của �ng.� Bộ Trưởng Hải Qu�n của �ng chống đối cuộc khởi h�nh v� th�c dục Lagr�e cố gắng đưa ra nỗ lực sau c�ng để ngăn cản �ng, (85) v� Lagr�e đ� từ chối kh�ng chuyển l� thư của Nh� Vua đến Đ� Đốc [Grandi�re] với l� do v� Norodom đ� l�m mất l�ng tin nơi �ng khi kh�ng chịu th�ng b�o cho Grandi�re trước khi �ng ấn định ng�y đăng quang. ��ng cảnh c�o Norodom rằng nước Ph�p sẽ kh�ng chấp nhận điều g� được l�m tại Vọng C�c để trục xuất nước Ph�p. (86)� �ng cũng cảnh c�o Nh� Vua:

 

Ng�i biết rất r� cảm t�nh của t�i d�nh cho Ng�i v� cho Căm B�t. �Xin cho ph�p t�i, v� thế, được n�i rằng nếu Ng�i đi Vọng C�c, ng�i sẽ kh�ng c� thể trở lại Udong bởi nếu người Xi�m La muốn Ng�i l�m như thế, nước Ph�p sẽ chống đối v� quan hệ tốt đẹp sẽ bị cắt đứt �� T�i tin rằng m�nh trụ lại Udong với v�i người l�nh, v� cầu nguyện Ng�i sẽ chỉ định một nơi th�ch hợp để t�i c� thể dựng nơi sinh sống của t�i. (87)

 

���� Bức thư đ� kh�ng đạt được mục đ�ch cu/a n�.� V�o ng�y 3 Th�ng Ba, ng�y đ� ấn định, Norodom rời khỏi kinh đ�.� Tại Prea Bonleatros, nơi �ng rời đi h�m mồng 8, �ng nhận được một l� thư của c�c quan lại của �ng cho hay rằng Lagr�e đ� ra lệnh chống đối cuộc du h�nh sang Xi�m La, v� rằng �ng đ� cố vấn họ h�y d�ng ảnh hưởng của họ để thuyết phục Nh� Vua quay trở về kinh đ�.� Họ n�i th�m rằng năm mươi l�nh Ph�p c�ng với ba khẩu đại b�c đ� được gửi đến Udong h�m mồng 6 th�ng Ba, v� rằng Lagr�e đ� bắn 21 ph�t s�ng ch�o mừng l� cờ Ph�p.� Lagr�e c�n cảnh c�o họ th�m rằng nếu Norodom cương quyết tiếp tục cuộc du h�nh, Đ� Đốc Grandi�re sẽ được y�u cầu ph�i hai chiến thuyền đến Campot để ngăn chặn sự trở về của Norodom, rằng mọi quan lại sẽ bị cầm t�, v� rằng Căm Bốt sẽ được biến th�nh một v�ng đất chiếm giữ của người Ph�p. (88)

 

���� Ở thời điểm n�y, Linh Mục Janin của Hội C�c Ph�i Bộ Truyền Gi�o Hải Ngoại cũng can thiệp v�o.� �ng bắt kịp Norodom khi c�n c�ch Campot khoảng nửa ng�y đường.� Trong hai ng�y kế tiếp �ng đ� th�c dục Nh� vua đừng đ�nh liều với ngai v�ng của �ng bởi việc th�ch thức nước Ph�p. (89)� Lời thỉnh cầu n�y, c�ng với c�c lập luận mạnh mẽ m� Lagr�e c� một vị thế để đưa ra, mang lại sự đầu h�ng của Norodom.� Trở lui tr�n con đường đến Campot, �ng đ� đến Trapeang-tim h�m mồng 10 th�ng Ba, nơi m� trong ng�y kế tiếp, �ng đ� gửi một l� thư cho Lagr�e để d� hỏi rằng liệu c�c quan lại đ� tr�nh b�y với �ng t�nh h�nh đ�ng thực hay kh�ng.� Giờ đ�y, �ng đang tr�n đường trở lại kinh đ�.� Sự nguy hiểm đ� được tr�nh khỏi, �t nhất trong tức thời.� D� thế, thật nhẹ nh�m để Grandi�re c� thể th�ng b�o Norodom trước cuối Th�ng Ba rằng sự ph� chuẩn của Ho�ng Đế [Napol�on III], sau c�ng, đ� đến. (90) Sự trao đổi c�c sự ph� chuẩn hiệp ước đ� diễn ra tại Udong v�o ng�y 14 th�ng Tư, Chỉ Huy Trưởng D�smoulins đại diện cho Đ� Đốc. (91)

 

� �� Trong khi đ�, Căm Bốt tiếp tục bị t�n ph� bởi nội chiến.� Aubaret bị thuyết phục rằng sự đăng quang tức thời của Nh� Vua sẽ chấm dứt sự bất ổn.� �ng n�u � kiến với [Thu/ Tướng] Kralahome tại Vọng C�c về một lễ đăng quang hỗn hợp.� �ng n�i với Kralahome rằng nước Ph�p kh�ng c� � định từ khước Xi�m La c�c quyền hạn cổ xưa của n� tại Căm Bốt cũng như kh�ng đưa ra bất kỳ sự phản đối n�o nếu Căm Bốt tiếp tục triều cống Xi�m La như một biểu tượng cho l�ng k�nh trọng.� �ng n�u � kiến rằng nước Xi�m La n�n lấy l�m vui mừng khi thấy nước Ph�p thế v�o chỗ của kẻ th� đời đời của Xi�m La [chỉ Việt Nam?, ch� của người dịch]. (92) Căm Bốt, chiếu theo hiệp ước với Ph�p, sẽ vẫn l� �một quốc gia ở thế qu�n b�nh t�an b�ch� giữa Ph�p v� Xi�m la. (93)� � tưởng của Aubaret về lễ đăng quang hỗn hợp tức thời được chấp nhận bởi Kralahome, người được chỉ định l�m sứ giả của Phya Mongkri Suriwong, [Quốc Vương] nước Xi�m La, ng�i Samaha Phra Kralahome của c�c tỉnh Miền Bắc.� �ng được th�p t�ng bởi bốn nh� qu� tộc c� tước vị thấp hơn v� năm mươi n� dịch phụ tr�ch tước kỳ v� biểu chương.� C�ng việc được sắp xếp để vị sứ giả v� đo�n t�y t�ng của �ng đến S�ig�n trước ti�n, nơi m� c�c chi tiết của cuộc lễ đăng quang sẽ được tham khảo tỉ mỉ với Đ� Đốc Grandi�re. (94)� Kralahome n�u c�u hỏi rằng liệu lễ đăng quang c� thể diễn ra một trong ba ng�y trong th�ng Năm, l� c�c ng�y 18, 23, v� 27 hay kh�ng, l� c�c ng�y m� �ng n�i được t�n trọng bởi cả người Xi�m La lẫn người Căm Bốt như c�c ng�y �tốt, l�nh.�� Tuy nhi�n, ng�y được lựa chọn kh�ng nằm trong một ng�y n�o trong số n�y, m� l� ng�y 3 th�ng S�u.� Chỉ Huy Trưởng D�smoulins đ� đại diện cho vi�n Đ� Đốc.� Ch�ng ta mắc nợ D�smoulins về một bản tường thuật về buổi lễ đăng quang. (95) Vị sứ giả Xi�m La trước ti�n đ� ban cấp cho Norodom tước hiệu m� Nh� Vua đ� nhận được từ Quốc Vương Xi�m La.� N� được khắc tr�n một phiến v�ng rộng, dẹt v� được trao tặng cho Norodom trong một chiếc hộp chạm trỗ bằng v�ng v� bạc.� Sau đ� vị sứ giả c�m vương miện giao cho D�smoulins l� kẻ kế đ� trao v�o tay Norodom.� Nh� Vua theo đ� tự m�nh đội vương miện.� Một loạt đạn đại b�c Ph�p được bắn ch�o mừng vị qu�n chủ mới tức vị mang lại nỗi h�n hoan ra mặt của Nh� Vua, sau đ� D�smoulins đ� đứng l�n v� c�n đứng nguy�n tại chỗ trong l�c b�i diễn văn do �ng soạn thảo được tuy�n đọc l�n Nh� Vua bởi B�c Sĩ Hennecart, một cư d�n Ph�p.� B�i diễn văn được đọc trước ti�n bằng tiếng Ph�p v� sau đ� bằng tiếng Căm Bốt.� Trong b�i diễn văn n�y, nội dung của n� đ� được tiết lộ cho vị sứ giả Xi�m La biết trước, D�smoulins tuy�n bố rằng nước Ph�p vươn tay ch�o đ�n c�c d�n tộc v� c�c Quốc Vương tiến bước v�o con đường văn minh.� Đề cập đến vị sứ giả Xi�m La, �ng đ� tuy�n bố một c�ch long trong. �Nh�n vật oai nghi�m n�y đ� du h�nh sang �u Ch�u.� �ng đ� nh�n thấy nước Ph�p.� �ng hiểu rằng trong khi thừa nhận c�c quan hệ trước đ�y giữa Xi�m La v� Căm Bốt, ch�ng ta c� quyền ưu ti�n nơi đ�y, bằng vũ lực cũng như bằng t�nh chất nổi bật trong n�n văn minh của ch�ng ta.� (96)� (Người đọc sẽ ghi nhận rằng trong ng�n ngữ n�y, kh�ng c� ch�t n�o tương đồng với �sự qu�n b�nh to�n b�ch� m�, theo Đại �y Aubaret, phải hiện diện giữa Ph�p v� Xi�m La.)� B�i diễn văn của sứ giả Xi�m La, tiếp theo đ�, th� rất dễ chấp nhận với Ph�p bởi n� kh�ng n�u ra c�c phản b�c g�y kh� chịu.� Norodom y�u c�u đặc quyền ch�o k�nh người bảo hộ của �ng ta, Ho�ng Đế Napol�on III.� D�smoulins l�m h�i l�ng �ng bằng c�ch bước v�i bước về ph�a t�y �xa khỏi mặt trời, hơi nghi�ng về hướng bắc, v� để Nh� Vua c�i m�nh s�u xuống v�i c�i.� Khi �ng nh�n thấy t�i bỏ n�n xuống, �ng đ� đưa đ�i tay l�n chiếc vương miện theo c�ng một động t�c.� (97)

 

���� C�c chi tiết kh�c của cuộc lễ k�o d�i bao gồm một sự k�nh ch�o Nh� Vua của ph�i đo�n Xi�m La, sự trao tặng hai bức tượng nhỏ linh thi�ng bởi vị sư trưởng gi�o, sự trao tặng Nh� Vua c�c vũ kh� v� vật dụng c� nh�n kh�c, tất cả c�c vật phẩm đ� �ng ta đưa tay sờ l�n như một biểu tượng rằng từ l�c đ� ch�ng đ� được d�nh ri�ng v� cống hiến cho sự sử dụng của �ng ta.� C�c vật phẩm sau c�ng nhận được sự tiếp x�c của Nh� Vua l� hai chiếc d�p bằng v�ng.� Xỏ ch�n v�o d�p v� được che bằng một chiếc lọng, Norodom đ� l�n ngồi tr�n ngai.� V�o l�c n�y, một đội k�n Ph�p thổi l�n c�c b�i nhạc vinh danh [aux champs, tiếng Ph�p trong nguy�n bản, ch� của người dịch] v� l�nh Ph�p trao tặng vũ kh�.� Norodom tỏ lộ sự h�n hoan v� c�i đầu cảm ơn.� C�c quan lại Căm Bốt kế đến bước ra b�y tỏ l�ng t�n k�nh đối với vị� ch�a tể mới của họ.� Sau đ� Nh� Vua bước xuống từ ngai v�ng v� h�a m�nh v�o nh�m người tập họp trong khi một bữa ăn nhẹ được phục vụ.

���� V�i giờ sau đ�, Chỉ Huy Trưởng D�smoulins được chấp thuận d�nh cho một cuộc tiếp kiến v� trong dịp n�y, �ng đ� trao tặng Norodom chiếc thuyền vũ trang s�ng đại b�c (chaloupe canonni�re) mang t�n Gia Định m� Grandi�re đ� hứa trong một điều khoản bố t�c v�o hiệp ước.� Norodom b�y tỏ � muốn kh�ng c� mặt c�c sĩ quan Ph�p tr�n thuyền.� �ng lấy l�m tiếc về sự vố khả năng của �ng để cấp cho Lagr�e mảnh đất m� Lagr�e đ� chọn tr�n bờ s�ng Compon-Luang, nhưng chuyển �ng ta đến khu vực Bannian, gần ng�i ch�a ph�a nam, m� �ng tuy�n bố rằng Lagr�e to�n quyền chiếm hữu tức thời.

 

���� Đến đ�y l� chấm dứt c�ng việc của ph�i bộ D�smoulins.� �ng ta đ� rời Udong với một lệnh truyền nghi�m trọng cho Norodom phải trung th�nh với c�c sự giao kết theo hiệp ước v� đừng để bị dẫn dụ lạc hướng bởi c�c � kiến gian manh.� Nước Ph�p đ� tuy�n bố c� quyền hạn ưu ti�n của n� tại Căm Bốt.� Liệu Xi�m La c� đồng � điều đ� cho n� hay kh�ng?� Việc đ� c�n cần chờ xem.� Sự thiết lập chế độ bảo hộ Ph�p tr�n Căm Bốt l� một sự thay đổi đơn phương nguy�n trạng trước đ�y [status quo ante, tiếng La Tinh trong nguy�n bản, ch� của người dịch] tại xứ sở đ�./-� ��������������������������

��

-----

 

 

CH� TH�CH:

 

1.      B�i viết n�y thảo luận về sự thiết lập chế độ bảo hộ của Ph�p tr�n Căm Bốt.� Một b�i kế tiếp sẽ d�nh ri�ng về phản ứng của Xi�m La v� c�c cuộc thương thảo giữa Ph�p v� Xi�m La được kết th�c bằng thỏa ước Ph�p-Xi�m La chấp nhận sự bảo hộ của Ph�p.� B�i viết n�y đ� được nghi�n cứu với sự t�i trợ của Hội Đồng Nghi�n Cứu Khoa Học X� H�i.

2.      Trong c�c văn khố của Bộ Ngoại Giao Ph�p tại Paris, từ An Nam, bao gồm cả s�u tỉnh Nam Kỳ, được gọi chung l� Cochinchina.� Người viết giới hạn từ Cochinchina để chỉ s�u tỉnh miền nam, như Bi�n H�a, Mỹ Tho v.v� m� th�i.

3.      �Quelques traits relative � l�histoire du Cambodge,� Revue d�histoire des missions, VIII (1931), 537.

4.      Charles Meyniard, Le second Empire en Indo-Chine (Paris, 1891), trang 359; cũng xem, Minist�re des Affaires �trang�res, Siam I, 1855-1857, Mission de M. de Montigny � Siam et en Cochinchine, Montugny to Walewski, May 8, 1857, trang 409.

5.      Siam I, Montigny to walewski, October 18, 1856, trang 212; Montigny to Walewski, May 8, 1857, trang 403.

6.      Siam I, Montigny to King of Siam, March 26, 1857, c�c trang 425-26 �Quốc Vương đủ minh mẫn để nhớ rằng ngay từ l�c t�i đến triều đ�nh Ng�i, t�i đ� nh�n nhận quyền chủ tể của Ng�i tr�n Căm Bốt trong một cung c�ch minh nhi�n nhất; rằng h�nh thức trong mọi văn thư của t�i đều bao gồm tước hiệu của vị chủ tể tr�n l�nh địa n�y.� Quyền đ� từng được thừa nhận tại Xi�m La kh�ng c�n c� thể bị b�c bỏ tại Căm Bốt.�� Cũng xem, Minist�re des Affaires �trang�res, Asie, XXVIII, Indo-Chine II, 1862-1863, Drouyn de Lhuys to Chasseloup-Laubat, August 15, 1863, trang 468.

7.      Siam I, Montigny to Walewski, May 8, 1857, trang 403.

8.      C�ng nơi dẫn tr�n, Montigny to Walewski, October 18, 1856, trang 212.

9.      C�ng nơi dẫn tr�n, Montigny to Walewski, May 8, 1857, c�c trang 403-23.

10.  Minist�re des Affaires �trang�res, Asie XXIX, Indo-Chine III, 1864-1866, De la Grandi�re to Drouyn de Lhuys, March 30, 1864, trang 63.

11.  Siam I, Montigny to Drouyn de Lhuys, October 18, 1856, trang 213.

12.  Siam I, Montigny to Drouyn de Lhuys, May 8, 1857, c�c trang 415-18.� Bản Anh ngữ về phần n�y trong c�c cuộc thương thảo của Montigny th� kh�c biệt: �Khi �ng Montigny ở đ�y trong năm 1856 để thương thuyết về bản hiệp ước thương mại giữa Ph�p v� Xi�m La, t�i c� được bảo đảm rằng �ng c� đưa ra đề nghị về việc nhượng đảo C�n Sơn (Pulo Condore) cho Ph�p như một đối vật đặc biệt.� Điều n�y bị từ khước kh�ng chỉ bởi Quốc Vương Xi�m La m� c�n bởi Nh� Vua Căm Bốt, viện cớ rằng họ nghĩ họ kh�ng thể nhượng đảo C�n Sơn bởi người Nam Kỳ sẽ phản đối lời tuy�n x�c của họ tr�n h�n đảo.�� Public Record Office, London, Foreign Office MSS, từ giờ về sau, viết tắt l� F.O. 69/24 v.v�� Consul Schomburgk to Earl Russell, May 31, 1858, F.O. 69/24.

13.  Siam I, Montigny to King of Siam, March 26, 1857, c�c trang 425-26.

14.  Minist�re des Affaires �trang�res, Siam II, 1857-1863, Castelnau to Walewski, November 2, 1858, trang 34.

15.  Soci�t� des Missions �trang�res, Cambodge, Mgr. to M. Libois, April 15, 1860; cũng xem thư của Abb� Hestrest to Abb� Albrand, April 16, 1860.

16.  Soci�t� des Missions �trang�res, M. Miche to Directors of Seminary, December 12, 1859; cũng xem Miche to Libois, December 15, 1859.

17.  Siam II, Prince Khrom Luang Wongsa to Thouvenel, July 20, 1860, c�c trang 86-87.

18.  Như tr�n (idem).

19.  C�ng nơi dẫn tr�n, Thouvenel to Prince Khrom Luang Wongsa, October 9, 1860, trang 104.

20.  C�ng nơi dẫn tr�n, Thouvenel to Castelnau, November 24, 1860, trang 113.

21.  C�ng nơi dẫn tr�n, Castelnau to Thouvenel, January 2, 1861, trang 118.

22.  C�ng nơi dẫn tr�n, Castelnau to Thouvenel, January 24, 1861, c�c trang 122-26.

23.  C�ng nơi dẫn tr�n, Miche to Castelnau, February 13, 1861, trang 146.

24.  C�ng nơi dẫn tr�n, Castelnau to Thouvenel, January 2, 1861, trang 115.

25.  C�ng nơi dẫn tr�n, Castelnau to Thouvenel, January 24, 1861, c�c trang 122-23.

26.  C�ng nơi dẫn tr�n, Thouvenel to Castelnau, April 9, 1861, c�c trang 166-67.

27.  C�ng nơi dẫn tr�n, Charner to Castelnau, June 28, 1861, trang 218.

28.  C�ng nơi dẫn tr�n, Castelnau to Thouvenel, September 30, 1861, c�c trang 261-62.

29.  C�ng nơi dẫn tr�n, Castelnau to Phra Klang, November 8, 1861, trang 279.� Xem Public Record Office, London, F.O. 69/39 để thấy c� sự kh�c biệt đ�i ch�t trong bản dịch sang Anh ngữ.

30.  Siam II, Miche to Castelnau, August 15, 1861, trang 265.

31.  Siam II, Castelnau to Thouvenel, December 9, 1861, trang 274.� Cũng xem F.O. 69/39, Phra Klang to castelnau, November 22, 1861.

31A.F.O. 69/39, Castelnau to first King of Siam, November 22, 1861.

32.  Những �điều kiện ngoại lệ� n�y được gồm trong Điều IV bản dự thảo hiệp ước.� Để đổi lấy sự chấp nhận của Castelnau tước vị �His Highness: Đức Ho�ng Thượng� d�nh cho người cầm quyền của Căm Bốt, Điều I, nước Ph�p sẽ nhận được hai khoảnh đất, mỗi khoảnh rộng một dặm vu�ng tr�n bờ b�n Căm Bốt dọc theo s�ng Cửu Long �để tu bổ c�c t�u hơi nước v� để triệt hạ nạn hải tặc tr�n s�ng.�� B�n Kralahome (Thủ Tướng) đ� từ chối kh�ng chịu ph� chuẩn sự nhượng địa n�y.� Xem F.O. 69/39 Castelnau to Kralahome, November 25, 1861, v� Castelnau to First King, November 30, 1861, December 6, and December 7, 1861.

32A.C�ng nơi dẫn tr�n, Castelnau to First King, December 7, 1861.

32B.C�ng nơi dẫn tr�n, No. 41 Schomburgk to Russell, December 11, 1861.

33.  Siam II, Bonard to Chasseloup-Laubat, December 26, 1861, c�c trang 312-13.

34.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 313.

35.  C�ng nơi dẫn tr�n, Thouvenel to Chasseloup-Laubat, February 25, 1862, trang 316; cũng xem Thouvenel to Chasseloup-Laubat, May 7, 1862, c�c trang 322-23.

36.  Asie XXVIII, Phra Klang to Bonard, May 21, 1862, trang 78.

37.  C�ng nơi dẫn tr�n, Phra Klang to Bonard, July 28, 1862, trang 76.

38.  C�ng nơi dẫn tr�n, Bonard to Chasseloup-Laubat, September 30, 1862, trang 130.

39.  C�ng nơi dẫn tr�n, Bonard to Chasseloup-Laubat, October 18, 1862, trang 133.

40.  C�ng nơi dẫn tr�n, Bonard to Phra Klang, October 18, 1862, trang 134.

41.  C�ng nơi dẫn tr�n, Bonard to Phra Klang, December 10, 1862, trang 209.� Chữ in nghi�ng được gạch dưới trong t�i liệu nguy�n thủy.

42.  C�ng nơi dẫn tr�n, b�o c�o của Manen, Kỹ Sự Thủy Đạo.� Tr�ch đoạn, c�c trang 240-43.

43.  C�ng nơi dẫn tr�n, Bonard to Drouyn de Lhuys, Jạn 7, 1863, c�c trang 280-83.

44.  C�ng nơi dẫn tr�n, Note on question of Cochinchina, March, 1863, c�c trang 371-72.� Cũng xem C�ng nơi dẫn tr�n, Drouyn de Lhhuys to Chasseloup-Laubat, December 3, 1863, trang 531.

45.  C�ng nơi dẫn tr�n, Chasseloup-Laubat to Bonard, Bản Sao, January 15, 1863, c�c trang 298-313.

46.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 301.

47.  �Điều IV, ngăn cấm An Nam kh�ng được chuyển nhượng bất kỳ phần l�nh thổ của n� m� kh�ng c� sự đồng � của Ph�p.

48.  Chasseloup-Laubat to Bonard, January 15, 1863, trang 306.

49.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 308.

50.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 309.

51.  C�ng nơi dẫn tr�n, note sur la question de Cochinchine (ghi nhận tr�n vấn đề Nam Kỳ), March 1863, c�c trang 345-400; cũng xem Drouyn de Lhuys to Chasseloup-Laubat, August 15, 1863, c�c trang 465-78.

52.  C�ng nơi dẫn tr�n, note sur la question de Cochinchine, March 1863, trang 389.

53.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 389-90.

54.  C�ng nơi dẫn tr�n, Phra Klang to Bonard, January 24, 1863, c�c trang 343-44.

55.  C�ng nơi dẫn tr�n, Chasseloup-Laubbat to Drouyn de Lhuys, September 6, 1863, c�c trang 479-88.

56.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 482.

57.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 483.

58.  C�ng nơi dẫn tr�n, Grandi�re to Chasseloup-Laubat, June 8, 1863, trang 489.

59.  C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 489-92.� Chữ in nghi�ng được gạnh dưới trong nguy�n bản.

59A. C�ng nơi dẫn tr�n, Grandi�re to Chasseloup-Laubat, August 26, 1863, trang 578.

60.  Bản tường tr�nh n�i tr�n cu/a Grandi�re được t�m thấy trong Asie XXVIII, Grandi�re to Chasseloup-Laubat, August 26, 1863, c�c trang 575-95.

61.  Thư của Norodom được t�m thấy trong tập Siam II, 1857-1863, Norodom to the Kralahome, August 15, 1863, c�c trang 380-84.

62.  Asie XXVIII, Grandi�re to Chasseloup-Laubat, August 26, 1863, trang 583; cũng xem Chasseloup-Laubat to Drouyn de Lhuys, December 10, 1863, trang 546.

63.  Siam II, Grandi�re to Consul at Bangkok, August 26, 1863, trang 390.

64.  C�ng nơi dẫn tr�n, Phra Klang to Grandi�re, September 22, 1863, c�c trang 392-93.� (Cũng c� bằng Anh ngữ, c�c trang 378-79).

65.  C�ng nơi dẫn tr�n, Phra Klang to Drouyn de Lhuys, September 22, 1863, trang 393; c�ng c� trong F.O. 69/35.

66.  Siam II, Siamese Cinsul at Paris to Drouyn de Lhuys, and Annex, December 16, 1863, c�c trang 401-406.

67.  Asie XXIX, Drouyn de Lhuys to Chasseloup-Laubat, January 5, 1864, trang 37.

67A. Asie XXVIII, c�c nhận x�t li�n quan đến hiệp ước bảo hộ cho Căm Bốt, trang 300.

68.  C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 499-506.

69.  C�ng nơi dẫn tr�n, Chasseloup-Laubat to Drouyn de Lhuys, December 10, 1863, c�c trang 539-51.

70.  C�ng nơi dẫn tr�n, c�c trang 542-43.� Chữ in nghi�ng được gạch dưới trong nguy�n bản.

71.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 548.� Chữ in nghi�ng được gạch dưới trong nguy�n bản.

72.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 550.� Chữ in nghi�ng được gạch dưới trong nguy�n bản.

73.  C�ng nơi dẫn tr�n.� Chữ in nghi�ng được gạch dưới trong nguy�n bản.

74.  Asie XXIX, Drouyn de Lhuys to Chasseloup-Laubat, January 5, 1864, trang 36.� Cũng xem Asie XXVIII,Chasseloup-Laubat to Grandi�re, November 26, 1863, trang 605.� �Vous serez compl�tement approuv�.� Les pouvoirs necessaries qui n�existaient peut-�tre pas assez reguli�rement vous seront reconnus.�

75.  Asie XXIX, Drouyn de Lhuys to Chasseloup-Laubat, January 5, 1864, c�c trang 37-38.

76.  Siam II, 1864-1866, 1867 (January � March) Drouyn de Lhuys to Aubaret, January 9, 1864, trang 1.

77.  Asie XXIX, Drouyn de Lhuys to Grandi�re, January 9, 1864, c�c trang 44-48.

78.  Siam II, Drouyn de Lhuys to Phra Klang, January 9, 1864, trang 17.

79.  Asie XXVIII, Grandi�re to Chasseloup-Laubat, August 26, 1863, trang 594.

80.  Villemereuil, A. B. de, Explorations et Missions de Doudart de Lagr�e, Paris, 1883, Lagr�e to Grandi�re, December 12, 1863, trang 103.

81.  C�ng nơi dẫn tr�n, Norodom to Lagr�e, January 11, 1864, trang 104.

82.  C�ng nơi dẫn tr�n, Lagr�e to Norodom, kh�ng ghi nhật kỳ, trang 106.

83.  Asie XXIX, Grandi�re to Marine, March, 1864, trang 88.� Chasseloup-Laubat tin rằng c�ch hay nhất để b�y tỏ cho Norodom rằng nước Ph�p c� � định duy tr� hiệp ước l� h�y để Grandi�re đến trao một vương miện cho �ng ta với một mức độ h�o nho�ng n�o đ�.� Asie XXIX, Chasseloup-Laubat to Drouyn de Lhuys, May 7, 1864, trang 79.

84.  Asie XXIX, Grandi�re to Chasseloup-Laubat, January 27, 1864, c�c trang 80, 81.

85.  Villemereuil, dẫn tr�n.� Minister of Marine of Cambodia to Lagr�e, February 29, 1864, trang 362.

86.  C�ng nơi dẫn tr�n, Lagr�e to Norodom, March 1, 1864, trang 108.

87.  C�ng nơi dẫn tr�n, Lagr�e to Norodom, kh�ng ghi nật kỳ, c�c trang 360-61.� Grandi�re đề cập đến c�c binh sĩ n�y với ng�n từ như sau: �L�officier francais qui commande dans le Haut-Cambodge n�ayant pu faire �couter � ce prince tremblant ses justes representations, j�ai du renforcer la division du cambodge pour rassurer (sic) S.M.�� Asie XXIX, Grandi�re to Chasseloup-Laubat, March 30, 1864, trang 62.

88.  Villemereuil, dẫn tr�n, Norodom to Lagr�e, Marc 11, 1864, c�c trang 363-64.

89.  Xem Revue d�histoire des Missions, nơi đ� dẫn (loc. cit.), c�c trang 537-40.

90.  Asie XXIX, Grandi�re to Drouyn de Lhuys, March 30, 1864, trang 61.

91.  C�ng nơi dẫn tr�n, Grandi�re to Drouyn de Lhuys, April 23, 1864, trang 97.

92.  Siam II, Aubaret to Drouyn de Lhuys, April 22, 1864, trang 39, 40.

93.  C�ng nơi dẫn tr�n, Aubaret to Kralahome, Aril 22, 1864, trang 45; c�ng xem tư c�ng người gửi cho c�ng người nhận, F.O. 69/39.

94.  Kralahome to Aubaret, April 25, 1864, F.O. 69/39.

95.  Về b�o c�o của D�smoulins, xem Asie XXIX, Grandi�re to Chasseloup-Laubat, June 8, 1864, c�c trang 247-50.

96.  C�ng nơi dẫn tr�n, trang 248.

97.  C�ng nơi dẫn tr�n.� �

 

 

 

Nguồn: R. Stanley Thomson, The Establishment of the French Protectorate over Cambodia, The Far Eastern Quarterly, Vol. IV, August 1945, No. 4, New York: Columbia University Press, c�c trang 313-340. ���

___

 

PHỤ CH� CỦA NGƯỜI DỊCH:

 

(a) S�ch Gia Định Th�nh Th�ng Ch� của Trịnh Ho�i Đức, dịch giả: Tu Trai Nguyễn tạo, Tập Trung, Quyển III, Nha Văn H�a, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Tr�ch Văn H�a xuất bản năm 1972 tại S�ig�n, phần đề cập đến sự lệ thuộc v� s�p nhập của đất Cao Mi�n v�o Việt Nam, c� ghi như sau nơi c�c trang 6-8:

 

[3b] Gia Định ng�y xưa nguy�n đất của Thủy Ch�n Lạp (tức nay l� nước Cao Mi�n, c� biệt danh Lục Ch�n Lạp v� Thủy Ch�n Lạp), đất ruộng ph� nhi�u c� địa lợi s�ng biển c� muối v� l�a đậu rất nhiều. �C�c ti�n ho�ng đế triều ta (tức triều Nguyễn) chưa rảnh mưu t�nh việc ở xa n�n phải tạm để đất ấy cho Cao Mi�n ở, nối đời l�m phi�n thuộc ở miền nam, cống hiến lu�n lu�n.� Đến đời vua Th�i T�ng Hiến Triết H�ang Đế năm thứ 11 Mậu Tuất (1658) th�ng 9 (tức L� Thần T�ng hiệu Vĩnh Thọ nguy�n ni�n, Thanh Thuận Trị năm thứ 14), Vua nước Cao Mi�n l� Nặc-Ong Ch�n phạm bi�n cảnh. (Ghi ch�: người Cao Mi�n kh�ng c� họ, những con ch�u nh� vua đều xưng l� Nặc Ong, c�n chữ Ch�n l� t�n người, m� mạng danh th� lấy chữ tốt đẹp, tuy �ng ch�u cũng đồng t�n m� kh�ng ki�ng cữ.� Nước ta c� gửi văn thơ xuống cho nước ấy, th� xưng l� �Cao Mi�n quốc vương Nặc ong (Mỗ)� � l� lấy c�i t�n của con vua nước ấy mới được phong m� gọi.� C�n như Vương tước nước ấy tự xưng th� c� 11, 12 chữ đến 23, 24 chữ, t�y � d�ng chữ tốt đẹp chứ kh�ng định lệ).� Kh�m mạng Trấn Bi�n dinh (Ghi ch�: khi đầu khai th�c, ph�m những chỗ đầu bi�n giới gọi t�n l� Trấn Bi�n.� X�t trấn bi�n đ�y, tức l� Trấn Ph� Y�n ng�y nay), Ph� tướng Yến Vũ Hầu, [4a] Tham Mưu Minh Lộc Hầu, v� Ti�n-Phong Cai Đội Xu�n Thắng Hầu đem 3 ng�n binh đi 2 tuần đến th�nh Mỗi Xuy (hay M� Xo�i) nước Cao Mi�n, đ�nh ph� kinh th�nh v� bắt được vua nước ấy l� Nặc-Ong Ch�n giải về h�nh-tại dinh Quảng B�nh.� Vua dụ cho tha tội, v� phong Nặc-Ong Chấn l�m Cao Mi�n quốc vương, cho được giữ đạo phi�n thần của Việt Nam, lo bề cống hiến, kh�ng được x�m nhiễu d�n sự ở ngo�i bi�n cương, v� khiến quan binh hộ tống về nước.

 

���� Khi ấy địa đầu Gia Định l� Mỗi Xuy (hay M� Xo�i) v� Đồng nai (tức nay l� đất Bi�n H�a Trấn) đ� c� lưu d�n của nước ta đến ở chung lộn với người Cao Mi�n khai khẩn ruộng đất.� Người Cao Mi�n kh�m phục oai đức của triều đ�nh, đem nhượng hết cả đất ấy, rồi tr�nh ở chỗ kh�c, kh�ng d�m tranh trở chuyện g�.

 

���� [4b] M�a xu�n th�ng 2 năm Gi�p Dần (1674) đời vua Th�i T�ng Hiền Triết ho�ng đế (ch�a Hiền Nguyễn Ph�c Tần), Nặc Đ�i Cao Mi�n (x�t s�ch Nam Việt ch� của Nguyễn Bảng Trung gọi l� Nặc-�-Đ�i, s�ch Phủ Bi�n Tạp Lục của L� Qu� Đ�n gọi l� Nặc Đ�i đuổi vua nước ấy l� Nặc-ong- Non, Non chạy sang cầu cứu, vua sai Th�i Khang dinh tướng Dương L�m Hầu l�m Thống Suất, Tham Mưu Di�n Ph�i Hầu hiệp l� bi�n vụ, đem binh đi tiến thảo.

 

���� Th�ng 4, ph� vỡ lu�n được 3 lũy: S�i-c�n (nay l� đất Phi�n-An Trấn), G� B�ch v� Nam Vang.� Nặc Đ�i thua chạy rồi tử trận.� Nặc Thu đến xin h�ng.� (Ghi ch�: x�t sử Cao Mi�n về ng�i vua gồm c� 3 đẳng, Ch�nh Vương, Nhị Vương v� Tam Vương, thuở trước Nặc S� l�m Ch�nh Vương, em l� Nặc T�n l�m Nhị Vương, con lớn của Nặc S� l� Nặc-S� Phủ T�m kh�ng được l�m vua b�n giết cha rồi tự lập.� Nặc T�n c�ng con người em l� [5a] Nặc Non đầu nhập nước ta.� Khi ấy Nặc S� Phủ T�m liền bị người vợ giết chết, người con l� Nặc Ch� tự lập kế vi.� Năm Gi�p Dần ni�n hiệu Thi�n vận (ni�n hiệu của Cao Mi�n) (năm 1594) quan binh tiến thảo, Nặc Ch� bỏ chạy rồi chết.� Quan qu�n đem T�n v� Non về nước, con thứ của Nặc-S� l� Nặc-Su đầu h�ng, c�n Nặc T�n th� bịnh chết, cho n�n triều đ�nh cho lập Nặc Su l�m Ch�nh Quốc Vương, Nặc Non l�m Nhị Vương chia nhau trị nước.� Như tr�n đ� n�i, th� danh tự kh�ng đồng với Nặc Đ�i m� sự t�ch cũng hơi kh�c, nghi cho hai chữ Su, Thu quốc �m gần nhau, n�nc� sai lầm vậy).

 

���� Th�ng 6 m�a hạ năm ấy tiệp thơ l�n t�u, triều đ�nh nghi cho Nặc Thu l� ph�i đ�ch, phong l�m Cao Mi�n ch�nh quốc vương, ngự trị ở th�nh Vũng-Long, c�n Nặc Non l�m Ph� quốc vương ngự trị ở th�nh S�i-C�n vẫn giữ triều cống như cũ.� Vua lại thăng cho Dương L�m Hầu l�m Trấn Thủ Th�i Khang dinh, ph�ng ngự việc ngo�i bi�n giới [hết tr�ch]. �������������

 

(b) S�ch Quan Chế của Paulus [Huỳnh Tịnh] Của, Bản In Nh� Nước, in lần thứ nhứt, xuất bản tại S�ig�n năm 1888, c� ghi về lịch sử định chế h�nh ch�nh của Việt Nam tại Trấn T�y, bao gồm phần lớn l�nh thổ Căm Bốt ng�y nay, nơi c�c trang 62-64 như sau:

 

TRẤN T�Y NGUY�N THIẾT (c� k�m chữ H�n, ch� của người dịch]

(Ancien Cambodge) (nguy�n bản tiếng Ph�p, ch� của người dịch]

 

Hiệu Gia Long năm thứ mười hai [1814?], chỉ chuẩn cho Kh�m Sai cai cơ Nguyễn-văn-Thoại giữ th�nh Nam Vang, l�m bảo hộ mới nước Cao-M�n.

 

Lại y lời tấu, chuẩn cho cai bộ trấn Vĩnh Thanh, l� Nguyễn-xu�n-Thục, hiệp c�ng Nguyễn-văn-Thoại, giữ th�nh Cao-M�n, c�ng bảo hộ vua Cao m�n.

 

Hiệu Minh Mạng năm thứ hai, chiếu cho Kh�m sai Thống Chế Nguyễn-văn-Thoại, c�n giữ đồn Ch�u Đốc, Bảo hộ nước Cao-M�n, lại l�nh lu�n c�ng việc trấn H� Ti�n.

 

Năm thứ mười bốn, dụ cho quan Hộ-bộ Thượng-thư l� Trương-minh-Giảng, đổi l�m Binh-bộ Thượng Thư, l�nh l�m An-h� Tổng-đốc, ki�m Bảo-hộ Cao-M�n quấc ấn.

 

Năm thứ mười lăm, đặt thừa biện Nam-vang th�nh, ch�nh cửu phẩm thơ lại 1, vị nhập lưu 10.

 

Năm thứ mười s�u, dụ cho quan Tuần-phủ L� Đại Cang, hiệp t�ng Tổng Đốc Trương-minh-Giảng, l�nh lu�n việc Bảo-hộ nước Cao-M�n.

 

Lại chuẩn H�n-l�m-viện thừa chỉ 2; tu soạn 3; kiểm thảo 3; ch�nh b�t phẩm thơ lại 6; ch�nh cửu phẩm thơ lai 6; tiền v�n Nam-vang th�nh sai ph�i.

 

Lại dụ cho bảo An Nam thuộc về th�nh Nam-vang, cải l�m th�nh Trấn T�y.

 

Đặt Trấn T�y tướng qu�n, trật ch�nh nhất phẩm, hoặc đặt quan t�ng nhất phẩm; Tham T�n Đại-thần 1, ch�nh nhị phẩm; hiệp t�n cơ vụ 1, ch�nh tam phẩm; binh bị đạo, lương từ đạo, điều 1 người trật ch�nh tứ phẩm; an bi�n ti, vi�n ngoại 2, đều ch�nh ngũ phẩm; chủ sự 3, ch�nh lục phẩm; tư vụ 4, ch�nh thất phẩm; ch�nh b�t, cửu phẩm thơ lại, đều 8 người; vị nhập lưu thơ lại 16; gi�o thọ, trật ch�nh thất phẩm; huấn đạo 10, trật ch�nh b�t phẩm.

 

Năm thứ mười t�m, chuẩn cải Sơn Bốc phủ, l�m Sơn Định phủ, nguy�n C� l�m phủ, l�m Mỹ-T�i phủ.� C�n c�c chỉ thuộc về Hải t�y, l� �u ca, Vọng v�n, Du-trung, �-dĩ, Ngọc-b�i; c�c chỉ thuộc về Hải đ�ng, l� Ch�u-t�i, B�ch-ki�m, Ca-thi, Phước-lai; c�c chỉ thuộc về phủ Sơn-định, l� Sơn phố, Sơn-trung, Trưng-thoại, Hoa-l�m, Quế-l�m; c�c chỉ thuộc về phủ Quảng Bi�n, l� Khai-bi�n, Kim-trương, cả thẩy 16 phủ đều cải l�m huyện.

 

Lại nghị Hải-t�y, Hải-đ�ng, Sơn-định, Quốc-bi�n 4 phủ, mỗi phủ c� 4,5 huyện; đặt chức Tuy�n Phủ Sứ 1 người, d�ng quan tam phẩm l�m quản l�nh, hoặc d�ng bậc nhỏ hơn sung biện.

 

Bộ thuộc: tri sư 1; lại mục 2; vị nhập lưu thơ lại 10; c�c phủ kh�c cũng gần như vậy.

 

Năm thứ hai mươi mốt, y lời tấu chuẩn cho cả hạt Trấn t�y, t�y địa thế c�ng d�n số nhiều / �t. Đặt l�m Nghi h�a, Nam ninh, V� c�ng, Hải t�y, Ninh thới, Hải h�a, H� b�nh, Sơn định, Mỹ-t�i, cả thảy 10 phủ; c�n lại Th�i-an, Đồng-l�m, Thượng-phong, Phong-tương, Nam-thạnh, Ph� nam, Nam-thới; B�nh Ki�m, Kỳ-t�, Trương-thoại, Hải-b�nh, Du-trung, Ngoc-bi, Giang-hữu, Thới Thịnh, Hải-ninh, Tập-vinh, Trung-h�, Phước-lai, Quế l�m, Sơn đ�ng, Mỹ-t�i, Hoa-l�m, cả thẩy 23 huyện.� Trong ấy, Hải t�y, Ninh thới 2 phủ, đều do chức Tuy�n Phủ Sứ Hải t�y quản hạt; Hải-h�a, H�-b�ch 2 phủ, đều do chức Tuy�n Phủ Sứ Hải-h�a quản hạt; Sơn tịnh, Mỹ-t�i 2 phủ, đều do quan Tuy�n Phủ Sứ Sơn Tịnh quản hạt.

 

Lại nghị chuẩn Th�i An, Thượng-phong, Nam-thạnh, B�nh Xi�m, Hải b�nh, Ngọc-bi, Hải-ninh, Trung-h�, Quế-l�m, Mỹ-t�i, 10 huyện đều trừ ra cho phủ ki�m l�, kh�ng ph�i huyện; Du-trung, Hoa-l�m 2 huyện đ� c� người quyền thự, cũng trừ ra; c�n 11 phủ, huyện kh�c đều đặt tri phủ, tri huyện, gi�o thọ, huấn đạo.

 

Hiệu Thiệu Trị năm thứ hai, t�i tỉnh c�c quan lại đều đặt tại Trấn T�y. [hết tr�ch]

 

Xem như thế, từ năm Minh Mạng thứ mười s�u [1836], Việt Nam đ� s�p nhập hẳn phần lớn đất Căm Bốt ng�y nay v�o l�nh thổ của m�nh, cải danh th�nh Trấn T�y v� đặt c�c quan lại Việt Nam cai trị �c�c phủ, huyện mới th�nh lập tai đấy.�� Phần lớn đất của L�o ng�y nay cũng đ� đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của hệ thống h�nh ch�nh Việt Nam.� Xin xem th�m Phụ Ch� về An Nam Đại Quốc Họa Đồ của Taberd. ấn h�nh năm 1838 dưới đ�y.

 

(c) An Nam Đại Quốc Họa Đồ ( Tabula Geographica Imperii Anamitici, AB Auctore Dictionarii Latino-Anamitici Disposita) do Taberd vẽ v� k�m theo quyển tự vị La Tinh � tiếng An Nam của t�c giả, được ấn h�nh tại Calcutta, Ấn Độ, năm 1838, hai năm sau khi Việt Nam s�p nhập phần lớn c�c l�nh thổ của Căm Bốt dưới� thời Minh Mạng, phản ảnh cương vực của Việt Nam trước khi c� sự x�m lăng v� chia cắt l�nh thổ ta để lập th�nh hai quốc gia mới l� Căm Bốt v� L�o trong Li�n Bang Đ�ng Dương thuộc Ph�p.

 

���� Theo bản đồ n�y, bi�n giới phia t�y của Việt Nam khi đ� gi�p ranh với tỉnh Battambang củ Xi�m La, s�t với đỉnh ph�a bắc của Biển Hồ nằm trong cương vực của Việt Nam.� V�ng bi�n giới n�y tr�n bản đồ ghi địa danh tiếng Việt l� G� Sặt Trấn (Pursat ng�y nay); Nam-vang Th�nh tức th�nh phố Nam Vang ng�y nay thuộc NamVvang trấn [Trấn t�y].

 

���� Về phần đất L�o ng�y nay, tr�n bản đồ ghi bằng tiếng Việt l� Miền (tức V�ng) L�o � Regio Laocensis) chứ kh�ng c� địa danh n�o chỉ quốc gia L�o.� Th�nh phố Vạn Tượng ng�y nay được ghi l� Vạn Tượng Quốc, nằm b�n ph�a đ�ng s�ng Cửu Long v� thuộc cưong vực Việt Nam.

 

���� Bản đồ n�y cũng c� ghi quần đảo Paracel với t�n Việt Nam l� đảo C�t V�ng, tức Ho�ng Sa nơi s�t m�p ph�a đ�ng của bản đ�`.

 

���� Đ�y l� một bản đồ quan trọng để tim hiểu c�c sự thay đổi bi�n giới v� diện t�ch của Việt Nam trước v� sau khi c� sự x�m chiếm của Ph�p hồi hậu b�n thế kỷ thứ mười t�m.� Hy vọng một ng�y n�o đ� ch�ng ta c� được một tập nghi�n cứu tường tận về chủ đề quan trọng v� l� th� n�y./

 

 

 

Ng� Bắc dịch v� ch� giải

                                                                                                                                                       

C�c bản dịch kh�c của Ng� Bắc tr�n gio-o         

 

                                                                                                                                              

� 2007 gio-o